Thứ Hai, 25 tháng 2, 2019

20190225. SUY THOÁI XÃ HỘI VIỆT NHÌN TỪ LỄ HỘI

ĐIỂM BÁO MẠNG
LỄ HỘI NGÀY CÀNG MÉO MÓ, TRỞ THÀNH NƠI TRANH ĐOẠT

TRẦN PHƯƠNG/ GDVN 24-2-2019

Đầu xuân không thiếu cảnh chen lấn, cướp giật ở các lễ hội. (Ảnh tổng hợp từ TTXVN, VTV)
Hội Xuân trở thành chợ buôn, nơi cướp lộc
Đầu Xuân trẩy hội là nét đẹp văn hóa của người Việt có từ hàng nghìn năm nay.
Lễ hội truyền thống được tổ chức xuyên suốt đã chứng tỏ tính cố kết của cộng đồng, và là minh chứng cho nét đẹp văn hoá ngàn đời của ông cha ta.
Theo thống kê, Việt Nam có đến 9.000 lễ hội trong một năm, tuy nhiên đa số chỉ tập chung vào 3 tháng đầu năm Âm Lịch.
Tuy nhiều lễ hội nhưng ở Việt Nam, mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới nhân vật linh thiêng cần được suy tôn. Đó là những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế...
Với tư tưởng "uống nước nhớ nguồn"; "ăn quả nhớ người trồng cây", ngày hội trở thành cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình.
Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.
Nhiều năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của đời sống, nhiều lễ đang bị biến tướng và thương mại hoá, trở thành nơi buôn bán, ban phát sản phẩm của nhà đền... làm mất đi sự tôn nghiêm vốn có.
Chưa kể họ còn biến tấu làm sai ý nghĩa của phong tục như việc đóng dấu bán ấn Đền Trần (Nam Định, Thái Bình) hay chuyện ban lộc của Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), xoa tiền trên chuông Chùa Đồng Yên Tử (Quảng Ninh), tượng Phật La Hán chùa Bái Đính (Ninh Bình)…
Cảnh ngàn người ném tiền vào tượng thánh ở Đền Trần hay đè nhau cướp phết (Hiền Quan), cướp manh chiếu (hội Đúc Bụt)... khiến cho lễ hội đọng lại với quá nhiều sự phản cảm.
Đã có những phân loại, phân cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng… nhưng rõ ràng hiện tại ranh giới quốc gia- tình thành- huyện- làng xã cũng rất mong manh. Vì ở đâu có lễ hội là mọi người đều có quyền tham gia, chẳng cần phân biệt cấp nào, cứ thích là đi.
Nhưng để lễ hội chỉ được diễn ra trong phạm vi hẹp làng xã thì lại không hài lòng  thỏa mãn cái tính thích phô trương danh tiếng, thanh thế của lễ hội làng mình với tứ phương. Lại thêm tâm lý “con gà tức nhau tiếng gáy”, chẳng ai thích trò “áo gấm đi đêm”, nên cứ phải “hoành tráng”, náo nhiệt mới tỏ cái “linh” của lễ hội làng mình.
Nói về việc lễ hội bị thương mại hóa, bày tỏ với Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy - nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học cho rằng, lễ hội truyền thống của Việt Nam đang có nhiều chuyển biến cùng với nhịp sống đương đại.
Tuy nhiên, chúng ta phải ứng xử với lễ hội truyền thống như thế nào cho phù hợp với nhịp sống đương đại.
Phó Giáo sư Nguyễn Văn Huy cho rằng đây là việc quan trọng: “Nhiều lễ hội, các hoạt động tính ngưỡng gắn liền với lễ hội  của chúng ta hiện nay nhiều khi bị thay đổi, biến tướng.
Vấn đề của chúng ta là làm thế nào tổ chức các lễ hội cho tốt, đúng với các niềm tin, tín ngưỡng của lễ hội.
Thực tế mà nói, lễ hội truyền thống của chúng ta đều có tính đặc trưng của làng xã. Rất nhiều giá trị được lưu giữ trong hội làng, các lễ hội giữ được tính cộng đồng làng xã, giữ được tín ngưỡng của nhân dân trong vùng. Những giá trị ấy đã từng phát huy rất tốt mà không cần phải đông.
Lễ hội Minh Thề không đông khách và thực tế cũng không cần đông nhưng giá trị của lễ hội vẫn được đề cao và lưu giữ xuyên suốt qua chặng đường của lịch sử.
Các giá trị của lễ hội phải là thật sự có ích cho cộng đồng, có ích cho bà con trong làng quê đó”.
Trả Hội về cho làng
Phó Giáo sư Nguyễn Văn Huy đánh giá, hiện nay, có một số lễ hội đang quan niệm nhầm định hướng, phô trương và tìm cách để kéo được du khách ở các nơi vềđịnh hướng cho lễ hội phục vụ cho cộng đồng thì chúng ta mới quản lý được.
Những lễ hội như vậy mới phát huy được tính giáo dục con cháu, gìn giữ những giá trị của tổ tiên, cha ông để lại trong lễ hội truyền thống được.
Không cần thiết phải đông, hay càng đông như Đền Trần thì sẽ khó trong công tác quản lý. Đừng để các lễ hội đó mất thiêng. Tính thiêng liêng của các lễ hội chúng ta phải giữ.
Chúng ta ví dụ như lễ hội của làng Ném Thượng, Đây là một trong những lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 6 tháng Giêng ở Bắc Ninh. Lễ hội nhằm tưởng nhớ vị thành hoàng làng (là sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp hoặc tướng quân Đoàn Thượng - PV)đã chém lợn để nuôi quân đồng thời cầu mong một năm mới an lành, may mắn.
Lễ hội đó nằm trong khuôn khổ của làng Ném Thượng, các nghi thức cầu may, may mắn là ước vọng của nhân dân trong làng.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, hội làng hãy trả về cho hội làng, đừng thương mại hóa gắn với du lịch ở một số lễ hội. (Ảnh: Lại Cường)
Lễ hội đó được gọi là lễ hội làng Ném Thượng, chúng ta đừng gọi nó là lễ hội chém lợn Ném Thượng.
Tự nhiên chúng ta đưa ra khái niệm lễ hội chém lợn khiến lễ hội truyền thống của làng bị kỳ thị và không hay.
Việc bà con mổ lợn, giết lợn để tế lễ đó là câu chuyện bình thường cũng giống như ở lễ hội Minh Thề ở Hải Phòng, dân làng cũng trích huyết gà để hòa với rượu để thề.
Những hình ảnh như vậy nếu lan truyền rộng sẽ gặp rất nhiều ý kiến khác nhau. Những ý kiến của những người nơi khác sẽ không hiểu văn hóa của làng, xã đó rồi lên tiếng phản đối, rồi lại đi cấm nhau”.
“Những việc làm như vậy nó xuất hiện ở một cộng đồng rất nhỏ và theo những dịp trọng đại của cộng đồng đó và với niềm tin tốt đẹp đến với họ.
Với niềm tin như thế chúng ta lên duy trì và ủng hộ, không lên tuyên truyền nó quá mức rồi gắn liền du lịch vào với những lễ hội đó.
Hãy cứ giữ niềm tin đó trong cộng đồng như vậy sẽ rất là tốt. Đừng hoang truyền nó lên để rồi những người không trực tiếp thụ cảm về văn hóa đó lại lên tiếng phê phán bằng cách nhìn của người ngoài.
Các lễ hội nông thôn, lễ hội của làng quê cần giữ gìn trong khuôn khổ đó, đừng mở rộng ra thì nó mới giữ được chất thiêng của lễ hội”, Phó Giáo sư Huy cho biết.
Có lẽ đến lúc các nhà quản lý văn hóa cần có những biện pháp để trả những lễ hội về đúng chỗ của nó, không nên khuếch trương, mở rộng hay nâng cấp ào ạt.
Lễ hội mà bị thương mại hoá, trở thành nơi tranh đoạt thì chỉ tạo ra sự lộn xộn, phản cảm mà thôi.

Trần Phương


TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

QUÁ NHIỀU NGƯỜI 'ĐÓI' VĂN HÓA, HÀNH ĐỘNG MÙ QUÁNG VÀ U MÊ

TÙNG DƯƠNG/ GDVN 25-2-2014

Những hành động phản văn hóa tranh cướp hoa tre tại Hội Gióng. Ảnh: TTXVN.
Theo truyền thống của người Việt, khi lên chùa lễ Phật thì bao giờ các phật tử cũng dâng cúng cho nhà chùa những vật phẩm như hoa tươi, trái cây vườn nhà hoặc phẩm oản.
Sau khi cúng Phật, các nhà sư thường chỉ nhận chút ít tượng trưng, phần trả lại cho người dâng cúng và nói đây là lộc của nhà Phật.
Phật tử cùng gia đình khi hưởng những lộc đó cảm thấy được thỏa mãn tinh thần và họ có niềm tin rằng mình đã được thẩm thấu những tinh thần, triết lí của nhà Phật.
Nhưng đó là xa xưa, còn hiện nay xin lộc đã bị trục lợi, biến tướng, rất nhiều người thiếu hiểu biết đã ứng xử sai, tham lam, tranh cướp lộc khi tham gia lễ hội.
Trước vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Dương - Phó Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã chia sẻ với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam: "Phật tử lên chùa có xin cũng không được vì theo giáo lí nhà Phật thì Phật không cho, hay ban phát quyền lợi, lợi ích gì cả.
Việc xin này chủ yếu diễn ra ở Đình, Đền và trong các lễ hội dân gian. Theo dân gian thì lộc ở đây là lộc Thánh, lộc cũng rất đơn sơ và mang tính biểu tượng chứ không hề có chuyện tranh cướp lộc như hiện nay.
Ngay như việc tranh cướp lộc tại các lễ hội dân gian xưa kia cũng chỉ mang tính biểu tượng, hai bên trai làng chia nhau ra thành hai phe rồi giả vờ tranh cướp làm phép.
Cướp xong lại thả ra để người khác cũng được hưởng niềm vui đó chứ hoàn toàn không có chuyện cướp bằng mọi giá để mang về nhà làm của riêng.
Điều đó cho thấy giá trị văn hóa lễ hội cao thượng từ ngàn xưa của người Việt.
Điều đáng buồn là hiện nay nhiều người đi lễ hoặc đến tham dự các lễ hội thường hiểu sai lệch về lộc”.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Dương - Phó Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ảnh: Tùng Dương.
Hiện nay nhiều địa phương thường quảng bá một cách thái quá về lễ hội nhằm tăng lượng khách du khách, cũng là để tăng doanh thu cho địa phương.
Họ nói quá lên rằng lễ hội này thiêng lắm, lộc ở đây thiêng lắm và nếu có được một chút lộc này thì làm ăn phát tài, giàu có, ước gì được nấy…
Thậm chí có những nơi còn rỉ tai nhau là nếu được một chút lộc ở hội này thì sẽ sinh con trai và được thăng tiến trong sự nghiệp công danh.
Những điều đó đã đánh trúng vào tâm lý và nhu cầu của du khách nên dù có ở xa họ cũng cố đến tham gia lễ hội. 
Tuyên truyền chất thiêng của lễ hội quá mức sẽ gây ra những hệ luỵ lâu dài. Ảnh: Tùng Dương.
“Phải nói rằng cơ chế thị trường nó tác động mạnh làm cho con người ta phải cạnh tranh ở mức cao, quá nhiều sự rủi ro trong làm ăn cũng như trong cuộc sống.
Suy nghĩ đó dẫn đến mọi người phải tìm một sự bấu víu vào cái gì đó để nuôi dưỡng niềm tin, rằng sẽ được may mắn nếu như mình thực hiện được hành động đó và cụ thể ở đây là lộc Thánh.
Chính vì người ta có suy nghĩ làm sao để sinh được con trai, làm sao để phát tài, làm sao để thăng quan tiến chức…
Lộc thì ít mà người thì nhiều dẫn đến suy nghĩ nếu đợi được chia chút lộc thì làm sao còn đến mình vì người dự Hội đông thế này.
Vậy phải nhanh nhanh mà cướp thôi thì mới mong có được chút lộc, một người cướp được thì người khác cũng lao vào cướp dẫn đến tan nát cả lễ Hội vốn trang trọng với lễ nghi từ nghìn đời.
Việc quảng bá quá mức về lễ hội cộng với những hành động cướp lộc phản cảm đã tạo nên một trào lưu xấu cho các lễ hội Việt những năm gần đây”, ông Dương nói.

Trai làng đánh nhau do tranh cướp quả phết lại Hội cướp phết Hiền Quan, Phú Thọ. Ảnh: Tùng Dương.
Sự việc cướp lộc đó lại được địa phương thêu dệt thêm bằng những việc như: Nhà đó năm ngoái cướp được lộc nên năm nay làm ăn phất hẳn lên hoặc là cậu kia năm ngoái cướp được lộc có khác, sinh con trai ngay.
Tất cả những sự việc phát tài hay sinh con trai chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng nó được thổi phồng lên quá mức khiến cho mọi người lại càng tin và tự nhắc mình Hội sang năm sẽ phải cướp lộc cho bằng được.
Thậm trí có những nam thanh nữ tú chưa xây dựng gia đình riêng và còn đang đi học nhưng cũng hung hăng lao vào cướp lộc với suy nghĩ để sau này mình sẽ sinh được con trai hoặc khi đi làm sẽ thăng tiến trong công việc.
Đó cũng là tâm lí đám đông hùa theo một sự việc mù quáng, u mê góp phần tạo nên những hành động phản cảm, thiếu văn hóa.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Dương: “Xin lộc hay cụ thể là những hành động lao vào cướp lộc phản cảm, cay cú như hiện nay.
Với suy nghĩ cướp càng nhiều thì lộc càng lớn là trái với đạo lí, thuần phong mỹ tục của người Việt.
Với những suy diễn như vậy càng thúc đẩy con người ta đến những sự dành giật quyết liệt hơn
Dẫn đến cay cú, đánh nhau ngay tại lễ Hội như ở Hội cướp phết Hiền Quan (Phú Thọ) hay như cướp hoa tre ( Hội Gióng) và Hội Đúc Bụt (Tam Dương, Vĩnh Phúc)…
Những sự việc xấu như vậy hoàn toàn phản văn hóa, không đúng với tinh thần lễ hội dân gian của người Việt” và trái với giáo lí nhà Phật.
Khôi phục lại những lễ hội cổ truyền để lan tỏa tính cộng đồng, văn hóa, giáo dưỡng tâm hồn, thắt chặt tình đoàn kết nhưng đáng tiếc lại dẫn đến những sự việc phản cảm thì vô hình chung là lễ hội thất bại.
Hiện nay xin lộc đã bị trục lợi, biến tướng dẫn đến cả một xã hội u mê, tham lam, tranh cướp lộc khi tham gia lễ hội. Ảnh: TTXVN
Khi xã hội phát triển ở mức cao, nhận thức của người dân cũng cao thì những nghi lễ tâm linh đó phải càng mang tính biểu tượng chứ không thể là những hành động phản cảm.
Một đất nước có phát triển đến bao nhiêu ở khía cạnh kinh tế thì khi đánh giá người ta vẫn soi chiếu vào những giá trị văn hóa, giá trị con người phải được tôn vinh thì mới được nhìn nhận là xã hội phát triển.
Một xã hội được coi là phát triển thì nó phải tổng hòa được nhiều giá trị, nhiều yếu tố như đời sống, kinh tế tăng trưởng, giáo dục phát triển, văn hóa và đặc biệt là hành vi cộng đồng, ý thức công dân…
Những điều đó mới khẳng định giá trị của một xã hội phát triển.
Đáng tiếc là khi kinh tế đi lên thì nhiều nơi văn hoá lễ hội lại bị biến tướng, và đã có nơi bị cấm tổ chức như Hội dân gian cướp phết ở xã Hiền Quan tỉnh Phú Thọ là một thí dụ điển hình, vì trai làng cay cú dẫn đến ẩu đả, xô xát.
Tuy nhiên, biện pháp này không giải quyết được bản chất của vấn đề, bởi cái cần là tuyên truyền để người dân hiểu thực sự về ý nghĩa lễ hội để họ không còn hành động mù quáng như vậy nữa.
“Do tuyên truyền, giáo dục về tinh thần lễ hội không đến nơi đến chốn nên mới xảy ra hiện tượng trai làng đánh nhau, dẫn đến việc chính quyền ra lệnh cấm không được tổ chức.
Nếu nói cho đúng thì chính quyền không có quyền cấm và cũng không cấm được bởi lẽ: Lễ hội đó đã có truyền thống từ hàng nghìn năm với nét đẹp văn hóa vốn có của nó.
Chính quyền địa phương tuyên truyền chất thiêng của lễ hội lên quá mức, thậm trí tìm cách kéo dài Hội đến vài ba ngày, đó là thực dụng, cơ hội, trục lợi tâm linh.
Về tâm lí nó gây nảy sinh tính tham, hơn thua trong những người tham gia dẫn đến một loạt hành động chà đạp lên nhau, quyết liệt phải giành, cướp cho bằng được quả phết”, Phó Giáo sư Dương nói.
Chính quyền địa phương nơi có lễ hội phải tuyên truyền cho người dân hiểu được tinh thần cao đẹp, giá trị văn hóa mang tính chất ước lệ. Ảnh: Tùng Dương.
Khi người dân địa phương hiểu rõ những nét đẹp và ý nghĩa thực chất của lễ hội ấy, chính họ sẽ là những người lan tỏa, quảng bá hiệu quả nhất cho khách du lịch về những nét đẹp văn hóa của địa phương.
Ngành văn hóa có trách nhiệm cùng các địa phương tìm hiểu rõ ngọn nguồn, từ đó tuyên truyền, giáo dục về những nét đẹp văn hóa đó một cách thực chất, đi vào đời sống của người dân.
Đấy là những việc cần làm ngay để các lễ hội dần trở về đúng với giá trị từ ngàn xưa. Cấm đoán bằng những mệnh lệnh hành chính chẳng khác nào "đánh trống bỏ dùi", không giải quyết được cái gốc của vấn đề.
Tùng Dương
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:
TẠI SAO TRIỀU TIÊN KHÔNG THỂ SAO RẬP VIỆT NAM 
 
DIÊN VỸ lược dịch/ VNTB/ BVN 27-2-2019


VNTB - Trước hội nghị thượng đỉnh Kim-Trump, Cả Trum lẫn Pompeo đều ve vãn Triều Tiên rằng họ có thể mô phỏng cải cách thị trường của Việt Nam để trở thành “tên lửa kinh tế” và nhiều người cũng có cũng nhận định như vậy. 
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiigOo2t5fT7-dNKSIEEITpy2RtDNlwD-E92LxhF-mHVSgayOE2YkUg_s_qr-ZmvWExxP2TH9YSSpOs12jbL7Td3afwUR4ohLd5z16HQKjUaaQTGEd_Ba_HODvWZxKi1_pE8mwMPz7dZ1A/s640/Kim-Jong-Un-expected-to-visit-industrial-sites-in-Vietnam-ahead-of-summit.jpg
 
Kim Jong Un chuẩn bị khởi hành đi Việt Nam 
 
Nhưng hai quốc gia cộng sản này lại có nhiều sự khác biệt về chính trị, kinh tế nên để được như Trump nói là không thể.
Đây là mô hình không mới và phía Triều Tiên đã có các cuộc thảo luận trực tiếp với Việt Nam từ những năm 1990. Năm 2012 ông Kim đã gửi một phái đoàn đến Hà Nội để nghiên cứu kinh nghiệm cải cách Việt Nam và việc chuyển hướng sang chủ nghĩa xã hội định hướng thị trường
Những điểm tương đồng
Triều Tiên có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam đêm trước đổi mới. Ví dụ “ Chính phủ đàn áp nhất thế giới” mà Washington dành cho Việt Nam năm 1983 thì “danh hiệu” đó giờ được chuyển sang cho Bắc Hàn.
Cả hai đều ở thời điểm tương ứng về lịch sử cũng lạc hậu kinh tế. Năm 1984, Việt Nam nằm trong số 20 quốc gia nghèo nhất thế giới; thu nhập bình quân đầu người chỉ là 160 đô la Mỹ, theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào thời điểm đó.
Lạm phát thường đạt gần 1.000%, trong khi xuất khẩu không đáng kể, mặc dù Liên Xô đã mua chúng với giá tăng cao. Hà Nội đã phụ thuộc vào nhập khẩu từ khối Xô Viết, và nợ công bị tê liệt. Việt Nam cũng phải chịu các lệnh trừng phạt do một số quốc gia phương Tây áp đặt.
Đối với các nhà kinh tế bên ngoài Bắc Triều Tiên - và có lẽ đối với hầu hết các chuyên gia bên trong cũng vậy - gần như không thể đánh giá chính xác tình trạng của nền kinh tế Triều Tiên.
Một ước tính gần đây của một nhóm nghiên cứu của người Bắc Triều Tiên làm việc tại ngân hàng trung ương Hàn Quốc, ước tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của họ vào năm 2017 ở mức 32,3 tỷ đô la.
Hà Nội đã phi quân sự hoá từ những năm 1980 vì Hà Nội không còn khả năng trả lương cho quân nhân và nhiều người quay sang tham gia buôn bán nhỏ, việc này đã cứu vãn Việt nam thoát khỏi nạn đói. Theo Bill Hayton, đây là điều Triều Tiên nên học hỏi Việt Nam vì Bình Nhưỡng hiện là một quốc gia quân sự.
Tuy nhiên những điểm khác biệt đáng kể làm cho Triều Tiên không dễ gì mô phỏng kinh nghiệm cải cách của Hà Nội được

Khác biệt về chính trị 
Triều Tiên hiện đang được yêu cầu từ bỏ kho vũ khí hạt nhân với phạm vi có thể nhắm vào các thành phố của Mỹ trong khi đó vào cuối những năm 1980, cộng đồng quốc tế chỉ đơn thuần yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi nước láng giềng Campuchia sau khi xâm chiếm đất nước này vào năm 1979.
Đảng Công nhân cầm quyền Triều Tiên ngày nay được xem là một triều đại độc tài hơn cả một Đảng Cộng sản thông thường nào khi mà Triều tiên đã được ba thế hệ trong gia đình Kim cai trị. Và do đó bất cứ ai từ bên ngoài gia đình Kim đều không có cơ hội sử dụng bất kỳ quyền lực chính trị quan trọng nào.
Trong khi đó, từ đầu năm 1986 Việt Nam có sáu lãnh đạo đảng khác nhau và cũng như nhiều Thủ tướng trong hệ thống độc đảng độc tài của Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam, luôn luôn đi theo cái gọi là “tập trung dân chủ” từ những năm 1970 khi Đảng thống nhất rằng 4 vị trí chính trị cao nhất không bao giờ được giao cho một người nắm giữ một lúc.
Quy định này chỉ bị huỷ đi vào năm ngoái khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trở thành Chủ tịch nước. Tuy nhiên, các lãnh đạo cao cấp bị giới hạn hai nhiệm kỳ, dự kiến sẽ rút lui sau đó khi họ trên 65 tuổi.
Như vậy, sự phân chia quyền lực này không chỉ thường xuyên làm trẻ hóa Đảng với các quan chức trẻ tuổi, mà còn đảm bảo không ai giành được quyền kiểm soát độc tài.
Một sự đổi mới chính trị như vậy là không tưởng ở Triều Tiên ngày nay vì “Tập trung dân chủ” của Việt Nam, gần như chắc chắn sẽ tiêu diệt Đảng Công nhân Triều Tiên của Kim, một nhà độc tài đơn độc lãnh đạo hàng đất nước chục năm.
Trong khi cả hai đảng cộng sản cầm quyền về cơ bản đã từ bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong những thập kỷ gần đây. Nhưng Hà Nội chuyển từ kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, họ cũng ưu tiên cải thiện quan hệ quốc tế để tạo thuận lợi cho thương mại. Thêm bạn bớt thù là một phương châm được Đảng nghĩ ra từ đầu năm 1988. Bắc Triều Tiên tuy đã chính thức loại bỏ từ “chủ nghĩa cộng sản” ra khỏi hiến pháp năm 2009, nhưng thay vào đó là hệ tư tưởng “ưu tiên hàng đầu cho quân sự” của nhà lãnh đạo tối cao.
Ngoài ra hơn 90% người Việt Nam được hỏi ủng hộ thương mại tự do, tỷ lệ cao hơn đáng kể so với các quốc gia Đông Nam Á khác theo như khảo sát gần đây của FT Confingu Research, một dịch vụ nghiên cứu của Thời báo Tài chính – Financial Times.
Trong khi đó cộng sản ở Triều Tiên lại nhấn mạnh về sự thuần khiết chủng tộc Triều Tiên và đoàn kết chống Mỹ. Vì vậy để tạo ra ý kiến khác biệt, kể cả loại bỏ ý tưởng bài Mỹ sẽ rất khó khăn.
Khác biệt về lịch sử
Năm 1986, Chính phủ do Đảng Cộng sản Việt Nam có thể huênh hoang rằng chỉ trong 40 năm, họ đã đánh bại chủ nghĩa thực dân, thống nhất đất nước, chiến thắng các cuộc xâm lược nước ngoài, của cả Mỹ lẫn Trung Quốc, và thậm chí giải phóng nước láng giềng Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Khả năng khoe khoang của Đảng Cộng sản về những thông tin quốc gia đó đã xoa dịu phần nào những bất ổn kinh tế sâu sắc của họ vào thời điểm đó.
So với Việt nam, Triều Tiên ngày nay đã thất bại trong cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-53 và đã không tham gia vào bất kỳ cuộc xung đột quân sự quan trọng nào kể từ khi bán đảo Triều Tiên vẫn bị chia cắt giữa Bắc và Nam. Trong khi đó kinh tế Triều Tiên là một trong những nền kinh tế lạc hậu nhất thế giới với những năm đói khát dai dẳng.
Những thiếu sót trong lịch sử của Triều Tiên có thể được bù đắp bằng vũ khí hạt nhân mà họ đã phát triển và khiêu khích Hoa Kỳ, nhưng phi hạt nhân hóa rõ ràng là cách duy nhất có thể bắt đầu đổi mới theo kiểu Việt Nam.
Khi Hà Nội bắt đầu cải cách thị trường tự do vào năm 1986 khi hầu hết các nước láng giềng đều lạc hậu về kinh tế, kể cả Trung Quốc. Điều đó làm cho họ dễ dàng để bắt kịp hơn.
Nếu Triều Tiên muốn lập thực hiện quá trình chuyển đổi kinh tế tương tự, họ sẽ bị Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc bao vây, các nền kinh tế lớn thứ hai, thứ ba và thứ 12 tương ứng, và theo một trật tự kinh tế toàn cầu tinh vi và chặt chẽ hơn nhiều.
Tuy nhiên để Triều Tiên có thể dễ dàng tái tạo kinh nghiệm cải cách Việt Nam, phần lớn phụ thuộc việc Bình Nhưỡng có tin rằng việc chuyển đổi kiểu như vậy là có thể hay không và kể cả khả năng thành công của hội nghị thượng đỉnh Kim-Trump này.
Nguồn : Why North Korea won’t be the next Vietnam
VNTB gửi BVN

Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

20190224. BÀN: KHI HIỆU TRƯỞNG KHÔNG CÒN LÀ CÔNG CHỨC

ĐIỂM BÁO MẠNG
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG CÔNG LẬP SẼ KHÔNG CÒN LÀ CÔNG CHỨC
BÙI NAM/ GDVN 18-2-2019
Theo quy định tại Điều 2, Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/1/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức nếu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này.
Theo đó, công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại khoản 1, khoản 4, khoản 5, Điều 11 Nghị định nêu trên như sau:
Đơn vị sự nghiệp công lập là các tổ chức được cơ quan có thẩm quyền của Đảng, cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.

Từ 2020, Hiệu trưởng các trường phổ thông công lập sẽ không còn là công chức (Ảnh minh họa: vov.vn).
Vì vậy, hiệu trưởng nhà trường là công chức nếu nhà trường đó là đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc Tổng cục, Cục và tương đương trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; tỉnh ủy, thành ủy; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tổ chức chính trị – xã hội cấp tỉnh; huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh ủy; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Như vậy, có thể hiểu rằng, các hiệu trưởng tại các trường phổ thông công lập được nhà nước cấp kinh phí và thực hiện tự chủ theo Nghị định 43/NĐCP sẽ là công chức.
Nhưng, việc thực hiện chuyển xếp hiệu trưởng sang công chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc khi thực hiện nhiệm vụ và chi trả chế độ.
Cụ thể, nếu chuyển xếp hiệu trưởng sang công chức thì hiệu trưởng chỉ hưởng phụ cấp chức vụ và phụ cấp công vụ 25% mà sẽ không được chế độ phụ cấp ưu đãi và phụ cấp thâm niên nhà giáo.
Điều này rất thiệt thòi cho các hiệu trưởng, khi đó lương của hiệu trưởng tại các cơ sở giáo dục sẽ rất thấp so với giáo viên.
Trong khi đó, thực hiện thông tư 15/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chế độ làm việc của giáo viên phổ thông thì hiệu trưởng vẫn phải dạy 2 tiết/tuần.
Như vậy, hiệu trưởng vừa làm nhiệm vụ chuyên môn, vừa làm nhiệm vụ lãnh đạo nhưng xếp vào ngạch công chức và lương sẽ giảm xuống là một thiệt thòi rất lớn và nhiều hiệu trưởng sẽ từ chức để trở thành giáo viên.
Từ 2020, Hiệu trưởng sẽ là viên chức quản lý không còn là công chức
Nhận thấy bất cập trên nên Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến hoàn thiện và dự kiến trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến vào hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Viên chức và áp dụng từ ngày 01/01/2020.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 như sau:
“2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Điều này nhằm thể chế hóa chủ trương “không thực hiện chế độ công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập (trừ các đơn vị thực hiện phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ quản lý nhà nước)” tại Nghị quyết 19/NQTW tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XII.
Dự kiến, Luật Cán bộ công chức và Luật Viên chức (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2020.
Có nghĩa là khi đó hiệu trưởng các trường đơn vị sự nghiệp công lập sẽ không còn là công chức mà là viên chức quản lý, sẽ được hưởng các chế độ của viên chức.
Bên cạnh đó, từ năm 2020 viên chức sẽ được trả lương theo vị trí việc làm, hiệu trưởng được xếp ngạch viên chức là hoàn toàn phù hợp.
Khi đó bảng lương giáo viên, nhân viên của các trường học trong các đơn vị sự nghiệp công lập có 3 thang, bảng lương gồm bảng lương viên chức quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn), bảng lương chuyên môn của giáo viên đứng lớp và bảng lương của nhân viên (kế toán, văn thư, thư viện...).
BÙI NAM
HIỆU TRƯỞNG KHÔNG CÒN LÀ CÔNG CHỨC THÌ LÀM KHÔNG ĐƯỢC, CHO NGHỈ LUÔN
TRINH PHÚC/ GDVN 19-2-2019
Chiếu theo quy định trong dự thảo Luật Cán bộ công chức và Luật Viên chức mà Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến thì hiệu trưởng ở các trường phổ thông công lập không còn là công chức nữa.
Quy định mới này khiến nhiều người băn khoăn cho rằng, nếu hiệu trưởng không còn là công chức nữa thì những quyền hạn của hiệu trưởng có giảm bớt so với hiện nay không?
Hay khi hiệu trưởng không là công chức nữa thì có khích lệ, động viên được hiệu trưởng làm việc tốt hơn bây giờ?

Thầy Nguyễn Xuân Khang, Hiệu trưởng Trường Marie Curie (Hà Nội) ảnh nguồn giaoduc.net.vn.
Trước những ý kiến trên, trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Nguyễn Xuân Khang, Hiệu trưởng Trường Marie Curie (Hà Nội) cho biết, thầy rất hoan nghênh nội dung của dự thảo lần này.
Theo thầy Khang: “Việc hiệu trưởng không còn được xếp là công chức và được trả lương theo quy định: “Từ năm 2020 viên chức sẽ được trả lương theo vị trí việc làm” là điều tích cực.
Các trường công lập sẽ có 3 thang bảng lương khác nhau đó là: Bảng lương viên chức quản lý; Bảng lương giáo viên đứng lớp; Bảng lương nhân viên”.
Tâm sự thêm xung quanh vấn đề này, thầy Khang chia sẻ:
“Tháng 9/1996, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh (phụ trách khối Văn Xã) đến thăm trường Marie Curie, trường báo cáo cách thức trả lương của nhà trường.
Theo đó, trường trả lương vào việc mà không trả lương vào người. Nghĩa là đã có ba-rem tiền của các công việc, ai làm việc gì thì cộng tất cả tiền của các công việc đó lại thành lương.
Phó Thủ tướng nói: “Tuyệt vời, trường công cũng nên trả lương theo cách này!”.
Phân tích thêm về sự thay đổi và xu thế trong việc quản lý nhà trường phổ thông công lập hiện nay thầy Khang cho biết: “Nhà nước là chủ thể trường công, tất cả các thành viên (viên chức) hiệu trưởng, hiệu phó, giáo viên, nhân viên... đều được nhà nước “thuê” về làm việc cho trường.
Vì thế, ai làm được việc thì giữ, không làm được việc thì nghỉ... Hợp đồng lao động xác định rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sử dụng lao động (Nhà nước) và người lao động”.
Cũng liên quan đến vấn đề này phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã trao đổi với ông Vũ Đăng Minh, chánh văn phòng Bộ Nội vụ.
Ông Minh chia sẻ rằng, tới đây quy định công chức theo hướng chỉ áp dụng với các cơ quan hành chính nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ…còn lại các đơn vị sự nghiệp mang tính chất dịch vụ công thì sẽ là viên chức kể cả người đứng đầu.
Trường phổ thông bình thường hoàn toàn làm dịch vụ giáo dục nên hiệu trưởng không còn là công chức nữa mà là viên chức.
Cũng theo ông Minh:
“Mặc dù hiệu trưởng không là công chức nữa nhưng theo chức năng nhiệm vụ, tinh thần phân cấp thì hiệu trưởng vẫn nắm giữ vai trò quản lý.
Do chủ trương đẩy mạnh phân cấp, đi kèm với phân cấp là điều kiện nên tới đây còn giao quyền nhiều hơn cho hiệu trưởng.
Việc giao quyền tự chủ cho hiệu trưởng như trao quyền cho tướng quân tại ngoại.
Tức là tăng quyền tự chủ cho hiệu trưởng vì thế việc hiệu trưởng có là công chức hay viên chức thì không làm thay đổi vai trò chức năng của hiệu trưởng”.
Căn cứ vào bản giải trình của dự thảo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức thì quy định công chức bao gồm cả những người làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập trên thực tế đã phát sinh một số vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Theo đó viên chức được bổ nhiệm vào bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập hầu hết không muốn chuyển sang giữ ngạch công chức.
Trong khi đó các trường hợp công chức được điều động sang làm lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập thì đương nhiên vẫn giữ ngạch công chức.
Điều này dẫn đến sự không thống nhất trong việc thực hiện chế độ, chính sách và áp dụng cơ chế quản lý đối với đối tượng này.
Đồng thời, việc quy định áp dụng Luật Cán bộ công chức đối với người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp cũng không phù hợp với thực tiễn và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các quy định về quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, đánh giá, thôi việc, kỷ luật đối với đội ngũ này.
Ngoài ra, để bảo đảm sự liên thông, thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện giữa các quy định của Đảng và pháp luật trong công tác cán bộ, việc nghiên cứu, sử dụng thống nhất khái niệm cán bộ, công chức trong các văn bản của Đảng với quy định của Luật Cán bộ, công chức là cần thiết.
Vì thế trong dự thảo luật lần này đã quy định, Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
Trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
Trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Trinh Phúc
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:
HIỆU TRƯỞNG CÓ THỂ MẤT ĐI VAI TRÒ ĐỨNG ĐẦU VÌ KHÔNG  LÀ CÔNG CHỨC

TRẦN PHƯƠNG / GDVN 23-2-2019

Theo quy định trong dự thảo Luật Cán bộ công chức và Luật Viên chức mà Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến thì hiệu trưởng ở các trường phổ thông công lập không còn là công chức nữa.
Quy định mới này khiến nhiều người băn khoăn cho rằng, nếu hiệu trưởng không còn là công chức nữa thì những quyền hạn của hiệu trưởng có giảm bớt so với hiện nay không?
Hay khi hiệu trưởng không là công chức nữa thì có khích lệ, động viên được hiệu trưởng làm việc tốt hơn bây giờ?
Trước những ý kiến trên, trao đổi với Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy giáo Đinh Văn An, Hiệu trưởng Trường tiểu học Sủng Trái (Đồng Văn, Hà Giang) cho rằng:
“Theo ý kiến cá nhân của tôi, việc các nhà nghiên cứu dự thảo có lẽ cũng đã nghiên cứu kỹ và có thể sẽ có hướng tích cực. Tuy nhiên, với đặc thù hiện tại theo tôi còn có nhiều khó khăn ngay bước đầu áp dụng.
Nếu như hiện nay, hiệu trưởng không là công chức thì việc quản lý chung sẽ có nhiều khó khăn.
Một trong những công việc của Hiệu trưởng chính là quản lý và đánh giá cán bộ giáo viên.
Như vậy, nếu không còn là công chức, vai trò của người đứng đầu sẽ mờ nhạt. Việc quản lý các công việc chung sẽ gặp nhiều khó khăn.
Bởi, theo quy định hiện hành, công việc của hiệu trưởng không bó hẹp mà nó còn nhiều công việc khác nhau trong đó phải chịu trách nhiệm cho chất lượng dạy và học của trường, phụ trách địa bàn của cả một cấp xã (đối với các trường phổ thông cơ sở, tiểu học)…”.
Trước ý kiến cho rằng vẫn có nhiều Hiệu trưởng có biểu hiện lộng quyền khi lạm dụng việc mình làm công chức để thực hiện các chức năng nhiệm vụ khác ngoài hiệu trưởng, thầy giáo Đinh Văn An:
“Hiện nay cơ chế dân chủ lấy phiếu tín nhiệm cũng đã và đang được thực hiện đầy đủ hàng năm. Đây cũng là hình thức đánh giá đầy đủ năng lực của Hiệu trưởng.
Nếu phát huy tốt cơ chế dân chủ tại cơ sở thì không có lý do gì chúng ta không làm tốt nhiệm vụ của Hiệu trưởng.
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều tiêu chí để đánh giá năng lực làm việc của hiệu trưởng. Nếu làm tốt các tiêu chí thì sẽ không có việc bất cập về công chức hay viên chức”.

Thầy giáo Nguyễn Văn Thuận, Hiệu trưởng trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Lũng Táo (Đồng Văn, Hà Giang) cho rằng còn có nhiều bất cập nhất là đối với giáo dục vùng sâu, vùng xa. 
Cũng tỏ ra băn khoăn trước ý kiến của dự thảo về việc hiệu trưởng không là công chức, thầy giáo Nguyễn Văn Thuận, Hiệu trưởng trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Lũng Táo (Đồng Văn, Hà Giang) cho rằng những quy định như vậy khi áp dụng vào thực tế có thể sẽ còn nhiều bất cập:
“Đặc thù công việc của Hiệu trưởng bao quát rất nhiều công việc khác nhau không chỉ là quản lý chất lượng giáo dục, nếu là viên chức, hiệu trưởng có thể chỉ thực hiện các công việc của một viên chức, ít chủ động sáng tạo trong quản lý các hoạt động của nhà trường”.
“Công việc của hiệu trưởng hiện nay là quản lý nhiều mặt khác nhau như xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường…Quản lý nhân sự trong trường; Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh; Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường…
Như vậy, nếu là viên chức, các quy định của hiệu trưởng sau này có quy định khác đi hay không?
Nếu giữ vững các quy định như hiện nay, cùng là viên chức như giáo viên, hiệu trưởng sẽ mất vai trò người đứng đầu.
Đối với trường công lập, hiện nay, việc quản lý tài sản của nhà trường là vai trò của hiệu trưởng, trách nhiệm của công chức sẽ rất quan trọng.
Nếu là viên chức, việc quản lý tài sản của nhà nước trong trường có đảm bảo các quy định hiện hành hay không?
Bên cạnh đó, ở các trường vùng sâu vùng xa sẽ rất khó khăn bởi, nếu là công chức, có biên chế, theo lệnh điều động họ phải đi.
Còn khi bỏ biên chế, sẽ khó có giáo viên nào tình nguyện đi đến các điểm trường vùng khó khăn”. Thầy Thuận cho biết.
Bên cạnh đó, cũng theo thầy Thuận nếu thực hiện việc hiệu trưởng không là công chức thì cũng cần phải có những quy định cụ thể về chức danh, nhiệm vụ, bổ sung những chính sách để đảm bảo quyền lợi cũng như công việc cụ thể của hiệu trưởng để đảm bảo công việc quản lý.
Đồng thời, thầy Thuận cũng tỏ ra băn khoăn, nếu quy định hiệu trưởng không còn là công chức viên chức thì các quy định về công việc của hiệu trưởng cũng cần phải điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn, như vậy mới đảm bảo quyền lợi và tạo động lực cho hiệu trưởng làm việc, thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo tại cơ sở.
Trần Phương
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2019

20190223. TRÍ THỨC VIỆT VUI VÌ ĐIỀU GÌ ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
TRÍ THỨC VIỆT VUI VÌ ĐIỀU GÌ ?

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 23-2-2019

GS.VS.TSKH Dang Vu Minh: Bon niem vui cua tri thuc nam 2018
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại cuộc gặp gỡ giới trí thức Việt Nam (Ảnh: báo Đất Việt)
Trí thức Việt, vui vì cái gì? Chắc không có câu trả lời thống nhất vì có người được nhận là trí thức của Đảng, số khác lại tự cho là trí thức của Dân. Phải chăng 2 loại trí thức này có những niềm vui khác nhau?
Ngày 29/1/2019 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp gỡ chúc Tết 300 đại biểu trí thức Việt. Trong buổi đó ông Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã có bài phát biểu đáng chú ý. Ông nêu ra 4 điều. Báo Đất Việt đặt tên bài là: “Bốn niềm vui của trí thức năm 2018”. Trong bài còn nâng lên thành 4 niềm vui lớn. Đó là:
1. Mặc dù khó khăn, đất nước vẫn phát triển nhanh và toàn diện;
2. Giữ được môi trường hòa bình, ổn định;
3. Đảng và Nhà nước quan tâm đến công tác cán bộ;
4. Chiến thắng của đội bóng đá.
Xét về tên gọi thì 4 điều vừa nêu là niềm vui cho mọi người Việt, đặc biệt là đối với những người dễ tính, chỉ cần nghe thông tin từ một phía để củng cố lòng trung thành với chế độ. Tuy vậy khi đọc xong tôi phát hiện một số nhàm chán và sai lạc, thể hiện trình độ yếu kém của nhận thức và nắm tình hình. Ông Chủ tịch Liên hiệp Hội tự nghĩ rằng đã đại diện cho trí thức Việt Nam, nói lên các niềm vui, để ca ngợi. Tôi, một lão già U90, nhưng vẫn tự xem là trí thức, thấy xấu hổ khi biết rằng, một người có tầm hiểu biết yếu kém về xã hội như vậy mà làm đến Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH và KT và nghe đâu còn giữ những chức vụ quan trọng khác.
Trong niềm vui thứ nhất, ông Chủ tịch không nhắc đến các chỉ số tăng trưởng (ví dụ GDP tăng 7,08%).Đó là điều may cho ông, vì nhiều trí thức không tin vào các chỉ số đó. Nếu lặp lại như vẹt các chỉ số do tuyên truyền của Đảng nêu ra ông không giấu nổi vai trò bồi bút. Hãy để cho các UV của Bộ Chính trị và BCH TƯ cùng các đảng viên trung kiên tự sướng với các chỉ số đó. Ông dẫn ra việc thông xe Hầm Cù Mông và có quầy đổi tiền Việt ở Sân bay Singapore như là vài dẫn chứng cho kinh tế phát triển nhanh và toàn diện. Đúng là kinh tế có phát triển nhưng không thể nói là nhanh và toàn diện khi phần lớn nguồn thu từ xuất khẩu là của các doanh nghiệp FDI nước ngoài, khi các con đường hàng ngàn tỷ đồng vừa làm xong đã hỏng, khi đang mắc nợ hàng trăm tỷ đô la, không thể trả nợ gốc, phải đi vay thêm chỉ để trả lãi, khi môi trường bị phá hủy ở nhiều nơi, khi hàng vạn thanh niên trai tráng vui sướng được đi làm thuê ở nước ngoài v.v…
Trong niềm vui thứ hai, ông nói về ổn định. Đó là sự ổn định chính trị được giữ bằng sự đàn áp và tuyên truyền dối trá. Về ổn định cần thấy hai điều: 1. Ngoài ổn định về chính trị còn cần ổn định xã hội. Mà ổn định xã hội quan trọng hơn. Ổn định chính trị chỉ là một điều kiện, một phần của ổn định xã hội. Xã hội Việt Nam hiện nay đang mất ổn định, đó là sự sa sút đạo đức, sự xuống cấp của giáo dục, sự bành trướng của nhiều thói hư tật xấu và tội phạm, là nỗi oan của dân ở Thủ Thiêm, Lộc Hưng và nhiều nơi, là sự gia tăng đàn áp nhân quyền, là tòa án thích dùng luật rừng với các bản án bỏ túi v.v… 2. Ổn định có trạng thái bền vững và tạm thời. Cách giữ cho ổn định chính trị bằng đàn áp và tuyên truyền dối trá chỉ tạo ra ổn định tạm thời, nó sẽ bị lật khi có tác động đủ mạnh. Đó từng là ổn định của các nước XHCN Đông Âu, Liên Xô, Mông Cổ và gần đây là Venezuela.
Sự ổn định của VN hiện nay như cái cột gỗ, bên ngoài được sơn quét, tưởng như vững chắc vô cùng, nhưng bên trong đã bị mục ruổng, bị mối mọt đục khoét. Ca ngợi một sự ổn định như vậy thật không xứng với trí thức dân tộc, chỉ có thể là người tuyên truyền của Đảng.
Niềm vui thứ ba về công tác cán bộ. Ông nêu ra 3 cán bộ cao cấp tốt mà ông đã biết cách đây trên 20 năm. Ông tin rằng, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương Đảng về công tác cán bộ, đất nước chúng ta chắc chắn sẽ có nhiều cán bộ như những người đã nhắc đến. Niềm tin này của ông là quá ngây thơ và nhầm lẫn. Trong một bài viết trước đây (Phản biện đường lối cán bộ cộng sản) tôi chứng minh rằng: Qui hoạch cán bộ, Nghị quyết về cán bộ của ĐCSVN là sai lầm về cơ bản, làm theo nó chỉ có thể chọn được những kẻ cơ hội, lắm mưu ma chước quỷ mà ít trí tuệ, thiếu liêm chính và kém trung thực. Tuy vậy mới xem qua và đặc biệt là đối với những người đã quen thói xu nịnh thì lại thấy Qui hoạch và Nghị quyết là quá đúng, quá hay. Hơn nữa, đánh giá một nghị quyết không phải dựa vào vài điều viết ra trên giấy mà cần dựa vào sự thực hành và kết quả đạt được.
Về bóng đá. Tôi cũng vui mừng khi bóng đá VN có tiến bộ, đạt thành tích, nhưng không đến nổi cuồng nhiệt như nhiều người khác. Tuy vậy xem thành tích của bóng đá là một trong các niềm vui lớn của trí thức Việt là một nhận định quá dễ dãi. Ông Chủ tịch cho rằng sự cuồng nhiệt nhất thời về bóng đá thể hiện lòng yêu nước và tự hào, là thể hiện sức mạnh của dân tộc thì đó là sự hời hợt không đáng có của một người mang danh đại diện cho trí thức. Tôi cho rằng say mê bóng đá là một nhu cầu của rất đông người, nhưng dù sao đó chỉ là nhu cầu rất bình thường. Liệu ngoài VN, còn có nước nào mà đại diện cho trí thức nâng thành tích tạm thời của đội bóng đá lên thành niềm vui của cả giới hay không.
Cuối lời phát biểu ông Chủ tịch có nói đến khó khăn trước mắt, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thông tin. Ông cho rằng củng cố những niềm tin vào Đảng và Nhà nước chính là một trong số những nhiệm vụ hàng đầu của Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam trong những năm sắp tới.
Ông Chủ tịch đã tỏ ra xứng đáng là trí thức của Đảng. Tôi lấy làm tiếc cho ông là với cương vị của mình ông đã bỏ sót một niềm vui, cần kể ra để tỏ rõ lòng trung thành. Đó là việc Đảng đã kỷ luật GS Chu Hảo để làm trong sạch nội bộ, làm gương cho nhiều trí thức khác, và nhân dịp đó có nhiều đảng viên tự diễn biến đã tuyên bố từ bỏ CS để cho Đảng được vững mạnh hơn.
Không biết 300 trí thức có mặt hôm Thủ tướng chúc Tết có nhiệt liệt vỗ tay hoan hô bài phát biểu của ông Chủ tịch Liên hiệp Hội hay không. Nếu họ vỗ tay hoan hô thì đã mắc vào một trong hai nhược điểm mà trí thức cần tránh, đó là kém nhạy bén hoặc thiếu trung thực. Kém nhạy bén khi nghe phát biểu mà không phát hiện ra những điều ngô nghê. Thiếu trung thực khi phát hiện ra chúng nhưng vẫn vỗ tay ca ngợi.
Trí thức Việt, vui vì cái gì? Chắc không có câu trả lời thống nhất vì có người được nhận là trí thức của Đảng, số khác lại tự cho là trí thức của Dân. Phải chăng 2 loại trí thức này có những niềm vui khác nhau? Những niềm vui do ông Chủ tịch LH Hội nói ra chắc chỉ là niềm vui của trí thức Đảng.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN