Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

20180109. BÀN VỀ PHẢN BIỆN

ĐIỂM BÁO MẠNG
ĐÂU LÀ VỰC THẲM CỦA XÃ HỘI ?

TRƯƠNG KHẮC TRÀ/ GDVN 9-1-2017

Kết quả hình ảnh cho phản biện
Tư duy phản biện hoặc tư duy phân tích là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề
Lập luận phản biện phải rõ ràng, logic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm.
Hệ thống giáo dục Anh quốc coi tư duy phản biện như một môn học chính quy.
Trình độ A dành cho học viên 16-18 tuổi. Họ phải làm 2 bài kiểm tra chính: “Sự đáng tin của dẫn chứng” (Credibility of Evidence) và “Phát triển tranh luận” (Assessing/Developing Argument). Đối với học sinh dưới 16-18 tuổi, tư duy phản biện được đưa xen kẽ vào trong bài giảng của giáo viên.
Vì sao phải tôn trọng phản biện?
Lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho thấy, bất kỳ một sự vật, sự việc nào đều tồn tại ít nhất hai mặt đối lập, các mặt đối lập ấy vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thế giới khách quan.
Có nghĩa là, sự vật, sự việc (bất kể vô tri hay hữu tri) đều mang trong mình bản năng phản biện, cái mà Hegel gọi là "phản tư tự thân".
Nhờ đấu tranh, phản biện giữa các mặt đối lập mà mâu thuẫn được giải quyết, tạo động lực cho sự phát triển.
Vậy nên, "phản tư tự thân" hay phản biện là một thuộc tính khách quan của vạn vật, cho dù con người có muốn hay không nó vẫn cứ tồn tại.
Không thừa nhận phản biện là dập tắt mâu thuẫn, dập tắt mâu thuẫn là kìm hãm sự phát triển, kìm hãm sự phát triển được hiểu theo nghĩa Hán – Nôm là "phản động". Tức là phản lại sự vận động tiến bộ.
Nhận thức đúng quy luật không có nghĩa là "bẻ cong" được quy luật, mà phương pháp luận lớn nhất là biết tác động đúng lúc, đúng chỗ để quy luật diễn ra nhanh hoặc chậm hơn.
Qua đó, bồi bổ cho cái hay, cái mới, cái tiến bộ mau chóng hoàn thiện, kìm hãm, loại bỏ bớt cái xấu, cái phi tiến bộ. Bởi thế, phản biện và tư duy phản biện có vai trò cực kỳ lớn trong khoa học cũng như đời sống hàng ngày.
Bản chất của phản biện là “một quá trình biện chứng” nên khi thiếu phản biện sẽ rơi vào độc đoán, chuyên quyền, duy ý chí. Bài học này cách mạng Việt Nam đã mắc phải trong những năm trước đổi mới.
Nhận thấy vai trò của phản biện đối với sự tồn vong của Đảng, năm 2013 Bộ Chính trị đã cho ra đời quyết định 217, ban hành Quy chế giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội.
Có thể hiểu Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội không phải ai khác ngoài nơi tập hợp của nhân dân, các giai tầng, các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam và công dân Việt Nam khắp thế giới.
Đó chính là không gian phản biện, giám sát của xã hội đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước.
Ngày 05/01/2018 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tại Hội nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “chúng ta có một đảng lãnh đạo, không có giám sát phản biện sẽ thành một đảng không đi vào lòng dân…”.
Quan điểm của Thủ tướng có thể hiểu, vì chỉ có một Đảng lãnh đạo nên cần có “đối trọng” làm phản biện, giám sát, ngăn ngừa độc đoán chuyên quyền, phòng trừ lợi ích nhóm, chia Đảng thành năm bè bảy mảng, mang Đảng xa rời dân.
Tôn trọng giám sát, phản biện chính là tôn trọng tiếng nói của người dân trong xây dựng Đảng, để cho người dân cảm nhận được mình là Đảng, Đảng là mình.
Như thế cho đến khi nào nhân dân thấu cảm “còn Đảng còn mình, còn mình còn Đảng” thì Đảng mới thực sự ở trong lòng dân, Đảng mới thực sự vững chắc.
Phản biện phải thực chất, chứ không phải mỹ từ, ngoa ngôn đùng để trang trí cửa miệng.
Người lắng nghe phản biện phải gạt bỏ cái tôi ích kỷ, không vì “nói ngược”, “phản đòn” “bàn ngang” mà quy chụp phản động, chống đối.
Ông cha có nói “thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”. Để “đi vào lòng dân” Đảng phải chấp nhận phản biện, chấp nhận phản biện phải chấp nhận sự thật đôi khi không mấy dễ chịu.
Người phản biện phải mang cái tâm “trong sáng”, “rõ ràng”, “logic”, “đầy đủ bằng chứng”, “tỉ mỉ và công tâm”. Tuyệt nhiên một khi đã lợi dụng phản biện để phá hoại, xuyên tạc, bóp méo, phục vụ mục đích cá nhân thì đó mới thực sự phản động.
Cho nên chấp nhận phản biện phải chấp nhận cả “tàn tro” của phản biện, đôi lúc cái ranh giới giữa phản biện và phản động chỉ cách nhau một sợi tóc.
Cũng đừng nên giãy nảy, hằn học vì nếu một khi Đảng ở trong lòng dân chẳng có thế lực phản động nào có thể lay chuyển nổi, cũng như không có tên phản động nào có khả năng để chống phá.
Nước Việt ta đã trường tồn qua 4.000 năm lịch sử, chưa khiếp sợ bất cứ một thế lực hùng mạnh nào thì hà cớ gì phải e dè những con người nói thẳng, nói thật mang cái tâm trong sáng.
Vì cái ranh giới quá mong manh nên đừng quá vội vàng quy chụp, phán xét ai đó là phản động. Anh A, chị B có phản động hay không hãy hỏi người dân sẽ rõ.
Tin rằng, ai là kẻ phản động, ai là người phản biện đều rạch ròi như ban ngày, nếu có một lực lượng đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, họ (nhân dân) không dễ dàng bỏ qua.
Cần đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ cái ác, cái xấu bảo vệ công lý, lẽ phải chứ không phải ăn theo nói leo làm lẫn lộn đúng - sai, tốt - xấu.
Vực thẳm của xã hội là thấy sai không dám nói, thấy đúng không dám bảo vệ, xun xoe tất cả hòng vun vén lợi ích cá nhân.
“Trong thế giới này, chúng ta xót xa không chỉ vì lời nói và hành động của những kẻ xấu, mà còn vì sự im lặng đáng sợ của cả những người tốt”, Martin Luther King đã nói như thế.
Sự im lặng ấy có rất nhiều nguyên nhân để dẫn tới.
Cả về mặt chủ quan và khách quan đều có.
Có thể đã từng rất nhiều lần họ lên tiếng, hành động nhưng không đạt được hiệu quả mà còn có tác động ngược lại.
Nên dần dần, họ nghĩ cứ im lặng thì tốt hơn.
Và thế là sự im lặng xuất hiện và trở thành đặc tính cố hữu.
Dần dần họ chỉ còn nghĩ đến lợi ích của mình. Họ ích kỷ, thiếu lòng vị tha, không quan tâm đến những người xung quanh.
Nên khi đứng trước một sự việc không liên quan đến mình, họ chỉ thờ ơ coi như mình chưa từng thấy.
Sự im lặng của người tốt trước mắt không gây hại gì nhưng đó là sự đồng thuận ngầm cho những hành vi sai trái của kẻ xấu. Và chính vì thế mà những kẻ xấu ngày càng lộng hành.
Với tuổi trẻ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bày tỏ lo ngại: “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”.
Ở đâu đó trong xã hội hiện nay, người ta còn xì xầm vào tai nhau những câu chuyện có màu sắc chính trị, bởi vì theo họ “chính trị không đùa được đâu”, họ sợ “họa vô đơn chí”, họ chỉ âm thầm bàn tán vì họ sợ liên quan, họ sợ đủ điều…
Xã hội ta không thiếu những con người dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác. Chúng ta chắc còn nhớ cô giáo Hải Âu ở Long An, chỉ vì phản ánh cây cầu sập khiến một vị hiệu phó lọt xuống kênh mà suýt bị kỷ luật vì “đăng thông tin của xã lên facebook (mạng xã hội)”.
Nếu không có sự anh minh từ trên, không có những cái lên tiếng của dư luận thì không biết giờ này cô Hải Âu có còn đứng trên bục giảng. Giám sát phản biện không phải là cái gì đó cao siêu, mà cần những việc làm như cô giáo Hải Âu.
Bài học sau sự độc đoán của chính quyền cơ sở không phải chỉ xin lỗi là xong, mà ở đó cho thấy một tư duy lãnh đạo cũ kỹ, sáo mòn, nhìn sự thật dưới con mắt kẻ cả, thấy sự mát lòng chính là xúc phạm.
Năm 2006, thầy giáo Đỗ Việt Khoa tạo nên cú sốc trong ngành giáo dục - tố cáo gian lận trong thi cử, chuyện lạm thu, ép học sinh học thêm.
Thầy Khoa được tặng bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Từ thời điểm ấy người ta tưởng chừng phong trào “hai không” trong giáo dục sẽ bon bon trên đại lộ.
Nhưng 11 năm trôi qua, thầy Khoa không còn là…thầy Khoa; chuyển trường, nghỉ việc, bị bôi nhọ, dọa dẫm…danh hiệu “người hùng giáo dục” ngày nào không giúp gì nhiều cho cuộc sống, đường tiến thân.
Và từ đó cho đến nay người ta không thấy xuất hiện thêm một Đỗ Việt Khoa nào nữa, mặc dù tiêu cực trong giáo dục vẫn còn. Vì sao?
Mong sao, Đảng đã mở ra cánh cửa giám sát, phản biện thì đừng ngần ngại mở toang. Lịch sử oanh liệt của Đảng chưa chùn bước trước kẻ thù nào thì không có lý do gì ngần ngại với sự thật.
Tôn trọng phản biện là tôn trọng quy luật khách quan, tôn trọng quy luật khách quan là không đi vào vết xe đổ của lịch sử.
Bài viết thể hiện nhận thức, quan điểm, góc nhìn của riêng tác giả.
Trương Khắc Trà
DỰ BÁO DIỄN BIẾN TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
PHẠM HƯNG QUỐC/ viet-studies 8-1-2018
PHẦN 1
Để có được cách nhìn tổng thể nhất, tác giả xin nhắc lại một luận điểm của người sáng lập ra Chủ nghĩa cộng sản: Karl Marx viết trong cuốn Tư bản  như sau: Chủ nghĩa tư bản tìm mọi cách tạo giá trị lợi nhuận thặng dư, chúng không trừ thủ đoạn gì để đạt được giá trị thặng dư cao nhất.  Khi giá trị thặng dư lên tới 70, 80, 100% thì chúng sẽ có những tâm lý điên loạn đến mức chúng có thể tự treo cổ!! Rất tiếc rằng những người tự nhận là đệ tử trung thành của chủ nghĩa Marx còn lại trong đội ngũ lãnh đạo của môt số quốc gia xã hội chủ nghĩa ít ỏi còn sót lại đã tạo ra một thế hệ lãnh đạo mới, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nhân loại, đó là tầng lớp tư bản đỏ. Tầng lớp những người lãnh đạo này mặc dù luôn khoác áo cộng sản hay xã hội chủ nghĩa nhưng thực chất họ lại có ham muốn làm giàu cho bản thân một cách cuồng nhiệt nhất. Họ bất chấp những chuẩn mực về đạo đức, sẵn sàng thực hiện những thủ đoạn từ trắng trợn đến tinh vi để kiếm tiền. Phương tiện kiếm tiền của họ là “quyền lực”, sự ranh ma tinh quái và cả sự tàn bạo... Lợi nhuận họ thu về luôn tỉ lệ thuận với những “phẩm chất” này. Hiện tượng tham nhũng trở nên phổ biến và dần trở thành xu thế, có tính chất nguyên lý tất yếu của việc hình thành bộ máy cai trị do họ lập ra mặc dù họ luôn khẳng định “quyết tâm xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân”.
Thực tế đã chứng minh rằng đội ngũ lãnh đạo tại các nước xã hội chủ nghĩa này đã trở thành những kẻ giàu có nhất trong xã hội. Bọn họ giàu có hơn hẳn bất cứ một đội ngũ lãnh đạo nào của các nước tư bản phát triển. Nhóm người này có tâm lý làm giàu như các nhà tư bản chó sói thời hoang dại. Họ núp dưới bóng của  chủ nghĩa vô sản nhưng lại hành động như những kẻ điên rồ tham lam tàn bạo nhất. Họ đã tự đặt mình lên trên pháp luật, lũng đoạn pháp luật. Đội ngũ lãnh đạo tại các nước này theo thời gian đã được phân hóa thành nhiều nhóm lợi ích... Các  nhóm lợi ích tranh giành xâu xé thậm chí triệt tiêu nhau để vơ vét tiền bạc của cải của đất nước mà chính họ là những người  đang giữ cương vị  lãnh đạo. Các nhóm lợi ích tại các quốc gia này trong đó có Việt Nam đang có xu hướng phát triển không có giới hạn. Các nhóm lợi ích dùng quyền lực chính trị, tư pháp, hành pháp và cả lập pháp để tranh giành biển thủ, tước đoạt những gì có thể, cho phe nhóm của mình, họ sẵn sàng dùng hàng tỷ đô la ngân sách nhà nước để phục vụ cho các dự án bình phong mà những nhóm lợi ích của họ dựng lên với chiêu bài phát triển kinh tế, phục vụ  dân sinh, phục vụ an ninh quốc phòng để thực hiện các hành vi tham ô, tham nhũng. Trên thực tế sự tha hóa này phát triển rất nhanh từ thế hệ lãnh đạo này sang thế hệ lãnh đạo kế tiếp. Thế hệ sau tham lam tàn bạo, táo tợn và tinh vi hơn thế hệ trước. Đây là một thực tế mà tất cả mọi người đều nhận ra. Mọi người trong đó có cả những kẻ tham nhũng đều nhận thức được rằng sự suy thoái này chắc chắn sẽ dẫn tới sự đổ vỡ diệt vong nhanh chóng cho đất nước của họ nhưng lại không ai có đủ dũng khí và khả năng để tìm cách ngăn chặn dòng thác tham nhũng đangcuốn phăng đi tất cả thậm trí cả lương tâm, lương tri… Dòng thác này được hình thành một cách tự phát như một xu thế và là hệ quả tất yếu trong quá trình chuyển đổi từ việc quản lý kinh tế quan liêu bao cấp theo mô hình xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường.
Bài viết này không có ý định đi sâu vào việc phân tích các nguyên nhân cội rễ cũng như các biến cố lịch sử đã hình thành nên “dòng nước lũ tham nhũng” có tính đặc thù này mà chỉ định nêu ra một vài nhận định cơ bản để làm cơ sở nền tảng giúp bạn đọc hiểu thêm những phân tích về diễn biến trên chính trường tại Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới.
Sự hình thành các nhóm lợi ích đã làm thay đổi đời sống chính trị tại Việt Nam ngay từ khi bắt đầu thực hiện quá trình “đổi mới”. Các nhóm lợi ích luôn tìm cách tranh giành “ hơn thua” với nhau trên chính trường. Quá trinh “đổi mới” tại Việt Nam tất yếu đã đưa tới sự gắn kết chặt chẽ giữa quyền lực chính trị với quyền lực kinh tế. Tuy rằng mặt tích cực do sự nghiêp đổi mới mang lại đối với Việt Nam là rõ ràng thậm chí đôi khi là kỳ diệu không thể phủ nhận được, cụ thể: sức sản xuất được cởi trói một phần, sức sáng tạo trong xã hội được phát huy, nền kinh tế không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cơ sở hạ tầng, mức sống của người dân trong xã hội không ngừng được nâng cao, bộ mặt đất nước được thay đổi toàn diện, vị thế của đất nước được nâng cao trên trường quốc tế v.v… Song những thành tựu do công cuộc đổi mới mang lại ngày càng bị hạn chế và dần bị triệt tiêu bởi mặt trái của nó là tệ nạn tham những.
Trước hết trong lĩnh vực chính trị sự tranh giành giữa những nhóm lợi ích đã tạo ra một đặc thù trong việc hình thành bộ máy lãnh đạo đất nước mà trước đây chưa từng xẩy ra là vị trí số 1, vị trí của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản thay vì phải là những cá nhân xuất sắc nhất, mạnh mẽ nhất nhưng trên thực tế lại ngược lại. Tại Việt Nam gần hai thập kỷ trở lại đây vị trí Tổng Bí Thư lại giành cho những người có hình ảnh: nhu mỳ, ba phải, dĩ hòa vi quý, ít góc cạnh... Rõ ràng đây là những giải pháp tình thế để tạo sự hòa hoãn mà các nhóm lợi ích đã đi đến thỏa hiệp. Hai nhiệm kỳ làm tổng bí thư của Nông Đức Mạnh là cơ hội vàng cho các nhóm lợi ích tại Việt Nam kiếm chác và ăn chia. Sang đến thời của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khi các mặt trái của sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích tham nhũng đã bi phơi bầy không thể che giấu nổi, nhưng trong nhiệm kỳ đầu làm Tổng Bí Thư với phương pháp tư duy và hành động mang nặng tính lý thuyết giáo điều, cộng với sự hạn chế về sức mạnh quyền lực cả trên lĩnh vực tài chính lẫn bạo lực cũng như không có phe cánh, nên Nguyễn Phú Trọng ngoài việc chỉ đưa ra hết nghị quyết này đến nghị quyết khác, trên thực tế hầu như không làm được gì cụ thể đáng kể nào. Trên chính trường Nguyễn Phú Trọng trở thành một anh “hề cung đình” bất đắc dĩ. Thực tế “tập thể” ban lãnh đạo Đảng của ông ta luôn làm vô hiệu hóa các nghị quyết của đảng và làm ngược với mong muốn của ông ta về các vấn đề mà đặc biệt là vấn đề nhân sự cốt lõi của đảng. Thực tế này sẽ dẫn tới sự cáo chung rất nhanh chóng theo cách thức xấu nhất đối với chế độ cộng sản: Sự việc lên tới đỉnh điểm là tại hội nghị TƯ 6 khóa 11, ông trùm của những ông trùm tham nhũng và lợi ích nhóm Nguyễn Tấn Dũng đã bi phơi bầy quá nhiều sai phạm trên rất nhiều phương diện, việc trừng phạt con người này đã trở thành đòi hỏi của công lý và người dân Việt Nam. Nhưng đến giờ chót Nguyễn Phú Trọng cùng với “tập thể” Đảng Cộng sản không làm nổi cái điều tưởng như đương nhiên này, Nguyễn Tấn Dũng vẫn tại vị và ngạo nghễ thách thức quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và đặc biệt thách thức những nỗ lực chống tham nhũng của Đảng. Thực tế này lần đầu tiên tại Việt Nam Tổng Bí Thư đã trở thành một anh hề cung đình.
Có lẽ sự kiện này đã làm cho Nguyễn Phú Trọng phải tự lột xác, vì chỉ có như vậy thì mới có cơ may cứu Đảng Cộng sản và chế độ do Đảng Cộng sản lập ra khỏi sụp đổ một cách nhục nhã. Đến nay trên thực tế đã ghi nhận một số thành công bước đầu trong quá trình tự lột xác này của Nguyễn Phú Trọng. Bề ngoài ông ta không tỏ ra có bất kỳ một thay đổi đáng kể nào, vẫn phát ngôn giáo điều, lạc lõng, thái độ lời nói vẫn nhỏ nhẹ nhu mỳ đến buồn ngủ, nhưng bên trong ông ta cùng một số đội ngũ thân tín của mình chuẩn bị cho việc loại bỏ con “sâu chúa” bằng “mọi giá” trong đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 12. Cái chữ MỌI GIÁ ở đây được thể hiện là ông ta đã chấp nhận mọi sự nhân nhượng kể cả việc để cho các đệ tử thân tín nhất của sâu chúa Nguyễn Tấn Dũng, những trùm tham nhũng  được ở lại và lên chức cao hơn, mặt khác lại để cho môt số người tâm phúc của ông ta phải về vườn. Tất cả chỉ nhằm tới mục đích loại được “con sâu chúa” Nguyễn Tấn Dũng. Người ta nhìn thấy ông ta đã trả một cái giá rất đắt để đạt được muc tiêu này. Một trong những cái giá phải trả là chấp nhận cho những đệ tử ruột nhất, trung thành nhất của sâu chúa và Bộ Chính trị và hơn thế nữa còn được đưa vào những vị trí sống còn của bộ máy cầm quyền. Một thành công nhất cho đến nay trong quá trình “lột xác” của Nguyễn Phú Trọng là ông ta hành động rất “quyền biến” và khôn ngoan, biết mình biết ta, trái ngược phong cách giáo điều cứng nhắc, quan liêu như ông ta vẫn thể hiện. Mặt khác ông ta luôn giữ được bí mật tuyệt đối phương án hành động của mình, biết đánh hỏa mù, biết dàn trận giả để làm lạc hướng đối thủ. Để làm được những việc này chắc chắn Nguyễn Phú Trọng cũng đã thành công bước đầu trong việc xây dựng cho mình một “team hành động đủ mạnh”  Nhưng cần nhận định rằng sẽ là quá sớm nói đến một sự thành công chắc chắn, bền vững để ít nhất là đẩy lùi được sự đổ vỡ, hỗn loạn của chế độ hiện hành trong tương lai gần. Nguyễn Phú Trọng và đồng chí của ông ta phải hóa giải được các nguy cơ to lớn sau:
  1. Mọi sự thanh trừng, tiễu phạt chỉ thành công khi Nguyễn Phú Trọng đảm bảo được sự ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô, an ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ gìn. Đây là một thực tế rất mong manh tại Việt Nam hiện nay: đa số các nhân vật có kinh nghiệm trong chính phủ hiện nay đều đã từng là những đệ tử thân thiết của Nguyễn Tấn Dũng. Chính họ là những kẻ gây ra các ung nhọt trong nền kinh tế nhưng đồng thời cũng là những nhà ảo thuật bậc thầy về sự che đậy, biến báo cho những ung nhọt này. Đinh La Thăng là một trong những nhân vật sáng giá hàng đầu như vậy. Chỉ cần chính những nhân vật này không tiếp tục che đậy nữa thì cũng đủ để đất nước rơi vào khủng hoảng về tâm lý, sau đó là vỡ bung những ung nhọt trong nền kinh tế ở những nơi yếu nhất và nhạy cảm nhất, rồi lan sang các lĩnh vực khác về kinh tế, tài chính và xã hội. Tất nhiên khi còn chức quyền hoặc ít ra được hạ cánh an toàn thì những kẻ tham nhũng còn “ vun đắp” cho chế độ, nhưng khi bị lao lý và truy thu của cải, tài sản thì tình hình sẽ khác, rất khác. Liệu Nguyễn Phú Trọng đã chuẩn bị các biện pháp để đối phó hay chưa?
  2. Mục tiêu lớn nhất của chống tham nhũng là lấy lại uy tín cho Đảng Cộng sản, khôi phục lại lòng tin cho nhân dân là Đảng thực sự tôn trọng sự công bằng và công lý. Nhưng tại Việt Nam tham nhũng đã quá trầm trọng, diễn ra ở mọi nơi mọi cấp mọi lĩnh vực, vậy nếu chống tham nhũng không đúng cách thì sẽ phơi bầy sự mọt rỗng của chế độ qua nhiều thời kỳ lãnh đạo. Mặt khác chính việc chống tham nhũng sẽ gây ra sự bất công giữa các phe nhóm, giữa các cá nhân. Liệu những kẻ bị đưa vào tù có chấp nhận, những kẻ giống mình nhưng chưa bị lộ vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật  thậm trí còn đang giao giảng về đạo đức ?
  3. Các cơ quan sức mạnh của nhà nước Việt Nam hiện nay lại chính là nhưng cơ quan có tham nhũng nhiều nhất, trầm trọng nhất trong đó đặc biệt là cơ quan Công An,  vây  khi “đánh” vào các nhân vật chủ chốt của các cơ quan này thì liệu có đảm bảo được An ninh, Quốc phòng cho đất nước hay không?
  4.  Liệu Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông ta có chứng minh được sự trong sạch của lực lượng chống tham nhũng hiện nay trước tin đồn cho rằng họ nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo của Trung Quốc, cả về kinh tế, tài chính, an ninh, quốc phòng, hay không ? Cần hiểu rằng đây cũng là một tử huyệt về chính trị khi mà lòng dân Việt Nam đang có một sự mặc cảm rất lớn về chính sách bành trướng và bá quyền Trung Quốc.  Rõ ràng rằng yếu tố Trung Quốc có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự thắng hay thua của chiến dịch chống tham nhũng tại Việt Nam, nếu không nói là sự ảnh hưởng này có tính quyết định trong tình thế hiện nay tại Việt Nam. Nhưng lịch sử cận đại đã dạy cho Việt Nam những bài học quá đắt giá của việc lệ thuộc vào Trung Quốc. Chỉ cần Trung Quốc của Tập Cận Bình “VÔ TÌNH” đối với cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay mà tổ chức một vài sự kiện giống như dàn khoan 981 hay Formosa hay tấn công ngư dân Việt Nam trên Biển Đông... thì cũng đủ để đẩy Nguyễn Phú Trọng và đồng chí vào chân tường. Nhưng nếu Tập Cận Bình mà ủng hộ Nguyễn Phú Trọng không đủ độ  KÍN ĐÁO,TẾ NHỊ  thì Trung Quốc sẽ biến lực lượng chống tham nhũng do Nguyễn Phú Trọng cầm đầu trở thành tay sai của Trung Quốc. Người dân Việt Nam lại không bao giờ chấp nhận lãnh đạo của đất nước là tay sai của TRUNG QUỐC.
  5. Thái độ của Mỹ và phương Tây cũng ảnh hưởng nhiều tới cuộc chiến này. Tuy không mạnh mẽ, trực tiếp bằng sự ảnh hưởng của Trung Quốc nhưng xã hội Việt Nam và tâm lý của người dân Việt Nam đang hướng tới một xã hội dân chủ công bằng và văn minh. Khi nói đến khái niệm này thì tuyệt đại đa số người Việt Nam đều nghĩ tới Mỹ và phương Tây.
Trở lại một chút về thái độ của chính phủ Đức trong vụ Trịnh Xuân Thanh. tác giả bài viết này không cho rằng phản ứng mạnh mẽ của chính phủ Đức đối với chính phủ Việt Nam chỉ xuất phát từ những nguyên nhân bề nổi như báo chí đã nói. Ngược lại tác giả cũng không  cho rằng lực lượng chống tham nhũng của nhà cầm quyền Việt Nam lại có hiểu biết và hành động thô thiển, vụng về nhưng những gì đã diễn ra công khai đã được công luận tường thuật. Ngay từ khi Trịnh Xuân Thanh được đưa về Việt Nam các cơ quan an ninh và chuyên gia trong và ngoài nước đã có những tư vấn kịp thời với lực lượng chống tham nhũng tại Việt Nam nhằm tránh đi những tổn hại đáng tiếc về ngoại giao và bang giao kinh tế nhưng dường như chẳng ai trong lực lượng chống tham nhũng tại Việt Nam quan tâm đến những lời tư vấn này và đã không làm những việc cực kỳ đơn giản để không làm trầm trọng hóa vấn đề này. Nhưng khi sự việc đã tiến triển theo chiều hướng xấu vượt mức bình thường thì  phía Nguyễn Phú Trọng lại quy trách nhiêm cho Phạm Bình Minh?  Môt số dấu hiệu này đã nói lên rõ ràng rằng cuộc chiến chống tham nhũng đã vượt qua phạm vi biên giới của Việt Nam mà sẽ là cuộc chiến giành ảnh hưởng giữa phương Tây và Trung Quốc đối với Việt Nam. Liệu Nguyễn Phú Trọng còn giữ được đường lối “đa phương hóa ,đa dạng hóa với các nước” được hay không, hay lại theo chân  Malaysia, Thái Lan, Philippin thậm chí là Campuchia trong chính sách đối ngoại với Trung Quốc? Chắc chắn câu trả lời cho câu hỏi này không chỉ là ở phía Việt Nam mà còn ở Trung Quốc và các nước phương Tây và Mỹ. 
Tóm lại Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông đã chọn một con đường khác hẳn với con đường mà người tiền nhiệm của ông là Nông Đức Mạnh đã lựa chọn. Cứ giả thiết, như nhiều lời đồn đoán dù thiện ý hay ác ý, cho rằng cuộc chiến chống tham nhũng  này chỉ là một cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái thì một thực tế không thể phủ nhân là:
  1. Việt Nam không thể không chống tham nhũng và càng không thể chống tham nhũng bằng cách đưa những kẻ tham nhũng lên làm lãnh đạo đất nước.
  2. Cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam sẽ không phải chỉ là câu chuyện nội bộ của Việt Nam.
PHẦN 2
Trong cuôc chiến chống tham nhũng do Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo thì cái khó không phải là tìm ra những vụ án tham nhũng khủng, hay cực khủng của các quả đấm thép (tập đoàn kinh tế nhà nước) thời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vì chúng quá nhiều và quá lộ liễu. Ngược lại sẽ rất khó, thậm chí là không có, dự án lớn nào của các “quả đấm thép” lại không xẩy ra những tham nhũng nghiêm trọng. Cái khó cho Nguyễn Phú Trọng và lực lượng của ông ta là phải chọn ra những vụ án mà không làm “vỡ bình”.
Một thực tế là những dự án lớn của các quả đấm thép thì không chỉ liên quan đến một vài ủy viên Bộ Chính trị mà có thể nói là đến rất nhiều ủy viên Bộ Chính trị. Tất nhiên sự phân bổ “lợi lộc” giữa các ủy viên Bộ Chính trị và các cá nhân khác trong ban lãnh đạo đảng, chính phủ và nhà nước sẽ rất không đồng đều nhưng xét về con số tuyệt đối thì người được hưởng “lộc” ít nhất cũng cao hơn mức khung hình phạt cao nhất mà bộ luật hình sự của bộ luật hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành dành cho tội tham ô, tham nhũng. Cái khó nhất cho Nguyễn Phú Trọng là làm sao cho việc xử lý các vụ án này không gây tổn thương quá lớn cho chế độ, cho sự ổn định của đất nước. Cách thức xử lý đối với những vụ việc tham nhũng từ trước tới nay là giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của sự thiệt hại trong từng vụ án, khoanh vùng các đối tượng liên đới để rồi “giơ cao đánh khẽ”. Như vậy vừa tạo ra bức tranh nghiêm minh về pháp luật vừa làm cho đối tượng bị “thí điểm làm gương” chấp nhận “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Giải pháp này ít ảnh hưởng tới hình ảnh của chế độ. Nhưng sự kiện khởi tố, bắt giam và xử án nhanh chóng Đinh La Thăng đang minh chứng rằng Nguyễn Phú Trọng đã không muốn đi theo lối mòn cũ mà muốn tạo đột phá. Vấn đề là đột phá ở mức độ nào? Mức giống như Tập Cận Bình là hay mức thấp hơn? Nhưng cho dù ở mức thấp hơn Tập Cận Bình đã làm ở Trung Quốc thì cũng vượt quá khả năng hiện có của lực lượng chống tham nhũng do Nguyễn Phú Trọng cầm đầu tại Việt Nam hiện nay. Để thành công Nguyễn Phú Trọng có ba chỗ dựa :
  1. Lòng dân:khái niệm này có một biên độ dao động rất cao. Đương nhiên tỉ lệ ủng hộ của lòng dân luôn tỷ lệ thuận với mức độ kiên quyết, triệt để, công bằng, minh bạch trong quá trình điều tra và xét xử những vụ án tham nhũng, nhưng điều này lại làm gia tăng sự phức tạp của vấn đề cả về chính trị, ngoại giao và các vấn đề an ninh, quốc phòng. Thông thường, để hỗ trợ đắc lực cho việc giải tỏa những nghịch lý này thì vai trò của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương rất quan trọng. Song cho đến nay dường như các phương tiện thông tin “lề phải” còn rất thụ động trước diễn biến tình hình, hay nói cách khác Nguyễn Phú Trọng và lực lượng của ông ta vẫn chưa làm chủ được địa hạt này.
  2. Sự hỗ trợ của Tập Cận Bình, đây cũng là một yếu tố có biên độ dao động rất cao. Rất rõ ràng Tập Cận Bình không ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng ngay cả khi ông ta còn đương quyền, nhưng hiện nay họ lại công khai sự ủng hộ đối với Hoàng Trung Hải. Người ta dễ dàng quan sát thấy rằng công cuộc chống tham nhũng đang sục sôi tại Việt Nam nhưng Hoàng Trung Hải gần như vẫn đứng NGOẠI PHẠM trong mọi vụ viêc mặc dù ông ta cũng đã trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào rất nhiều dự án bê bối trong quá khứ khi ông ta còn là một phó thủ tướng phụ trách công nghiệp và thương mại dưới thời Nguyễn Tấn Dũng. Đặc biệt là các dự án do các nhà đầu tư Trung Quốc thực hiện hoặc do tiền của Trung Quốc cho vay đều là những thí dụ điển hình bê bối trên nhiều phương diện. Đây có lẽ cũng là cái cớ rõ ràng của luận điểm cho rằng Nguyễn Phú Trọng đang dựa vào Trung Quốc để thanh lọc bộ máy thông qua cái cớ chống tham nhũng. Nhưng vì cần sự hỗ trợ của Trung Quốc nên ông ta không dám động tới các dự án của Trung Quốc và cá nhân Hoàng Trung Hải. Vậy câu hỏi đặt ra là Tập Cận Bình hỗ trợ Nguyễn Phú Trọng ở mức độ nào trong chiến dịch chống tham nhũng hiện nay? Liệu người ta có thể lấy việc NGOẠI PHẠM này để xác định MÀU SẮC VÀ DIỆN MẠO cho công cuộc chống tham nhũng hiện nay của Nguyễn Phú Trọng? Tác giả bài viết này cho rằng chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi thì thực tế sẽ cho mọi người thấy rõ MÀU SẮC của công cuộc chống tham nhũng hiện nay tại Việt Nam. Nhưng để hiểu thêm về bản chất sự chi phối của Trung Quốc đối với bộ máy chính trị tại Việt Nam, tác giả bài viết cần phải nêu rõ nhận định của cá nhân về việc tại sao Trung Quốc hay nói cụ thể hơn làTập Cận Bình không ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng ngay từ khi ông ta còn đương chức. Họ không ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng không phải vì ông ta chống Trung Quốc thân với Mỹ và phương Tây mà chỉ vì ông ta đã tự trở thành một con bài thối trên bàn cờ chính trị tại Việt Nam. Để minh chứng cho nhận định này xin hãy đánh giá Nguyễn Tấn Dũng thông qua những di sản mà ông ta để lại cho Việt Nam chứ không nên chỉ dựa vào một số lời nói hay động thái bề nổi có vẻ thân Mỹ và chống Trung Quốc của ông ta.
  3. Mỹ và phương Tâytuy không có khả năng chi phối mạnh vào chính trường Việt Nam như Trung Quốc nhưng họ đang có lợi thế “trời cho” do quá trình “đổi mới” tại Việt Nam mang lại. Nhờ vào thành tựu mặt phải do quá trình đổi mới tại Việt Nam mang lại, người dân Việt Nam đã hiểu giá trị của sự cởi trói trong các hoạt động kinh tế, thương mại: giá trị của tự do dân chủ, của quyền con người và đương nhiên sự khát khao để có được nó. Việc không ngừng hoàn thiện nó đã và đang không chỉ là nhu cầu tất yếu của mọi người dân mà đã đần trở thành mục tiêu, lý tưởng của không ít người Việt Nam đặc biệt là thế hệ trẻ. Các giá trị PHƯƠNG TÂY đã trở thành động lực cho sự phát triển của kinh tế, xã hội. Mỹ và các nước phương Tây tuy khá chậm nhưng đã dần dần nhận ra xu thế này tại Việt Nam và họ đã có nhiều chính sách để khuyến khích và tạo điều kiện cho Việt Nam đi theo hướng này. Song vì sự khác biệt về chế độ chính trị, về ý thức hệ nên đã kìm hãm khá nhiều sự hợp tác hiệu quả giữa Việt Nam và các nước phương Tây và Mỹ. Chỉ trong những năm gần đây thì tiến trình hợp tác này mới đươc chú trọng tăng cường đáng kể do sự xuất hiện của sự kiện BIỂN ĐÔNG. Sự kiện này đã thúc đẩy hai bên hiểu đươc GIÁ TRỊ của nhau hơn. Rõ ràng rằng cho dù có đủ loại lời ong tiếng ve về cái gọi là “rắp tâm bán nước” hay “làm tay sai” cho Trung  Quốc của một số lực lượng cầm quyền nào đó ở Việt Nam nhưng không ai có thể phủ nhận một thực tế là nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hiện này trở thành “cái gai” to nhất và khó chịu nhất của Trung Quốc trong quá trình thực hiện kế hoạch BIỂN ĐÔNG của họ. Những hiềm khích giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển Đông nhiều và lớn hơn rất nhiều so với các nước ASEAN khác với Trung Quốc cộng lại. Biển Đông có vai trò địa chính trị toàn cầu của nó. Nhà cầm quyền Hoa Kỳ trong thời gian qua đã dần ý thức được vai trò này của Việt Nam và đã có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách đối với Việt Nam trong những năm gần đây. Sự kiện lần đầu tiên trong lịch sử vào đầu tháng ba năm 2018 sắp  tới, một tầu sân bay Mỹ sẽ cập cảng dài ngày tại Đà Nẵng, một thành phố chiến lược của Việt Nam, là một minh chứng. Nhà cầm quyền hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ đã khôn ngoan tận dụng cơ hội này để phát huy tối đa các hệ quả của nó không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng mà còn cho cả các lĩnh vực dân sự như giữ gìn sự ổn định và hòa bình, an ninh và an toàn hàng hải trên Biển Đông, đảm bảo một môi trường an toàn và ổn định trong việc cùng sử dụng và khai thác Biển Đông một cách hòa bình văn minh chống xu thế nước to bắt nạt nước nhỏ dưới mọi hình thức. Ngoài các phái đoàn quân sự phía Mỹ và được sự cho phép của nhà cầm quyền, Việt Nam còn mời rất nhiều các cơ quan, tổ chức phi quân sự Việt Nam viếng thăm tàu.
Thật ngoạn mục, mới chỉ cách đây bốn thập kỷ đối với Việt Nam, Mỹ luôn luôn là yếu tố đe dọa, nhưng bây giờ lại là yếu tố để giữ ổn định để bảo vệ hòa bình. Lạ lùng thay để làm cho tình thế bị xoay ngược 1800  như trên, nước Mỹ đã không mất một viên đạn nào, khi mà chỉ ngay trước đó họ đã phải chi tới hàng trăm tỷ đô la và hàng vạn sinh mạng mà không thể làm nổi dù chỉ là một phần nhỏ những gì họ đang có. Trớ trêu thay nguyên nhân của sự thay đổi ngoạn muc này lại là do chính sách bành trướng trên tư thế của kẻ mạnh luôn muốn bắt nạt các nước khác của Trung Quốc.
Đương nhiên nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ cảm thấy khó chịu về sự kiện này cũng như sự xích lại gần nhau giữa Mỹ và Việt Nam. Chắc chắn trong ngắn hạn và dài hạn họ sẽ tìm cách xoay ngược tình thế. Cụ thể ngay trong năm 2018 này lãnh đạo chóp bu của Trung Quốc sẽ tổ chức những chuyến đi thăm rất THÂN MẬT tại hai nước láng giềng của Việt Nam là Lào và Campuchia và đương nhiên họ sẽ tìm đủ mọi cách, tận dụng mọi cơ hội để gây sức ép, để khuất phục ban lãnh đạo Việt Nam bớt “cứng đầu”. Tác giả không muốn dùng khái niệm “khuất phục Việt Nam" mà chỉ là "ban lãnh đạo Việt Nam” vì với hàng nghìn năm lịch sử tồn tại,  người dân Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục trước sức mạnh cường quyền của ngoại bang.
Một chút tản mạn về đại án Petro Việt Nam
Tác giả bài viết cho rằng sự kiện vụ án Petro Việt Nam là một câu chuyện rất điển hình, phản ảnh rõ nét thực trạng tình hình chính trị tại Việt Nam hiện nay: Tại sao lại là Petro Việt Nam trong khi mà bất cứ tập đoàn kinh tế nhà nước nào – các quả đấm thép của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng có mức độ vi phạm luật pháp và tham nhũng nghiêm trọng không kém, đặc biệt là các sai phạm của tập đoàn Than Khoáng sản Việt nam trong quá khứ còn lộ liễu công khai hơn nhiều?  Công bằng mà nói Petro Việt Nam là con gà đẻ trứng vàng cho nhà nước Việt Nam không những trong vài ba thập kỷ trở lại đây mà còn có tiềm năng rất lớn trong tương lai. Chỉ cách đây vài năm khả năng thu hút vốn tài chính quốc tế của Petro Việt Nam còn cao hơn cả khả năng của chính phủ Việt Nam (Bộ Tài chính). Có thể nói Petro Việt Nam không chỉ có vai trò cực kỳ quan trọng về mặt kinh tế, tài chính đối với Việt Nam mà nó còn gắn rất chặt tới các lĩnh vực an ninh, quốc phòng và cả ngoại giao của đất nước. Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông ta liệu có hiểu rằng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng do các thế hệ lãnh đạo Petro Việt Nam và các cá nhân trong chính phủ có liên quan đến Petro Việt Nam sẽ thấp hơn nhiều so với những thiệt hại vô hình và hữu hình do sự ngừng trệ trong việc đầu tư và triển khai kinh doanh của các dự án của tập đoàn này? (Theo ước tính các thiệt hại này có thể lên tới trên 5 triệu mỹ kim/ngày tức là hơn 1,5 tỷ mỹ kim/năm)? Rõ ràng rằng nếu Nguyễn Phú Trọng và bộ máy của ông ta mà phạm sai lầm trong trong quá trình xử lý các vụ án tham nhũng tại Petro Việt Nam (hoặc quá mạnh, hoặc quá nhẹ, thậm chí chỉ cần vụng về …) thì hậu quả sẽ rất khó lường. Trong các cáo trạng của các cơ quan thực thi pháp luật thì nhà nước Việt Nam mới chỉ đụng tới một số sai phạm trong một số vụ án chưa phải đã là lớn và điển hình trong số các sai phạm mà Petro Việt Nam đã thực hiện trong thời gian qua . Thông thường một vụ án tham nhũng tại Việt Nam có dây mơ rễ má với nhiều quan chức trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong khi mà hệ thống pháp luật của Việt Nam còn quá non yếu để có thể đảm bảo rằng trong khi “phẫu thuật các vụ án” sẽ không để lây lan sang các việc khác mà lúc đầu tưởng chừng như không có liên quan. Quả thực hiện nay các ngân hàng như Ocean Bank và Ngân hàng Xây dựng đang chuẩn bị khởi kiện Ngân hàng Nhà nước vì đã áp đặt việc mua các ngân hàng này với giá 0 đồng là trái pháp luật. Vậy một Uỷ viên Bộ Chính trị thứ hai là Nguyễn Văn Bình liệu có đi theo số phận của Đinh La Thăng? Hai vị này vốn cũng là hai tư lệnh ngành thân cận hàng đầu của Nguyễn Tấn Dũng.
Kết luận
Nếu ví tình hình chính trị Việt Nam như chiếc bình rượu chứa đựng những giọt rượu ngọt, bùi, đắng, cay của lịch sử Việt Nam từ ngày thoát khỏi ách thực dân đến nay thì rõ ràng cái bình này đã không phù hợp với những gì chứa trong nó. Nó có thể nứt và vỡ bất cứ lúc nào. Vấn đề là  nếu nó bị nứt vỡ ở phần cổ thì chỉ mất ít rượu, nhưng nếu ở phần thân thì mất nhiều và nếu ở phần đáy thì đương nhiên sẽ mất sạch. Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông ta đang cố gắng không để bình bị vỡ. Một trong những phương án mà họ đang cố gắng không để bình vỡ là tạo cho Việt Nam đi theo một tiến trình thay đổi rất cơ bản nhưng vẫn đảm bảo ổn định chính trị xã hội trong nước, đó là thực hiện cải cách triệt để nhưng lại từ từ “có lộ trình hợp lý”. Quá trình cải cách này bắt đầu từ các cơ quan hành pháp (chính phủ) rồi sau đó là các cơ quan tư pháp và cuối cùng là xây dựng một thể chế chính trị mới trên nền tảng của một học thuyết về tư tưởng và triết học mới trong khi mà học thuyết cũ đã hoàn toàn bất cập. Khác với các nước phát triển khác, cụ thể như Châu Âu hay Bắc Mỹ, khi mà họ đã có bề dày hàng trăm năm để làm quen với các khái niệm dân chủ, nhân quyền, Việt Nan vừa mới thoát ra từ chế độ thực dân hà khắc rồi sau đó lại tiếp tục các chính sách hà khắc của chế độ cộng sản duy ý chí, nay khi muốn phát triển theo hướng tự do dân chủ thì không thể không có một chủ thuyết đúng đắn cho riêng mình. Nếu không có điều này thì rất dễ mất phương hướng và đặc biệt các khái niệm cũ, mới sẽ bị ngộ nhận hay lạm dụng vì lợi ích của các nhóm quyền lực trong xã hội. Nhưng trớ trêu thay, cho đến nay sẽ thật khó tin Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông ta (Ban Lý luận TƯ) có thể đưa ra một cái gì mới, sáng tạo dù chỉ là ở mức độ thấp.  Hỡi ôi, tác giả bài viết này chỉ cầu trời khấn phật là Ban Lý luận TƯ của ông ta sau khi tổ chức hàng trăm các buổi tọa đàm, hội thảo với các giáo sư tiến sĩ lừng lẫy uy tín cùng với hàng tỷ đồng tiền ngân sách sẽ không đưa ra kiến nghị lấy tên cho hướng đi mới, học thuyết chính trị mới của Việt Nam là “ Việt Nam đi theo con đường Chủ Nghĩa Xã Hội mang đậm tính đặc tính đặc sắc Việt Nam” ./.
Việt Nam, ngày 7/1/2018

Phạm Hưng Quốc

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 8-1-18

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

20180108. BÀN VỀ 'BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH'

ĐIỂM BÁO MẠNG
CÓ HAY KHÔNG CÁI 'BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH' ?

NGUYỄN VẠN PHÚ/ TBKTSG 8-1-2018

Công nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu là gia công. Ảnh: NGUYỄN NAM
(TBKTSG) - Chúng ta thường nghe các chuyên gia kinh tế nói nhiều về bẫy thu nhập trung bình, rằng không khéo nền kinh tế sẽ rơi vào chỗ mắc kẹt ở một mức thu nhập nào đó, không thoát được đến nỗi ai nấy đều tin có một cái bẫy như thế đang tồn tại, chực chờ. Các phát biểu này thường có ý tốt, cảnh báo các nhà làm chính sách không được chủ quan, không được thỏa mãn với hiện tại và đi kèm là những khuyến nghị hay giải pháp.
Tuy nhiên, tờ The Economist gây ngạc nhiên khi gần đây lại khẳng định không có bằng chứng gì trong thực tế về cái bẫy thu nhập trung bình. Trước đó cũng có nhiều nghiên cứu tựu trung cho rằng làm gì có cái bẫy thu nhập trung bình nào mà cảnh báo!
Khái niệm bẫy thu nhập trung bình ra đời thế nào?
Năm 2004, tạp chí Foreign Affairs đăng bài Toàn cầu hóa thiếu vắng những nước trung bình của GS. Geoffrey Garrett, lúc đó đang dạy tại University of California, Los Angeles. Bài viết cho rằng các nước thu nhập trung bình bị mắc kẹt, một bên không cạnh tranh nổi với các nước giàu có công nghệ vượt trội, bên kia lại cũng thua các nước thu nhập thấp vì giá nhân công thấp. Vì thế trên thị trường kết nối toàn cầu hóa, các nước trung bình này có tốc độ phát triển thua cả nước giàu lẫn nước nghèo.
Để minh họa, bài viết sắp xếp các nền kinh tế theo GDP đầu người vào năm 1980, rồi chia thành ba nhóm: giàu, trung bình và nghèo. Sau đó, tác giả so sánh tốc độ phát triển của các nhóm trong vòng hai thập kỷ và phát hiện các nước trong nhóm trung bình thật sự phát triển chậm hơn so với hai nhóm còn lại. Ba năm sau, Homi Kharas và Indermit Gill thuộc Ngân hàng Thế giới trích dẫn bài này trong cuốn sách của họ rồi chế ra cụm từ “bẫy thu nhập trung bình” - khai sinh một khái niệm được nhiều nhà lãnh đạo các nước, rồi chuyên gia kinh tế, sử dụng trong nhiều tình huống, nghe rất kêu, rất hình tượng.
Được biết đến nhiều nhất là Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc Lâu Kế Vĩ, khi tuyên bố vào năm 2015 rằng Trung Quốc có 50% khả năng rơi vào bẫy thu nhập trung bình trong vòng năm đến 10 năm tới. Trong báo cáo Trung Quốc 2030 có một biểu đồ rất ấn tượng, giúp lan tỏa khái niệm bẫy thu nhập trung bình. Nó cho thấy trong 101 nước được xem là có thu nhập trung bình vào năm 1960, chỉ có 13 nước thoát ra thành nước có thu nhập cao vào năm 2008, còn lại đều mắc kẹt trong ngưỡng trung bình suốt 50 năm.
Trước đây người ta nói nhiều về bẫy thu nhập trung bình chỉ vì họ không có công thức gì cụ thể rõ ràng để áp dụng cho các nước có thu nhập trung bình. Vì thế, tờ The Economist kết luận, bẫy thu nhập trung bình thật ra là tình thế tiến thoái lưỡng nan của các nước có thu nhập trung bình.
châu Á và Kwanho Shin trường Korea University cũng có những kết luận tương tự. Họ xem xét các nền kinh tế phát triển nhanh rồi sau đó chững lại (nhanh là với tốc độ tăng GDP bình quân đầu người trên 3,5% và chững lại là GDP bình quân đầu người tăng chậm hơn trước 2 điểm phần trăm, cả hai tính bình quân trên thời gian bảy năm). Nghiên cứu cho họ thấy việc chững lại này thường xảy ra khi GDP bình quân đầu người đạt mốc 11.000-15.000 đô la Mỹ (tính theo cân bằng sức mua).
Như vậy khái niệm “bẫy thu nhập trung bình” không phải là chuyện giật gân theo kiểu báo chí mà có những nghiên cứu nghiêm túc hậu thuẫn. Thế thì tại sao tờ Economist lại cho rằng cái bẫy này chỉ là một dạng huyền thoại?
Tại sao tờ Economist lại nói khác?
Trước tiên là nói về lập luận các nước có thu nhập trung bình không cạnh tranh nổi với cả hai đầu: hoặc là công nghệ cao hoặc là lương thấp. Tuy nhiên thực tế các nước giàu phải dùng công nghệ cao để bù vào chỗ thua thiệt là chi phí tiền lương cho công nhân quá cao, ngược lại các nước nghèo bị buộc phải nhận đồng lương thấp để bù vào chỗ công nghệ của họ còn lạc hậu. Vậy, tại sao không lập luận các nước trung bình có thể cạnh tranh hơn hẳn cả hai đầu khi kết hợp mức lương vừa phải với công nghệ cũng vừa phải? Lấy ví dụ trường hợp của Việt Nam, hoàn toàn có thể kết hợp mức lương của công nhân còn thấp và đầu tư công nghệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà trong thực tế đã có những doanh nghiệp như thế, chẳng hạn Samsung lắp ráp điện thoại thông minh hay Intel lắp ráp chip điện tử.
Hơn nữa, làm gì có sự xếp hạng trung bình chung chung vì ngay trong một nước, sự cách biệt giữa các công ty hàng đầu với các công ty làng nhàng là rất lớn. Năng suất của 25% các doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ cao gần gấp năm lần 25% các doanh nghiệp tốp dưới; chênh lệch này ở các nước đang phát triển còn cao hơn nhiều lần.
Hãy nói về cách các doanh nghiệp tự vươn lên để tăng năng suất cũng như các nước tìm cách tăng GDP đầu người. Cách thứ nhất là chuyển công nhân từ các lĩnh vực thâm dụng lao động qua các nhà máy có năng suất cao hơn (tức chuyển dịch cơ cấu). Cách thứ hai là đầu tư thêm máy móc cho mỗi công nhân (thâm dụng vốn). Cách thứ ba là khai thác vốn hay nhân công tốt hơn nhờ ứng dụng công nghệ sẵn có (đa dạng công nghệ). Cách cuối cùng, áp dụng những tiến bộ công nghệ mới xuất hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả (cách tân công nghệ).
Nói là bốn cách nhưng thật ra ở các nước, người ta kết hợp các phương cách này cùng lúc vì các nước không chờ đến khi nông dân dư thừa bỏ ruộng đồng ra thành thị thì mới đầu tư máy móc hay công nghệ. Họ cũng không chờ tích lũy vốn đến một mức nào đó mới cải tiến kỹ thuật sản xuất. Nói cách khác, không hề có các giai đoạn phát triển rõ ràng để nói một nước nhảy từ bậc này lên bậc khác, thoát hay mắc kẹt vì trong chính một nước, trình độ phát triển của các doanh nghiệp, các khu vực kinh tế là khác nhau, có doanh nghiệp dẫn đầu, có doanh nghiệp chững lại, không phụ thuộc vào chuyện thu nhập bình quân đầu người đang ở mức trung bình hay không.
Cụ thể hơn, tờ Economist phân tích vào từng nghiên cứu đằng sau khái niệm bẫy thu nhập trung bình. Số liệu thống kê trong nghiên cứu của Eichengreen, Park and Shin cho thấy đúng là tốc độ nhiều nước thu nhập trung bình bị chững lại thật nhưng nếu cũng dùng phương pháp đó để đo lường các nước thu nhập thấp thì sự chững lại này xảy ra cũng thường xuyên không kém. Còn các nước giàu ít khi có tốc độ phát triển cao hơn 3,5% nên làm gì có chuyện chững lại như định nghĩa của nghiên cứu (tốc độ tăng thấp hơn trước đến 2 điểm phần trăm). Việc chững lại cũng không ngăn cản các nền kinh tế sau đó vẫn giàu hẳn lên như Singapore, Hồng Kông, Đài Loan hay Hàn Quốc.
Thế còn biểu đồ trong 101 nước có thu nhập trung bình, chỉ có 13 nước thoát bẫy thì sao? Biểu đồ này định nghĩa một nước có thu nhập trung bình là nước có GDP bình quân đầu nước (tính theo cân bằng sức mua) nằm giữa 5,2% và 42,75% GDP bình quân đầu người của nước Mỹ. Kể từ lúc giới thiệu biểu đồ này vào năm 2012, đã có thêm 18 nước ra khỏi danh sách thu nhập trung bình do tăng trưởng hay do số liệu chính xác hơn.
Quan trọng hơn, biểu đồ này có một sai sót căn bản: định nghĩa thu nhập trung bình như thế thì quá rộng nên không có ý nghĩa. Ví dụ, một nước GDP đầu người chỉ bằng 590 đô la Mỹ (theo giá 1990) lại được xem là có thu nhập trung bình vào năm 1960 trong khi thực tế đây là nước nghèo. Ngược lại một nước có thu nhập GDP bình quân đầu người lên đến 13.300 đô la Mỹ năm 2008 vẫn được xem là nước trung bình dù nó cao hơn trường hợp “trung bình” ở trên đến 22 lần. Chẳng lạ gì nhiều nước bị mắc kẹt trong khoảng định nghĩa mênh mang này.
Riêng công trình nghiên cứu của GS. Garrett, dẫn tới khái niệm bẫy thu nhập trung bình, thì sao? Nếu không chia ba nhóm nước theo tỷ lệ 25%-45%-30% khá khiên cưỡng như Garrett mà chia đều các nhóm, cộng với dữ liệu tốt hơn cho cùng 20 năm đó (1980-2000), người ta thấy cách biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm không còn nữa! Quan trọng hơn, các nước thu nhập trung bình lại có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trong hai thập niên từ 1990-2010 cũng như từ 1995-2015.
Một chuyên viên của Ngân hàng Thế giới có tham gia biên soạn tài liệu Trung Quốc 2030, sau này là đồng tác giả một công trình nghiên cứu bẫy thu nhập trung bình, lại đi đến kết luận: Không có bằng chứng gì về việc chững lại bất thường khi đạt đến ngưỡng thu nhập trung bình. Các nghiên cứu khác của Ngân hàng Phát triển châu Á, Đại học Columbia và đặc biệt là nghiên cứu của Lant Pritchett và Larry Summers, Đại học Harvard, cũng tỏ vẻ nghi ngờ về bẫy thu nhập trung bình. Nhà kinh tế Robert Barro cũng của Đại học Harvard cho rằng khái niệm này không có thật, rằng chuyển biến từ thu nhập trung bình lên mức thu nhập cao là đầy thách thức nhưng mức độ thách thức cũng không có gì đặc biệt hơn khi chuyển từ thu nhập thấp lên thu nhập trung bình.
Bẫy” - rào cản phát triển - không phải do thu nhập trung bình mà do các yếu tố khác
Nói tóm lại, có hay không có bẫy thu nhập trung bình đều được hỗ trợ bằng các lập luận và nghiên cứu. Nhưng dường như các nhà kinh tế nghiêng về hướng cho rằng cái bẫy, tức các rào cản quá trình phát triển, không phải do nước đó đang ở mức thu nhập trung bình mà xuất hiện. Rào cản là do các yếu tố khác làm việc áp dụng bốn con đường nâng năng suất nói trên bị nghẽn lại.
Trước đây người ta nói nhiều về bẫy thu nhập trung bình chỉ vì họ không có công thức gì cụ thể rõ ràng để áp dụng cho các nước có thu nhập trung bình. Bám vào chiến lược tăng trưởng cũ (như bám vào sản xuất thâm dụng lao động) cũng không ổn mà lao vào ứng dụng các chiến lược cao cấp như kiểu kinh tế tri thức, kinh tế số, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng không xong. Vì thế, tờ The Economist kết luận, bẫy thu nhập trung bình thật ra là tình thế tiến thoái lưỡng nan của các nước có thu nhập trung bình. 

TĂNG THUẾ GTGT: VÌ SAO BỘ TÀI CHÍNH  QUYẾT 'THU CÙNG DIỆT TẬN'?

THIỀN LÂM/ CaliToday/ BVN 8-1-2018

Bất chấp rất nhiều phản ứng của người dân, doanh nghiệp, giới chuyên gia về âm mưu tăng thuế giá trị gia tăng (VAT) từ 10% lên 12%, điều quái gở và cực kỳ tàn nhẫn là Bộ Tài chính vẫn khăng khăng bảo lưu đề xuất này.
Mới vào đầu năm 2018, Bộ Tài chính đã chuyển Bộ Tư pháp thẩm định Dự thảo Luật sửa đổi các luật về thuế trước khi báo cáo Thủ tướng xem xét trình Quốc hội vào năm 2018. Trong dự thảo mới vẫn lồ lộ hiện hình đề xuất tăng thuế VAT từ 10% lên 12% và tăng theo lộ trình, mỗi năm tăng thêm 1% cho tới khi bằng 12%.
Theo giải thích của cơ quan chuyên tìm cách “móc túi” dân này, tăng thuế trong nước là nhằm bù đắp hụt do cắt giảm thuế theo các cam kết mà Việt Nam đã ký trước đó.
Theo Bộ Tài chính: “hiện nay Việt Nam đã ký kết 10 hiệp định thương mại tự do (FTA) và sẽ có hiệu lực trong giai đoạn từ nay tới năm 2020. Việc thực hiện các cam kết FTA khiến hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ, làm nguồn thu ngân sách nhà nước bị ảnh hưởng. Cụ thể, ngân sách nhà nước sẽ hụt thu do giảm thuế nhập khẩu trong năm 2018 khoảng 30.150 tỷ đồng; năm 2019 hụt thu khoảng 36.340 tỷ đồng; năm 2020 hụt thu 43.965 tỷ đồng. Ngoài ra, thuế suất bình quân của toàn bộ hàng hóa nhập khẩu cũng giảm dần hằng năm theo lộ trình: Năm 2015 giảm còn bình quân 4,75%, năm 2016 còn 3,74%, và năm 2018 giảm còn 2,98%”.
Hàng loạt dấu hỏi lớn nổi lên là vì sao trước đây khi ồn ào khoe thành tích chạy theo phong trào ký FTA, Bộ Tài chính - một thành viên chủ chốt trong hoạt động đàm phán với các đối tác nước ngoài - lại chỉ thuần túy vẽ vời những lợi ích mà các FTA sẽ mang lại, chứ không hề đề cập - ít nhất trên phương diện công khai - về thủ đoạn sẽ “hồi tố” vào chính người dân của mình bằng cách tróc thuế đầu dân một khi các FTA không mang lại hiệu quả như mong muốn? Vì sao chỉ đến lúc kết quả thực hiện các FTA bị “đổ nợ”, Bộ Tài chính mới vội vã tham mưu cho chính thể độc đảng đè đầu dân thu thuế để “bù đắp khó khăn ngân sách”? Vậy với vai trò là cơ quan tham mưu chủ chốt, Bộ Tài chính có vô trách nhiệm đến mức đã góp phần và hiện thực “đổ nợ” ấy?
Đến thời điểm 15/12/2017, tức chỉ còn nửa tháng là hết năm 2017, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm ước tính đạt 1.104 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 91,1% dự toán năm 2017 - theo số liệu vừa công bố của Tổng cục Thống kê.
Vào ngày 31/12/2017, hầu như chắc chắn chế độ “thu cùng diệt tận giai đoạn cuối” sẽ không thể đạt được kết quả “thu vượt dự toán” gần 10% theo kế hoạch đề ra, thậm chí chỉ tiêu gần nhất là thu vượt dự toán 2,3% cũng hoàn toàn bị phá sản.
Vào đầu năm 2017, trong lúc nền kinh tế Việt Nam lao vào năm suy thoái thứ 9 liên tiếp khiến rất nhiều gia đình phải thắt lưng buộc bụng bởi thu nhập ngày càng eo hẹp và đồng tiền ngày càng mất giá, Bộ Tài chính lại tìm cách “móc túi” tuyệt đại đa số công dân và người nghèo bằng một bản dự thảo sửa đổi Luật thuế bảo vệ môi trường với 8.000 đồng đánh vào 1 lít xăng. Một thứ trưởng của bộ này là Đỗ Hoàng Anh Tuấn còn trơ tráo đến mức tuyên bố về “thuế bảo vệ môi trường” là “được lòng dân hơn”!
Trước đó vào năm 2015, Bộ Tài chính đã đề xuất và được Quốc hội thông qua việc tăng gấp 3 lần thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu từ ngày 1/5/2015.
Vào thời điểm đó, Bộ Tài chính tính toán: chỉ riêng với thuế bảo vệ môi trường đánh vào các mặt hàng này, ngân sách dự kiến sẽ thu về hơn 35.000 tỷ đồng/năm, tăng khoảng 23.000 tỷ đồng/năm. Trong đó, riêng số thu thuế bảo vệ môi trường của mặt hàng xăng đã dự kiến là hơn 20.000 tỷ đồng/năm, tăng gần 14.000 tỷ đồng/năm. Rất đáng chú ý, con số này gấp 2 - 2,5 lần so với tổng thu thuế bảo vệ môi trường dự toán năm 2015, tương ứng tăng khoảng 22.500 tỷ.
Còn năm 2016, tổng số thu từ thuế bảo vệ môi trường đã tăng vọt gần gấp 4 lần so với năm 2014, nhưng chỉ có 30% trong số tiền này được báo cáo sử dụng để “bảo vệ môi trường”. Vậy số tiền còn lại “biến” vào túi ai?
Nếu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đang bị dư luận xã hội cáo buộc về liên đới trách nhiệm với vụ nhập hàng triệu viên thuốc ung thư giả mà có thể đã khiến nhiều bệnh nhân ung thư phải chết đến hai lần, hậu quả mà Bộ trưởng tài chính Đinh Tiến Dũng gây ra khi đề xuất tăng thuế VAT (giá trị gia tăng) từ 10% lên 12% từ năm 2019 cũng có thể gây tác hại ghê gớm không kém tính độc dược của thuốc ung thư giả.
Mưu đồ tăng thuế VAT lại xảy ra trong bối cảnh dân tình Việt ngày càng khốn khó trong một nền kinh tế đã rơi vào thảm trạng suy thoái đến năm thứ 10 liên tiếp, một xã hội bị a xít đậm đặc bởi căn bệnh tham nhũng không còn cách gì cứu chữa. Thuế chồng thuế, chồng lên đôi vai gày guộc của người nghèo. Hàng triệu bệnh nhân, vốn đã bị các bệnh viện “bóp cổ bóp họng” và “không có tiền thì chỉ có chết”, sẽ phải nuốt nước mắt vào lòng với biểu viện phí chất cao như núi…
Thói vô tâm, vô cảm và vô trách nhiệm của giới quan chức Bộ Tài chính đã tích tụ từ nhiều năm qua và mang tính hệ thống.
T.L.

VNTB gửi BVN.

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

20180107. BÀN VỀ THUẬT NGỮ : 'CỰU'- 'NGUYÊN'

ĐIỂM BÁO MẠNG
CỰU VÀ NGUYÊN : SAO CỰU QUAN CHỨC-LÃNH ĐẠO CHỈ THÍCH NGUYÊN ?

PHÙNG HOÀI NGỌC/ VNTB/ BVN 7-1-2018

Kết quả hình ảnh cho CỰU VÀ NGUYÊN
Cựu TBT Nông Đức Mạnh
Cựu và Nguyên, căn bản đồng nghĩa chỉ một chức vụ quan chức đã trải qua, nay không làm nữa.

Nhưng cách dùng hai chữ đó thì khác nhau, tuỳ vào hoàn cảnh của quan chức và nội dung mục đích của người nói/viết.

Khi một ông quan đã nghỉ việc hay nghỉ hưu, nếu nhắc đến thì dùng “cựu” như một định ngữ gắn liền họ tên. Ví dụ nhắc đến Nông Đức Mạnh người ta sẽ nói “cựu TBT. Nông Đức Mạnh”, hay là “cựu chủ tịch Nước Trương Tấn Sang”… tham gia hoạt động nào đó”.

Tuy nhiên, đài báo vẫn đưa tin các ông ấy là “nguyên…”.

Những bản tin nhắc đến hoạt động của các ông lãnh đạo cao cấp hết thảy đều viết “nguyên”. Chẳng hạn “Nguyên TBT Lê Khả Phiêu, nguyên TBT Nông Đức Mạnh, nguyên chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. v.v…”.

Tất cả là sai lầm hết

Trong tất cả các trường hợp trên, đều phải nói và viết là “cựu + chức vụ + họ tên”.

Người đầu tiên làm con dê thí điểm cho hình thức kỷ luật “cách chức nguyên” là ông Vũ Huy Hoàng cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương. Ông Hoàng bị tuyên bố cắt tất cả các “nguyên chức vụ” liên quan thời gian làm bộ trưởng. Ông Hoàng đã có vinh dự làm “nhân vật đầu tiên” trong chương Kỷ luật của cuốn lịch sử Đảng CSVN rồi.

Báo Dân Trí ngày 19/10 đưa tin: “PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng vừa đưa ra đề xuất thành lập ‘Viện nghiên cứu và giáo dục đạo đức cách mạng’ nhằm dạy cán bộ đạo đức và những chuẩn mực đạo đức trong Đảng”.

Đáng lẽ phải viết “Nguyễn Trọng Phúc, cựu Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng”.

Nhân đây xin mạn phép bàn về các từ ngữ trên trong truyền thống ngôn ngữ dân tộc.

Các từ ngữ nêu trên đều có gốc Hán, đã được Việt hoá nhuần nhuyễn từ bao đời.

Cựu: gọi đầy đủ là Cựu nhiệm (旧任).

Cựu + Nhiệm (chức vụ) + họ tên

Dùng “cựu” hô gọi một nhân vật đã thôi quan chức, về làm dân.

Nguyên: gọi đầy đủ là nguyên nhiệm (原任), khi bàn về, nhắc đến một ông quan hiện đã cải nhiệm đến nơi khác, hoặc làm chức vụ khác. Có khi cũng nói “tiền nhiệm” nhằm nhắc nhở bàn về ông “đương nhiệm”. Không dùng “nguyên” tả nhân vật ấy làm chủ ngữ trong câu. Chẳng hạn không thể nói “Nguyên TBT Nông Đức Mạnh đi dự hội nghị gì đấy”.

Công thức: Nguyên + nhiệm (chức vụ) + họ tên

Đương: gọi đầy đủ là “đương nhiệm” (當任): người đang giữ một chức vụ. Tuy nhiên theo mặc định ngôn ngữ, khi nói về quan chức đương nhiệm thì không cần kèm định ngữ “đương nhiệm”. Ví dụ: Bí thư Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa.

Bàn về cách gọi các quan chức cựu/nguyên

Nói về ông Thăng đang “công tác” ở trại giam Bộ CA, nếu cần nói/viết đến giai đoạn trước, CA sẽ nói/viết như sau “Ông Thăng nguyên là Phó ban Kinh tế Trung ương, hiện đang ở trong vòng tay chăm sóc của chúng tôi”.

Báo chí cũng có thể nói “Ông cựu Phó ban KTTW Đinh La Thăng sẽ hầu toà ngày 8 tháng Giêng năm 2018”. Vì “cựu” mang ý nghĩa chức vụ chót chấm dứt (dù chưa hoàn thành, vào thời điểm bị bắt).
Lúc trước, khi Đinh La Thăng đang làm Bí thư TP.HCM, nếu cần nhắc lại quá trình, người ta sẽ nói: ông Thăng là nguyên Bộ trưởng Bộ GTVT. Ngược lên nữa, khi ông Thăng đang làm Bộ trưởng GTVT, cần nói về giai đoạn trước của Thăng thì nói “ông Thăng là nguyên Chủ tịch Dầu khí Việt Nam”.v.v…

Lưu ý rằng không thể dùng “Nguyên Phó ban KTTW Đinh La Thăng” làm chủ ngữ của một câu nào đó.

Khi bàn về ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cần nói đến quá trình công tác thì người ta nói “ông Nguyễn Phú Trọng, nguyên Chủ tịch Quốc hội”. Không thể nói “Nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng đang hành động chi đó” như một ngữ danh từ đóng vai chủ ngữ.

Bây giờ Đảng tuyên bố “cắt” chữ “nguyên” thì biết ăn nói thế nào cho đúng với sự thật lịch sử? Lý lịch con cháu sẽ ghi về ông cha thế nào? Ghi theo Kỷ luật Đảng thì CA lại báo khai man lí lịch? Ghi theo thực tế thì lại bị vu là ngoan cố chống Đảng?

Quyền nhiệm 權任: tạm thay việc của một chức quan, nguyên từ gốc: 權變 (quyền biến): Xử trí linh hoạt, tạm thời ứng phó.

Ông Hồ Chí Minh đi sang Pháp đàm phán năm 1946, bổ nhiệm cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc ấy đương nhiệm Bộ trưởng Nội vụ, nay kiêm nhiệm Quyền Chủ tịch nước. Cụ Huỳnh chỉ làm “Quyền Chủ tịch nước” hơn một tháng, sách lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi danh cụ là “Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thức Kháng”.

Trường hợp tương tự, ông Đinh Thế Huynh UVBCT giữ chức vụ Thường trực Ban Bí thư bị bệnh nghỉ điều trị khá dài, ông Trần Quốc Vượng tạm thay đã mấy tháng nay, nhưng không được gọi là “Quyền thường trực BBT” mà lại là “Tham gia thường trực BBT”. Ô hay! chức vụ “tham gia” mới lạ thật, chả hiểu thế nào nữa!

Dẫn chứng thêm cái chức vụ cổ xưa “bí thư” (祕書: chức quan giữ các giấy tờ, cam kết bí mật gọi là "bí thư") đã chết từ lâu vì không còn tồn tại trong thực tiễn thì Đảng lại moi ra dùng sai, thậm chí vô nghĩa (chức vụ “bí thư” chỉ có một mình Việt Nam sử dụng, đáng lẽ dùng “thư ký” như mọi nước). Việt Nam chỉ dùng “bí thư” cho Đảng, Đoàn và các đại sứ quán, như để tôn trọng đặc biệt ba chức vụ trên. Trung Quốc đất nước sinh ra chức vụ “bí thư” đã bỏ từ khi lập nước 1949, nay đều đang dùng thư ký 書記.

Kể từ khi “đời ta có Đảng”, rất nhiều từ ngữ “lạ” cùng khái niệm kỳ dị cứ mọc ra trong tiếng Việt với cách dùng tuỳ nghi bừa bãi. Vì sao Đảng không tiếp nối truyền thông ngôn ngữ dân tộc nữa?

Đảng muốn phá bỏ từ pháp và ngữ pháp Việt Nam, để tạo ra một hệ thống “thuật ngữ đảng” hay sao? Như thế sao gọi là danh chính ngôn thuận!

Cắt “nguyên” hay không xưng hô “cựu” đều là xuyên tạc sự thật.

Không thể cắt bỏ hoặc thay đổi được quá khứ.

Tại sao các báo chí toàn dùng “nguyên” thay cho “cựu”?

Thực ra, chắc là do các lãnh đạo đã dùng trước trong các hội nghị và thông báo, nên các nhà báo, dù biết là sai, vẫn phải “thuật” theo đúng văn bản gốc. Biết sai không dám sửa. Riết rồi thành quen.

Vậy hoá ra, quan chức lãnh đạo nghỉ hưu vẫn thích được gọi là “nguyên” tức là mọi thứ “vẫn còn nguyên”, không mất mát gì. Họ rất sợ chữ “cựu” nghe có vẻ xưa xưa, cũ cũ, qua rồi, chẳng còn gì trong hiện tại, sẽ chẳng còn ai nể nang, tôn trọng. Họ không thể quen được khi trở về đời thường, dân thường. Họ chỉ muốn, đã làm quan thì một đi không trở lại làm dân.

Quan chức bị kỷ luật cắt “nguyên” thực tế nghĩa là “cắt bổng lộc quyền lợi, không còn nguyên vẹn”. Đương sự chỉ được lĩnh lương của cán bộ thường, không được lĩnh phụ cấp chức vụ và chế độ chính sách của “nguyên chức vụ”.

Đảng muốn kỷ luật như thế thì tại sao không ghi rõ hình thức kỷ luật là: “Cắt hết mọi phụ cấp và chế độ chính sách của chức vụ X”. (nghĩa là: chức vụ khác trong quá khứ vẫn được hưởng chế độ chính sách). Ghi rõ như thế mới là minh bạch. Dù cắt “nguyên” nhưng vẫn phải còn “cựu”, cho tới khi thành “cố”.

“Cựu “ và “nguyên” đều dùng khi nhân vật đang còn sống. Khi nhân vật ấy qua đời, sẽ gắn thêm chữ “cố”. Như cố Bộ trưởng Quốc phòng VNG.

Trường hợp cắt phéng cái “nguyên” cũng sẽ gây phiền phức không nhỏ khi đương sự chuyển thành “cố”.

Về ông Vũ Huy Hoàng, tháng 4/ 2006, được phân công làm Bí thư. Tháng 8/2007, ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm làm bộ trưởng). Nay ông bị cách cái “nguyên Bộ trưởng GTVT” thì cái chức “nguyên” kế trước đó sẽ đôn lên thành danh xưng chính thức của ông: cựu Bí thư Tỉnh uỷ. Vậy là, ông vẫn được lãnh tất cả phụ cấp lương bổng và các chế độ khác dành cho “Bí thư Tỉnh uỷ”, ông chỉ mất hết phụ cấp chế độ “Bộ trưởng” mà thôi.

Nói dại, xin lỗi ông Vũ Huy Hoàng, tôi chỉ mượn tên ông nêu thí dụ cho bà con dễ hiểu. Khi ông hết lộc hoặc “thất lộc” (tức qua đời), người ta sẽ phải ghi họ tên chức vụ ông trên cáo phó. Căn cứ theo kỷ luật của Đảng đã tuyên năm 2017, cáo phó sẽ ghi là “cố Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn”.

Còn ông Ngô Văn Tuấn phó chính quyền xứ Thanh, hiện tại bị “cách hết mọi chức vụ trong Đảng” (mọi nguyên trong Đảng), chờ xem bên Chính phủ sẽ cách tiếp cái “nguyên nào”. Sau đó ông Tuấn sẽ lấy cái chức vụ kề cận trước “nguyên” - cái chức vụ bị cách, để gọi xưng tên và nhận phụ cấp tương ứng.

Đảng CSVN xưa nay đã dùng rất nhiều “thuật ngữ” lạ, khó mà kể hết.

Làm chính trị trước hết và thực tế là hành vi ngôn ngữ. Từ xa xưa cổ nhân đã yêu cầu mọi chuyện đều phải 'danh chính ngôn thuận' là như vậy.

P.H.N.
VNTB gửi BVN.

ĐIỀU ĐÁNG LO SỢ CỦA VỤ VŨ NHÔM Ở ĐÂU ?

BÙI QUANG VƠM/ BVN 7-1-2018

Đến bây giờ, người ta vẫn cứ tranh cãi với nhau về việc Vũ Nhôm có vai trò gì đối với vụ Trịnh Xuân Thanh, chỉ vì ngay từ quyết định khởi tố của Tổng cục An ninh điều tra Bộ Công an cũng ghi rõ là “tiết lộ bí mật quốc gia” mà không phải là “lợi dụng chức quyền để chiếm đoạt tài sản công”. Tại sao vậy? Trong khi, trước khi biết đến Trịnh Xuân Thanh, người ta đã biết Vũ Nhôm là một trùm bất động sản tại Đà Nẵng. Có một chủ trương đánh lận con đen, lôi Vũ Nhôm ra chỗ khác, tung hoả mù che đậy sự thật? Vậy có thể là sự thật nào?

Trước hết Vũ Nhôm là Giám đốc công ty bình phong của chính Tổng cục An ninh điều tra Bộ Công an, nghĩa là cơ quan này quyết định khởi tố bắt giam chính người của mình.

Chức năng của công ty bình phong là giả danh doanh nghiệp để trà trộn theo dõi thu thập chứng cứ vi phạm luật pháp của các tổ chức kinh doanh, một loại cảnh sát, mật vụ và đặc tình trong lĩnh vực kinh tế.
Cái đáng được chú ý là Bộ Công an bắt người của Bộ Công an. Sẽ phải đặt ra một câu hỏi, ai trong Bộ Công an bắt người của ai trong Bộ Công an? Tính nghiêm trọng của sự vụ nằm ở câu hỏi này, không phải việc tiết lộ bí mật quốc gia. Một ông trùm bất động sản nếu có được bí mật quốc gia thì cũng do có kẻ khác cung cấp, và nếu ông Vũ có ý định tiết lộ thì cũng chỉ để phục vụ cho “kẻ khác ấy”. Nên chính “kẻ ấy” mới đúng là đối tượng truy nã.

Nhưng nếu khởi tố Vũ Nhôm do tội tham nhũng thì Bộ Công an tự phơi ra một sự thật rằng, các công ty bình phong thực chất chẳng giúp gì cho việc chống tham nhũng, mà chính ngay các công ty bình phong này là thủ phạm gây ra và trực tiếp tham nhũng, tức là tham nhũng ngay trong cơ quan chống tham nhũng, một thứ bệnh của hệ thống, “bệnh Đảng”, như đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc nói. Chủ trương là của Đảng, của Bộ Chính trị, các tổng cục, hay ngay cả cấp bộ chỉ là cấp thực hiện. Việc đẻ ra hàng trăm công ty “bình phong” chứa đựng mưu toan tham nhũng.

Thứ hai, tội danh tham nhũng chỉ có giá trị nội bộ, không có gía trị quốc tế, trong trường hợp Vũ Nhôm thoát ra được nước ngoài và lao đơn xin tị nạn chính trị, giống như vụ Trịnh Xuân Thanh. Nhiều quốc gia không thừa nhận Luật chống tham nhũng của Việt Nam vì không cùng quan niệm về tội tham nhũng. Chế độ độc đảng toàn trị vẫn được cho là hệ thống tham nhũng quốc gia. Tham nhũng là sản phẩm tất yếu của thể chế, nên chế độ không có tư cách xử tội tham nhũng. Mặt khác, dưới chế độ phi dân chủ, luật pháp không có tính độc lập, sự tuỳ tiện giải thích luật và lạm quyền của hệ thống xét xử có thể là nguyên nhân của các án tử hình oan sai, vi phạm đạo đức nhân loại. Đó là lý do mà rất nhiều quốc gia, đặc biệt với các quốc gia dân chủ đích thực, không có hiệp định dẫn độ tội phạm với Việt Nam, Trung Quốc và nhiều quốc gia phi dân chủ khác.

Vũ Nhôm đã bị khởi tố bằng tội “tiết lộ bí mật quốc gia”, mục đích để dù trốn ở đâu, Chính phủ Việt Nam đều có quyền can thiệp trên danh nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia, nội dung phạm tội không rơi vào khung tử hình.

Cái đau đầu của câu chuyện Vũ Nhôm không phải chỉ là chuyện tham nhũng đơn thuần hay có trong tay hồ sơ tài liệu tuyệt mật, chẳng hạn như “kế hoạch bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin”. Nghĩa là nếu bộ hồ sơ này lộ ra, thì không những Chính phủ Việt Nam không còn đường lấp liếm rằng Trịnh Xuân Thanh tự về đầu thú, và lộ diện người chủ trương và toàn bộ hệ thống cấp tổ chức thực hiện, không chỉ mất thể diện quốc gia mà có khả năng bị liệt vào danh sách của Luật Magnitsky.

Thực chất những bí mật này đã trở thành không còn giá trị từ nhiều tháng nay rồi. Nhà nước Đức đã có đủ tài liệu để kết luận vụ bắt cóc và lãnh đạo cao nhất của hai nhà nước có thể cũng đã đi đến cách giải quyết thống nhất. Việt Nam chịu nhận tất cả và làm tất cả để thoả mãn yêu cầu của Chính phủ Đức, nhưng ngược lại, Chính phủ Đức cũng chấp nhận quyền của Chính phủ Việt Nam trong việc bắt và xử án các tội phạm của chế độ như một nhà nước có chủ quyền với công dân của mình. Có thể Chính phủ Việt Nam đã tiết lộ với Chính phủ Đức những bằng chứng chi tiết chứng minh Trịnh Xuân Thanh là con bài liên quan tới những khuôn mặt cao cấp nhất của chế độ, ảnh hưởng trực tiếp tới nền tảng an ninh quốc gia. Mức độ quan trọng đủ để Chính phủ Đức thấy rằng việc vi phạm pháp luật Đức là cái giá không thể khác.

Như vậy, Vũ Nhôm có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều. Điều quan trọng này liên quan trực tiếp tới bản chất chế độ. Vũ Nhôm là công ty được lãnh đạo Bộ Công an lập ra và trực tiếp chỉ đạo. Ngoài những nhiệm vụ phải thực hiện, Vũ Nhôm cũng như tất cả các công ty bình phong khác còn làm nhiệm vụ cung cấp nguồn kinh phí cho các hoạt động của Bộ, và cung cấp nguồn thu nhập ngoài lương cho bộ máy lãnh đạo, trước hết là bộ máy những quan chức cấp trên trực tiếp của Vũ Nhôm. Nói cách khác, bản chất hệ thống các công ty này là làm kinh tài cho Bộ.

Sở dĩ hệ thống kinh tài này thường là đầu mối gây ra nạn tham nhũng ngay trong chính cái ngành có chức năng tiêu diệt tham nhũng, nhưng vẫn nghiễm nhiên tồn tại, vì lý do đặc biệt. Với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, đội ngũ công an, đặc biệt mật vụ chìm nổi cài cắm mọi chỗ, bành trướng không thể kiểm soát, đã khiến kinh phí từ ngân sách chỉ đủ để chi trả cho một nửa hệ thống. Lương cơ bản không đảm bảo đời sống là nguyên nhân của những tệ nạn tham nhũng của toàn hệ thống. Quỹ lương thiếu hụt, khiến lương và thưởng giành cho đội ngũ cán bộ, nhất là các cán bộ cao cấp đầu ngành không thể cải thiện so sánh với thu nhập bên Quân đội. Cùng cấp bậc, nhưng lương và thu nhập ngoài lương của bên quân đội có thể gấp hàng chục lần bên Công an. Tự kinh tài nuôi bộ máy, là một cố gắng không ai có thể bác bỏ, và người ta buộc phải bỏ qua hay làm ngơ những hiện tượng gọi là tiêu cực. Với thâm niên hai mươi năm, hệ thống kinh tài này đã trở thành một lực lượng ma, một thứ hội kín, một thứ Bộ trong Bộ.

Vũ Nhôm bị khởi tố, tất nhiên phải bởi bộ phận An ninh điều tra “không được gì” từ chia chác của Vũ Nhôm. Vũ Nhôm là người thuộc biên chế của Tổng cục An ninh điều tra, như vậy, nếu chính Tổng cục An ninh điều tra khởi tố, thì người ký lệnh không thể là thủ trưởng của Vũ Nhôm, tức là ông tướng phụ trách toàn bộ hệ thống công ty bình phong, trong đó có Vũ Nhôm. Và nếu Vũ Nhôm đã được báo trước để thu gom tiền vốn từ cách đây hai tháng, thì cái phe chống lại quyết định khởi tố đương nhiên đã có kế hoạch. Không ai khác có thể làm trước cho Vũ Nhôm cả 3 hộ chiếu, trong đó gồm một hộ chiếu giả.

Người ta biết lệnh khởi tố do ai ký, và không khó tìm ra hệ thống những kẻ báo trước cho Vũ Nhôm từ rất sớm do ai cầm đầu và gồm những ai?

Đấy là chưa kể, ngay bộ hồ sơ mật mà Vũ Nhôm đang có trong tay, tố cáo vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, chính An ninh điều tra là người cung cấp, một là hy vọng tầm quan trọng của hồ sơ có thể giúp Vũ Nhôm có vé máy bay đi Đức, mặt khác lại có thể do chính bộ phận chống lại chủ trương bắt cóc lợi dụng Vũ Nhôm để lật tẩy phe chủ trương, trong đó chắc chắn có liên quan tới chính Tổng Bí thư. Nếu điều này xảy ra, thì có thể nghĩ rằng tập hồ sơ đó do chính Tô Lâm hoặc người của Tô Lâm cung cấp.

Người ta đã biết từ lâu rằng có hai bộ trong Bộ Công an. Một bộ gắn kết với hệ thống kinh tài, các công ty bình phong, và một bộ không “xơ múi gì” từ các nguồn lợi đó. Nhưng vụ án Vũ Nhôm có điểm tương tự như vụ Trịnh Xuân Thanh, đều xuất phát từ lỗi cá nhân. Trịnh tự lộ vì máu hưởng lạc, còn Vũ chết lại vì thói “coi trời bằng vung”. Tưởng là ngẫu nhiên, nhưng thực chất thì không thoát khỏi quy luật: “quái sinh thì sớm muộn cũng phải chết”.

Tương tự như vậy, người ta cũng biết từ gần ba chục năm nay, luôn có hai bộ rõ rệt trong Bộ Quốc phòng. Một bộ gắn với các tập đoàn kinh tế, và một bộ chỉ làm công tác chính trị, đào tạo và huấn luyện. Bắt đầu từ chủ trương cho quân đội làm kinh tế. Hết chiến tranh, nền kinh tế đứng trước nguy cơ sụp đổ với lạm phát tới 1800%. Ngân sách ngoài tiền tước đoạt của “tư bản tư nhân”, không có nguồn thu nào. Một đội quân trên 2 triệu miệng ăn là một thứ không thể nuôi nổi. Giải ngũ một đội quân vừa về từ cõi chết mà không có việc làm, không nghề nghiệp, không thu nhập thì xã hội không thể không loạn, chế độ không thể không sụp đổ.
Quyết định tổ chức quân đội đi lập khu kinh tế, đi khai hoang, đi trồng rừng, trông lúa, trồng dứa v.v. làm bất cứ gì có thể tự nuôi nhau. Nhưng khốn nạn nằm ở Công ty Sư đoàn 319, là một loại công ty kinh doanh. 319 có tất cả các lợi thế về nhân công, về phương tiện thiết bị quân sự, về các ưu thế địa điểm và ưu tiên quốc phòng. Không giống các công ty kinh doanh khác, 319 lập lờ giữa ngân sách quốc phòng với nguyên tắc hạch toán kế toán. Những năm đầu tiên, lợi nhuận quá dễ dàng đã làm lãnh đạo Đảng tối mắt. 319 không những không cần tới ngân sách, mà ngược lại nộp lên cấp trên những khoản tiền không ai ngờ!

Nhưng với thời gian, 319 trở thành một thứ tập đoàn lũng đoạn. Cậy thế quốc phòng bất chấp luật pháp và khai thác tất cả những nguồn tài nguyên thuộc quốc phòng quản lý để tạo ra lợi nhuận. Đặc biệt là những khu đất do quốc phòng quản lý ngay từ những ngày đầu tiếp quản từ chế độ cũ, mặc dù với thời gian tính chất quân sự không còn giá trị, nhưng Bộ Quốc phòng kiên quyết giữ lại chia chác, phân phối cho nhau, hoặc bán cho các nhà đầu tư nước ngoài, giành những khoản ngoại tệ kếch xù.

Những hoạt động như vậy làm cho một loạt các sĩ quan cấp cao trở nên giàu có, xa hoa và sa đoạ, trong khi những sĩ quan chỉ hương lương thì vật vã tìm kiếm cách nuôi sống gia đình. Cũng cùng hàm cùng cấp, nhưng thu nhập có thể chênh nhau hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Và đặc biệt là hàng ngũ các sĩ quan này lại thăng quan tiến chức nhanh kỳ lạ.

Ngân hàng Quân đội và đặc biệt là siêu Tập đoàn Viettel là những tổ chức kinh tài của quân đội theo khuôn mẫu của 319. Hàng ngũ tướng tá giàu có là nhờ những tập đoàn siêu lợi nhuận này.

Ba chục năm, hàng ngũ những quan chỉ huy cao cấp nhất trong quân đội không một người nào có thể còn nguyên vẹn trong sạch, tức là tay không thể một lần nhúng bùn hoặc nhận bùn từ tay người khác. Không một ai, không một thế lực nào được phép đụng đến lãnh địa đó. Chế độ, nếu đụng đến sẽ không tránh khỏi sụp đổ. Nhưng ba chục năm đủ để biến Bộ Quốc phòng thành hai bộ không có gì chia sẻ với nhau được, và không sớm thì muộn sẽ “sống mái” với nhau.

Vụ Út Trọc có nguy cơ khơi mào cho một cuộc chiến nội bộ, vì thế lập tức nhận được chỉ thị cấm các báo được nhắc đến và xoá mọi dấu vết có thể. Nhưng đó là điều không thể. Vì mâu thuẫn giữa “hai bộ” là chuyện từ nhiều chục năm nay, không thể một chốc một lát hay chỉ vì cùng phải “trung thành” với Đảng mà bỏ qua hoặc nhân nhượng cho nhau, vả lại, một sự thật khi chui ra khỏi bọc thì không thể thu hồi. Báo chí có thể không nói gì, nhưng chuyện xảy ra thì vẫn cứ xảy ra. Nó có thể không ầm ĩ, nhưng âm thầm để bùng ra thành một vụ nổ vào lúc nào đó.

Ở đây xuất hiện một loại nghịch lý đặc biệt. Hệ thống các “bộ đen” trong bộ máy công an và quân đội là một thực tế tồn tại từ rất lâu và ai cũng biết, nhưng không ai trong số những người ăn lộc của chế độ muốn để lộ ra những mụn ghẻ đó. Ông Trọng không thể và không dám nhận gì từ phía các “bộ đen” đó, nhưng ông Trọng biết chúng vẫn chia nhau sau lưng ông và ông buộc phải làm bình phong che chắn cho chúng, để người ta không thấy cái chế độ mà ông bảo vệ bằng được là một thứ chế độ thối ruỗng từ trong. Nhưng nếu ông nhận, thì dù một thứ “nhận” không ra gì, ông cũng thành thằng hề cho chúng giật dây. Cho nên trong tư cách người đúng đầu chế độ, ông càng được tiếng trong sạch càng lợi cho chúng, càng tạo ra lá chắn an toàn cho lòng tham đốn mạt của chúng. Ông đang là một con ngoáo ộp cho Ngô Xuân Lịch để ông này công khai chống lại chủ trương quân đội thôi làm kinh tế. Ông ta đang che chắn cho Viettel, và muốn nhân lên, tạo ra hai, ba Viettel nữa. Nhưng do được “Đảng lãnh đạo trực tiếp”, ông ta sẽ phá nát quân đội nhân danh ông Tổng Bí thư Đảng.

Ông Trọng có thể học ở Trung Quốc rất nhiều, đặc biệt là cách sử dụng Ban Kiểm tra Trung ương kết hợp với Ban Tổ chức Trung ương, vừa dùng quyền kỷ luật để tước bỏ, vừa dùng quyền sắp đặt để ban phát và quyết định sinh mệnh của hệ thống. Nhưng ông Trọng quá sợ hãi bạo lực. Ông không dám sờ tới những kẻ có vũ khí trong tay. Trong khi Tập ưu tiên trấn áp hàng ngũ tướng tá, dùng cải tổ quân đội để loại bỏ và thiết lập trật tự, ban phát theo ý mình, thì ông Trọng như câm như điếc trước sự ngông nghênh, ngạo mạn của ông Ngô Xuân Lịch.

Vũ Nhôm là bom nổ trong lòng Bộ Công an, đó là một sự kiện quan trọng, nhưng người ta sẽ phải để mắt nhiều hơn tới ông Ngô Xuân Lịch, bởi vì, Út Trọc được xử lý như thế nào, sẽ cho thấy chế độ mà ông Trọng cố ra sức gồng giữ cho nó đứng, có đủ sức tồn tại tiếp hay sụp xuống cùng với sức khoẻ của ông. Và bởi vì, sức người không cản được bước đi của lịch sử, sự mục ruỗng của một chế độ chính trị có nguyên nhân từ cơ cấu của thể chế, không phải do ý chí chủ quan của con người. Cái chế độ độc đảng phi dân chủ sẽ tự nó tiêu vong bất chấp sự cưỡng lại của ông.

05/01/2018
B.Q.V.

Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2018

20180106. KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC CHIẾN LƯỢC AN NINH MỸ

ĐIỂM BÁO MẠNG
GÓC ĐỘ KINH TẾ CỦA CHIẾN LƯỢC AN NINH MỸ- THẾ ĐỨNG CỦA VIỆT NAM

TS VŨ QUANG VIỆT/ TBKTSG 5-1-2018

(TBKTSG) - Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa công bố chiến lược an ninh quốc gia với mục đích củng cố vai trò của Mỹ trên thế giới. Tuy vậy trong diễn văn công bố, ông Trump lại nhấn mạnh đến luận điểm quen thuộc “Nước Mỹ trên hết”. Vậy chiến lược an ninh này khác với luận điểm lợi ích của nước Mỹ là trên hết ở chỗ nào? Và hướng chiến lược an ninh này là gì, nhìn ở góc độ kinh tế?


Chiến lược an ninh theo Trump

Hướng chính là muốn kết hợp các biện pháp kinh tế với an ninh quốc phòng trên bốn nét chiến lược lớn:
1. Hạn chế hay đóng cửa biên giới với người nhập cư nhằm vào cái gọi là bảo vệ an ninh cho dân Mỹ
Luận điểm này chủ yếu là làm hài lòng thiểu số ủng hộ Trump, cũng đôi chút có lý nhưng thực tế có thể phản bác lại cái lý này. Thứ nhất, Trump không thấy rằng đám người khủng bố không nhất thiết là từ nước ngoài vào Mỹ, mà từ ngay trong lòng Mỹ. Những vụ khủng bố vừa qua chứng minh cho việc này. Thứ hai, nước Mỹ phát triển mạnh hơn nước khác cũng là nhờ lao động nhập cư, đặc biệt lao động tay chân trong nông nghiệp từ Mexico và lao động trí óc từ nhiều nước mà Mỹ không phải mất công đào luyện. Nhập cư làm tăng lực lượng lao động khi lực lượng này đang tăng chậm lại tại Mỹ vì dân số sinh đẻ (mức tăng lao động hàng năm sẽ giảm dần từ 0,5% xuống 0,2%).
2. Tăng mức sống và sự giàu mạnh của Mỹ
Điều này nói dễ hơn làm, vì tăng mức sống sẽ phải dựa chủ yếu vào tăng năng suất lao động. Số lượng lao động dư thừa không còn và tốc độ tăng lực lượng lao động Mỹ đang giảm mạnh.
Giảm thuế cho doanh nghiệp và người giàu với hy vọng là họ sẽ tăng đầu tư. Dù hy vọng này có vẻ hợp lý nhưng rất nhiều nhà kinh tế cho rằng độ đáp ứng về đầu tư do cắt thuế là thấp và cần thời gian dài (từ 3-5 năm) mới tạo kết quả và qua đó mới đẩy mạnh được mức tăng GDP.
Rất nhiều nhà kinh tế kể cả bản thân tác giả cho rằng về dài lâu Mỹ chỉ có thể đạt được mức tăng GDP bình quân năm cao nhất là 3% do dự đoán (của Cục Thống kê lao động) là lao động sẽ chỉ tăng hàng năm khoảng 0,5% từ nay đến năm 2025 và sau đó sẽ giảm xuống 0,2%, còn năng suất lao động thì cả Cục Thống kê lao động và Cục Dự trữ liên bang đều cho rằng khó có thể hơn 2,5%, vì ảnh hưởng của công nghệ thông tin thời năm 2000 đã cạn kiệt.
Như thế, rõ ràng là dù tăng trưởng ở mức cao nhất 3% hay thậm chí 4% cũng không thể thu thêm thuế để bù đắp thiếu hụt ngân sách Liên bang do cắt thuế suất, đưa đến giảm thu 1.500 tỉ đô la trong 10 năm tới. Mà thiếu hụt hiện nay, khi chưa cắt thuế, đã ở mức 544 tỉ đô la năm 2016. Thiếu hụt ở mức 4% GDP như thế sẽ tạo ra mất ổn định, nhà nước phải tăng nợ, cạnh tranh vốn với khu vực tư nhân.

Lợi thế của Mỹ, mà gần như không nước nào có được, là có thể “xuất khẩu” nợ chính phủ cho nước ngoài vì đồng đô la Mỹ được tín nhiệm và sử dụng rộng rãi. Vào cuối năm 2017, nợ của chính phủ liên bang lên tới trên 14.000 tỉ (80% GDP), trong đó 6.300 tỉ đô la, hay 44%, là do nước ngoài nắm, nhiều nhất là Trung Quốc và sau đó là Nhật, mỗi nước giữ hơn 1.000 tỉ đô la. Mỹ cũng có thể in tiền trả nợ mà không làm suy yếu giá trị đồng đô la, ngược lại giá đồng đô la tăng trong 10 năm qua. Đây cũng chính là điều Trung Quốc mong muốn, đang cố tập trung các nền kinh tế khác quanh mình để có thể in tiền trả nợ như Mỹ.
Tuy thế, mặt trái của đồng đô la mạnh là nó làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Mỹ, sản xuất hàng hóa được chuyển dần ra nước ngoài. Giai cấp trung lưu nhỏ dần. Thu nhập cũng giảm do đó mới tạo ra hiện tượng Trump. Thời kỳ 1970-2013, năng suất lao động tăng gấp 2,4 lần nhưng lương chỉ tăng 9% (xem biểu đồ). Điều này có nghĩa là năng suất đó chỉ góp phần vào tăng lợi nhuận là chính. Giảm thuế cho người giàu lại càng làm hố ngăn cách sâu thêm.
Thuế suất giảm nhưng không thể tăng GDP ở mức có thể tăng số thuế thu được, nên ước đoán của Ủy ban Lưỡng viện độc lập cho rằng số thu sẽ giảm 1.500 tỉ đô la trong 10 năm tới.
Để giảm thiếu hụt ngân sách thì phải giảm chi. Mà chi nhiều nhất là cho người nghèo, người khuyết tật, chi bảo hiểm xã hội cho người về hưu. Như thế thành phần này, thuộc đa số dân, sắp tới sẽ phải chịu hy sinh, nếu Đảng Cộng hòa và Trump thực hiện được việc cắt giảm. Thực tế chính trị cho thấy, lấy mồi giảm thuế để mua chuộc thì dễ hơn là cắt giảm quyền lợi.
Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp ở Mỹ để cạnh tranh với các nước khác có thuế thấp hơn là đúng đắn. Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao các nước lại chạy đua xuống đáy như vậy. Thuế thu được quá thấp thì mọi chương trình xã hội giáo dục phải cắt giảm. Có thể gọi là văn minh khi một số người rất giàu còn đa số thuộc phận bèo bọt, không thể tìm ra việc làm? Có thể lúc nào đó cần có một hiệp định quốc tế, quyết định thuế suất tối thiểu.
3. và 4. Chiến lược tăng cường sức mạnh quân sự và chiến lược tăng cường ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới
Chiến lược tăng cường sức mạnh quân sự (3) và ảnh hưởng (4) của Mỹ đang bị thách thức nghiêm trọng. Sức mạnh quân sự tất nhiên không thể đạt đỉnh điểm nếu Mỹ đứng một mình. Chính sách nước Mỹ trên hết của Trump hiện nay thực chất là làm suy yếu chiến lược tăng cường sức mạnh quân sự và ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới.
Về mặt kinh tế, Mỹ rút vào cố thủ, chủ trương song phương, phê phán và gây áp lực lên Mexico, Việt Nam vì thấy cán cân thanh toán quá nghiêng về mấy nước này, nhưng lại có vẻ bỏ lơ Trung Quốc khi thực tế thiếu hụt là chủ yếu với Trung Quốc, chiếm tới gần một nửa thiếu hụt (xem bảng).
Với Mexico và Canada, Mỹ đòi thương thuyết lại Hiệp định Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA). Với thế giới nói chung, Mỹ qua mặt Hiệp ước thương mại quốc tế (WTO), đòi thương thuyết lại với tư cách song phương nhưng chắc chắn không ai chịu. Nếu muốn khác thì Mỹ phải tự rút khỏi WTO để thương thuyết lại với từng nước. Việc Trump đòi hỏi cân bằng thương mại với từng nước có nghĩa là nguyên tắc sản xuất để trao đổi những gì có lợi thế sẽ không còn.
Trước đây, Trump muốn bắt tay với Nga để giải quyết hòa bình khu vực Trung Đông, nhưng bây giờ qua bản báo cáo chiến lược, Trump lại chỉ đích danh Nga và Trung Quốc là hai quyền lực đối địch (rival powers), đối thủ chiến lược (strategic competitor) hay quyền lực muốn thay đổi trật tự hiện tại (revisionist powers) của Mỹ.
Xin miễn bàn về Nga, vì Mỹ không có các phương tiện kinh tế để gây áp lực với Nga với lý do đơn giản là Nga không có quan hệ đáng kể với kinh tế Mỹ và ngay cả khối Liên hiệp châu Âu. Hãy thử xem đối sách với Trung Quốc.
Đối sách với Trung Quốc
Về quân sự, chính sách tầm thực của Trung Quốc là nhằm chiếm dần, xây dựng dần hệ thống tiền đồn ở biển Đông là nhằm vào một lúc nào đó thực hiện việc kiểm soát toàn diện khu vực biển. Cho đến nay, Mỹ cho chiến hạm lâu lâu chạy vào vòng 20 dặm mấy hòn đảo mà Trung Quốc kiểm soát. Thế thôi. Nếu Trung Quốc đem chiến hạm ra đuổi có lẽ Trump sẽ lặng lẽ ra lệnh rút thay vì đứng lại đối đầu. Về mặt quân sự, Mỹ gần như không có biện pháp gì ngoại trừ sẵn sàng đi vào chiến tranh mà Mỹ và chính dân Mỹ cũng không muốn.
Cho nên Trump hay nước Mỹ chỉ có thể xây dựng liên minh, hay đồng minh để sửa soạn cho việc trả đũa về mặt kinh tế nếu thấy cần. Và mục đích là nhằm bảo vệ hòa bình ở biển Đông mà Tòa án Quốc tế đã bác bỏ quyền yêu sách chủ quyền ở đá ngầm, tuyên bố không có đảo mà chỉ có đá, tức là hạn chế tối đa địa điểm có thể tranh chấp ở biển Đông. Đây chính là cơ sở pháp lý để tập hợp lực lượng nhằm kêu gọi Trung Quốc hợp tác và ngăn cản khả năng có thể đưa đến chiến tranh.
Kinh tế Trung Quốc đã được hưởng rất nhiều từ thị trường và đầu tư của Mỹ và phương Tây khi họ mở cửa cho Trung Quốc. Vì thế rõ ràng là hiện nay và sắp tới, Trung Quốc vẫn phải dựa vào thị trường và công nghệ phương Tây, đặc biệt là Mỹ và phải trả giá rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với Mỹ, nếu bị cấm vận. Theo tính toán của tôi, nếu có cấm vận, GDP Trung Quốc sẽ giảm 19% trong khi đó Mỹ sẽ giảm 2%.
Trung Quốc hiện nay một mặt xây dựng căn cứ quân sự ở biển Đông, một mặt kiếm cách quây quần các nước, đặc biệt ở châu Á, xoay quanh trục Trung Quốc, với chương trình cho vay nợ và chi trả thương mại bằng nhân dân tệ, lập thị trường buôn bán hợp đồng nguyên liệu bằng nhân dân tệ, đầu tư trực tiếp và thu mua nhằm sở hữu các doanh nghiệp các nước chung quanh, cổ vũ cho việc xóa bỏ dần biên giới quốc gia trong thương mại, tất cả là nhằm biến các nước quanh vùng thành một phần của kinh tế Trung Quốc.
Vì vậy một chiến lược đối đầu nếu cần thiết là phải kết hợp giữa quân sự và kinh tế.
Rất tiếc là vì chính sách “nước Mỹ trên hết” Trump đã rút khỏi Hiệp định TPP mà Obama xây dựng nhằm tạo thiết chế kết dính 11 nước quan trọng như Úc, Canada, Nhật, Việt Nam, Malaysia, Singapore... với nhau.
Đối với Việt Nam, tình hình trên đòi hỏi sự độc lập không chỉ chính trị, quân sự mà cả kinh tế. Việc để Trung Quốc hay bất cứ nước nào mua và kiểm soát doanh nghiệp quan trọng có tầm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia là điều không thể chấp nhận trong cục diện trước mắt và sau này. Trong khu vực Đông Nam Á, từ Indonesia, Thái Lan, Philippines, Singapore không nước nào cho phép tư nhân nước ngoài làm chủ đất đai. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải ưu tiên dành quyền sở hữu cho tư nhân Việt Nam.
Cũng chính vì thế mà ngay cả Trump cũng đặt vấn đề bảo vệ công nghệ kể cả ngăn cản Trung Quốc mua công ty hay công nghệ của Mỹ. Với Trung Quốc, Trump chủ trương rất đúng ở hai phương diện:
a) Ngăn chặn việc Trung Quốc đánh cắp bản quyền phát minh và công nghệ.
b) Ngăn chặn việc Trung Quốc mua cổ phiếu công ty ở mức 51% để hoàn toàn làm chủ công ty Mỹ có công nghệ cao và có tầm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia thí dụ như công ty Boeing, GE, hay công ty dầu hỏa lớn.
Trên hai phương diện trên, từ lâu Mỹ đã cơ chế kiểm soát việc nước ngoài mua công ty Mỹ. Ủy ban Đầu tư nước ngoài của Mỹ (CFIUS) thuộc Bộ Tài chính được thiết lập theo luật đã có từ năm 1950 và sửa đổi năm 2007 hoàn toàn có quyền duyệt chặn đứng bất cứ việc mua kiểm soát công ty được coi là quan trọng với an ninh nước Mỹ. Và tất nhiên tổng thống cũng có quyền này. Đối tác muốn mua quyền kiểm soát phải nộp đơn xin phép. Quyền kiểm soát của nước ngoài được định nghĩa là một cá nhân nước ngoài sở hữu 25% cổ phiếu, mà không có công dân nào có tỷ lệ sở hữu bằng hoặc cao hơn, hoặc một hay nhiều người nước ngoài nắm trên 50% sở hữu. 

CHUYÊN GIA: LẠC QUAN QUÁ ĐÀ SẼ DẪN ĐẾN MẤT KIỂM SOÁT

TƯ GIANG/ TBKTSG 5-1-2018

Chuyên gia Trần Đình Thiên cảnh báo không nên lạc quan quá đà với kết quả kinh tế. Ảnh TG
(TBKTSG Online) - Các chuyên gia kinh tế cảnh báo, nếu sự lạc quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến mức “quá đà”, sẽ có thể dẫn đến tình trạng mất kiểm soát như những gì diễn ra cách đây 10 năm.
Tại cuộc hội thảo với chủ đề "Cơ hội đầu tư - kinh doanh 2018" diễn ra ở Thanh Hóa, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên cảnh báo: “Ở Việt Nam thì mọi sự lạc quan đều dẫn đến mất kiểm soát”.
Đưa ra một bản slide chụp rất nhiều bài báo giật tít tăng trưởng kinh tế năm nay là “kỳ tích”, ông Thiên nói: “Một hai tờ nói còn được, nhưng báo nào cũng nói (tăng trưởng) kỳ tích sẽ dẫn đến tình trạng chúng ta rơi vào trạng thái say sưa thắng lợi. (Tăng trưởng thế) có gì vĩ đại mà kỳ tích? … Cả đất nước lâng lâng như thế này thì sẽ thế nào?”
Ông cho rằng tăng trưởng kinh tế, thị trường chứng khoán, hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), dự trữ ngoại tệ, thương mại, du lịch... đều được mô tả là kỳ tích. “Cách bình luận của chúng ta đi quá mức cần thiết, đặc biệt là con số tăng trưởng và xuất nhập khẩu. Chúng ta cần có sự đánh giá một cách bình tĩnh hơn”, ông nói.
Nguyên viện phó Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Võ Trí Thành đồng tình với quan điểm của ông Thiên, khi cho rằng "không nên lạc quan tếu”. Ông Thành nhấn mạnh, đây là giai đoạn phục hồi rõ nét hơn của nền kinh tế, thể hiện ở chỗ tăng trưởng GDP cả ba năm qua là trên 6%, những con số này chưa thể hiện được sự tăng trưởng bền vững có tính lâu dài.
“Nhưng với đà phục hồi ấy, con số tăng trưởng với đất nước như thế này chỉ là 6,8% thì không đáng. Việt Nam đến năm 2035 muốn bằng Malaysia bây giờ thì phải tăng trưởng 7-7,5%", ông Thành nói.
Tại cuộc hội thảo, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Nguyễn Mại cũng cảnh báo về tình trạng đất nước còn tụt hậu. Ông nói: “Tôi đồng tình với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi cho rằng dù chúng ta cố gắng rất nhiều nhưng GDP trên đầu người gần 2.400 đô la Mỹ là vẫn chưa cao. Ngay trong ASEAN, GDP của Indonesia đã vượt quá 1.000 tỉ đô la Mỹ, trong khi GDP của Việt Nam chỉ có 220 tỉ đô la Mỹ”.
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Phát triển của trường Đại học Fulbright Việt Nam, nói thêm rằng, sự khởi sắc kinh tế trong năm qua gắn với chu kỳ ngắn hạn của kinh tế. Thứ nhất, kinh tế Việt Nam được hưởng lợi do kinh tế thế giới khởi sắc. Thứ hai, xuất phát từ tỷ giá, khi đồng đô la Mỹ xuống giá 10% so với bình quân các đồng tiền khác, trong khi đồng Việt Nam giữ bình ổn so với đồng đô la đã kích thích xuất khẩu của Việt Nam.
Bên cạnh đó, theo ông Thành, gia tăng tiêu dùng trong dân cư đã giúp thúc đẩy tăng trưởng suốt từ 2015 đến nay. Thu nhập trung bình của người dân cao hơn, sức mua cao hơn. Đây chính là động lực quan trọng cho tăng trưởng 2018.