Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

20190106. BÌNH LUẬN VỀ CUỘC CHIẾN THƯƠNG MẠI MỸ-TRUNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
TƯƠNG LAI NÀO CHO ĐỐI ĐẦU MỸ-TRUNG

NGUYỄN QUANG DY/ BVN 4-1-2019



Câu chuyện Mỹ-Trung tranh giành vị trí bá chủ thế giới như một vở kịch lớn nhiều tập vẫn đang tiếp diễn, với những màn kịch vẫn còn chưa biết. Tuy Mỹ-Trung ngừng bắn đã gần một tháng (từ 1/12/2018), nhưng con đại bàng Mỹ và con rồng Trung Quốc vẫn đang vờn nhau. Thỏa thuận ngừng bắn 90 ngày để đàm phán như một khoảng lặng trước cơn bão lớn. Bước vào năm mới 2019 với những bất định từ đối đầu Mỹ – Trung, chúng ta thử điểm lại một số sự kiện trong năm cũ 2018, vì câu chuyện năm mới thường bắt đầu từ năm cũ.
Cuối năm cũ có gì mới?
Hai năm qua, đã có 12 quan chức hàng đầu trong chính quyền Trump từ chức (hoặc bị sa thải). Bộ trưởng quốc phòng James Mattis là “người lớn” và vị tướng cuối cùng phải ra đi, sau H.R. McMaster (Cố vấn An ninh Quốc gia) và John Kelly (Chánh văn phòng Nhà Trắng). Tuy tin này không bất ngờ, nhưng Mattis từ chức chủ yếu vì bất đồng quan điểm với Trump về quyết định rút quân đột ngột khỏi Syria làm “giọt nước tràn ly”. Điều đó càng bộc lộ tình trạng bất hòa và bất ổn trong Nhà Trắng.  Đơn từ chức của Mattis đã nói lên nhiều điều.
Tại Lầu Năm góc, trong khi mọi người nghỉ lễ Giáng sinh và Năm mới, James Mattis phải dọn văn phòng để nghỉ việc luôn từ 1/1/2019 (chứ không phải 28/2/2018 như ông dự định). Trump đã nổi giận buộc Mattis nghỉ sớm 2 tháng chỉ vì ông đã chỉ trích tổng thống trong đơn từ chức, lại còn in ra 50 bản như truyền đơn để phân phát trong Lầu Năm góc. Mattis được nhiều người khen ngợi và nuối tiếc càng chọc tức Trump. Tuy Mattis ra đi là một điều đáng tiếc đối với nhiều người, nhưng nó phản ánh quan điểm của Trump. Trước mắt quyết định rút 2.000 quân khỏi Syria có vẻ gây sốc, nhưng về lâu dài nó phản ánh một tầm nhìn mới.
Trong bối cảnh tranh chấp chiến lược Mỹ-Trung, Mattis phải ra đi sớm hơn dự kiến để lại một lỗ hổng trong Nhà Trắng vì ông là tác giả chính của Chiến lược Quốc phòng (NDS) và tầm nhìn chiến lược “Indo-Pacific Mở và Tự do” (FOIP). Nhưng Trump bổ nhiệm Patrick Shanahan (thứ trưởng quốc phòng) là cánh tay phải của Mattis trong việc soạn thảo NDS. Tuy Shanahan cũng có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, nhưng ông ủng hộ Trump về chủ trương lập bộ tư lệnh không gian (mà Mattis không tán thành). Trong khi nước Mỹ phân hóa và chia rẽ về nhiều vấn đề, hầu như tất cả đều đồng thuận chống Trung Quốc. Trump quyết định rút quân khỏi Syria (và Afghanistan) cũng nhằm mục đích tập trung chống Trung Quốc.
Trong khi Biển Đông trở thành tâm điểm (và “thùng thuốc súng”) trong tranh chấp chiến lược Mỹ-Trung, Việt Nam dễ bị mắc kẹt vào trò chơi quyền lực giữa hai siêu cường (hay “bẫy Thucydides”).
Dù Biển Đông dậy sóng hay tạm lắng thì Việt Nam (và các nước ASEAN) vẫn không yên.  Theo Carl Thayer, từ tháng 10/2018, Việt Nam đã “lặng lẽ” hủy bỏ 15 hoạt động giao lưu quốc phòng với Mỹ (kế hoạch năm 2019), vì “sợ làm mất lòng Bắc Kinh” (nếu không phải vì đạo luật CAATSA). Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng động thái này chỉ là “tình thế” vì hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt vẫn tiến triển tốt. Bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã thăm Việt Nam 2 lần trong năm 2018. Theo Lê Hồng Hiệp, hành động của Trung Quốc tại Biển Đông có thể là nhân tố quan trọng nhất, quyết định tương lai hợp tác chiến lược Mỹ-Việt.
Vừa đánh vừa đàm
Ngoài những vấn nạn phải đối phó thường xuyên như biến đổi khí hậu (do thiên tai) và tham nhũng (do nhân họa), câu chuyện đầu năm đang làm thiên hạ đau đầu là cuộc chiến Mỹ-Trung. Trước thềm năm mới, Mỹ-Trung vừa hòa hoãn về thương mại, với “thỏa thuận ngừng bắn 90 ngày” tại Buenos Aires (1/12/2018), vừa triển khai chiến tranh lạnh về kinh tế, với vụ bắt “công chúa Huawei” (Mạnh Vãn Chu) tại sân bay Vancouver (1/12/2018).
Nếu 2018 là năm bản lề, đã mở ra bước ngoặt chiến lược (turning point) trong quan hệ Mỹ-Trung, từ hợp tác chuyển sang đối đầu, năm 2019 có thể kích hoạt cuộc chiến thương mại tới điểm bùng phát (tipping point), làm thay đổi bàn cờ Mỹ-Trung và trật tự thế giới. Tuy chưa biết Mỹ-Trung có bị xô đẩy vào “bẫy Thucydides” hay không, nhưng sang năm 2019, hình thái “vừa đánh vừa đàm” chắc vẫn là đặc trưng của trò chơi quyền lực Mỹ-Trung.
Khi cuộc chiến Mỹ-Trung leo thang và mở rộng, người ta mới nhận ra chiến tranh thương mại chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”. Những góc khuất của “tảng băng chìm” đầy ẩn số và biến số đang lộ dần như các mảnh ghép của một chiến lược tổng thể mà Mỹ đang nhắm vào Trung Quốc. Nếu ta chỉ quan tâm đến chiến tranh thương mại, thì chỉ “thấy cây mà không thấy rừng” và bỏ qua bức tranh lớn. Sau một thời gian dài nước Mỹ như ngủ quên, nay đã thức tỉnh và điều chỉnh chiến lược, coi Trung Quốc là đối thủ số một (theo NDS).
Trong khi thỏa thuận ngừng bắn 90 ngày có thể đem lại “thế thượng phong” cho Trump, nó như “chiếc phao cứu sinh” đối với Tập Cận Bình. Nhưng có một sự kiện nằm ngoài dự kiến của Tập là Mạnh Vãn Chu (Meng Wanzhou) bị bắt tại sân bay Vancouver (1/12/2018), là một đòn bất ngờ làm Tập và Bắc Kinh mất mặt. Tuy không rõ Trump có biết hay không, nhưng Tập và các cố vấn chắc bị động và lúng túng nên mấy ngày sau mới có phản ứng. Quyết định bắt 2 công dân Canada là nhằm trả đũa và trấn an dư luận (để gỡ thể diện).
Như “họa vô đơn chí”, ngày 1/12/2018, giáo sư vật lý Trương Thủ Thịnh (Zhang Shou Cheng) đã bất ngờ nhảy lầu tự vẫn. Ông Trương và quỹ đầu tư Danhua Capital đang bị FBI điều tra vì liên quan đến chương trình “Nghìn Nhân tài” (Thousand Talents program), nhằm thu hút công nghệ và nhân tài về các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), người máy (robotics) và blockchain.  Robert Lighthizer khẳng định(30/11/2018) Danhua Capital (vốn ban đầu US$434,5 triệu) liên quan đến kế hoạch “Made in China 2025”.
Theo chuyên gia Vũ Quang Việt, nếu Trung Quốc muốn vượt ra khỏi “bẫy thu nhập trung bình” (hiện nay là $8.000) phải có 3 yếu tố: (1) khả năng hấp thụ khoa học kỹ thuật và tự nghiên cứu phát triển; (2) khả năng vốn tự có, và (3) thị trường đủ rộng cho phát triển, đặc biệt là đẩy khu vực phát triển thấp bắt kịp khu vực phát triển cao trong nội địa. Nhưng nay cả 3 yếu tố này đang phụ thuộc nhiều vào hệ quả của cuộc chiến thương mại với Mỹ.
Chiến lược hay chiến thuật?
Trong bối cảnh đó, Tập đã tách vụ Mạnh Vãn Chu ra để trả đũa Canada, nhưng cố tránh gây căng thẳng với Mỹ vì ngừng bắn 90 ngày với Mỹ lúc này là nước cờ chiến lược quan trọng, nên Tập phải nuốt giận nhượng bộ Trump.  Ngoài quyết định mua 500.000 tấn đậu tương (trị giá $180 triệu) và giảm 25% thuế nhập khẩu ô-tô Mỹ (từ 40% xuống còn 15%), Bắc Kinh còn cấm bán sang Mỹ chất fentanyl (gây nghiện) và phạt thật nặng những ai vi phạm, đồng thời hứa xem xét lại vụ Qualcomm mua công ty NXP, và sẵn sàng mở cửa thị trường.
Tuy chưa rõ như vậy đã đủ để thuyết phục Trump hay vẫn “quá ít và quá muộn” (too little too late), nhưng qua vụ phạt ZTE (đã thành án lệ) và xử lý tiếp Huawei (đang diễn ra), Trump muốn tăng sức ép lên “chuỗi cung ứng” (như công nghệ 5G) là “gót chân Asin” của Trung Quốc. Huawei và ZTE là 2 chủ bài về công nghệ cao của Trung Quốc (Huawei lớn hơn ZTE 5 lần), nên chắc Tập phải cứu. Mới đây, Bắc Kinh có dấu hiệu điều chỉnh kế hoạch “Made in China 2025”, tuy chưa rõ đây là điều chỉnh chiến lược hay chỉ là chiến thuật.
Theo South China Morning Post, chính phủ Trung Quốc đã chỉ đạo các địa phương không tuyên truyền rầm rộ về “Made in China 2025” như trong ba năm vừa qua. Tuy Tập Cận Bình không dễ dàng đầu hàng Mỹ và bỏ kế hoạch chiến lược mang dấu ấn của mình, nhưng có thể ông đã nhận ra sai lầm và phải điều chỉnh. Bắc Kinh đang soạn thảo một kế hoạch mới để thay thế (vào đầu tháng 3/2019) chậm lại một thập kỷ (tới 2035). Tuy chưa rõ Henry Kissinger và Henry Paulson có thuyết phục được Tập đáp ứng các yêu sách của Trump không, nhưng theo yêu cầu của Tập, yêu sách 142 điểm của Mỹ được hai bên giữ kín (để giữ thể diện).
Trong khi đó, một số quan chức trong chính quyền Trump như bộ trưởng thương mại Wilbur Ross (có quan điểm ôn hòa) nghi ngờ kế hoạch mới của Bắc Kinh và cho rằng họ chỉ xuống thang để hoãn binh chứ chưa chịu từ bỏ kế hoạch “Made in China 2025”. Nên nhớ rằng báo cáo điều tra (từ  8/2017) của Đại diện Thương mại Mỹ theo Điều 301 Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ (1974) là căn cứ cho chiến thương mại và danh sách 142 điểm mà Trump yêu cầu Bắc Kinh phải đáp ứng. Tháng trước, báo cáo cập nhật của văn phòng Lighthizer (USTR) vẫn khẳng định “Bắc Kinh chưa biết sợ (undaunting) và chưa làm gì để cải thiện tình hình”.
Quyết định của Trump cử Robert Lighthizer làm trưởng đoàn đàm phán với Trung Quốc chắc làm Bắc Kinh đau đầu. Vậy Lighthizer là ai? Tại một cuộc họp ở Nhà Trắng (8/2017), Robert Lighthizer đã lý giải đầy sức thuyết phục tại sao phải cứng rắn với Bắc Kinh, nên Trump đã lệnh cho ông điều tra và đề xuất các phương án triển khai. Trước đây, trưởng đoàn đàm phán thường là bộ trưởng tài chính (Steven Mnuchin) hoặc bộ trưởng thương mại (Wilbur Ross), nay Trump coi đàm phán với Trung Quốc là một ưu tiên hàng đầu, vì cơ hội tái cử năm 2020 phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề này. Vì vậy, đây là một canh bạc lớn đối với Trump. Về con người và phong cách, Lighthizer và Trump tuy khác hẳn nhau, nhưng tư tưởng lớn gặp nhau.
Phần nổi của tảng băng chìm
Để tránh nhầm lẫn về khái niệm, trước hết “ngừng bắn tạm thời” (truce) là Mỹ tạm dừng chưa đánh thuế 25% để đàm phán tiếp (và nghỉ Giáng Sinh), chứ không phải “đình chiến” (ngừng bắn hẳn để chấm dứt chiến tranh). Thứ hai, “ngừng bắn tạm thời” chỉ liên quan đến cuộc chiến thương mại là “phần nổi của tảng băng chìm”, trong khi Mỹ-Trung xung đột trên nhiều lĩnh vực. Thứ ba, thời hạn 90 ngày chỉ là “hoãn binh” (chiến thuật), nhưng quá ngắn để Trung Quốc có thể chuyển đổi cơ cấu (structural changes) như Mỹ đòi hỏi.
Khi cuộc chiến leo thang, Tập và Trump đều cần hoãn binh để đối phó với những vấn đề nội bộ. Trong khi Trump bị sức ép từ thị trường chứng khoán và mấy bang trồng đậu tương, Tập phải đối phó với những vấn đề cấp bách trong nước tiềm ẩn rủi ro. Tuy Mỹ và Trung Quốc đã thông tin và lý giải khác nhau về thỏa thuận ngừng bắn 90 ngày, nhưng nếu Trung Quốc không thay đổi được trong 15 tháng qua thì làm sao họ có thể thay đổi trong 3 tháng tới.
Nói cách khác, trong khi Mỹ-Trung “đối đầu” (về chiến lược) thì họ “vừa đánh vừa đàm” (về chiến thuật). Trong bối cảnh đó, Mạnh Vãn Chu đã bị mắc kẹt trong trò chơi quyền lực mới như một tù binh hay con tin chờ quyết định dẫn độ. Mạnh Vãn Chu và Huawei bị cáo buộc đã gian lận để cung cấp thiết bị viễn thông cho Iran qua Skycom (một công ty con của Huawei) nên đã vi phạm lệnh trừng phạt của Mỹ (từ 2009 đến 2014). Theo các luật sư, một toà án tại New York đã có trát bắt Mạnh Vãn Chu từ 22/8/2018.
Theo Bloomberg (7/12/2018) nếu đàm phán thương mại đổ vỡ, và Trump áp thuế 25% lên toàn bộ hàng hóa của Trung Quốc (tổng cộng $517 tỷ), thì Trung Quốc có thể nguy to. Trong cuộc chiến thương mại “bất cân xứng”, Trump tin rằng sau “hiệp hai” Bắc Kinh sẽ “hết đạn” và tổn thất nặng nề. Các chuyên gia kinh tế dự báo sang năm 2019, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ giảm từ 6,5% xuống còn 5%, và chứng khoán Trung Quốc sẽ giảm 9,4%. Có lẽ Tập Cận Bình và các cố vấn chủ chốt đã tính toán lại, thấy cần phải xuống thang và đàm phán một thỏa thuận ngừng bắn, nhằm điều chỉnh kế hoạch trước khi quá muộn.
Gần đây, Viện Hoover (Standford University) phối hợp với George Washington University và Asia Society, đã quy tụ được một nhóm (working group) gồm 33 chuyên gia hàng đầu của Mỹ và một số nước khác, để phân tích những hoạt động của Trung Quốc nhằm gây ảnh hưởng đối với các lĩnh vực (quốc hội, chính quyền bang, cộng đồng Hoa kiều, trường đại học, viện nghiên cứu, báo chí, doanh nghiệp, và công nghệ) tại Mỹ và các nước khác. Đây là lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu công phu và toàn diện, về thách thức của Trung Quốc trong hơn một năm qua. Tuy hầu hết các chuyên gia này trước đây đều ủng hộ chủ trương hợp tác với Trung Quốc (Constructive Engagement), nhưng nay chính họ lại đề xuất phải cảnh giác với Trung Quốc (Constructive Vigilance).
Việt Nam trong dòng thời cuộc
Tại diễn đàn “Vietnam Business Outlook 2019” (2/11/2018), tiến sỹ Vũ Thành Tự Anh (đại học Fulbright, thành viên tổ tư vấn của thủ tướng) đã nhận xét thẳng thắn “triển vọng kinh tế năm 2019 khá ảm đạm”. Nguyên nhân chủ yếu vừa do suy thoái kinh tế toàn cầu, vừa do tác động khó lường của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Theo Tự Anh, không nên đặt vấn đề “Việt Nam được lợi gì từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung” (vì lợi bất cập hại). Một là, cuộc chiến này của Trump được sự đồng thuận của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Hai là, cuộc chiến này không chỉ về thương mại mà là cuộc chiến tổng lực để sắp xếp lại trật tự thế giới. Ba là, còn nhiều rủi ro ở phía trước nên chớ vội lạc quan, vì “bên ngoài đang có bão”.
Theo Tự Anh, Việt Nam có nhiều cơ hội để tăng trưởng cao, nhưng khi thực hiện thì lưng chừng, nên kết quả cũng chỉ ở mức lưng chừng. Cứ sau 10 năm, lại có bất ổn vĩ mô xảy ra một lần. Năm nào kết thúc bằng số 9, thì kinh tế lại trục trặc do nền tảng tăng trưởng vĩ mô có vấn đề. Các bất ổn vĩ mô đã xảy ra trong các năm 1979, 1989, 1999, 2009. Năm 2019 chắc cũng không ngoại lệ (tuy đã ký CPTPP và có thể ký EVFTA). Đối với các hiệp định thương mại, ký kết và thực hiện không tương xứng. Ký hiệp định thương mại chỉ là cơ hội, còn tranh thủ được cơ hội hay không lại là chuyện khác (như bài học AFTA và WTO). Nguyên nhân do năng lực chúng ta chưa được chuẩn bị, “như bị trói chân tay rồi thả xuống nước để bơi”.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ và cơ hội mới. Vấn đề là làm thế nào để nhận diện được nguy hay cơ, và khôn ngoan “biến nguy thành cơ”.  Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam có mấy rủi ro lớn: Một là độ mở cao và quá lệ thuộc vào xuất nhập khẩu; Hai là nhập siêu quá lớn (đặc biệt là với Trung Quốc); Ba là quá lệ thuộc vào đầu tư FDI như “bẫy gia công” (chiếm 50% tổng thu nhập và 70% hàng xuất khẩu); Bốn là bội chi ngân sách quá cao (tới 6% GDP); Năm là vay mượn quá nhiều (mắc vào “bẫy nợ công”).
Theo chuyên gia Vũ Quang Việt (TBKTSG, 3/9/2018), Việt Nam nợ Trung Quốc hơn $6 tỷ trong tổng số nợ nước ngoài gần $100 tỷ. Tuy khoản nợ này không lớn bằng các nước khác, nhưng đủ lớn để gây sức ép với Việt Nam như “bẫy nợ”, trong bối cảnh tài khóa bất ổn hiện nay. Gần đây, Trung Quốc tăng cường ép Việt Nam “gác tranh chấp để cùng khai thác dầu khí tại Biển Đông”, như ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã nói (Sài Gòn, 16/9/2018): “Cách tốt nhất để kiểm soát bất đồng trên biển là hợp tác khai thác trên biển”. Đó là cái bẫy mà Việt Nam và Philippines cần tránh, như Malaysia gần đây đã tỉnh ngộ và thủ tướng Mahathir gọi đó là “chủ nghĩa thực dân kiểu mới”. Trong khi đó, Mỹ rất cảnh giác và sẵn sàng đánh thuế cao (tới 25% -35%) lên các mặt hàng của Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc. Riêng đối với thép Trung Quốc sản xuất tại Việt Nam, Mỹ có thể đánh thuế tới 256%.
Vũ Quang Việt cho rằng kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc. Đến nay, Trung Quốc làm chủ thầu 49/62 dự án xi măng; 16/27 dự án BOT, 90% dự án EPC. Năm 2017 Việt Nam nhập từ Trung Quốc $57 tỷ hàng hóa (bằng 30% tổng giá trị nhập khẩu), đưa mức nhập siêu lên $26,3 tỷ (bằng 10% GDP). Hệ thống viễn thông của Việt Nam cũng dựa vào công nghệ của Trung Quốc. Trong khi Viettel dựa vào Huawei để xây dựng hạ tầng viễn thông 3G, và dựa vào ZTE về điện thoại, thì VNPT cũng dùng công nghệ ZTE, trong khi ZTE và Huawei đang bị các nước Mỹ, Anh, Nhật, Úc, Canada tẩy chay (hoặc cấm) vì an ninh quốc gia.
Tuy chưa biết xu thế đối đầu Mỹ-Trung sẽ kéo dài bao lâu, nhưng xu thế hợp tác đã kéo dài bốn thập niên (quá lâu). Cuộc chiến Mỹ-Trung sẽ không kết thúc ngay cả khi Trump và Tập ký hiệp định hòa hoãn, vì đây là cuộc chiến của thế kỷ 21 để định hình lại trật tự thế giới. Trong khi một số nước xoay trục để “thân Trung” (như Philippines) là hiện tượng nhất thời (có thể đảo ngược), các nước khác xoay trục để “thoát Trung” (như Malaysia) là hiện tượng phản tỉnh (backlash) nên là xu hướng khó đảo ngược. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần cải cách thể chế và điều chỉnh chiến lược để kiến tạo một “không gian sinh tồn” an toàn hơn.
N.Q.D.
---
Ông Nguyễn Quang Dy đã từng học tập và nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Úc (ANU, 1976-1979), Đại học Harvard (Nieman Fellow, 1992-1993), công tác tại Bộ Ngoại giao (1971-2005). Ông là chuyên gia về nghiên cứu quốc tế, truyền thông báo chí, và đào tạo; đã làm cố vấn cấp cao cho một số tổ chức/chương trình đào tạo; hiện nay là nhà báo tự do và nghiên cứu/tư vấn độc lập.
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2019/01/03/tuong-lai-nao-cho-doi-dau-my-trung/

VIỆT NAM LÀM GÌ TƯỚC CUỘC SO GĂNG TRUNG-MỸ (PHƯƠNG TÂY)?

NGUYỄN ANH TUẤN/ BVN 4-1-2019

Nguồn ảnh: Global Times

BẢN CHẤT CUỘC SO GĂNG

Không giống như sự nổi lên của Nhật Bản thập niên 70s-80s biến nước này thành một hội viên được đón chào của câu lạc bộ phương Tây, sự trỗi dậy của Trung Quốc mang dáng dấp của Nga Sô sau Thế Chiến II ở chỗ đều thách thức trật tự quốc tế hiện hành do phương Tây kiểm soát với sự tự tin rằng họ đang vận hành một mô hình phát triển ưu việt hơn.
Những thành tựu phát triển của Nga Sô thời bấy giờ và của Trung Quốc hiện nay quả nhiên có thể biện minh cách tiếp cận này của họ. Hơn thế nữa, trở thành siêu cường khi mà phương Tây đã bao vây khắp mọi nơi, không có nhiều lựa chọn cho Nga Sô và Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh sinh tồn này ngoài việc phải xô đổ trật tự cũ. Nếu Nga Sô phải phá vòng vây bằng cách hỗ trợ các dân tộc thuộc địa vùng lên chống thực dân phương Tây và sau đó tham gia vào hệ thống XHCN do họ dẫn dắt, thì Trung Quốc đang tổng hợp những nỗ lực tương tự của mình trong Sáng kiến Vành đai Con đường đầy tham vọng nhằm chia lại vùng ảnh hưởng toàn cầu.
Như vậy, cũng như Nga Sô trước đây, cuộc so găng của Trung Quốc với phương Tây không chỉ bó hẹp trong một lãnh vực cụ thể mà thực chất là sự cạnh tranh chiến lược giữa hai mô hình phát triển:
- Về kinh tế, một bên nhấn mạnh vai trò quyết định của nhà nước, bên kia coi trọng sáng kiến tư nhân.
- Về chính trị, một bên tăng cường độc đoán cưỡng bách đảng trị, bên kia dựa vào dân chủ tự do pháp trị.
Bản chất mô hình phát triển dựa vào nhà nước là không khác nhưng Trung Quốc hơn Nga Sô ở chỗ tận dụng thành công bối cảnh toàn cầu hoá để học hỏi phương Tây bổ sung các yếu tố thị trường vào nền kinh tế; và cũng vì thế mà kém Nga Sô ở chỗ chưa thể xây dựng một hệ thống toàn cầu theo mô hình của mình bởi lẽ chính Trung Quốc cũng chưa đủ thời gian để hệ thống hoá chặt chẽ một mô hình mà họ chỉ mới mày mò nhờ ‘dò đá qua sông’. Nghĩa là hơn Nga Sô về chiến thuật nhưng kém về chiến lược vậy.
ĐẤU TRƯỜNG CHÍNH CỦA CUỘC SO GĂNG
Lenin từng nói một câu mà hậu bối của ông ít khi muốn nhớ, rằng xét đến cùng chủ nghĩa xã hội nếu muốn thắng chủ nghĩa tư bản sẽ phải thắng về năng suất lao động [1]. Cuộc đối đầu giữa các mô hình phát triển cuối cùng cũng nằm ở chỗ mô hình nào tạo ra năng suất lao động cao hơn.
Đó là lý do vì sao người ta đang dần nhận ra cuộc chiến Mỹ-Trung hiện nay chính yếu không phải về thương mại, mà là về công nghệ [2] - yếu tố quan trọng bậc nhất để tăng năng suất. Điều này cũng giải thích vì sao hai nước vừa tuyên bố đình chiến thương mại tạm thời nhưng ngay sau đó con gái chủ tịch Huawei - tập đoàn chủ đạo trong tham vọng cường quốc công nghệ của Trung Quốc - vẫn bị bắt.
Trung Quốc hiểu hơn ai hết tầm quan trọng của vấn đề này khi mà sự phát triển vượt bậc vài thập kỷ qua của họ không dựa vào công nghệ phát triển tự thân. Phương Tây sáng tạo công nghệ, Trung Quốc sao chép và tận dụng lợi thế quy mô (economies of scale) không thể so bì của mình để tăng năng suất, giảm giá thành rồi tranh thủ bối cảnh toàn cầu hóa để vươn lên thành thế lực sản xuất hùng mạnh bậc nhất.
Công thức phát triển này của Trung Quốc, bởi vậy, đặt trọng tâm vào việc sao chép công nghệ của phương Tây bằng 3 cách thức chủ yếu sau: (1) gián điệp công nghệ; (2) mua bán và sát nhập tập đoàn phương Tây để chiếm lấy công nghệ; (3) dùng thị trường nội địa khổng lồ để áp lực các tập đoàn phương Tây muốn làm ăn ở Trung Quốc phải chuyển giao công nghệ.
Không phải Tây phương không nhận ra chiến lược này của Trung Quốc, song chỉ khi họ vỡ mộng rằng sự phát triển kinh tế của Trung Quốc không dẫn đến cởi mở về chính trị mà trái lại còn giúp gia tăng quyền lực độc đoán đảng trị, và bừng tỉnh rằng siêu cường mới nổi này muốn tiếp bước Nga Sô thách thức trật tự quốc tế hiện hành, họ mới bắt đầu ra tay tấn công vào công thức phát triển của Đại lục với 3 đòn tương ứng sau: (1) truy bắt gián điệp công nghệ; (2) siết chặt việc mua bán và sát nhập có yếu tố Trung Quốc (qua cơ chế CFI/Ủy ban Đầu tư Nước ngoài); và (3) đẩy mạnh thương chiến nhằm sắp xếp lại chuỗi sản xuất toàn cầu vào tạo thế bảo vệ các tập đoàn làm ăn trên đất Trung Quốc.
Trung Quốc quả thật nên lo lắng, nhất là khi mới đây họ đã thất bại trong việc dùng lợi ích gây chia rẽ nội bộ khối Tây phương [3] và đang chứng kiến mỗi khi một quốc gia Tây phương ra đòn thì cả khối lại hùa theo hưởng ứng. Giờ đây vận mệnh của Trung Quốc, như Tập tuyên bố, sẽ được đặt trong nỗ lực của quốc gia này tự lực phát triển công nghệ [4].
PHE NÀO SẼ THẮNG?
Thái độ cẩn trọng không cho phép chúng ta dựa trên thiên kiến mà vội vàng đưa ra câu trả lời, đặc biệt khi chứng kiến sự phát triển vũ bão của Trung Quốc vài thập niên qua.
Tuy nhiên nếu đồng ý rằng công nghệ là đấu trường chính của cuộc so găng, Trung Quốc rõ ràng đang gặp quá nhiều bất lợi:
Đầu tiên, những diễn biến thời gian gần đây cho thấy mặc dù rất nỗ lực, Trung Quốc vẫn chưa chế ngự được khả năng sáng tạo công nghệ. Sự khốn đốn của ZTE - tập đoàn công nghệ hàng đầu Trung Quốc, dưới lệnh cấm vận công nghệ của Hoa Kỳ là một minh chứng không thể rõ nét hơn.
Hơn thế, trong khi nhiều nghiên cứu chỉ ra tự do chính trị quan trọng thế nào đối với khả năng sáng tạo về dài hạn [5], yếu tố này lại không thể chấp nhận được đối với mô hình phát triển của Trung Quốc. Nghĩa là tham vọng tự lực công nghệ thông qua chiến lược Made in China 2025 của họ, ngay cả khi không bị để ý cũng đã không dễ thành công, huống hồ hiện nay lại đang là đích nhắm tấn công của toàn khối Tây phương thì lại càng khó khăn bội phần.
Hi vọng sót lại của Trung Quốc được nuôi dưỡng bằng niềm tin rằng tinh thần quốc gia phục thù một khi được thổi bùng lên sẽ là nhiên liệu cho cỗ máy sáng tạo quốc gia như những gì từng xảy ra ở Đức sau Thế Chiến I.
Chưa rõ nỗ lực này sẽ đi về đâu nhưng nếu nhớ rằng trong khi Đức thuộc về nòng cốt của khối Tây phương, thừa hưởng sinh lực sáng tạo mạnh mẽ bắt rễ trong lối nghĩ, lối sống lý tính hóa cao độ hàng trăm năm của Tây phương nên đã chế ngự được khả năng sáng tạo, thì Trung Quốc, dù tăng trưởng liên tục những thập kỷ vừa qua nhưng chỉ mới chập chững những bước đầu tiên trong việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, sẽ thấy hy vọng của Trung Quốc dẫu chưa tới mức ảo tưởng nhưng vẫn khá mong manh.
Một thước đo khác, trực quan hơn, có thể giúp dự đoán kết quả cuộc so găng. Sáng tạo vốn dĩ gắn liền với nhân tài, là sản phẩm của cá nhân và tập thể nhân tài. Thử xem nhân tài trên thế giới đã, đang và sẽ đổ về Mỹ và phương Tây hay là về Trung Quốc để thấy viễn cảnh Trung Quốc u ám ra sao nếu vẫn đẩy quốc gia dấn sâu vào cuộc cạnh tranh chiến lược này [6].
VIỆT NAM PHẢI CHỌN
Câu hỏi đầu tiên đặt ra là liệu Việt Nam có thể đứng bên lề cuộc so găng lịch sử này với một tư thế trung lập được không?
Khả năng cao là không. Việt Nam là một nước nhỏ yếu nằm ở vị trí trung tâm của đấu trường so găng là khu vực Biển Đông, mà đã nhỏ yếu thì khó thoát vòng chi phối của các siêu cường mỗi khi họ đụng độ. ‘Các nước Đông Nam Á có thể bị buộc phải chọn một trong hai’ [7], lời phát biểu mới tháng trước của Lý Hiển Long tuy ngắn gọn nhưng đủ cho thấy đảo quốc này, nhờ đứng chân trên một di sản và kinh nghiệm ngoại giao phong phú, đã thấu hiểu thời cuộc ra sao.
Nghĩa là, dù Việt Nam có muốn hay không thì các siêu cường cũng sẽ tính toán trên lưng các nước nhỏ như Việt Nam, thế thì chi bằng Việt Nam chọn lựa vị trí của mình trước, ít ra cũng chiếm được đôi chút thế chủ động.
Tuy đáng lo ngại khi lịch sử chứa đầy các ví dụ cho thấy nước nhỏ, gồm cả Việt Nam, đã trở thành chiến trường ủy nhiệm của các siêu cường ra sao, nhưng lịch sử đồng thời cũng cho thấy các quốc gia chậm tiến chỉ có thể phát triển vượt bậc nhờ khéo léo khai thác mâu thuẫn giữa các siêu cường như thế nào. Nếu Nhật Bản nương vào cuộc tranh giành thuộc địa giữa các thực dân Tây phương thì Hàn Quốc tận dụng mâu thuẫn Chiến tranh Lạnh, nếu Đài Loan khai thác thù địch Mỹ-Trung thì chính Trung Quốc sau đó lại chủ động khoét sâu mâu thuẫn Mỹ-Nga Sô (mà việc xâm lược Việt Nam năm 1979 là một phần trong kế hoạch đó) - tất cả đều là để tìm cơ hội phát triển và hiện đại hóa quốc gia.
Vì sao lại thế? Vì chỉ khi đụng độ lớn các siêu cường mới sẵn sàng hỗ trợ hết mình cho đồng minh nhược tiểu nhằm phục vụ cho lợi ích của chính các siêu cường. Bên cạnh đó, vì nhu cầu chứng minh mô hình phát triển của mình là tốt nhất, sự hỗ trợ của các siêu cường cũng mang tính toàn diện, không chỉ gói gọn trong lãnh vực quân sự, mà lan rộng ra cả kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, xã hội.
Hiểu như thế để thấy Việt Nam chẳng nên lo ngại cuộc so găng lịch sử này mà trái lại cần hoan nghênh nó như một cơ hội, nếu đã coi phát triển quốc gia là mục tiêu tối thượng.
Cũng có nghĩa là, câu hỏi bây giờ không phải là có chọn phe hay không, mà là phải chọn phe nào?
CHỌN PHE NÀO?
Với những phân tích ở trên rõ ràng là nên nghiêng về phương án Mỹ/phương Tây bởi ưu thế vượt trội của phe này. Thực tế thì tất cả những nước Đông Á kể trên (Nhật, Hàn, Đài, Trung) cũng đã từng lựa chọn tương tự trong những thời điểm quốc gia đòi hỏi hiện đại hóa.
Đó là chưa nói đến có nhiều lý do khiến việc đứng về phe Trung Quốc không hề đảm bảo một kết cục tốt đẹp.
Trước hết, chiến lược ngoại giao bẫy nợ của Trung Quốc đang dấy lên lo ngại khắp nơi và thực tế là chưa có nước nhỏ yếu nào trở nên thịnh vượng nhờ gắn vận mệnh của mình vào Trung Quốc khi mà cách tiếp cận cùng thắng (win-win) chưa bao giờ là ưu tiên của quốc gia này.
Thứ nữa là tâm lý chống Trung Quốc lan rộng của người dân Việt Nam, hàm ý rằng ngay cả khi những người lãnh đạo bằng cách nào đó nhìn thấy lợi ích quốc gia trong việc tăng cường hợp tác với Trung Quốc thì sự hợp tác đó cũng khó lòng được công chúng ủng hộ, nghĩa là đã để ngỏ sẵn sự thất bại.
Cuối cùng nhưng quan trọng không kém là hồ sơ tranh chấp chủ quyền biển đảo sẽ khiến mọi chọn lựa đứng về phía Trung Quốc, nếu thành hiện thực, đồng nghĩa với đánh đổi chủ quyền quốc gia trên thực tế.
PHẢI LÀM GÌ?
Ngoại giao dù khéo léo đến đâu chỉ có thể trì hoãn chứ không thể chấm dứt được hiểm họa bành trướng Trung Quốc phủ bóng lên dân tộc chúng ta, và cũng không thể ngăn các siêu cường thương lượng trên lưng những nước nhược tiểu như chúng ta.
Ở một vị trí như nước ta trong tình thế hiện nay, ngoại giao cùng lắm chỉ giúp mua thời gian để chúng ta hiện đại hóa quốc gia nhanh nhất có thể. Mục tiêu của chúng ta không bao giờ là đổi danh dự lấy hòa bình để rồi đánh mất cả hai trong ô nhục, mà phải tìm mọi cách để xây dựng quốc gia hùng mạnh nhất có thể. Chỉ khi quốc gia chúng ta đủ hùng mạnh thì Trung Quốc mới phải cân nhắc thật kỹ trước khi chọn chúng ta làm đối tượng bành trướng của họ, và chính chúng ta mới đủ khả năng xoay sở vượt thoát thân phận con cờ trên bàn cờ nước lớn.
Mà muốn thế thì:
Đầu tiên, phải xóa bỏ tâm lý yếm thế, lo ngại xung đột của một thứ chủ nghĩa hòa bình thiếu chân đế. Nếu tin rằng phát triển quốc gia là mục tiêu tối thượng, trước là để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ sau là để dân tộc có cơ ngẩng mặt lên, chúng ta phải hoan nghênh và đón chào cuộc so găng lịch sử này như một cơ hội trăm năm cho dân tộc chúng ta. Vì rằng ngay cả khi chúng ta ở một vị trí chiến lược song nếu không có mâu thuẫn giữa các siêu cường thì chúng ta cũng chẳng vin vào đâu để phát triển vượt bậc cho được; tương tự, nếu mâu thuẫn giữa các siêu cường có nảy sinh đi chăng nữa nhưng nếu chúng ta nằm ngoài khu vực đấu trường trung tâm thì cũng rất khó tìm thấy cơ hội.
May thay chúng ta chẳng những có cả hai mà lại đang sở hữu lợi thế thời gian vì cuộc mâu thuẫn này chỉ mới chớm nở và còn nhiều đánh giá khác nhau xung quanh nó. Nhiều người, dựa trên tính khí thất thường của Trump cũng như động thái xuống nước gần đây của Trung Quốc, nghĩ rằng cuộc đụng độ này chỉ khởi lên tạm thời và mang tính chất giai đoạn, trong khi chúng ta, nhìn vào đồng thuận chống Trung Quốc của giới lãnh đạo chính trị phương Tây hiện nay [8] và dựa trên trải nghiệm va đập với Trung Quốc suốt chiều dài lịch sử của chính chúng ta, sẽ thấy cuộc so găng chiến lược này còn kéo dài, mở rộng nhiều thập kỷ tới, và Trung Quốc sẽ không bao giờ dừng lại cho đến khi nó thất bại. Thời gian ở đây là một lợi thế chỉ khi chúng ta nhanh chóng đưa ra quyết định chọn phe của mình thay vì mải mê đu dây, bởi lẽ một khi cuộc đụng độ đã định hình, phe phái đã phân chia, sự lựa chọn chậm trễ của chúng ta sẽ không còn ý nghĩa, hay nói đúng hơn, chúng ta khi đó sẽ không còn quyền chọn lựa nữa.
Sau khi đã có một thái độ đúng đắn với cuộc so găng lịch sử và chọn đúng phe của mình, chúng ta mới có thể đưa ra những đối sách phù hợp. Đó là dù có khoác mặt nạ ngoại giao hòa hiếu với Trung Quốc tới cỡ nào, chúng ta cũng phải ý thức rõ rằng đó chỉ để mua thời gian nhằm ra sức hợp tác toàn diện với Mỹ và phương Tây, vốn đã tỏ rõ đồng thuận mong muốn một Việt Nam thịnh vượng (dĩ nhiên là vì lợi ích chiến lược của chính họ). Sự hợp tác này phải ở mức đồng minh bất luận tên gọi của nó là gì, phải đủ toàn diện ở tất cả các lãnh vực kinh tế, giáo dục, chính trị, quân sự, xã hội và với cả ba chủ thể là nhà nước, thị trường, xã hội dân sự, phải đủ sâu sắc tới mức tạo được sự chuyển biến về chất. Trong sự hợp tác toàn diện đó, lẽ dĩ nhiên là nước chậm tiến đi sau, Việt Nam phải đóng vai một người học trò siêng năng, học lấy học để một cách chủ động như Nhật, Hàn, Đài, Trung đã từng (nghĩa là không chỉ sao chép máy móc mô hình), và còn phải chạy đua với thời gian, vì như đã nói, ngoại giao dù khéo léo đến đâu cũng không kéo dài được cuộc hòa hoãn quá lâu. Sự chủ động của chúng ta là tối quan trọng: chúng ta phải đòi hỏi hợp tác 10 ngay cả khi họ chỉ sẵn lòng hợp tác 1, chứ không phải ngược lại như hiện nay.
Dĩ nhiên là sẽ có những trở ngại đến từ thế chế chính trị hiện hành của Việt Nam nhưng cần lưu ý rằng hiện đại hóa quốc gia là quá trình diễn ra rộng khắp trên nhiều lãnh vực mà hình thức chế độ chỉ là một trong số đó, có thể thay đổi trước hoặc sau tùy hoàn cảnh, miễn sao mục đích phát triển đạt được. Trung Quốc cũng có thể phá hoại những nỗ lực ngoại giao câu giờ của Việt Nam bằng cách chất vấn vì sao các đồng chí là cộng sản mà lại hợp tác sâu rộng với Mỹ/phương Tây, nhưng không khó để đáp trả bằng cách nhắc họ nhớ rằng chính những người cộng sản Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình đã từng mong muốn liên minh quân sự với Mỹ và trên thực tế là đã hợp tác sâu rộng với siêu cường này nhiều thập kỷ sau đó để mưu tìm phát triển.
Tóm lại, trở lực lớn nhất ngăn Việt Nam chớp lấy cơ hội trăm năm có một này không đến từ bối cảnh quốc tế bên ngoài hay hiện tình chính trị nội bộ mà chính là viễn kiến của những người lãnh đạo Việt Nam hiện nay.
Với lề lối thực hành chính trị thiếu minh bạch ở đất nước chúng ta, người dân hiện không ở vị trí có thể biết được liệu những người lãnh đạo có nhìn ra cơ hội này không và có đang tìm cách chớp lấy hay không. Song khả năng cao là không, nếu chúng ta để ý những động thái sau: (1) tuyên truyền chống Mỹ/phương Tây trong hệ thống giáo dục, báo chí chính thống, và đặc biệt trong lực lượng vũ trang vẫn tiếp tục được duy trì; (2) sự cương quyết không nhượng bộ Mỹ/phương Tây khi đụng đến một số vấn đề nhân quyền không quá cốt yếu phản ánh tâm lý thắng-thua với Mỹ/phương Tây còn đậm nét; (3) sự rụt rè trong hợp tác với Mỹ/phương Tây mà gần đây là việc hủy bỏ nhiều chương trình giao lưu quốc phòng với Mỹ. Tất cả đều cho thấy những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay chỉ coi việc hợp tác với Mỹ/phương Tây mang tính chất tình thế và giai đoạn nhằm cân bằng áp lực từ Trung Quốc, chứ hoàn toàn không thấy ở đó cơ hội phát triển và hiện đại hóa vượt bậc cho quốc gia như nó nên là.
Cũng có nghĩa là, cơ hội để Việt Nam không bị nhỡ tàu như bao lần trước đây trong lịch sử nằm ở chỗ liệu mỗi chúng ta, trong tư cách phần tử quốc gia, có làm đủ không trong việc khiến những người lãnh đạo phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên đảng phái, phe nhóm, cá nhân để từ đó thấu triệt vấn đề thời cuộc, hoặc chúng ta đã sẵn sàng chưa trong việc thay thế họ một khi thời gian không cho phép sự chậm trễ của họ thêm một giây phút nào nữa. 
N.A.T.
Tài liệu tham khảo: 
[1]https://www.marxists.org/archive/lenin/works/1919/jun/19.htm[2]https://www.washingtonpost.com/…/ec20468e-ffc5-11e8-862a-b6…[3]https://www.reuters.com/…/exclusive-china-presses-europe-fo…[4]https://amp.scmp.com/…/xi-jinping-urges-china-go-all-scient…[5]https://www.weforum.org/…/why-political-and-economic-freedo…[6]https://relocateme.eu/…/11-tech-talent-relocation-trends-t…/[7]https://www.bloomberg.com/…/singapore-fears-asean-may-need-…[8]https://www.nytimes.com/…/european-union-trump-china-trade.…https://www.straitstimes.com/…/eu-to-join-trump-in-criticis…
Nguồn: https://www.facebook.com/nguyen.anh.tuan8690/posts/2499907770024101

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

20190105. BÌNH LUẬN VỀ VỤ KỶ LUẬT TẤT THÀNH CANG

ĐIỂM BÁO MẠNG
ĐẠI ÁN THỦ THIÊM: KỶ LUẬT TẤT THÀNH CANG, XIN CHỚ VỘI MỪNG !
NGUYỄN ĐĂNG QUANG/ BVN 5-1-2019
Xin mọi người, nhất là bà con Tp.HCM, Quận 2 và bán đảo Thủ Thiêm, chớ có vội vui khi Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN tuyên bố kỷ luật ông Tất Thành Cang!
Đảng chỉ kỷ luật một nửa chức vụ mà ông Cang hiện đang giữ: Khai trừ khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cách chức Phó Bí thư Thường trực Thành ủy và Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Tp. HCM. Còn 3 chức vụ nữa, ông Cang được Đảng ưu ái cho bảo lưu, chưa động đến!
Đảng đã rất “nhân văn”, như cách nói của TBT Phú Trọng, nên ông Cang vẫn được tiếp tục đảm nhiệm 3 chức vụ nhỏ hơn để thử thách! Tuy nhỏ song 3 chức này lại không kém phần quan trọng! Ngoài việc không bị khai trừ Đảng, ông Cang vẫn là Thành ủy viên, Phó Trưởng ban Cải cách Tư pháp thành phố, và “Trưởng Ban Chỉ đạo các vụ tranh chấp dân sự và khiếu kiện hành chính” của Tp.HCM!
Xin nói đôi điều về chức vụ thứ ba này: Một tuần lễ trước khi Ủy ban Kiểm tra Trung ương họp Kỳ họp thứ 31 (từ 12 đến 14/11/2018) để xem xét và đệ trình lên BCHTƯ Đảng quyết định hình thức kỷ luật ông Cang, ngày 7/11/2018, Thành ủy Tp.HCM bất ngờ công bố và trịnh trọng làm lễ ra mắt một tổ chức mới toanh, đó là “Ban Chỉ đạo các vụ tranh chấp dân sự và khiếu kiện hành chính”, và tiến cử đích danh Tất Thành Cang làm Trưởng ban này!
Kịch bản thật hoàn hảo: Trên dưới chuẩn bị chu đáo, bàn bạc kỹ càng, nhịp nhàng phối hợp, sắp đặt khéo léo để biến Sáu Cang đang là kẻ tội đồ, kẻ chủ mưu và thủ ác, gây bao tội ác với dân lành Thủ Thiêm, nghiễm nhiên trở thành kẻ thánh thiện, hoàn lương, rửa dao, gác kiếm, ngồi chễm chệ ở ghế “Bao Công” để chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành, đưa ra khuyến nghị hòa giải, giáo huấn đạo đức, thậm chí trực tiếp đứng ra phán xử các trường hợp dân oan có đơn tố cáo, khởi kiện hành chính do bị cướp đất, phá nhà, cưỡng chế phi pháp, giải tỏa dã man, cưỡng bức di dời, v.v. do các quan chức thoái hóa, biến chất trong Ban lãnh đạo Tp.HCM gây ra, mà ông ta cùng Hai Nhật, Ba Đua, Lê Hoàng Quân là những kẻ chủ xị đứng đầu!
Phải chăng, cái gọi là “Liên ngành Tư pháp” các cấp bị dư luận xã hội và người dân bóc trần, lên án mạnh mẽ, đã phải lặng lẽ tự giải thể, nên người ta phải vội nghĩ ra cơ chế này để thay thế! Xin bà con ở Sài Gòn, Quận 2, đặc biệt là bà con Thủ Thiêm thận trọng, cảnh giác, chớ có vội vui, sớm mừng rỡ mà ân hận suốt đời!
Đảng kỷ luật Tất Thành Cang là do y vi phạm quy định của Đảng, đã cấu kết, thông đồng với doanh nghiệp tư nhân, lợi dụng chức Phó Bí thư Thường trực Thành ủy phê duyệt bán rẻ 32,4 ha đất của Đảng ở Phước Kiển (Nhà Bè), làm thất thoát ngân quỹ của Đảng 2.000 tỷ VNĐ! Chứ Đảng đâu có đề cập đến những sai phạm và tội lỗi mà Sáu Cang đã gây ra đối với người dân Thủ Thiêm và Quận 2 khi ông ta làm Chủ tịch UBND kiêm Bí thư Quận ủy Quận 2!
Người viết bài này xin được so sánh: Sai phạm “bán rẻ như cho” 32,4 ha đất ở Phước Kiển của Tất Thành Cang được phát hiện chỉ hơn 6 tháng trước (4/6/2018) song Đảng đã nhanh chóng vào cuộc và xử lý nghiêm minh, việc này người dân rất đồng tình và hoan nghênh! Còn những sai phạm, tội ác mà Tất Thành Cang gây ra với người dân bán đảo Thủ Thiêm và Quận 2 Tp.HCM trong suốt 10 năm qua mà người dân đã phẫn nộ tố cáo, khiếu kiện đích danh, việc này Đảng biết rất rõ, tại sao Đảng giữ im lặng, đến nay vẫn không xử lý? Chẳng nhẽ Đảng chỉ coi trọng quyền lợi của mình khi bị xâm hại, còn quyền lợi của dân thì là việc của dân, dân tự lo, Đảng không quan tâm giải quyết?  
TTC1.jpg
Tất Thành Cang, Trưởng Ban Chỉ đạo Hòa giải, thứ 5 từ trái qua. (Ảnh: Internet)
Trở lại việc hôm 6/11/2018, Sáu Cang được Thành ủy Sài Gòn long trọng tổ chức lễ công bố chức vụ mới “Trưởng Ban chỉ đạo”, người viết bài này xin hỏi: Xưa nay các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Tòa án các cấp vẫn thực hiện chức năng hòa giải, đối thoại theo luật định, vậy hà cớ chi nay lại lập ra “Ban Chỉ đạo các vụ tranh chấp dân sự và khiếu kiện hành chính”? Việc lập ra cơ chế này căn cứ vào thực tiễn xã hội và luật pháp nào, quy chế hoạt động ra sao, mục đích thực chất là gì?
Quyết định số 1994/QĐ-TU ngày 6/11/2018 của Thành ủy Tp.HCM quy định nhân sự của Ban này gồm 13 vị: Trưởng ban là một Thành ủy viên, Phó Trưởng ban là Chánh án Tòa án Nhân dân, 11 thành viên khác là lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành của thành phố như Viện Kiểm sát, Công an, Nội vụ, Tư pháp, v.v.  Vậy đã rõ, cơ chế này rất giống “Liên ngành Tư pháp” đã chết, nó bao trùm và đứng trên 3 cơ quan là Công an (điều tra), Kiểm sát (truy tố) và Tòa án (xét xử) để chỉ đạo và quyết định công việc tố tụng và tư pháp của 3 cơ quan này! Nếu quyền lực của nó đúng như vậy, rõ ràng là vi hiến, cần phải dẹp bỏ!
Trong khi các Bộ, Ngành và các địa phương trong toàn quốc đang cố gắng tinh giản bộ máy tổ chức, hợp nhất nhiều cơ quan với nhau, thì việc Thành ủy Tp.HCN lập ra Ban Chỉ đạo này và chỉ định ông Tất Thành Cang làm Trưởng Ban thật là khó hiểu! Phải chăng là để ngăn chặn, cản trở công dân (trong đó có hàng ngàn hộ dân oan ở Quận 2 và Thủ Thiêm) thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện chính quyền trước pháp luật? Nếu không, thì nhằm mục đích gì?
                                                  *****
Mọi chính thể xã hội xưa nay đều lấy chính sách an dân làm trọng. Khi lòng dân có yên thì đất nước mới ổn định, xã hội mới phát triển! Vụ việc Thủ Thiêm xảy ra đã trên 2 thập kỷ qua, lòng tin của người dân nơi đây đã gần như cạn kiệt! Việc nhất thiết phải làm là lấy lại lòng tin nơi dân chúng càng sớm càng tốt!
Theo thiển ý của người viết bài này, muốn khôi phục lòng tin đã mất, việc cần làm ngay là loại bỏ số quan chức thoái hóa, biến chất, gây bao oan ức, đau thương cho người dân ở Thủ Thiêm và Quận 2, mà cụ thể nhất là Tất Thành Cang! Do vậy, Thành ủy Tp. HCM nên và cần xúc tiến 2 việc sau:
1/ Khai trừ Tất Thành Cang ra khỏi ĐCSVN, tước bỏ 3 chức vụ còn lại của ông ta là Thành ủy viên, Phó Trưởng ban Cải cách Tư pháp và Trưởng Ban chỉ đạo các vụ tranh chấp dân sự và khiếu kiện hành chính của Thành ủy Tp.HCM!
2/ Chỉ đạo Công an Tp.HCM và Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố khởi tố hình sự, bắt tạm giam (hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú), tiến hành điều tra, hoàn chỉnh cáo trạng, đưa ra xét xử công khai Tất Thành Cang và đồng bọn về những tội ác mà chúng đã gây ra đối với bà con Thủ Thiêm và Quận 2 trong thời gian chúng tại chức!
Làm như vậy vậy mới có thể lấy lại lòng tin của người dân Thủ Thiêm và Quận 2 nói riêng và của người dân Thành phố HCM nói chung. Mong lắm thay!                                                                               
Hà Nội, ngày 1/1/2019                                                                                           
N.Đ.Q.
Tác giả gửi BVN

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

20190104. BÌNH LUẬN VỀ LUẬT BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC

ĐIỂM BÁO MẠNG
BÍ MẬT NHÀ NƯỚC, 'VÙNG CẤM' VÀ QUYỀN ĐƯỢC BIẾT 

KHẮC GIANG/ TVN 2-1-2019

 - Giải quyết tình trạng lưỡng nan giữa “bí mật nhà nước” và quyền được biết của người dân không phải là điều dễ dàng.
Giữa cao trào của cuộc chiến tại Việt Nam, có hai sự kiện quan trọng không chỉ làm thay đổi chiến lược của Mỹ tại Đông Dương, mà còn tác động lâu dài đến sự phát triển chính trị của quốc gia này. Đó là vụ tiết lộ Hồ sơ Lầu Năm Góc (Pentagon Papers) và bê bối Watergate. Sự kiện đầu tiên là giọt nước tràn ly cho sự bất mãn của công chúng Mỹ với chiến tranh Việt Nam, góp phần khiến Nhà trắng rút lui khỏi mọi can dự ở Đông Dương. Sự kiện thứ hai buộc Tổng thống Nixon phải từ chức.
Vai trò lớn nhất trong hai sự kiện đó thuộc về báo chí và “người thổi còi” (whistleblower) – những cá nhân rò rỉ thông tin cho nhà báo. Tài liệu về cuộc chiến đang diễn ra lẫn bí mật của nguyên thủ được coi là tối mật, dẫn đến cuộc chiến pháp lý kéo dài giữa những cá nhân liên quan với nhà nước Mỹ. Tòa án Tối cao sau đó ra phán quyết có lợi cho bên tiết lộ, theo hướng bảo vệ quyền được biết những thông tin quan trọng của công dân, thay vì quyền được che giấu của chính quyền.
Tất nhiên, Hồ sơ Lầu Năm Góc và Watergate là những trường hợp kinh điển. Trên thực tế, không phải thông tin nào cũng phải được công khai ngay lập tức. Thông tin không chỉ để đảm bảo an ninh quốc gia hay quốc phòng, mà nhiều khi còn giữ vai trò then chốt cho sự thành bại của một quyết sách.
Nhà kinh tế học Robert Lucas từng chứng minh rằng một chính sách sẽ không thể thành công nếu không tính đến kì vọng của công chúng. Những người khôn ngoan sẽ thay đổi hành vi rất nhanh, khiến chính sách thất bại trước khi nó được đưa ra, nếu “đánh hơi” được ý định của nhà nước. Ví dụ điển hình gần đây là dự thảo Luật Đặc khu. Nguồn vốn chủ yếu để phát triển hạ tầng tại các đặc khu là đất, thông qua chính sách đổi đất lấy hạ tầng. Nhưng các địa điểm đó đều không còn quỹ đất trống do giới đầu cơ đổ xô đến gom đất. Thiếu vốn trở thành vấn đề được dự báo trước.
Giải quyết tình trạng lưỡng nan giữa “bí mật nhà nước” và quyền được biết của người dân, bởi vậy, không phải là điều dễ dàng. Edward Snowden, cựu nhân viên của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) là“người hùng công chúng” khi rò rỉ thông tin về chương trình nghe lén của chính phủ, nhưng lại bị truy nã và buộc phải sống lưu vong ở Nga.
Ở nước ta, không ít các trường hợp bị xử lý vì vi phạm quy định về tiết lộ bí mật nhà nước. Một số phạm tội vì lợi ích cá nhân, như vụ án Vũ nhôm vừa mới được tuyên án, nhưng cũng có nhiều người trong số đó thực hiện hành vi với mong muốn cung cấp thông tin cho công luận.
Việc Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ Bí mật nhà nước vào tháng 11 vừa qua là bước đi quan trọng nhằm xóa bỏ tình trạng mập mờ về pháp lý. Cùng với Luật Tiếp cận Thông tin 2016, luật này sẽ giúp các cơ quan hữu quan cũng như công chúng xác định rõ ràng hơn ranh giới của nhu cầu bí mật và nghĩa vụ công khai thông tin từ phía chính quyền.
Tuy nhiên, nếu đối chiếu các điều luật cụ thể, có thể thấy Luật Bảo vệ Bí mật nhà nước có phạm vi điều chỉnh rất rộng. Không chỉ các vấn đề liên quan đến hệ thống nhà nước (ngân sách, tình hình chính trị - xã hội, sức khỏe lãnh đạo,…), Luật còn quy định các thông tin thuộc khu vực văn hóa – xã hội như cách tuyển chọn huấn luyện viên hay “thông tin phức tạp” về tệ nạn xã hội và bình đẳng giới... Điều này sẽ dẫn đến một câu chuyện hệ trọng khác: ai sẽ có quyền dán nhãn thông tin là mật hay không?
Trong một xã hội pháp quyền, nhiệm vụ này cần nằm trong tay bên tư pháp, bởi sẽ khó kì vọng các nhà hành pháp tự buộc dây trói mình. Khi có quyền thiết lập danh sách đề xuất các thông tin mật để đưa vào các văn bản hướng dẫn, rõ ràng các ban, ngành sẽ cố gắng tạo ra càng nhiều vùng cấm càng tốt. Điều này tất tiềm tàng nguy cơ gây xung đột với quyền lợi của người dân về một bộ máy liêm chính và minh bạch hơn.
Để luật không làm hạn chế các quyền Hiến định hay Luật Tiếp cận thông tin, đại diện của tư pháp (ví dụ như tòa án) sẽ chịu trách nhiệm xem xét các thông tin nào nên được xếp vào dạng “mật” khi công dân yêu cầu. Việc đánh giá sẽ dựa trên từng trường hợp cụ thể, theo yêu cầu của cơ quan – tổ chức hoặc cá nhân, thay vì quy định thành chi tiết một cách cứng nhắc. Nếu không, sẽ không thiếu nguy cơ con dấu mật trở thành bình phong cho những hoạt động mờ ám, thiếu sự giám sát.
Không ai có thể phủ nhận vai trò bảo mật thông tin cho nhà nước. Nhưng bảo mật là con dao hai lưỡi, bởi bóng tối không chỉ tạo điều kiện cho thói xấu nảy sinh, mà còn dung dưỡng cho những tin đồn thất thiệt, đặc biệt là trong thời đại internet. Vì thế, bộ máy nhà nước càng ít “vùng cấm” thì càng minh bạch, tạo dựng được niềm tin, và từ đó dễ vận hành hơn, chứ không phải là ngược lại.
Khắc Giang

TẠI SAO NGƯỜI TA CỨ NÓI 'SAMSUNG 100% NƯỚC NGOÀI' ?

NGUYỄN QUANG DUY/ BVN 2-1-2019

Khai mạc Hội nghị về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Hà Nội ngày 19/12/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết “… người ta cứ nói Samsung là 100% nước ngoài, đó là nhầm lẫn”.
Theo Thủ tướng Samsung có tỷ lệ sản xuất trong nước, bao gồm cả FDI và doanh nghiệp Việt Nam, trước đây bằng 0 thì nay trên 30%.

Chuyện ốc vít ở Việt Nam…
Điện thoại cầm tay cần hằng ngàn bộ phận khác nhau, đơn giản nhất là những ốc vít, tất cả đều cần mức độ tinh xảo và chính xác tuyệt đối, chỉ cần một sai sót nhỏ sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất của điện thoại, đến uy tín và đến thương hiệu của Samsung.
Vì thế Samsung vẫn phải nhập cảng hay phải tự sản xuất tất cả các bộ phận kể cả ốc vít để lắp ráp tại Việt Nam, người ta nói “Samsung 100% nước ngoài” là không có gì quá đáng.
Con số 30% từ đâu ra?
Con số ông Phúc muốn nói có lẽ bao gồm cả tiền lương công nhân, bao bì đóng gói, vận chuyển, các dịch vụ kinh tế phát sinh, nhưng không rõ tại sao lên tới 30% - một con số quá cao so với việc sản xuất iPhones của Apple tại Trung cộng.
Theo trang The Conversation giá thành của một iPhone 7 sản xuất vào cuối năm 2016 được ước tính chừng 237,45 Mỹ kim.
Trung cộng chỉ nhận được 8,46 Mỹ kim, hay 3,6% tổng số, bao gồm cả một cục pin do công ty Trung cộng cung cấp và tiền công trả lao động lắp ráp.
Mỹ và Nhật mỗi quốc gia nhận chừng 68 Mỹ kim, Đài Loan được chừng 48 Mỹ kim và Nam Hàn chừng 17 Mỹ kim cho việc xuất cảng các bộ phận vào Trung cộng cho việc lắp ráp.
Năm 2017, Samsung Việt Nam đạt doanh thu gần 64 tỷ Mỹ kim, với chừng 160.000 lao động.
Giả sử lợi tức, bao gồm làm thêm và tiền thưởng, cả năm cho mỗi lao động là 3.000 Mỹ kim thì tổng chi phí lao động là 480 triệu Mỹ kim chỉ chừng 0,75% tổng doanh thu.
Tỷ lệ 30% tính ra lên đến 19,2 tỷ Mỹ kim là một khoản tiền vô cùng lớn, không rõ Thủ tướng Phúc có được bằng cách nào.
Lắp ráp tại Trung cộng
Đằng sau chiếc iPhone, iPad, hay MacBook để ý thấy dòng chữ “Designed by Apple in California. Assembled in China", tạm dịch là “Thiết kế bởi công ty Apple tại California. Lắp ráp tại Trung cộng”.
Chính vì nỗi nhục “Assembled in China” (lắp ráp tại Trung cộng), Tập Cẩm Bình mới đề ra chiến lược “Made in China”.
Nhưng thay vì làm ăn đàng hoàng Trung cộng lại tìm mọi cách đánh sở hữu trí tuệ của Mỹ và nhiều quốc gia khác nên đang bị thế giới trừng phạt.
Để đáp ứng những đòi hỏi về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ, ngày 27/12/2018 Bắc Kinh cho công bố dự thảo luật cấm cưỡng bức doanh nghiệp nước ngoài phải chuyển giao công nghệ.
Hà Nội hiện chưa có luật này và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn vô tư đòi các công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ.
Chuyện con chip điện tử ở Trung cộng…
Sau 40 năm cải cách và mở cửa, công nghiệp điện tử Trung cộng đã vượt qua khả năng sản xuất ốc vít nhưng lại bị tắc nghẽn với việc sản xuất các con chip điện tử.
Tập đoàn ZTE sản xuất điện thoại di động lớn hàng thứ hai của Trung cộng, chỉ sau Huawei, phải ngừng hoạt động khi chính phủ Mỹ cấm các công ty Mỹ bán các con chip điện tử cho ZTE.
Tập đoàn Huawei cũng sẽ chịu chung số phận nếu chính quyền Mỹ quyết định cấm các công ty Mỹ buôn bán với Huawei.
Có người cho rằng Trung cộng đang tìm cách tự sản xuất các con chip điện tử, thật ra nếu Trung cộng tự sản xuất được thì họ đã làm rồi.
Nhật, Đại Hàn và Đài Loan chưa đầy 30 năm phát triển công nghiệp đã vươn lên chỉ thua kém Hoa Kỳ cường quốc kỹ thuật bậc nhất trên thế giới.
Trong khi Trung cộng đã 40 năm, Việt Nam đã 30 năm vẫn chỉ đạt tới công nghiệp lắp ráp là một điều đáng chú ý.
Giáo dục…
Tại Nhật Bản, từ những năm 1880, Minh Trị Thiên Hoàng đã thực hiện cải cách giáo dục với phương châm: "học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt phương Tây".
Nền giáo dục Nhật từ đó dựa trên những giá trị tiến bộ về nhân bản, tự do, dân chủ và đặc biệt chú trọng đến giáo dục kỹ thuật thực nghiệm.
Đại Hàn và Đài Loan là hai cựu thuộc địa của Nhật Bản nên đã chịu ảnh hưởng của nền giáo dục này.
Trung cộng đến ngày nay vẫn duy trì một hệ thống giáo dục từ chương, học vẹt, học nhồi nhét, học bắt chước, học không cần suy tư, không cần sáng tạo, học theo khuôn mẫu “hồng hơn chuyên” và học để làm quan.
Miền Nam Việt Nam trước 1975 đã thoát khỏi lối học từ chương. Còn miền Bắc và cả nước sau 1975 chịu ảnh hưởng nặng nề của giáo dục từ chương không khác gì Trung cộng.
Một nền giáo dục như Giáo sư Hồ Ngọc Đại đã công khai bộc lộ trên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 15/6/2014:
"Chúng ta dạy hiện nay là dạy bắt chước, bắt chước thế nào cho khéo nhất và như vậy như việc chúng ta dạy khỉ".
Một hệ thống giáo dục bắt chước không cần suy tư hay sáng tạo hoàn toàn thích hợp với các quốc gia công nghiệp lắp ráp như Trung cộng và Việt Nam.
Sau cuộc cải cách và mở cửa năm 1978, Bắc Kinh còn cho phép các trung tâm nghiên cứu tại các viện đại học được quyền tự trị và khá độc lập với hệ thống chính trị. Điều này chưa được thực hiện tại Việt Nam.
Thể chế và văn hóa…
Người Việt vốn thích tìm tòi, học hỏi và có chí cầu tiến, trường hợp của Đại tướng Campuchia Trần Quốc Hải và người con trai Trần Quốc Thanh là thí dụ điển hình.
Ông Trần Quốc Hải gốc nông dân miền Nam nên còn được gọi là Đại tướng quân Hai Lúa.
Ông đậu đại học năm 1978 nhưng được phân ngành không đúng sở thích nên khi ra trường ông bỏ việc làm thợ sửa xe.
Ông 2 lần chế trực thăng phục vụ nông nghiệp nhưng đều bị nhà cầm quyền Việt Nam cấm sử dụng.
Sang Campuchia sửa máy cày ông lại được Quân đội Hoàng gia Campuchia cho thử sửa xe thiết giáp cũ, rồi cho thiết kế xe thiết giáp mới với tính năng hoàn toàn mới.
Quốc vương Norodom Sihamoni đã ban thưởng ông chức vị cao quý nhất trong quân đội Đại tướng quân.
Đại tướng Hai Lúa từng tâm sự: "Mình may mắn được người ta tạo điều kiện thôi. Tài giỏi mấy mà người ta không lắng nghe, không tin tưởng thì cũng không thể thành công được".
Nhiều người Việt được đào tạo và chỉ thành công ở nước ngoài, trường hợp của Tiến sỹ kỹ sư Lê Nguyễn Minh Quang là một thí dụ khác.
Ông tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Xây dựng tại trường đào tạo kỹ sư Ecole Centrale Paris của Pháp năm 1995, với 3 văn bằng cao học về Quản trị Doanh nghiệp từ các trường đại học nổi tiếng Pháp, Mỹ và Singapore.
Tháng 6/2016, ông từ chức Tổng Giám đốc Công ty Bachy Soletanche chi nhánh Việt Nam, một công ty chuyên về xây dựng hạ tầng danh tiếng tại Pháp và quốc tế.
Sau đó ông nhận bổ nhiệm chức Trưởng Ban Quản lý Đường sắt Đô thị Thành phố HCM, một chức vụ tiền lương chỉ bằng 5% tiền lương ông có được trước đây.
Ngày 21/12/2018 vừa qua, báo chí đưa tin ông đã bị tạm đình chỉ chức vụ Trưởng Ban và cấm đi ra nước ngoài. Trả lời báo chí ông cho biết:
“Từ ngày về ban, cho tới giờ này tôi không nhận một đồng nào của ai. Tết có khi họ đến tặng quà, có bao lì xì, tôi đều mở ra và trả lại cho họ vì tôi nói là ở Tây họ mở quà trước mặt người tặng. Năm sau chẳng thấy ai mang quà đến tặng nữa”.
Nhiều người Việt được đào tạo tại Phương Tây, có nhiều năm kinh nghiệm thực tiễn, khi nghĩ đến việc về quê phục vụ đều ngao ngán vì sự khác biệt về thể chế và về văn hóa.
Samsung Việt Nam
Với tiền lương thấp, lực lượng lao động dồi dào, được giảm thuế, được ưu đãi đất đai, được mọi ưu tiên và trợ giúp, tập đoàn Samsung đầu tư vào Việt Nam lên tới 17 tỷ Mỹ kim.
Theo ước tính tổng doanh thu của 4 nhà máy Samsung Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2018 đã lên đến 49,6 tỷ Mỹ kim, trên 25% GDP Việt Nam, với lợi nhuận thuần 4,27 tỷ Mỹ kim.
Samsung vừa cho biết năm 2018 ước tính xuất cảng tăng 12% so với năm 2017, đạt hơn 60 tỷ Mỹ kim và chiếm 25% kim ngạch xuất cảng của Việt Nam.
Nền kinh tế Việt Nam dựa khá nặng nề vào 4 nhà máy Samsung nên việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên ca ngợi tập đoàn này là một điều khó tránh khỏi.
Nhưng như đã phân tích bên trên công nghiệp hỗ trợ Samsung từ các công ty Việt Nam hầu như không có, nên đóng góp thực sự của Samsung cho nền kinh tế còn rất hạn chế.
Vào năm 2017, 4 nhà máy Samsung lợi nhuận ròng đạt 5,8 tỷ Mỹ kim. Trong khi đó thuế cho nửa đầu năm 2017 chỉ phải đóng 186 triệu Mỹ kim. Lợi nhuận ròng năm nay có thể vượt con số năm trước.
Phần lợi nhuận thuộc về Samsung nhưng được tính vào GDP Việt Nam nên việc GDP năm 2018 đạt 7,08%, cao nhất kể từ năm 2008, phần chính là từ lợi nhuận của Samsung.
Công nghiệp lắp ráp Việt Nam…
Theo Tổng cục Thống kê năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn cả Lào, và chênh lệch về năng suất lao động giữa Việt Nam với các nước đang tiếp tục gia tăng:
"Tính theo sức mua tương đương năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 Mỹ kim, chỉ bằng 7% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của Indonesia; 56,7% của Philippines và bằng 87,4% năng suất lao động của Lào".
Các nhà máy Samsung lắp ráp theo dây chuyền được cài đặt một tốc độ cố định, người chạy theo máy nên năng suất lao động hầu như cố định.
Bởi thế chọn công nghiệp lắp rắp là chọn thua kém trong cuộc tranh đua về năng suất lao động.
Báo Dân Trí ngày 19/12/2018 cho biết trong một báo cáo gần đây của Bộ Công Thương đóng góp GDP của công nghiệp chế tạo Việt Nam "thua" cả Campuchia:
“Mặc dù chiếm đến gần 90% doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của nền kinh tế nhưng năm 2017 công nghiệp chế biến chế tạo chỉ đóng góp gần 15% GDP so với mức trên 20% của phần lớn các quốc gia trong ASEAN, Campuchia 22%, Thái Lan 26%...”.
Như đã phân tích bên trên công nghiệp lắp ráp đóng góp rất ít cho GDP nên báo cáo của Bộ Công Thương phản ảnh được điều này.
Thủ tướng vẫn vô tư…
40 năm về trước Đặng Tiểu Bình đã nhận ra sự lạc hậu của Trung cộng để mở cửa giao thương với nước ngoài.
10 năm về trước, Tập Cận Bình nhận ra và hổ thẹn về công nghiệp lắp ráp để cố vươn lên thực hành phương châm “Made in China”.
Mặc dầu phát triển công nghiệp của Việt Nam giống phát triển công nghiệp của Trung cộng trước đây một cách hết sức lạ lùng, nhưng lãnh đạo Việt Nam lại vẫn hết sức vô tư về “Made in Vietnam”.
Vào ngày 14/3/2018, tại Trường Đại học Quốc gia Úc, trước những giáo sư và sinh viên Úc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giơ cao chiếc điện thoại di động hiệu Sumsung lên và khoe rằng:
“Rất có thể điện thoại thông minh của Samsung hiện đại nhất mà người Úc đang sử dụng hàng ngày đến từ Việt Nam vì theo Samsung khoảng ¾ lượng điện thoại này được sản xuất tại Việt Nam (Made in Vietnam)”.
Chính bởi thế người ta mới cứ phải nhắc nhở Thủ tướng Samsung là 100% nước ngoài.
Melbourne, Úc Đại Lợi
31/12/2018
N.Q.D.
Tác giả gửi BVN

NHÌN VỀ TƯƠNG LAI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

VŨ QUANG VIỆT/ TBKTSG 3-1-2019

(TBKTSG) - Với thế giới tương lai Trung Quốc ở đâu là câu hỏi nên suy nghĩ xem xét, đặc biệt về sức mạnh kinh tế. Với Việt Nam, việc xem xét này lại càng cần thiết.

GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2018 là 2.587 đô la Mỹ, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc. Ảnh: THÀNH HOA
Trung Quốc (TQ) đã nói rõ về “giấc mơ Trung Quốc” thể hiện bằng khẩu hiệu “Made in China 2025 - làm ở Trung Quốc năm 2025” với kế hoạch đạt 70% sản xuất tại TQ các công cụ và nguyên liệu cốt lõi cho các ngành công nghiệp tiên tiến từ công nghệ thông tin, robot, hàng không, vũ trụ, phương tiện kiểm soát biển, xe lửa cao tốc, xe hơi, năng lượng, dược phẩm...
Về mặt quan hệ quốc tế, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình đã đưa ra mục tiêu phát triển trong bài diễn văn trước Đại hội Đảng lần thứ 19 không chỉ để bắt kịp mà còn vươn lên để “trở thành một nước lãnh đạo toàn cầu với sức mạnh tổng hợp quốc gia và uy tín thế giới” trong giai đoạn 2035-2050. Với biển Đông thì rất rõ, TQ đã nhiều lần tuyên bố rằng đường lưỡi bò ở biển Đông thuộc TQ bất chấp phán quyết của tòa án quốc tế là không thể lấy lý do lịch sử để yêu sách chủ quyền biển khơi, không thể có chủ quyền biển quanh đảo nhân tạo trên biển khơi hay trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác và không thể đòi quá hơn 12 hải lý quanh các đá tự nhiên ở biển Đông.
Để phát triển, Việt Nam cần làm ăn với mọi nước, trong đó có TQ, một nước láng giềng, giàu mạnh hơn kể cả thu hút đầu tư của họ để hai bên cùng có lợi. Nhưng mở cửa không chọn lọc để đến mức lệ thuộc thì không nên.
Nhưng trong bài diễn văn tại Đại hội đảng nói ở trên, ngay trong phần đầu ông Tập đã ca ngợi các hoạt động xây dựng đang xảy ra ở biển Đông. Trước đó ông ta tuyên bố TQ sẽ không để mất dù một tấc đất ở đó... Và tờ báo Global Times, công cụ tuyên truyền của TQ có lúc còn đe dọa các nước ASEAN sẽ nghe tiếng “cà nông” nếu không biết rút lui. TQ vẫn nói hòa bình hữu nghị, nhưng các hành động cụ thể có vẻ ngược lại.
Với tình hình như trên, khi TQ đủ mạnh, việc sử dụng vũ lực nhằm kiểm soát biển Đông là khó tránh khỏi. Hiện nay vừa để đe dọa, vừa để sửa soạn chiến tranh TQ đang xây dựng thêm một hàng không mẫu hạm thứ ba, loại tiên tiến như Mỹ.
Về quân sự nói chung, TQ tăng chi cho quân sự lên đến 228 tỉ đô la Mỹ năm 2017 và bằng 1,9% GDP, rất cao so với khoảng trên 20 tỉ đô la Mỹ đầu những năm 2000, dù vẫn chỉ bằng nửa Mỹ nhưng đã bằng với tổng chi quốc phòng của cả năm nước Pháp, Anh, Đức, Nhật và Hàn Quốc cộng lại.
Nhưng tương lai TQ sẽ thế nào?

Có người đã tiên đoán TQ sẽ khủng hoảng. Điều này có thể nhưng khó xảy ra vì TQ vẫn có nhiều công cụ dự trữ trong tay.
TQ đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP tính theo đầu người thần kỳ trong lịch sử. Nếu kể từ năm 1970 đến nay, GDP đầu người tính theo đô la Mỹ năm 2010, TQ tăng trưởng bình quân 7,7% mỗi năm, thậm chí tăng tốc trong giai đoạn 2000-2016 so với thời kỳ trước. Điều này ngược với Singapore, Hàn Quốc và Nhật, hay cả Mỹ (xem bảng 2).
Tuy vậy từ năm 2007, tốc độ tăng trưởng trên đầu người của TQ đã theo chân các

nước khác, giảm xuống (xem biểu đồ). Số liệu mới cho thấy năm 2017 và 2018 còn giảm mạnh hơn, chỉ còn khoảng 6% mỗi năm. Dù thế vẫn còn là thần kỳ nếu so với các nước tiên tiến khác (xem bảng 2).
Tuy thế, điều này không có nghĩa là dư địa tăng của TQ không còn, mà thật ra còn nhiều dù ở tốc độ tăng thấp hơn.
Rõ ràng GDP bình quân của TQ còn đang ở mức trung bình thấp (8.000 đô la Mỹ một người tính theo giá hiện hành) nên còn có thể tiếp tục tạo ra bước nhảy ngoạn mục. Liệu TQ có thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung bình?
Để vượt khỏi bẫy này, TQ cần ba yếu tố: 1) khả năng hấp thụ khoa học kỹ thuật và tự nghiên cứu phát triển, 2) khả năng vốn tự có và 3) thị trường đủ rộng cho phát triển, đặc biệt là đẩy khu vực phát triển thấp bắt kịp khu vực phát triển cao trong nội địa.
Có thể nói TQ đã đạt được yếu tố thứ nhất là yếu tố mà Đại hội Đảng TQ nhấn mạnh vừa qua, dù trong tương lai sẽ bị hạn chế vì phản ứng tự vệ của các nước phương Tây. Với 1,3 tỉ dân, TQ có thị trường nội địa rộng lớn nên nếu tiêu dùng của dân chúng phát triển thì nó có thể thay thế được thị trường nước ngoài, mặc dù vẫn bị hạn chế về nhu cầu nội địa đối với hàng hóa cao cấp. TQ cũng có vốn rất lớn vì tỷ lệ để dành hàng năm của TQ rất cao, ở mức 50% GDP. Tương tự, dự trữ ngoại tệ của TQ cũng rất cao, đến cuối năm 2017 là 3.200 tỉ đô la Mỹ, bằng 26% GDP. Tức là, TQ khi cần có thể tăng nợ, bơm đầu tư nhà nước như đã làm thời 2007-2009, để tránh khủng hoảng tài chính hiện đang ở mức quá lớn (256% GDP). Tốc độ tăng GDP sẽ thấp hơn nữa nhưng vẫn ở mức cao hơn Mỹ, Nhật và các nước châu Âu.
So sánh sức mạnh kinh tế, cơ sở của sức mạnh quân sự, thì TQ cũng đang vượt trội Việt Nam là điều quá rõ ràng. Nhưng TQ chưa thể làm chủ biển Đông bằng vũ lực vào thời điểm hiện nay, vì lợi ích ở đó không chỉ là của Việt Nam mà còn là của rất nhiều nước trong khu vực và các cường quốc có sức mạnh quân sự, do đó sẽ không thể tránh khỏi các cuộc trả đũa về kinh tế, chính trị và quân sự. Chính vì thế, đây vẫn là giai đoạn TQ phải tiếp tục xây dựng lực lượng quân sự. Và trong thời kỳ này, TQ sẵn sàng mua chuộc, đồng thời tìm cách đưa các nước yếu hơn vào bẫy lệ thuộc về vốn và công nghệ qua chiến lược kinh tế một vành đai một con đường.
Còn tương lai Việt Nam?
Nếu tính từ 1970-2016, GDP đầu người Việt Nam cũng tăng trưởng mạnh, nhưng thấp hơn nhiều so với TQ, đặc biệt là VN đã bỏ lỡ cơ hội phát triển trong 20 năm sau chiến tranh (xem bảng 1 và 2).
Để phát triển, Việt Nam cần làm ăn với mọi nước, trong đó có TQ, một nước láng giềng, giàu mạnh hơn kể cả thu hút đầu tư của họ để hai bên cùng có lợi. Nhưng mở cửa không chọn lọc để đến mức lệ thuộc thì không nên. Hiệp định Thương mại thế giới (WTO) là ký kết giảm dần thuế nhập khẩu nhằm mở cửa cho tự do buôn bán, hiệp định này không có điều khoản nào đòi hỏi tự do đầu tư nước ngoài. Hơn thế, WTO cũng chấp nhận các biện pháp bảo hộ trong thời gian nhất định nhằm tạo cơ hội cho nước chậm phát triển tăng khả năng cạnh tranh.
Tuy thế, sẽ không thích đáng nếu Việt Nam ngày càng dựa vào công nghệ TQ vì giá rẻ (xây đường sá, nhà máy xi măng, điện, khai khoáng) và dựa vào thị trường nguyên liệu từ TQ để gia công xuất khẩu. Cho đến nay TQ đã làm chủ thầu 49 dự án trong 62 dự án xi măng; 16/27 dự án BOT, 90% dự án EPC do TQ cung cấp thiết kế cung cấp thiết bị lên tới hàng tỉ đô la Mỹ. Năm 2017, Việt Nam nhập 57 tỉ đô la Mỹ hàng hóa từ TQ (bằng 30% tổng giá trị nhập, đưa mức nhập siêu từ TQ lên đến 26,3 tỉ đô la Mỹ (bằng 10% GDP Việt Nam).
Hệ thống viễn thông của Việt Nam cũng đang sử dụng công nghệ của hai công ty TQ là Huawei và ZTE. Trong khi đó, hai công ty này đang bị các nước Mỹ, Anh, Nhật, Canada tẩy chay vì an ninh quốc gia. Ngoài ra, Việt Nam còn ký kết mở rộng “hai hành lang một vành đai” ở 7 tỉnh biên giới với quyết định cho phép dùng nhân dân tệ ở đó.
Rõ ràng việc dựa vào công nghệ TQ, đặc biệt là công nghệ viễn thông số hóa, là nguy cơ về mặt an ninh quốc gia, cần phải cảnh giác vì lợi ích tự thân của quốc gia.
Phải hiểu rõ “giấc mơ Trung Hoa” thì may ra Việt Nam mới có được chiến lược tránh đối đầu với TQ, nhưng vẫn tích cực bảo vệ độc lập của chính mình và lợi ích ở biển Đông theo đúng luật biển quốc tế và phán quyết của Tòa án quốc tế. Không chỉ Việt Nam, các nước khác cũng đang bị đe dọa vì chính sách muốn trở thành lãnh đạo thế giới và đòi hỏi chủ quyền ở biển Đông, và họ cũng phải có hành động tự vệ.
Để tự vệ hữu hiệu, phải xây dựng nội lực nhưng điều này còn chưa được quan tâm đúng mức. Việt Nam hiện nay dựa vào vay vốn và thu hút đầu tư nước ngoài làm hàng xuất khẩu để phát triển. Nội lực đi từ tri thức khoa học và xã hội. Điều này đòi hỏi chất lượng, tự do học thuật, học hỏi tiếp thu tri thức của thế giới, thu hút nhân tài để xây dựng các đại học và trung tâm nghiên cứu ưu tú để phát triển công nghệ. Không thể chỉ tập trung nhập công nghệ lỗi thời và hàng trung gian từ TQ và dùng lao động cơ bắp để chế tạo hàng xuất khẩu.

DẤU ẤN CUỐI NĂM 2018: KHÔNG KÝ EVFTA !

THƯỜNG SƠN/ BVN 3-1-2019

(VNTB) - Đã quá rõ là từ cuộc điều trần ở Bỉ vào tháng 10 năm 2018 cho đến cuối năm đó, chính thể độc đảng ở Việt Nam đã chẳng chịu làm một điều gì để cải thiện nhân quyền...

Tại cuộc họp vào tháng Ba năm 2019, rất có thể Nghị viện châu Âu sẽ bỏ phiếu phản bác hiệp định này, đưa mối quan hệ giữa châu Âu và Việt Nam về thời… tiền sử.
Khi năm 2018 đã chính thức lết trôi cái thân hình rã rượi của nó qua ngày cuối cùng, trong lúc Thủ tướng Phúc vẫn say sưa nghiêng ngoẹo bản thành tích về các chỉ tiêu kinh tế cơ bản đã đạt được và đặc biệt là GDP tăng tới 7%, một dấu ấn không hề mờ nhạt và không thể trốn tránh là việc ông Phúc đã cố tình không nhắc chút nào đến ‘EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - châu Âu) được ký kết’ - điều mà ông ta cùng hệ thống tuyên giáo của đảng cầm quyền đã ra sức khoa trương trong hai tháng 10 và 11 năm 2018.
Thậm chí cho đến đầu tháng 12 năm 2018, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội còn tổ chức Hội thảo “Cam kết lao động trong Hiệp định CPTPP và FTA với EU”. Đã rõ là chủ đề hội thảo này phản ánh tư thế ăn chắc về ‘EU cần Việt Nam hơn là Việt Nam cần EU’, ‘EVFTA trước sau gì cũng sẽ được ký kết’ và ‘Việt Nam thành công với EVFTA’, tức hiệp định này sẽ được Cộng đồng châu Âu cho phép Ủy ban thương mại châu Âu ký kết với Việt Nam vào tháng Mười Hai năm 2018, để sau đó đến tháng Ba năm 2019 sẽ được Nghị viện châu Âu chính thức phê chuẩn, mang lại một nguồn máu quý báu giúp cho chân đứng kinh tế của chính thể độc trị ở Việt Nam - vốn đang suy nhược toàn thân - thêm một thời gian cầm cự nữa. 
Nhưng vì sao EVFTA vẫn chưa thể ký?
Chính phủ và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có thể đã không cập nhật tình hình thời sự, hoặc không thèm quan tâm đến một yếu tố mà có thể khiến EVFTA tưởng như nằm trong túi Việt Nam vẫn có thể tuột ra: nhân quyền trong EVFTA.
Bởi khác rất nhiều với quan hệ EU - Việt Nam cách đây vài năm, tình thế hiện thời đã chuyển biến lớn: nhân quyền và công đoàn độc lập mới là số một trong những điều kiện cần của EVFTA. 
Ngày 15/11/2018, gần một tháng sau khi Việt Nam đã tưởng như chắc ăn khi Ủy ban châu Âu đồng thuận làm tờ trình cho Hội đồng châu Âu để xem xét việc ký kết EVFTA với Việt Nam, Nghị viện châu Âu bất ngờ tung ra nghị quyết 2018/2925(RSP) về nhân quyền mà đã nhấn kỳ vọng ‘EVFTA được ký kết’ từ xác suất cao hoặc rất cao xuống mốc 50/50.
Khác nhiều với quan điểm không mấy rõ ràng và dứt khoát của Ủy ban châu Âu, ngay phần đầu của nghị quyết 2018/2925(RSP) đã khẳng định: “Quan hệ giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam phải căn cứ trước hết trên nền tảng tôn trọng nhân quyền, dân chủ và pháp quyền; và trên cơ sở bảo đảm các tiêu chuẩn quốc tế về lĩnh vực này”.
Toàn bộ nội dung của bản nghị quyết 2018/2925(RSP) giống hệt một cáo trạng toàn diện và đanh thép lên án chính thể độc đảng ở Việt Nam về rất nhiều hành vi vi phạm nhân quyền trầm trọng về các quyền tự do tôn giáo, tự do biểu đạt, tự do báo chí và Internet, bắt bớ người hoạt động nhân quyền, đàn áp người biểu tình, không chịu ký kết các công ước quốc tế về lao động…
Động thái tung ra bản nghị quyết nhân quyền của Nghị viện châu Âu vào ngày 15/11/2018 đã hàm ý như một thông điệp trực tiếp cho Cộng đồng châu Âu về quan điểm ‘nhân quyền trước hết’, trước khi cơ quan này họp để quyết định có cho phép Ủy ban châu Âu ký EVFTA với Việt Nam hay không.
Bản nghị quyết trên cũng chính thức xác lập quan điểm rất rõ ràng của Nghị viện châu Âu về EVFTA. Điều đó có nghĩa là cho dù EVFTA có được Cộng đồng châu Âu cho phép ký kết, nhưng tại cuộc họp vào tháng Ba năm 2019, rất có thể Nghị viện châu Âu sẽ bỏ phiếu phản bác hiệp định này, đưa mối quan hệ giữa châu Âu và Việt Nam về thời… tiền sử.
Từ trước khi hồ sơ EVFTA được Ủy ban châu Âu tổ chức điều trần tại Brussels vào tháng Mười năm 2018, đã xuất hiện nhiều cảnh báo từ giới quan chức châu Âu về việc nếu EVFTA không kịp được phê chuẩn trước khi Nghị viện châu Âu tổ chức bầu cử, sẽ không có gì chắc chắn là nghị viện mới của châu Âu - với nhiều gương mặt nghị sĩ mới và quan điểm cũng khác biệt - sẽ dễ dàng thông qua EVFTA. Thậm chí trong trường hợp ‘xấu nhất’, bản hiệp định này sẽ bị một nghị viện mới bộn bề công việc, trong đó bao gồm cả quan điểm chiếm số đông về không thể chấp nhận cho một nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền trầm trọng được hưởng lợi từ thị trường chung châu Âu, gạt phắt sang một bên để số phận của EVFTA cũng hẩm hiu tương tự như Hiệp định TPP vào đầu năm 2017 khi bị Mỹ rút ra.
Đã quá rõ là từ cuộc điều trần ở Bỉ vào tháng 10 năm 2018 cho đến cuối năm đó, chính thể độc đảng ở Việt Nam đã chẳng chịu làm một điều gì để cải thiện nhân quyền. Cũng đã quá rõ là chính vì nguyên do rất chính yếu ấy mà Cộng đồng châu Âu đã không cho phép Ủy ban châu Âu ký EVFTA với Việt Nam, cho dù bản thảo của hiệp định này đã khá đầy đủ và nằm sẵn trên bàn chỉ chờ ký.
T.S. 
VNTB gửi BVN