1. ĐỘ KHÓ CÔNG BỐ QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÀNH
Khoa học không có biên giới. Một cách tổng quát, không thể so sánh độ khó công bố quốc tế của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Lĩnh vực nào cũng khó công quốc tế vì chuẩn quốc tế thường cao hơn chuẩn quốc gia. Ở các tạp chí đòi hỏi hàm lượng khoa học cao thì càng khó công bố. Cũng không thể nhận định là quốc gia này dễ công bố quốc tế hơn quốc gia khác. Các tạp chí khoa học không có tiêu chí chủng tộc, tôn giáo. Cho nên, nhận định nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam khó công bố quốc tế hơn khoa học tự nhiên của một số người là một nhận định phi khoa học và sai lầm. Nhận định này không xuất phát từ những người nghiên cứu khoa học xã hội chân chính. Nhận định này là của những người “giả nghiên cứu” khoa học xã hội.
Ngược lại, biên độ đánh giá một số nghiên cứu trong khoa học xã hội có các tham số không định lượng, nên rộng hơn, “mờ” hơn - so với các môn khoa học tự nhiên có các tham số cụ thể. Ở phương diện này, vì thước đo khó thống nhất, biên độ đo mềm dẻo, rộng hơn, “mờ hơn”, nên quy định chấp nhận mềm dẻo hơn.
Ở mặt khác, có những nghiên cứu về đặc thù dân tộc, vùng miền, có những nghiên cứu dựa trên số liệu quốc gia, địa phương – khó đánh giá, nên dễ được chấp nhận. Minh chứng cho luận điểm này là các luận án tiến sĩ bảo vệ ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây, nhưng đề tài về Việt Nam và liên quan đến Việt Nam.
Tương tự như vậy là các nghiên cứu liên ngành. Giữa cơ học và toán học. Giữa sinh học và hoá học. Giữa kinh tế và công nghệ thông tin… Biên độ đánh giá các nghiên cứu trong các lĩnh vực liên ngành thường rộng hơn, “mờ” hơn.
Cho nên ở Việt Nam, nghiên cứu khoa học xã hội không phải là khó công bố quốc tế hơn nghiên cứu khoa học tự nhiên.
2. VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ CÔNG BỐ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI Ở CÁC NƯỚC
Trên thế giới có nhiều tổ chức xếp hạng về công bố khoa học của các nước. Cho nên vị trí xếp hạng của các nước và các trường đại học có thể thay đổi tuỳ theo tổ chức xếp hạng. Nhưng nói chung, các xếp hạng này phản ánh tương đối đúng vị thế khoa học của các nước.
Về các công bố có chỉ số Scopus, theo xếp hạng của tạp chí SCImago (SCImago Journal & Country Rank) giai đoạn 1996-2019 thì Mỹ luôn là nước dẫn đầu. Thứ tự xếp hạng của top 5 năm 2019 là: Mỹ (748 908 công bố), Trung Quốc (716 540), Vương quốc Anh (234 637), Đức (210 340), Ấn Độ (206 648).
Nhưng năm 2020 Trung Quốc đã chiếm vị trí số 1 của Mỹ. Thứ tự xếp hạng top 5 năm 2020 là: Trung Quốc (788 287), Mỹ (766 789), Vương Quốc Anh (249 408), Ấn Độ (217 771), Đức (216 474).
Trung Quốc là nước có tốc độ phát triển rất nhanh về số lượng các công bố khoa học quốc tế mà không một nước nào sánh được. Hãy thử xem sự tăng tốc các công bố quốc tế của Trung Quốc: 30 856 (1996, thứ 9), 51 575 (2000, thứ 6), 171 402 (2005, thứ 2), 344 233 (2010), 464 400 (2015, thứ 2), 788 287 (2020, thứ 1). Số lượng công bố quốc tế của Trung Quốc năm 2020 tăng gấp 25,54 lần năm 1996.
Về công bố quốc tế khoa học xã hội của Trung Quốc: 276 (1996, thứ 21), 574 (2000, thứ 17), 1 561 (2005, thứ 11), 10 049 (2010, thứ 3), 12 191 (2015, thứ 3), 26 151 (2020, thứ 3). Như vậy công bố quốc tế khoa học xã hội của Trung Quốc năm 2020 tăng gấp 94,75 lần năm 1996.
Về công bố quốc tế khoa học nghệ thuật và nhân văn của Trung Quốc: 92 (1996, thứ 27), 218 (2000, thứ 17), 514 (2005, thứ 14), 2 168 (2010, thứ 10), 2 583 (2015, thứ 10), 5 251 (2020, thứ 6). Như vậy công bố quốc tế khoa học nghệ thuật và nhân văn của Trung Quốc năm 2020 tăng gấp 57,07 lần năm 1996.
Về các trường đại học, theo xếp hạng năm 2021 của Times Higher Education thì top 5 là: Oxford (Anh), Stanford (Mỹ), Harvard (Mỹ), Viện công nghệ California (Mỹ), Viện công nghệ Massachusetts (Mỹ). Trung Quốc có đại học Thanh Hoa (ĐHTH) xếp thứ 20 và đại học Bắc Kinh (ĐHBK) xếp thứ 23.
Về đại học Bắc Kinh: khoa học xã hội - thứ 17, nghệ thuật và nhân văn - thứ 28, giáo dục - thứ 11, tâm lý - thứ 80.
Về đại học Thanh Hoa: khoa học xã hội - thứ 34, nghệ thuật và nhân văn - thứ 56, giáo dục - thứ 7, luật - thứ 41.
Về công bố khoa học của các trường đại học giai đoạn 2013-2016, theo xếp hạng của Umultirank thống kê các công trinh có chỉ số trong dữ liệu của Web of Science, thì top 5 gồm: ĐH Harvard (Mỹ), ĐH Toronto (Canada), Johns Hopkin (Mỹ), ĐH Michigan (Mỹ), ĐH São Paulo (Brazil).
Trong top 25, Mỹ có 11 trường, Vương Quốc Anh có 4 trường, Trung Quốc có 4 trường, Australia có 2 trường, còn lại 1 trường là các nước Canada, Brazil, Nhật, Hà Quốc. 4 trường của Trung Quốc là: ĐH Giao thông Thượng Hải – thứ 9, ĐH triết Giang – thứ 11, ĐH Thanh Hoa – thứ 15, ĐH Bắc Kinh – thứ 17.
Nêu ra bảng xếp hạng về công bố khoa học quốc tế của các nước và các trường đại học, nhất là nước láng giềng Trung Quốc, để thấy Việt Nam còn cách biệt như thế nào, mà có biện pháp phù hợp.
3. THỰC TẾ CÔNG BỐ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM KHẲNG ĐỊNH TƯƠNG LAI RỘNG MỞ CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI
Từ sau khi Quy định đào tạo tiến sĩ năm 2017 của Bộ GD&ĐT ra đời, yêu cầu phải có công bố quốc tế, thì số lượng công trình khoa học công bố quốc tế của Việt Nam đã tăng vọt cùng với sự thay đổi thứ hạng. Dưới đây là thống kê và thứ hạng các ngành khoa học Việt Nam có công bố quốc tế chỉ số Scopus theo xếp hạng của tạp chí SCImago cho năm 2015 và năm 2020 (Xem ảnh).

Từ bảng thống kê trên, thì rõ ràng khoa học xã hội và khoa học nghệ thuật và nhân văn có sự tiến bộ vượt bậc về số lượng và thứ hạng sau khi có yêu cầu bắt buộc phải có công bố quốc tế trong đào tạo Tiến sĩ.
Cụ thể, so sánh năm 2020 với năm 2015 thì khoa học xã hội tăng 20 thứ bậc và số lượng công bố quốc tế tăng gấp 6,75 lần. Khoa học nghệ thuật và nhân văn cũng tăng 13 bậc và gấp 4,61 lần về số lượng công bố quốc tế.
Không có ngành khoa học nào không tăng vọt số lượng công bố quốc tế sau khi thông tư 08/2017 của Bộ GD&ĐT ra đời. Bảng thông kê trên chứng minh một cách thuyết phục, rằng yêu cầu công bố quốc tế trong Quy định đào tạo tiến sĩ năm 2017 của Bộ GD&ĐT là nguyên nhân quan trọng làm tăng đột biến các công bố quốc tế và tăng bậc xếp hạng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cho nên, nếu ai đó cho rằng khoa học xã hội Việt Nam khó công bố quốc tế để hạ chuẩn đào tạo tiến sĩ là không đúng. Những nhà khoa học xã hội giỏi sẽ không đồng tình với quan điểm như thế.
Nhưng dù Việt Nam đã có bước tiến vượt bậc sau 5 năm từ thứ 58 (2015) tiến lên thứ 46 (2020) thì vẫn phải xếp sau Thái Lan (40), Singapore (37), Malaysia (24), Indonesia (21). Nếu có một chính sách đúng, thì sau 10 năm nữa, thứ hạng của Việt Nam sẽ vượt qua được Malaysia. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào những người lãnh đạo ngành giáo dục và khoa học trong chính phủ.
4. NHỮNG TÁC HẠI NGHIÊM TRỌNG CỦA HẠ CHUẨN ĐÀO TẠO TIẾN SĨ
Năm 2020, tổng các công bố quốc tế trong mọi lĩnh vực của Việt Nam chỉ đạt con số 18 886 dù đã tăng gấp 4,18 lần so với năm 2015. Con số 18 886 của Việt nam chỉ bằng 2,4% của Trung Quốc (788 287).
Trong khi lãnh đạo Trung Quốc chủ trương thể hiện các yêu sách chủ quyền lãnh thổ, đường lưỡi bò, tài nguyên trong lòng biển và trong lòng đất… qua các công bố quốc tế như là các chứng cứ khoa học, thì Việt Nam hầu như bỏ trống. Đây là một điểm yếu của Việt Nam.
Nay, nếu từ bỏ yêu cầu công bố quốc tế thì con đường tiếp cận tới mặt bằng quốc tế của khoa học xã hội Việt Nam lại còn xa vời hơn nữa.
Trung Quốc có bộ môn Marxizm ở đại học Bắc Kinh, đại học Thanh Hoa và các đại học khác. Thế mà những người dạy chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc lại có công bố quốc tế, tại sao ở Việt Nam lại không?
Các tạp chí chí quốc tế chấp nhận các nghiên cứu có hàm lượng khoa học cao, dù đó là nghiên cứu về Marx, Mahatma Gandhi, Mao Trạch Đông hay Hồ Chí Minh. Các bài viết về Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh mà không công bố quốc tế được, là do tác giả đã không đưa được hàm lượng khoa học vào bài viết, bài viết không có điều gì mới về khoa học.
Không biết nhóm tư vấn nào có sức mạnh phù thuỷ, biến nguyên nhân chính đáng thành nguyên nhân phi lý, để thuyết phục được Bộ Giáo dục & Đào Tạo bỏ yêu cầu công bố quốc tế trong Quy định đào tạo tiến sĩ năm 2021?
Từ bỏ yêu cầu công bố quốc tế, thay bằng công bố quốc nội - là một sai lầm kéo theo nhiều tác hại nghiêm trọng, không chỉ trong giáo dục và nghiên cứu khoa học, mà trong toàn xã hội.
Sau đây là vắn tắt một số tác hại chính:
1/. Hạ thấp mặt bằng trình độ tiến sĩ Việt Nam so với khu vực và quốc tế.
2/. Làm chậm bước tiến của khoa học xã hội trên con đường tiếp cận với mặt bằng quốc tế.
3/. Tự lập chuẩn riêng không quan tâm đến khu vực và quốc tế là tự cô lập mình với quốc tế.
5/. Thúc đẩy sản xuất các tiến sĩ rởm, các thầy giả.
6/. Ảnh hưởng tiêu cực lên giáo dục và nghiên cứu khoa học.
7/. Làm lẫn lộn tiến sĩ thật giả trong toàn xã hội
8/. Bỏ mất cơ hội bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia thông qua các công bố quốc tế.
Từ bỏ yêu cầu công bố quốc tế ở các tạp chí SIS/Scopus thì không có cách gì để ngăn cản sự ra đời của hàng loạt tiến sĩ kém chất lượng.
Cũng cần nhắc nhở rằng, lý do không đòi hỏi công bố quốc tế để nâng cao chất lượng các tạp chí Việt Nam là phi khoa học, là nguỵ biện. Uy tín của một tạp chí, trước hết là uy tín của Ban biên tập, sau đó là các phản biện. Có Ban biên tập giỏi thì chọn được các phản biện giỏi. Có Ban biên tập giỏi và các phản biện giỏi thì không cho đăng các bài viết kém. Từ đó chất lượng tạp chí được nâng lên.
Cách tốt nhất để các tạp chí Việt Nam nâng cao chất lượng là có nhiều người Việt Nam có nhiều công trình tốt trên các tạp chí SIS. Cách giúp nâng cao chất lượng các tạp chí Việt Nam là mời cho được các nhà khoa học quốc tế có uy tín cao đứng vào hang ngũ Ban biên tập và phản biện. Nhưng điều này không hề dễ. Vì các nhà khoa học uy tín cao không muốn ghi tên vào các tạp chí uy tín thấp. Cho nên, chừng nào Việt Nam không có các nhà khoa học có uy tín quốc tế cao thì chừng đó các tạp chí Việt Nam không thể có uy tín quốc tế cao. Các thầy giáo giảng dạy chủ nghĩa Marx, tư tưởng Hồ Chí Minh không có cách nào khác, để tránh tụt hậu thì phải có công bố quốc tế. Không có công bố quốc tế thì chỉ là giả khoa học, bất cứ ngành nào.
Thêm một lưu ý rằng, đề xuất cho phép giáo sư hướng dẫn cùng lúc 7 nghiên cứu sinh là đề xuất chưa cân nhắc kỹ.
Việt Nam không nhiều giáo sư giỏi. Giáo sư giỏi hướng dẫn không quá 3 nghiên cứu sinh thì luận án may ra còn có chất lượng. Giáo sư loại mở đường cho một lĩnh vực nghiên cứu mà hướng dẫn cùng lúc 5 nghiên cứu sinh là rất chật vật. Nếu hướng dẫn 7 nghiên cứu sinh cùng lúc thì sản phẩm đầu ra thuộc loại “hàng kém chất lượng”.
Việt Nam không thể tự lập chuẩn riêng về nghiên cứu khoa học. Mọi chuẩn riêng tự Việt Nam nghĩ ra không theo chuẩn quốc tế thì chỉ làm cho Việt Nam thêm tụt hậu với quốc tế. Trong thời đại cả thế giới tích hợp không ngừng – tại sao ta lại tự tách mình ra khỏi thế giới?
Khoa học Việt Nam vĩ đại muôn năm! Tự lập chuẩn riêng thì dù có hô triệu tỷ lần vẫn không thoát khỏi tụt hậu.
Nguyễn Ngọc Chu
Tác giả gửi BVN
CHUYỆN CÔNG BỐ KHOA HỌC: CÒN LOAY HOAY VỚI ĐÀO TẠO TIẾN SĨ ĐẾN BAO GIỜ ?
NAM LÊ/ BVN 24-7-2021
Năm nay nhà nước/bộ giáo dục Việt Nam lại thay đổi quy chế đào tạo tiến sĩ. Thực ra là gần như quay về quy chế cũ từ 2017 trở về trước, sau hơn 3 năm theo quy chế "ít nhất hai bài báo khoa học quốc tế" với yêu cầu đầu ra của đào tạo tiến sĩ.
A/ Trước hết, chúng ta phải hiểu Lý Do: Tại sao lại Phải có công bố Quốc Tế?
Cái chữ “quốc tế” ở đây chỉ áp dụng với Việt Nam – vì với Việt Nam thì mấy cái tạp chí bằng tiếng Anh (chưa nói chất lượng) mới được gọi là “quốc tế”.
Còn với người phương Tây, các quốc gia khoa học phát triển, thì đấy là hệ thống tạp chí/hội nghị của tất cả các nhà khoa học trong lĩnh vực nào đó. Chẳng có phân biệt thế nào là “quốc nội”, “quốc tế”.
Tạp chí có nhà xuất bản ở Đức, ở Mỹ, ở Anh, hội nghị khoa học tổ chức ở Anh, Mỹ, Úc, thậm chí Brazil (chỉ là địa điểm) – đều có giá trị khoa học của riêng nó.
Và việc công bố ở đâu, phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu, và yêu cầu của nghiên cứu (giữa giáo sư, nghiên cứu sinh, nguồn funding...).
Trước đây, những người làm nghiên cứu ở trong nước chúng ta phần lớn xuất bản ở quốc nội, như viết giáo trình cho sinh viên, các tạp chí trong nước, các hội nghị trong nước (phần lớn không có peer-review)… Cho nên nền khoa học trong nước không được “quốc tế” công nhận. Quốc tế ở đây nghĩa là: thế giới khoa học, không có nghĩa là phải ở Anh hay Mỹ.
Vì khoa học là của toàn nhân loại, tiêu chuẩn ở Anh/Mỹ cao là vì họ là người tạo ra các nghiên cứu tiên phong và từ đó tiêu chuẩn ngày càng cao.
Giai đoạn đó (tạm gọi là trước 2016), một làn sóng yêu cầu phải có công bố chất lượng, được thế giới khoa học công nhận theo một số thang đo nào đó. Vì vậy mới có việc: Phải có công bố “quốc tế”, trong khi các nơi xuất bản trong nước chưa thực sự được vào danh mục (index) của các nhà xuất bản khoa học uy tín thế giới.
B/ Publish or Perish (công bố hay là chết)
Tuy nhiên: 3 năm qua, đúng là số lượng bài báo khoa học ở Việt Nam "tăng chóng mặt" thật sự. Các bài tạp chí, kỷ yếu hội nghị (có hay không có peer-review như tạp chí) tăng lên rất nhiều về số lượng, nhưng chất lượng thì cũng "thượng vàng hạ cám".
Đó là hệ quả ban đầu của một luật chơi chung của giới khoa học thế giới, publish or perish (công bố hay là chết). Nghĩa là, vì phải chạy theo số lượng công bố để có thể kiếm được funding nghiên cứu, vị trí công tác ổn định (như giáo sư). Hệ quả là, cũng không ít công trình trong số này có chất lượng rất xoàng, phần lớn viết xong publish rồi vứt xó, đóng góp về tri thức cho lĩnh vực là hầu như rất ít.
Điều này sẽ càng đến mạnh hơn, ở các quốc gia có nền khoa học đang phát triển.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngoài chuyện chất lượng công bố khoa học, còn một vấn nạn: Nhiều người tham gia chương trình tiến sĩ, và cả một số đào tạo, chưa đủ khả năng để Tự viết một công bố khoa học vì nhiều lý do: Có thể do rào cản ngôn ngữ (phần lớn yêu cầu viết tiếng Anh khoa học), hoặc là nghiên cứu chưa đến chất lượng, hoặc là chẳng biết nghiên cứu cái gì...
Cho nên, vấn đề mà chắc không ít được nghe nói đến những năm qua là: nhiều người đã phải Thuê viết bài, thậm chí không phải chỉ thuê viết tiếng Anh mà thuê một số "thợ khoa học" đã có sẵn framework cứ thể là “generate” các bài báo khoa học số lượng lớn, và bán cho nhiều người cần (nghiên cứu sinh, phó giáo sư đang cần để lên chức…).
Đây là vấn đề đạo đức khoa học nghiêm trọng.
Vậy là: Sau khi phải “chạy theo Tây” để có “công bố khoa học quốc tế”, thì lại nảy sinh nhiều vấn đề bất cập: Lượng quá nhiều so với chất thì đã không nói, nhưng lại còn làm “giả chất lượng”.
Chúng ta lại trở về với trước đây: Là chỉ cần yêu cầu công bố trong nước!
C/ Đào tạo tiến sĩ là đào tạo ra cái gì?
Có lẽ chúng ta hiểu chưa đúng Bản chất của việc đào tạo tiến sĩ – học vị mà đến từ nền giáo dục phương Tây.
Đào tạo tiến sĩ phải hiểu bản chất là một quá trình đào tạo ra một người có khả năng nghiên cứu khoa học, từ đó có thể kết hợp nghiên cứu đến giảng dạy truyền bá kiến thức, hoặc nghiên cứu để kiến tạo ứng dụng thực tế cho cuộc sống.
Cho nên, nó hoàn toàn không liên quan đến việc dùng bằng cấp tiến sĩ để Đạt được một chức vị hay điều gì đó trong cuộc sống.
Nếu mang tư duy giáo dục của phong kiến Trung Quốc, tầm chương trích cú, học để “vinh thân phì gia”, áp dụng vào triết lý để đào tạo tiến sĩ (cái xuất phát từ giáo dục kinh viện tây phương) — thì sẽ dẫn đến các hệ luỵ như vậy.
Mindset bị “không tương thích”, nên mới dẫn đến cảnh loay hoay đẽo cày giữa đường bao năm qua.
Xem ra, vị bộ trưởng mới (có lần tôi đã đưa lên page), lên còn “giảm tiêu chí” khoa học hơn so với thời bộ trưởng Nhạ.
D/ Giải pháp khả quan
Để quay lại được giải pháp cốt lõi, thì là một bài viết dài riêng cho nó. Ở đây tôi xin nói ngắn gọn:
1/ Chúng ta cần nâng tầm các tạp chí trong nước, các peer-reviewed conference, trước hết là vào các danh mục khoa học của thế giới hiện nay, và sau đó là thu hút được các nghiên cứu chất lượng đến với các nhà xuất bản này.
Đây là một việc làm KHÓ. Nó giống như làm thương hiệu vậy. Cần thời gian, và cần cú hitch lớn. Ví dụ: Như Vingroup có nhiều tiền, nên có thể thuê một phát các giáo sư từ Yale Silicon Valley về làm thương hiệu, từ đó mọi người biết đến nghiên cứu của Vin.
Để xây dựng một tạp chí khoa học, cần nhiều mối quan hệ đến thế giới “tháp ngà” của khoa học hàn lâm. Ví dụ: Có một giải Nobel công bố trên một tạp chí X nào đó, thì sẽ là sự quảng cáo làm thương hiệu tuyệt vời cho tạp chí X và chuyên ngành trên tạp chí đó.
2/ Cốt lõi hơn cả, đó chính là Chất Lượng của việc làm nghiên cứu. Ở trên như tôi đã nói: Chúng ta cần hiểu cái Bản chất của việc đào tạo nghiên cứu sinh là gì.
Do vậy, để đảm bảo chất lượng chúng ta cần có:
a/ Yêu cầu từ người hướng dẫn:
Người hướng dẫn (các tiến sĩ, giáo sư) có chất lượng công bố khoa học Tốt. Có khả năng công bố khoa học quốc tế có Chất Lượng, được các chuyên gia trong lĩnh vực của vị đó công nhận (chứ không phải 1 hội đồng giáo sư nhà nước hay các cấp ôm đồm đa ngành).
Người Á Đông có nói: Danh sư xuất cao đồ.
Thầy mà còn làm nghiên cứu “loè bịp”, thì khó mà đào tạo ra một học trò là một nhà nghiên cứu thực thụ.
Cho nên theo tôi, nên xiết chặt đầu vào đầu tiên với: Ai đủ điều kiện để hướng dẫn nghiên cứu sinh.
b/ Yêu cầu đầu ra nên thế nào?
Chuyện ràng buộc yêu cầu đầu ra của một nghiên cứu sinh, Không Nên là Chuẩn Chung. Mà nên dựa theo yêu cầu của từng Người hướng Dẫn, là giáo sư/tiến sĩ bên trên đã được xiết chặt chất lượng.
Cũng dựa vào thực tế thôi. Vì bản chất nghiên cứu khoa học là có nhiều ngành khác nhau. Có những ngành có thể có công bố sớm, công bố nhiều, ví dụ như khoa học máy tính có văn hoá peer-reviewed conferences. Nhưng một số ngành xã hội, thì có lẽ để công bố được trong một tạp chí có chất lượng tốt có khi mất đến hàng năm để review. Nói như vậy, không có nghĩa là không có những yêu cầu cụ thể.
Nhưng như tôi nói bên trên: Chúng ta phải để chính vị giáo sư hướng dẫn, người này sẽ có thẩm quyền quyết định xem một nghiên cứu sinh của mình đạt điều kiện để Viết một luận văn tiến sĩ và ra bảo vệ trước hội đồng hay chưa.
Theo như kinh nghiệm của tôi được biết, về mặt bản chất, ở một số quốc gia như Anh/Pháp, không có yêu cầu Cứng số lượng công bố đầu ra. Nhưng tuỳ giáo sư sẽ có yêu cầu riêng đối với học viên nghiên cứu của mình.
Giáo sư của tôi (computer science) từng nói:
– Nam ah, thật ra không có một yêu cầu Cứng nào là cậu phải công bố bao nhiêu bài. Mặc dù bất cứ ai tốt nghiệp PhD ở đây đều thường có ít nhất 3-4 bài báo được công bố. Bởi vì có thể 3-4 bài báo đó sẽ tượng trưng cho 3-4 chương trong luận văn. Nghĩa là, những gì cậu viết, trình bày trong luận văn, đã được công bố (hay được chấp nhận, kiểm chứng một phần), để tăng sự tin tưởng.
Tuy nhiên, đào tạo tiến sĩ của chúng tôi nói rằng: Luận văn viết bởi nghiên cứu sinh, part was published (một phần đã được công bố), or part is publishable (một phần có thể được công bố trong tương lai). Nghĩa là: Nếu không may mắn, bạn biết đấy, khi gửi bài đi có thể gặp reviewer khó tính và đánh trượt vài lần dẫn đến không công bố được. Nghĩa là: Người giáo sư là vô cùng quan trọng. Kể cả khi học viên không may mắn, hoặc chưa thể công bố được. Nhưng bằng trình độ của thầy, thầy biết là luận văn này là Publishable – thì vẫn có thể cho phép học viên viết luận văn, nếu đã trả lời đủ các câu hỏi khoa học cần thiết.
Và trong trường hợp đó, thầy có nói với tôi: Thường là sẽ phải viết một bài journal, trước khi submit luận văn, và ghi là: đang trong tình trạng review.
Vậy đó: Đó là lý do vì sao tôi nói, nên có yêu cầu đầu tiên với người Đủ tiêu chuẩn để hướng dẫn nghiên cứu sinh.
c/ Vấn đề về bảo vệ:
– Nên gạt luôn các bước bảo vệ cấp cơ sở cấp khoa rồi cấp trung ương các kiểu. Chỉ có một buổi bảo vệ duy nhất (nếu là yêu cầu bảo vệ).
Và người ngồi trong hội đồng bảo vệ, những người Được Mời đến, không phải là Do chỉ định của khoa hay bất kỳ ai, mà là sự liên hệ giữa nghiên cứu sinh - giáo sư đến những giáo sư/tiến sĩ - những người có tiếng trong lĩnh vực của nghiên cứu.
Chỉ có họ, mới đủ thẩm quyền và chuyên môn, để có thể “phần nào” nhận xét được về chất lượng của luận văn nghiên cứu trong lĩnh vực của họ. Kể cả phải “thuê” nước ngoài đến, trả tiền cho họ, là tuỳ thuộc vào điều kiện.
Vậy đến đây có bạn sẽ hỏi: Vậy không sợ, văn hoá “đút lót thầy”, để thầy cho bảo vệ dù không đạt chất lượng ah?
Chuyện này rõ ràng là không hiếm ở Việt Nam.
Tuy nhiên như đã nói ở bước 1: Yêu cầu rất cao đối với người được hướng dẫn.
Những người này, có “danh tiếng” khoa học của họ. Nếu họ cho phép một học viên của mình, công bố một công trình kém, hoặc là bảo vệ một luận văn khoa học Kém chất lượng… thì thực sự ảnh hưởng đến danh tiếng và danh dự khoa học của họ.
Phần lớn ở đây, chúng ta tin vào danh dự của một nhà khoa học nghiêm túc.
Cho nên, xác suất của các vấn đề “đút lót” sẽ giảm.
Và cuối cùng, vui lòng không đề cao hay nâng tầm thái quá cái học vị, suốt ngày giơ ra để khoe như khoe chức khoe quyền (kiểu GS TS Đại tá… rất kì cục!).
Tiến sĩ – là một người nghiên cứu. Đào tạo tiến sĩ, là đào tạo một người có khả năng nghiên cứu độc lập (nghĩa là có thể xuất bản khoa học) về một hay một số lĩnh vực.
Đừng dùng các học vị khoa học để chạy chức chạy quyền, chế tài xử phạt phải đầy đủ, thì mới mong có một nền liêm chính học thuật ở quốc gia này.
Tạm dừng bài viết ở đây. Phần 2 tôi sẽ bàn về vấn đề: Funding cho nghiên cứu: ai là người nuôi cả giáo sư lẫn nghiên cứu sinh?
Link bài viết trong ảnh:
https://vnexpress.net/quy-che-dao-tao-tien-si-se-xoa-bo...
Best wishes,
N.L.
QUY CHẾ MỚI ĐÀO TẠO TIẾN SĨ NHIỀU LỖI CHÍNH TẢ,
DO SƠ XUẤT HAY CẨU THẢ ?
MINH ANH/ GDVN 25-7-2021
Thời gian qua, có nhiều ý kiến thảo luận đa chiều xoay quanh Quy chế tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ theo Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành.
Tạm gác những vấn đề về chuẩn đầu ra “hạ chuẩn” thì thời gian qua tòa soạn Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được phản ánh của một số chuyên gia băn khoăn về việc quy trình làm Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo diễn ra trong thời gian dài, với sự tham gia của nhiều bộ phận tuy nhiên do sơ suất hay cẩu thả mà để khi ban hành một Thông tư còn quá nhiều lỗi chính tả sai căn cơ. Nhiều người đặt vấn đề không hiểu pháp chế thẩm định kiểu gì.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ ra một số lỗi chính tả trong Thông tư 18 được các chuyên gia gửi đến Tạp chí:
Minh Anh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét