Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

20171104. QUANH VẤN ĐỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI

ĐIỂM BÁO MẠNG

VỤ KHAISILK: LỜI CẢNH BÁO CHẬM VỀ MỘT THẢM HỌA

VŨ KIM HẠNH/ BVB 2-11-2017


Doanh nhân VN, nhập hàng Tàu về bán, vì thời thế thị trường, vì THAM (quá rẻ, mẫu mã nhiều dễ bán, giao nhanh, trả tiền chậm…) vì LỪA, thực sự cũng dễ lừa NTD (hàng Tàu dán nhãn lung tung đâu dễ bị phát hiện) và rồi có những người thành ra ÁC vì 3 điều: giết SX trong nước, làm hỏng niềm tin NTD với hàng Việt và có khi bán hàng độc, hại người.
Ngày 26/10/ 2017, tôi ngồi trong hội trường diễn đàn Mekong Connect từ sáng đến chiều mà có đến 3 cú điện thoại gọi phỏng vấn và 2 nhà báo chờ trước cửa phòng họp về Khai Silk. Một tờ báo điện tử gọi giật người từng chập như đòi hợ hết hạn. Tôi từ chối hết. Vì mọi người đã nói đúng và đủ. Giờ nghĩ lại, tôi thấy cần nói một điều khác, theo tôi là thảm khốc hơn, cấp thiết hơn. Đó là Sự lệ thuộc kinh tế Trung Quốc và sự thống lĩnh hung hãn của hàng Tàu.
Không nói lý sự, tôi chỉ kể ở đây những câu chuyện thật và tùy người đọc suy nghĩ.
Chuyện Khải Silk phải chăng chỉ là cái kim trong bọc? Hàng Tàu giờ thống lĩnh không ít lãnh vực hàng hóa VN: thời trang (quần áo, giày dép), vật liệu xây dựng, phân bón thuốc sâu thuốc cỏ, đồ chơi trẻ em, hàng điện tử…). Mây năm nay, qua cuộc điều tra người tiêu dùng mà Hội DN.HVNCLC tổ chức thường niên, chúng tôi thấy, ở các ngành này có nhiều doanh nghiệp “qua đời” lặng lẽ vì cạnh tranh không xiết. Siêu thị lớn nổi tiếng ưu ái hàng Việt, bán hàng thời trang, ngoài dán nhãn made in Việt Nam, trong bâu áo, còn nguyên nhãn made in China. Tôi đến thăm trung tâm triển lãm hàng vật liệu xây dựng Phật Sơn, thấy trên nóc của cái sảnh khổng lồ có treo cao một lá cờ Việt Nam to ở vị trí rất trọng vọng. Người hướng dẫn nói thật: VN là một trong những quốc gia nhập hàng VLXD cùa chúng tôi nhiều nhất. Chà, khách sộp ! Hèn chi các hãng gạch, kính, thiết bị vệ sinh VN…thi nhau rớt. Các nhà thầu, giờ do cạnh tranh, chỉ chuyên sale trọn bộ nội thất hàng Tàu, đủ loại mẫu mã, nhanh, đúng hẹn, giá rẻ. Tôi từng đến Thổ Tang, ổ hàng Tàu, phục ở đó mấy đêm xem vận chuyển và phân phối về Nam hàng rau quả từ biên giới về, thấy đường dây phân phối thật khủng. Các doanh nghiệp HVNCLC mấy năm trước hăng hái “bắc tiến” nay không ít cty quay lộn về vì chịu không nổi hàng Tàu. Hàng Tàu bây giờ cũng biết thiên hạ sợ cái “gốc gác” của mình, nên đã kịp thời “kim thiền thoát xác” ngon ơ. Doanh nhân Thái than, họ dán nhãn hàng Thái, chui vào hội chợ Thái Lan ở VN tỉnh bơ. Họ đầu tư qua CPC, Lào và khắp các nước để rửa cái gốc made in China. Họ chui vào các khu nông nghiệp công nghệ cao của VN, hưởng thuế suất ưu đãi, nhập nông sản của họ qua, lau rửa sơ sơ, dán nhãn Việt xuất xứ Khu NN.CNC. Nhiều khu công nghiệp cũng vậy. DN từng kể tôi nghe, ở KCN Bắc Ninh, người Tàu nhập giấy đã thành phẩm, chưa đóng gói vào đó và làm package xong dán nhãn VN, đem bán với giá… giết hết các hãng SX giấy VN.
Doanh nhân VN, nhập hàng Tàu về bán, vì thời thế thị trường, vì THAM (quá rẻ, mẫu mã nhiều dễ bán, giao nhanh, trả tiền chậm…) vì LỪA, thực sự cũng dễ lừa NTD (hàng Tàu dán nhãn lung tung đâu dễ bị phát hiện) và rồi có những người thành ra ÁC vì 3 điều: giết SX trong nước, làm hỏng niềm tin NTD với hàng Việt và có khi bán hàng độc, hại người.
Hàng ta không cạnh tranh nổi với hàng Tàu. Trước nhất vì mình yếu, thiếu sức cạnh tranh. Nhưng nếu hàng Tàu làm giả, gian lận thương mại, có độc tố vẫn cứ còn “thênh thang” trên thị trường bằng chính sách ưu ái, bằng sự ngần ngại “đụng” (gian thương) Tàu, bằng đường tiểu ngạch… thì hàng Việt còn lâu mới vươn lên cạnh tranh cùng họ, đánh thắng họ, trong khi đang còn loay hoay tự gỡ đủ thứ trói buộc: mấy ngàn giấy phép con, thanh tra- kiểm tra, thuế phí, bảo hiểm cứ tăng, giá nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào càng tăng. Khi biết rằng sự thua kém hàng Tàu gần như điều thấy trước, thậm chí khách quan, thì chúng ta đã làm gì để bảo vệ nền kinh tế của mình (cũng là bảo vệ sự độc lập của mình) và nhất là bảo vệ doanh nghiệp của mình. Chúng ta đã làm gì để THỰC SỰ hỗ trợ DN của mình, điều hiển nhiên, bức bách cần làm để cạnh tranh với hàng Tàu ngay trên đất nước mình? Hiện nay, họ bán và đóng băng, giải thể các nhà máy, công ty hàng loạt. Rồi mai này, nền SX KD của VN sẽ ra sao?
Đó là chưa kể “xu hướng lệ thuộc kinh tế TQ” mà Đại biểu quốc hội Trương trọng Nghĩa và nhiều người, nhiều tổ chức đã cảnh báo trước Quốc hội mấy năm trước, còn nói dài dài tới bây giờ. Đó là chuyện lớn hơn nhiều, mà chúng ta chỉ thấy báo chí đề cập khi vài ba cái đầu kim ló ra từ trong hàng loạt cái bọc to được ủ rất lâu: các nhà máy nhiệt điện mọc khắp nơi mà đáng lo nhất là rất thích đặt ở ven biển; đa số nhà máy quốc doanh thi nhau nhập thiết bị Tàu; cuộc “tiếp nhận” đợt thiết bị lạc hậu của các nhà máy cũ thời TQ là “công xưởng của thế giới”, nay họ thải ra khi đi vào thời kỳ nâng cấp công nghệ và nền kinh tế; cuộc xử lý hàng hóa xuất khẩu bị ứ thừa do tiêu dùng thế giới giảm sút hay tâm lý ngán ngại hàng Tàu mà "ủn" sang ta, dễ ợt... Câu chuyện này còn phải nghiên cứu lâu. Và không chỉ ngâm cứu hoài, mà phải hành động để tự cứu mình.
Vũ Kim Hạnh, Nguyên Tổng Biên tập báo Tuổi trẻ
(FB. Vu Kim Hanh)

SỰ LỪA DỐI HÀO NHOÁNG TRONG KINH DOANH

THỔ NGỌA/ TBKTSG 2-11-2017

(TBKTSG) - Một chiếc khăn lụa có gắn hai nhãn xuất xứ khác nhau đã dẫn đến sự sụp đổ niềm tin vào một thương hiệu lớn. Trong tuần qua, câu chuyện ấy đã được nhiều người bàn luận và nói chung là lên án gay gắt bởi nó đã làm tổn thương cảm xúc, gây nên sự giận dữ của quá nhiều người. Bản án của dư luận có khi còn lớn và nặng nề hơn bản án ở tòa.
Nhìn rộng ra thế giới thì thấy đã có rất nhiều sự lừa dối hào nhoáng, có khi đến từ những tập đoàn năng lượng, tập đoàn xe hơi khổng lồ hay cả những ngân hàng rửa tiền với quy mô cực kỳ lớn. Hậu quả là doanh nghiệp phải thu hồi sản phẩm, nộp phạt hàng tỉ đô la Mỹ và có khi phải đóng cửa, âm thầm tiễn đưa những thương hiệu lừng lẫy một thời.
Cúi đầu xin lỗi chỉ là một động thái tối thiểu phải có. Sự thành tâm phục thiện và sự khôn khéo thể hiện quyết tâm khắc phục sai sót và nhất là tránh nói dối để biện hộ mới là những hành động cần phải có.
Doanh nghiệp bị mất tiền là mất ít nhất. Doanh nghiệp bị mất uy tín vì gian lận có thể sẽ mất tất cả.
Vậy gian lận thương mại là gì? Đâu là nguyên nhân chính của những sự lừa dối trong kinh doanh? Làm sao giữ được sự quang minh chính đại để phát triển bền vững?
Gian lận thương mại
Nếu buôn lậu là những hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hóa hoặc những vật phẩm có giá trị lịch sử, văn hóa, mà Nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hóa nói chung qua biên giới mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của hải quan, thì gian lận thương mại (commercial fraud) là những hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong lĩnh vực thương mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính, bao gồm luôn cả việc buôn lậu.
Gian lận thương mại tài chính được liệt kê trong Thông tư số 07/2017/TT-BTC, phổ biến ở sáu lĩnh vực như sau: hải quan; thuế, phí và lệ phí; quản lý giá; kế toán; kinh doanh bảo hiểm; và lĩnh vực in, phát hành, quản lý, sử dụng hóa đơn.
Còn theo tài liệu số 36 623 ngày 28-5-1995 của Hội nghị Quốc tế lần thứ 5 về chống gian lận thương mại mà Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) đưa ra trong cuộc họp tại Brussels (Bỉ) thì gian lận thương mại tồn tại dưới 16 hình thức sau đây: (1) Buôn lậu hàng hóa qua biên giới hoặc ra khỏi kho hải quan; (2) Khai báo sai; (3) Khai tăng, giảm giá trị hàng hóa; (4) Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ (kể cả chế độ hạn ngạch thuế); (5) Lợi dụng chế độ ưu đãi hàng gia công; (6) Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất; (7) Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu (ví dụ lợi dụng giấy phép nhập hàng dệt cho trang bị quân đội để nhập hàng dệt nói chung...); (8) Lợi dụng chế độ quá cảnh (mang hàng hóa quá cảnh để tiêu dùng ở nước mà hàng đi qua); (9) Khai sai về số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hóa; (10) Lợi dụng chế độ mục đích sử dụng, kể cả buôn bán trái phép hàng được ưu đãi thuế (lợi dụng sự ưu đãi của Chính phủ về thuế xuất khẩu dành cho những đối tượng sử dụng nhất định); (11) Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (12) Sản xuất và lưu thông hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã; (13) Hàng giao dịch buôn bán không có sổ sách; (14) Yêu cầu giả, khống việc hoàn hoặc truy hoàn thuế hải quan (kể cả làm chứng từ giả về hàng đã xuất khẩu); (15) Kinh doanh “ma”, đăng ký kinh doanh nhằm hưởng tín dụng trái phép; (16)- Thanh lý có chủ đích (nghĩa là thành lập công ty kinh doanh một thời gian ngắn, để nợ thuế, khi số tiền nợ thuế lên cao thì tuyên bố thanh lý để tránh nộp thuế, giám đốc công ty đó thành lập công ty mới ngay sau đó với cùng ý định. Loại gian lận này còn được gọi là “Hội chứng phượng hoàng”).
Ngoài ra, gian lận thương mại còn biểu hiện trong việc chuyển tải hàng hóa. Đó là việc thông qua một nước thứ ba để che giấu nguồn gốc thực sự của hàng hóa nhằm che mắt hải quan nước nhập khẩu. Trong trường hợp này, nước thứ ba là nước cung cấp tài liệu giả hoặc dùng các thủ đoạn thay đổi nguồn gốc hàng từ nước xuất khẩu sang nước quá cảnh. Theo cách này, hàng hóa vào được nước nhập khẩu sẽ tránh được các quy định hạn chế mà quốc gia này đưa ra như hạn ngạch, chế độ ưu đãi, bản quyền sản xuất (*).
Để tránh làm “dê tế thần”
Trong kinh doanh, nếu không cẩn trọng các doanh nghiệp rất dễ bị biến thành “dê tế thần” vì không tuân thủ các quy định xuất nhập khẩu, luật cạnh tranh hay cách hành xử không hướng đến việc phục vụ khách hàng, hướng đến sự hài lòng của khách hàng. Các doanh nghiệp, theo đó cũng dễ bị rơi vào vùng xoáy nguy hiểm là bị chính trị hóa (làm tổn hại thương hiệu quốc gia, niềm tự hào của dân tộc,...) hay hình sự hóa (lừa gạt chiếm đoạt tài sản, trốn thuế với quy mô lớn, lừa đảo có tổ chức kiểu xã hội đen...). Trong nhiều trường hợp, các cơ quan chức năng sẽ vào cuộc. Tuy nhiên vấn đề không nằm ở chỗ luật pháp được thực thi như thế nào mà điều đáng lưu ý ở đây là trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc tuyên truyền và giáo dục ý thức nơi doanh nghiệp. Nhìn vào 16 hình thức gian lận thương mại và 6 nhóm thường xảy ra gian lận thương mại trong lĩnh vực tài chính như vừa nêu ở trên, một người bình thường có thể nhận ra những biểu hiện gian lận thương mại nhan nhãn khắp nơi. Cho dù chúng ta đã có Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả nay được gọi là Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia nhưng việc xử lý tình trạng gian lận thương mại ở ta vẫn chưa đạt được kết quả khả quan như mọi người mong đợi. Cho dù chúng ta đã có Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhưng liệu hầu hết các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đã đọc và tuân thủ hết các hướng dẫn hay chưa?
Chỉ riêng những điểm rất nhỏ và rất cơ bản như thông tin sản phẩm trên bao bì, giấy C/O chứng nhận xuất xứ, các cam kết trên quảng cáo mà doanh nghiệp cũng vi phạm thì thật là tồi tệ. Chính vì vậy, không có gì phải ngạc nhiên khi một đại gia cúi đầu xin lỗi vẫn làm dư luận nổi giận; một giám đốc công ty nhập thuốc chống ung thư kém chất lượng và bán với giá cắt cổ cho dù khóc nức nở tại tòa cũng chẳng làm ai cảm thông; một công ty gian lận hóa đơn trốn thuế phải chịu mất quyền đại lý và chịu cảnh phơi hàng trăm xe hơi xịn ngoài mưa nắng ở cảng là những tình huống rất đáng được các doanh nhân xem xét và rút ra bài học “phòng bệnh”.
Vì sao lại có những việc như vậy? Chung quy cũng chỉ vì có những doanh nhân thiếu hàm lượng đạo đức kinh doanh và cách thức tổ chức thị trường ở ta chưa thực sự hiệu quả trong việc bảo vệ khách hàng.
Xin hãy đừng quên, lý thuyết gia về chiến lược cạnh tranh Michael Porter đã từng nói: “Mọi doanh nghiệp trên thế giới đều chỉ làm ra một thứ, mà không có thứ đó thì doanh nghiệp ấy phá sản, đó là khách hàng” và Mark Zuckerberg, người sáng lập ra Facebook đã nêu bật mối tương quan giữa sự phục vụ và khách hàng với câu: “Đừng xây dựng dịch vụ để chỉ kiếm lợi nhuận cao, mà hãy kiếm lợi nhuận cao để xây dựng dịch vụ ngày càng tốt hơn”.
(*) https://voer.edu.vn/m/khai-niem-ve-gian-lan-thuong-mai-va-buon-lau/02692d0e

HÀNG GIẢ XUẤT XỨ: NHÀ NƯỚC KHÔNG VÔ CAN

BÙI TÂM AN /TBKTSG 2-11-2017
(TBKTSG) - Nói một cách phũ phàng thì Khaisilk chỉ là trường hợp mới nhất (và có lẽ là đình đám nhất khi ông chủ là người nổi tiếng) bị phát hiện giả xuất xứ hàng hóa. Chuyện đáng buồn này vốn đã rất phổ biến ở Việt Nam nhiều năm qua bởi doanh nghiệp không vượt qua nổi sự cám dỗ của đồng tiền có nguyên nhân từ sự lơ là của cơ quan quản lý.
Trò chuyện với TBKTSG, chủ tịch một doanh nghiệp chuyên gia công và sản xuất hàng nội y đã kể ra tên tuổi của hàng loạt thương hiệu trong ngành này đang “treo đầu dê bán thịt chó”, từ “hàng hiệu bình dân” đến từ nước ngoài (có thương hiệu nhưng có giá bán vừa phải), đến những thương hiệu được đánh giá là hàng Việt Nam chất lượng cao. Ông biết về họ không chỉ vì cùng trong ngành hàng nên biết nhau mà còn vì có thương hiệu đặt công ty ông gia công với số lượng nhỏ, mục đích là để có chứng từ nguồn gốc Việt Nam cho hàng hóa chứ phần lớn hàng của họ là được gia công ở Trung Quốc. Điều này cũng được một người phụ trách bán lẻ của thương hiệu kia xác nhận với TBKTSG vì thân tình. Chị còn cho biết bản thân chị vì sợ thị trường vàng thau lẫn lộn nên chị thường mua đồ dùng cho mình mỗi khi đi nước ngoài.
Những lời đồn, thậm chí là lời tố cáo có bằng cớ cũng đến tai đơn vị tổ chức bình chọn hàng Việt Nam, và theo lời của một người ở đơn vị này thì mỗi lần tổ chức hội chợ là phải cho người bí mật kiểm tra hàng hóa của các đơn vị bị tố có đăng ký tham gia, chưa kể những đợt xin thăm nhà xưởng, cơ sở sản xuất để xác tín... Lãnh đạo một tổ chức bình chọn cũng từng chia sẻ tình trạng hàng vỏ Việt ruột Tàu diễn ra với cả những doanh nghiệp đã từng có quá trình đấu tranh với hàng giả, hàng nhái nhiều năm trước đó. Bà cũng đã bằng cách này cách khác cảnh báo người trong cuộc về nguy cơ giết chết thương hiệu đã bao năm dày công gây dựng, rộng hơn là làm ảnh hưởng đến thương hiệu hàng Việt, bởi nếu cứ tiếp tục, không sớm thì muộn người tiêu dùng cũng sẽ phát hiện.
Vậy tại sao phần lớn hàng giả xuất xứ là hàng Trung Quốc? Câu trả lời rất đơn giản là việc đặt gia công hàng ở đất nước là công xưởng của thế giới có giá vô cùng rẻ, rẻ hơn rất nhiều so với hàng làm ở trong nước (mà nguyên liệu thì cũng nhập từ Trung Quốc); lại không phải nhọc công thiết kế kiểu dáng, mẫu mã; muốn số lượng bao nhiêu cũng có, muốn lúc nào cũng có.
Còn tại sao phải mất công giấu nguồn gốc hàng sản xuất ở Trung Quốc mà không đường đường chính chính như hàng trăm ngàn thương hiệu trên toàn cầu vẫn gắn mác “made in China”? Câu trả lời cũng không quá phức tạp. Đó là do doanh nghiệp Việt Nam chưa có thương hiệu đủ mạnh như Uniqlo hay Nike để người tiêu dùng tin dù thương hiệu đặt gia công hàng ở khắp nơi trên thế giới nhưng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn toàn cầu. Đó là vì người tiêu dùng Việt Nam thích hàng giá rẻ nhưng lại rất sợ, thậm chí ghét hàng Trung Quốc. Đó là do doanh nghiệp đã lỡ nói rằng hàng của mình là hàng Việt Nam “xịn”, thậm chí là hàng được tạo ra vì trách nhiệm đối với đất nước, nên “đã phóng lao thì phải theo lao”. Và tất nhiên, đó còn vì lợi nhuận thu về là rất lớn.
Bởi vậy, chuyện khá nhiều doanh nghiệp gian lận, lừa dối người tiêu dùng là chuyện không mới, giống như ông Hoàng Khải của Khaisilk đã thừa nhận chuyện trộn hàng Tàu với hàng Việt từ vài chục năm nay. Và hành vi gian dối này được nhiều doanh nghiệp trong ngành, các hiệp hội ngành nghề biết rõ.
Vậy từ phía cơ quan quản lý thì sao? Trong rất nhiều báo cáo thời gian qua, cơ quan quản lý thị trường luôn nói rằng tình trạng giả xuất xứ hàng hóa ngày càng phổ biến và đã bắt được nhiều lô hàng quần áo, giày dép, túi xách... có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng gắn mác “made in Vietnam”. Tuy nhiên, tên tuổi của các doanh nghiệp này thường ít khi được nhắc cụ thể với công chúng. Có lẽ vì vậy mà dưới cái nhìn của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, những nỗ lực của cơ quan chức năng là chưa đủ. Họ cho rằng những vụ tịch thu hàng chỉ như muối bỏ bể và dường như chỉ xảy ra với những trường hợp “vô danh tiểu tốt”. Trên thực tế, hàng giả xuất xứ vẫn ngang nhiên bày bán công khai, không chỉ ở các chợ truyền thống mà cả ở những nơi được kiểm soát chặt chẽ hơn như siêu thị hay trung tâm thương mại, và những doanh nghiệp đưa được hàng vào các kênh bán lẻ hiện đại này chắc chắn không phải là doanh nghiệp nhỏ. Đó là chưa kể thông tin gian lận của công ty này, thương hiệu nọ cũng thường được lan truyền rộng, từ doanh nghiệp đến hiệp hội, lẽ nào cơ quan quản lý lại không biết!?
Có ý kiến cho rằng chính sự buông lỏng quản lý của cơ quan chức năng đã tạo điều kiện cho ngày càng nhiều doanh nghiệp nhúng chàm, trong đó có cả những doanh nghiệp từ đấu tranh với hàng gian, hàng giả, nhưng vì quá nản chí nên phải bỏ cuộc rồi lại bước chân vào chính con đường mà đối thủ của họ từng làm... Những ai không chấp nhận “bán mình” thì cũng mất dần tinh thần, nhiệt huyết: nhẹ thì thu hẹp sản xuất; nặng thì rao bán nhà máy, công ty.
Suy cho cùng, trong câu chuyện bán mình của không ít doanh nghiệp, Nhà nước không hề vô can. Thậm chí, doanh nghiệp lỗi một thì Nhà nước lỗi mười. Lỗi ở việc kêu gọi phục dựng, giữ gìn làng nghề truyền thống nhưng lại không có chính sách thương mại hóa sản phẩm bền vững, hàng làm ra không biết bán ở đâu, bán như thế nào, để đến những nghệ nhân cuối cùng cũng đành phải bỏ nghề cha ông truyền lại. Lỗi vì không có chính sách phù hợp để tạo nên nền sản xuất tự chủ, bao nhiêu quy hoạch, chiến lược ngành được xây lên nhưng thị trường trong nước vẫn phải nhập từ cây tăm đến chiếc áo. Lỗi vì không tạo ra được môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh bằng sự minh bạch, công khai khiến doanh nghiệp làm ăn chân chính đấu tranh đến nản lòng phải bỏ cuộc, còn những kẻ chộp giật mà biết chiều lòng người này người kia thì sống khỏe...
Chính vì vậy, đây là lúc không chỉ doanh nghiệp “cúi đầu nhận lỗi”, đóng cửa hàng, thu hồi sản phẩm như ông Hoàng Khải làm mà cả cơ quan quản lý nhà nước cũng phải thẳng thắn nhìn lại mình. Người tiêu dùng Việt Nam không cần cơ quan quản lý cúi đầu xin lỗi vì chuyện bán hàng giả trên thị trường cũng đã diễn ra không ít lần. Điều họ cần là từ xin lỗi, phải hành động để sửa sai. Có như vậy mới mong vớt vát được phần nào lòng tin vào hàng Việt Nam vốn đã ít ỏi lại vừa bị mất thêm do sự việc vừa qua.

'MADE IN VIETNAM' TRONG THỜI HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LƯƠNG HÀ /TBKTSG 2-11-2017


(TBKTSG) - Trong những ngày vừa qua, dư luận quan tâm nhiều đến hiện tượng một số (mà cũng có thể là rất nhiều) doanh nghiệp trong nước đã thay xuất xứ gốc của hàng hóa, khoác lên nó những nhãn hiệu và xuất xứ hào nhoáng để bán ra thị trường với giá trị cao gấp nhiều lần. Nhiều bình luận cho rằng, hành vi gian dối đó đã làm tổn thương nặng nề “lòng yêu nước”, “niềm tự hào” của người tiêu dùng.
Thú thật, với nền sản xuất hàng hóa còn non yếu chỉ mới vài chục năm tuổi, thói quen sử dụng hàng viện trợ qua hai cuộc chiến tranh và trong suốt thời kỳ bao cấp khiến sở thích dùng hàng ngoại nhập... đã ăn sâu, bám rễ trong nhận thức người tiêu dùng Việt Nam. Cho dù khẩu hiệu tuyên truyền kiểu “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” đã được phát động từ những năm đầu đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, cho dù chương trình “Hàng Việt Nam chất lượng cao” đã có nhiều nỗ lực trong việc tạo dựng lòng tin của người tiêu dùng vào các sản phẩm “Made in Vietnam”, thế nhưng, ai ai cũng phải thừa nhận rằng mơ ước hình thành được “chủ nghĩa yêu nước trong tiêu dùng” ở ta là một chuyện rất xa vời.
Đã thế, khi chuyển qua giai đoạn hội nhập quốc tế, chúng ta lại tiếp tục đương đầu với Trung Quốc trong một cuộc chiến không cân sức trên lĩnh vực thương mại. Thay vì tìm cách đứng trên vai kẻ khổng lồ để vươn lên, chúng ta lại thúc thủ và trở thành nơi tiêu thụ hàng kém chất lượng của người hàng xóm”. Lòng yêu nước và lòng tự hào trong tiêu dùng không những không được nuôi dưỡng mà còn bị tổn thương và mong manh hơn bao giờ hết.
Độ “yêu nước” trong tiêu dùng của người Việt Nam lớn tới đâu?
Trước khi viết bài viết này, tôi có làm một khảo sát nhanh trên mạng xã hội với trên 100 người, đa số trong độ tuổi từ 20-40 về “thái độ đối với hàng ngoại nhập” (“Consumer Ethnocentrism”, Shimp và Sharma, 1987). Kết quả, điểm trung bình của khái niệm “thái độ bài hàng ngoại” chỉ đạt 2,12 (trên thang 5), cho thấy nhóm đối tượng này rất cởi mở với hàng ngoại nhập, hàng Việt Nam không phải là ưu tiên lựa chọn của họ. Các câu hỏi phụ cũng cho thấy họ ưu tiên chọn thương hiệu sản phẩm nhiều hơn là xuất xứ và đồng thời rất “mù mờ” về xuất xứ của một số sản phẩm tiêu dùng đang có thương hiệu tại Việt Nam. Kết quả này tuy sơ bộ nhưng có lẽ ít người muốn phản bác.
Từ một góc độ khác chúng ta cũng có thể thấy, trong cuộc khủng hoảng về an toàn thực phẩm, hàng hóa xuất xứ Trung Quốc và Việt Nam đều bị xếp chung một mẻ. Ở phân khúc khách hàng thu nhập từ khá trở lên, khi nói không với hàng Trung Quốc thì họ cũng nói không với hàng Việt Nam rồi thay vào đó là ưu tiên “hàng xách tay Âu-Mỹ”. Sự lên ngôi của trái cây ngoại nhập cũng cho thấy hàng Việt Nam chưa từng là ưu tiên số 1.
Người tiêu dùng chọn “xuất xứ” hay “thương hiệu”?

Vậy thì tại sao chính cộng đồng mạng lại “ném đá” các hành vi gian dối xuất xứ nhiều nhất trong khi họ làm gì có “lòng yêu nước trong tiêu dùng” để mà tổn thương?
Các nghiên cứu về hành vi mua hàng trong điều kiện không có thông tin chắc chắn về sản phẩm cho thấy người tiêu dùng thường sẽ dựa trên “niềm tin” vào thương hiệu sản phẩm (brands, bao gồm cả thương hiệu cá nhân của chủ doanh nghiệp) và xuất xứ quốc gia (Country of Origin, COO).
Một nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy COO có ảnh hưởng lớn đến các sản phẩm và dịch vụ viễn thông theo sau là hàng may mặc, thực phẩm, nước giải khát và đồ điện gia dụng. Người tiêu dùng trẻ tuổi nhận thức rằng COO quyết định chất lượng và sự tinh tế về công nghệ của sản phẩm. Tuy nhiên, trong một số loại sản phẩm, người tiêu dùng nhấn mạnh đến thương hiệu nhiều hơn là COO. Cũng có ý kiến cho rằng thông tin về COO giúp họ chọn được sản phẩm tốt nhất trong một nhóm sản phẩm có sẵn và đưa ra quyết định sáng suốt hơn khi xem xét sản phẩm mới. Hàng càng có giá trị cao thì cả hai yếu tố thương hiệu và COO càng được xem xét đồng thời. Hàng cấp càng thấp thì COO càng ít được quan tâm.
Hiện tượng một thương hiệu tơ lụa lớn, cắt tem “Made in China” thay vào đó là “Made in Vietnam” bán được giá cao gấp nhiều lần làm cho người ta tưởng rằng hai chữ Việt Nam đã đủ mạnh để tạo ra giá trị gia tăng và lấn át các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc trong lòng người tiêu dùng. Tuy nhiên bản chất ở đây chính là thương hiệu sản phẩm đủ mạnh lấn át thương hiệu quốc gia tạo nên niềm tin về giá trị. Và khủng hoảng với doanh nghiệp này không phải là khủng hoảng tem “Made in Vietnam” dỏm mà là khủng hoảng niềm tin vào một thương hiệu “cứ ngỡ xịn”. Từ đó nó làm lan tỏa sự nghi ngờ vào năng lực của doanh nghiệp Việt Nam và chất lượng hàng hóa Việt Nam.
Thế nào là tự hào đúng về khái niệm “hàng Việt Nam”?
Không biện minh giúp các doanh nghiệp đã lầm lỗi, nhưng nguyên nhân sâu xa của mọi lỗi lầm đã đến từ hai phía. Bởi lẽ người tiêu dùng và cả nhà sản xuất chưa kịp thay đổi ý niệm thế nào là một “sản phẩm Việt” trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Các thông tin về sản phẩm “Made in Vietnam” được truyền thông úp mở và gây ra ngộ nhận là điều tất yếu trong dài hạn.
Theo tuyên bố của ông Nguyễn Tử Quảng, chiếc Bphone 2017 do Bkav “sản xuất” có 54% linh kiện xuất xứ Nhật Bản, 23% là Mỹ, số còn lại là châu Âu, Hàn Quốc và chỉ có 0,9% linh kiện của Bphone có xuất xứ từ Trung Quốc. Vậy Bphone có gì đáng tự hào?
Sắp tới Vinfast cũng tuyên bố sẽ sản xuất xe hơi “thương hiệu Việt”, chưa biết tỷ lệ nội địa hóa và quy trình sản xuất ra sao nhưng trước mắt phần thiết kế là của Ý, quản lý điều hành là người nước ngoài. Vậy xe hơi Việt kiểu này có đáng tự hào?
Ngược lại, có dịp đi du lịch châu Âu, Hoa Kỳ khi mua quà về tặng cho người thân, trong chúng ta chắc có người từng bị “mắng” sao lại mua hàng “Made in Vietnam” dù rằng tất cả đều là sản phẩm thuộc sở hữu của các thương hiệu nước ngoài danh tiếng như Nike, Adidas, Lacoste... Vậy những đôi giày và chiếc áo “Vietnam” kia có đáng tự hào?
Ba ví dụ trên là điển hình về đặc thù sản xuất ra một món hàng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Rõ ràng nếu tiếp cận theo tư duy cũ thì chẳng có sản phẩm nào thật sự thuần Việt như con cá hay hạt gạo nữa.
Ngày nay, với cách tiếp cận của chuỗi giá trị toàn cầu thì xuất xứ quốc gia đã được phân đoạn ra thành: quốc gia thiết kế (Country of Design, COD), quốc gia sản xuất (Country of Manufacture, COM), quốc gia lắp ráp (Country of Assembly, COA), quốc gia sở hữu thương hiệu (Country of Brand, COB). Và giá trị gia tăng tạo ra ở mỗi khâu được thể hiện đơn giản qua đường cong nụ cười của Stan Shih (xem hình 1).
Từ đường cong nụ cười, ta dễ dàng nhận ra tuy COD và COB không trực tiếp làm ra sản phẩm nhưng là những nước kiếm được nhiều thu nhập nhất. Cụ thể hơn chúng ta có thể xem các quốc gia tham gia sản xuất nên chiếc điện thoại iPhone và cơ cấu giá trị gia tăng trong sơ đồ sau (xem hình 2).
Do vậy với một người yêu nước thật sự, người tiêu dùng lẽ ra phải tự hào về những nỗ lực của Bkav và các doanh nghiệp tương tự đã và đang đi đầu trong các khâu thiết kế, nghiên cứu và làm thương hiệu (bán sang một thị trường khác). Sự đòi hỏi nhà máy Bphone phải đặt ở Việt Nam là không cần thiết mà ngược lại làm đội giá thành sản xuất do mất đi lợi thế sản xuất theo quy mô.
Tư duy tự hào “sản phẩm hữu hình” này tồn tại trong lòng người Việt Nam nói chung một phần do chưa nhận thức rõ tầm quan trọng và giá trị của ý tưởng, sáng tạo và dịch vụ dù hàng ngày mọi người vẫn đang ra rả nói về cách mạng công nghiệp 4.0 mà nền tảng của nó là tri thức.
Hướng tiếp cập mới để tạo dựng “tự hào Việt”
Từng đi tham quan nhiều nước trên thế giới, khi được tận mắt chứng kiến các trang trại nông nghiệp tại California (Hoa Kỳ), trang trại gà ở vùng Aquitaine (Pháp) hoặc các nhà máy sản xuất công nghiệp tại Trung Quốc... nhiều lúc tôi tự hỏi: Làm sao Việt Nam có thể cạnh tranh được với thế giới trong tương lai?
Có lẽ rất nhiều doanh nhân ở Việt Nam cũng có tâm tư giống như tôi. Tuy nhiên, khi theo dõi và tham gia làm giám khảo các cuộc thi về khởi nghiệp ở Việt Nam, tôi thấy rất ít dự án khởi nghiệp tiếp cận theo chuỗi giá trị toàn cầu. Trong các dự án về sản xuất, doanh nghiệp luôn tìm cách sản xuất ra một sản phẩm cuối cùng hoàn chỉnh rồi định vị mình trong một phân khúc thị trường hẹp nào đó (đa phần là trong nước).
Với tư duy cũ, doanh nghiệp luôn suy nghĩ theo hướng mình sẽ bán “sản phẩm thô”, “sản phẩm qua chế biến” hay “dịch vụ”. Tuy nhiên, trong bối cảnh của chuỗi giá trị toàn cầu, hãy tìm cách tham gia len lỏi vào khâu nào đó trong một chuỗi giá trị. Trong chuỗi giá trị toàn cầu ấy, cái doanh nghiệp cung cấp không cần là một sản phẩm hoàn thiện mà có thể là một ý tưởng hoặc đầu vào cho một khâu trong quá trình sản xuất. Sự phát triển của doanh nghiệp được khẳng định bằng việc có chỗ đứng cao hơn trong các khâu tạo ra giá trị cao.
Thật là tự hào khi một sản phẩm do Việt Nam nghiên cứu và thiết kế, được sản xuất ở Trung Quốc và tiêu thụ tại Bắc Mỹ! Thật là ngưỡng mộ nếu doanh nghiệp Việt Nam xây dựng một thương hiệu được sản xuất tại Brazil nhưng bán ra tại Ảrập. Đó mới là tự hào Việt thực chất. Điều này không phải dễ dàng nhưng đó mới chính là tương lai của “Made in Vietnam”.
Trung Quốc là một đầu mối của chuỗi giá trị toàn cầu chủ đạo hiện nay bên cạnh Hoa Kỳ và Đức (theo nhận định của Ngân hàng Thế giới). Với tư duy kiểu cũ, doanh nghiệp Việt Nam chưa biết tận dụng lợi thế gần đầu mối để thâm nhập vào chuỗi giá trị và vươn ra thế giới mà ta lại chọn cách dễ dàng là nơi tiêu thụ sản phẩm giá rẻ.
Bằng cách tiếp cận chuỗi giá trị, khi tương tác với người tiêu dùng, nếu doanh nghiệp biết áp dụng chiến lược truyền thông thương hiệu đảm bảo nguyên tắc minh bạch-nhất quán-kiên trì về những nỗ lực của mình trong việc đóng góp tạo ra giá trị các sản phẩm Việt Nam theo tư duy mới như đã đề cập ở trên thì chắc chắn dù sản phẩm được sản xuất ở Trung Quốc hay một đất nước thứ ba nào đi nữa người tiêu dùng cũng sẽ dành cho một niềm tin trọn vẹn.

GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM VÀ HẬU QUẢ

HÒA ÁI/RFA/ BVN 4-11-2017

clip_image002
Một cửa hàng Khaisilk tại JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay Resort đóng cửa sau khi bị khách hàng tố cáo bán khăn lụa “Made in China”. Hình chụp ngày 31/10/2017. Courtesy: Facebook Huỳnh Bá Phương
Vụ việc doanh nhân Hoàng Khải bị cho là lừa gạt khách hàng vì nhập khăn lụa Trung Quốc về gắn mác thương hiệu “Khaisilk-Made in Vietnam” và bán với giá cao làm dấy lên làn sóng trong dư luận về vai trò quản lý nhà nước, biện pháp xử lý hậu quả vụ việc cũng như ảnh hưởng xấu mà môi trường kinh doanh của Việt Nam phải chịu bởi nạn gian lận trong thương mại như thế?
Lừa dối khánh hàng
Không chỉ những ai mua phải khăn lụa thương hiệu Khaisilk mà dư luận đồng loạt bày tỏ sự phẫn nộ trước việc làm lừa dối khách hàng của doanh nhân Hoàng Khải, mặc dù vị doanh nhân có tiếng này đã cúi đầu xin lỗi.
Vụ việc doanh nhân Hoàng Khải, trong hạ tuần tháng 10, bị tố đã bán những chiếc khăn lụa Khaisilk mà ông đã kỳ công tạo dựng thương hiệu suốt gần 3 thập niên qua, chính là khăn nhập từ Trung Quốc do cái mác “Made in China” còn sót lại trên khăn, khiến người tiêu dùng thắc mắc có phải ông Hoàng Khải, một doanh nhân thành đạt, đã lừa gạt khách hàng trong ngần ấy năm và còn bao nhiêu doanh nghiệp kinh doanh “hàng Việt Nam chất lượng cao” gian dối trong thương mại mà chưa bị phát hiện?
Doanh nhân Hoàng Khải lên tiếng thừa nhận 50% khăn lụa thương hiệu Khaisilk có xuất xứ từ Trung Quốc và sẵn sàng bồi hoàn lại cho những khách hàng đã mua sản phẩm khăn “Made in China” của công ty một cách nghiêm túc. Ông chủ của thương hiệu được cho là tiên phong trong nghề dệt lụa Việt Nam cũng thừa nhận tập đoàn đang đối mặt với khủng hoảng và sẽ rất khó khăn để lấy lại uy tín cho thương hiệu Khaisilk.
Rất ảnh hưởng và tôi rất lo lắng... Qua vụ bán hàng gian lận của ông Khải Silk thì tất cả những người đang bán giá cao giống ông ấy đều bị ảnh hưởng ghê gớm. Những người tiêu dùng có thể cho rằng các doanh nghiệp bán hàng giá cao có thể có vấn đề giống như ông Khải Silk là mình có thể thấy bị gặp khó khăn
-GĐ. Công ty Yellow Chair Specialty Coffee
Đài RFA trao đổi với một số doanh nghiệp kinh doanh “hàng Việt Nam chất lượng cao” và được cho biết vụ việc doanh nhân Hoàng Khải bị tố cáo làm ăn gian dối “lập lờ đánh lận con đen” làm ảnh hưởng đến công việc kinh doanh cũng như uy tín của các doanh nghiệp khác trên thị trường Việt Nam.
Giám đốc Công ty Yellow Chair Specialty Coffee, tại Sài Gòn nói với RFA rằng một khi doanh nghiệp đã khởi nghiệp với tiêu chí theo đuổi kinh doanh hàng hóa chất lượng cao thì hai yếu tố quan trọng nhất mà họ tâm niệm là uy tín và đạo đức kinh doanh. Nữ giám đốc của thương hiệu cà phê này khẳng định dĩ nhiên giới doanh nhân kinh doanh vì lợi nhuận, nhưng giá cả không phải là mục tiêu cuối cùng mà chính giá trị của thương hiệu mang lại cho khách hàng. Dù tự hào doanh nghiệp của mình trung thành với ý tưởng kinh doanh như thế; tuy nhiên, Giám đốc Công ty Yellow Chair Specialty Coffee chia sẻ hiện không ít doanh nghiệp lo lắng về ảnh hưởng tiêu cực qua vụ bán hàng giả của thương hiệu Khaisilk bị phanh phui. Bà Giám đốc cho biết:
“Rất ảnh hưởng và tôi rất lo lắng. Ví dụ, trước đây những người có tiền suy nghĩ rằng sản phẩm giá cao thì chắc chắn chất lượng tốt nên họ không e dè khi mua. Nhưng qua vụ bán hàng gian lận của ông Khải Silk thì tất cả những người đang bán giá cao giống ông ấy đều bị ảnh hưởng ghê gớm. Những người tiêu dùng có thể cho rằng các doanh nghiệp bán hàng giá cao có thể có vấn đề giống như ông Khải Silk là mình có thể thấy bị gặp khó khăn. Do đó, bây giờ khách hàng đến mua hàng thì chúng tôi phải giải thích cho thật là kỹ”.
Thương hiệu Khaisilk: trường hợp cá biệt?
clip_image004
Rau Trung Quốc nhìn tươi ngon hơn rau Việt Nam. Photo: RFA

Vấn đề gian lận thương mại tại Việt Nam một lần nữa được dư luận mang ra mổ xẻ nhân vụ việc liên quan chiếc khăn lụa hàng cao cấp của Việt Nam nhưng lại nhập khẩu từ Trung Quốc. Đài Á Châu Tự Do ghi nhận một số doanh nhân gốc Việt ở nước ngoài làm ăn với các doanh nghiệp trong nước gặp rất nhiều rắc rối vì môi trường kinh doanh Việt Nam không cạnh tranh lành mạnh và rủi ro rất cao. Ông Hưng Nguyễn, ở bang Lousiana, Hoa Kỳ cho biết công ty của ông từng nhập khẩu mặt hàng đồ biển đông lạnh và ông đã rơi vào hoàn cảnh mất trắng vì cách thức làm ăn gian dối, không uy tín của những người ở Việt Nam. Ông Hưng Nguyễn kể lại:
“Tại Việt Nam nhiều khi mình không nói được chủ hàng mà mình bị tráo hàng trong những giai đoạn khác. Trước đây khi tôi nhập hàng thì tôi cũng kiểm tra chất lượng sản phẩm từ nhà máy ra đến cảng. Dù kiểm tra chặt chẽ nhưng bị tráo hàng trong khâu vận chuyển. Từ nhà máy đến cảng thì họ tráo hàng trong giai đoạn này. Khi phát hiện bị thất lạc nhiều quá thì tôi kiểm tra và phát hiện hàng bị tráo trước khi xe tải vào trong cảng”.
Tại Việt Nam, một cách nào đó mình làm việc thì nhận thấy sự gian dối đi sâu vào từng ngỏ ngách công việc của nhiều người, từ thấp đến cao ai cũng có điều không trung thực và mọi nơi đều như thế. Thực tế có các doanh nghiệp uy tín, nhưng số đó tôi tin là không nhiều lắm. Gian lận là bởi môi trường. Điều đó không có nghĩa là mọi người Việt Nam đều như thế. Nhưng hiện nay xã hội Việt Nam là như thế
-Chuyên gia Duy Lê
Không những vậy, một vài công ty khác tại Mỹ có chủ là người gốc Việt cho RFA biết họ phải bỏ của chạy lấy người sau thời gian dài kinh doanh tại Việt Nam vì họ cho rằng gian lận thương mại khắp nơi ở trong nước, do người Việt Nam hám cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến uy tín hay đạo đức kinh doanh dài lâu.
Ông Duy Lê, một chuyên gia về quản trị thừa nhận những phản ánh về cách thức làm ăn gian dối như vừa nêu là đúng sự thật:
“Tại Việt Nam, một cách nào đó mình làm việc thì nhận thấy sự gian dối đi sâu vào từng ngỏ ngách công việc của nhiều người, từ thấp đến cao ai cũng có điều không trung thực và mọi nơi đều như thế. Thực tế có các doanh nghiệp uy tín, nhưng số đó tôi tin là không nhiều lắm. Gian lận là bởi môi trường. Điều đó không có nghĩa là mọi người Việt Nam đều như thế. Nhưng hiện nay xã hội Việt Nam là như thế”.
Yếu tố “gian lận bởi môi trường” mà chuyên gia Duy Lê đề cập được đa số doanh nhân mà Đài RFA tiếp xúc lý giải rằng môi trường kinh doanh tại Việt Nam chưa tạo được điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể cạnh tranh một cách công bằng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng thương hiệu chất lượng cao vì chi phí để sản xuất ra thành phẩm đội giá rất nhiều nên không thể nào bán hàng chất lượng tốt với giá rẻ. Điển hình là một doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức kết hợp với nông dân trồng sản phẩm rau sạch hữu cơ, trong thời buổi thị trường đầy rẫy thực phẩm bẩn, chia sẻ với RFA gặp nhiều khó khăn vì thị phần đầu ra rất hạn chế nên khó cạnh tranh, dù tiêu chí hoạt động vừa giúp nông dân vừa mang lại sức khỏe cho cộng đồng.
Trong khi rất nhiều người tiêu dùng đang theo dõi vụ việc lừa dối khách hàng của thương hiệu Khaisilk sẽ bị khởi tố hình sự hay không và nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam hy vọng các cơ quan chức năng làm công tác quản lý cũng như xúc tiến thương mại sẽ có những hoạt động để trấn an tâm lý người tiêu dùng và cổ súy vực dậy sự tin cậy để “người Việt Nam dùng hàng Việt” thì giới chuyên gia cho rằng sự gian lận thương mại tại Việt Nam sẽ khó mà thay đổi được trong một tương lai gần, như nhận định của Chuyên gia Duy Lê:
“Tôi đang làm việc trong lãnh vực đào tạo phát triển năng lực cho con người trong tổ chức của công ty. Tôi cảm thấy buồn vì những người nước ngoài làm việc với người Việt Nam, một cách nào đó họ xem thường người Việt Nam. Đó là một nỗi đau”.
H.A.

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

20171103. NHỮNG BẤT THƯỜNG CỦA SỐ LIỆU TĂNG TRƯỞNG QUÝ III

ĐIỂM BÁO MẠNG
GDP QUÝ III VÀ NHỮNG BẤT THƯỜNG CỦA SỐ LIỆU TĂNG TRƯỞNG

LÊ NGUYỄN/ BVN 3-11-2017
TS Nguyễn Xuân Thành – Giám đốc Phát triển, giảng viên chính sách công của Đại học Fulbright Việt Nam – vừa có những phân tích về những bất thường trong số liệu tăng trưởng GDP quý III/2017.
clip_image002
TS Nguyễn Xuân Thành

Sự đột biến của điện tử và thép
Theo TS Nguyễn Xuân Thành, “chưa năm nào có sự cải thiện tăng trưởng từ quý I đến quý III như năm nay”. Nhờ vậy, tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm lên tới 6,4%.
Với dự kiến quý IV/2017 có tốc độ tăng trưởng còn cao hơn nữa, có lẽ không cần đợi đến số liệu thực tế vào cuối năm, Chính phủ đã có thể báo cáo ngay với Quốc hội là mục tiêu tăng trưởng 6,7% của 2017 sẽ đạt được.

clip_image004
Tăng trưởng GDP tăng dựng đứng từ quý I đến quý III năm nay
Đóng góp lớn cho con số đẹp này là sự tăng trưởng cao của công nghiệp chế biến – chế tạo (lên tới 12,8% trong 9 tháng đầu năm so với cùng kỳ). Giá trị gia tăng và chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo đều có mức tăng trưởng như nhau. Như giải thích của Tổng cục Thống kê, đó là nhờ sự tăng trưởng đến 25,1% của ngành lắp ráp điện tử (điện thoại Samsung), 21,4% của ngành sản xuất kim loại (thép Formosa) và 14,2% của sản xuất kim loại đúc sẵn.
Nhưng rất lạ là ngoài 3 ngành này thì tất cả ngành còn lại đều có tốc độ tăng trưởng thấp hơn mức trung bình. Những ngành công nghiệp chế biến chế tạo truyền thống có tỷ trọng cao trong toàn ngành lại tăng trưởng rất thấp như đồ uống 5%; da giầy 5,4%; nội thất 6,2%; may 6,3%; và thực phẩm 6,6%. Không kể sản xuất điện tử và kim loại, tất cả các ngành còn lại chỉ đóng góp khoảng 6,5 điểm phần trăm vào tăng trưởng công nghiệp chế biến chế tạo.
clip_image006
Ngoài điện tử, kim loại (thép), kim loại đúc sẵn, các ngành còn lại có tốc độ tăng trưởng khá thấp
“Vậy để công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,8%, điện tử và thép (cho dù có tốc độ tăng cao) cũng phải chiếm đến 37% giá trị gia tăng toàn ngành. Điều gì làm cho có sự thay đổi đột biến của giá trị gia tăng của doanh nghiệp FDI lắp ráp điện tử và thép?”, ông Thành đặt câu hỏi.
Điện chỉ tăng 8,3% làm sao công nghiệp chế biến chế tạo tăng được 11 – 12%?
Theo TS Nguyễn Xuân Thành, kinh nghiệm các năm cho thấy khi GDP tăng 6 - 6,5%, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11 - 12% thì sản lượng điện tăng 11 - 12%.
9 tháng năm 2017, trong khi GDP tăng 6,4% và công nghiệp chế biến chế tạo tăng tới 12,8% thì điện chỉ tăng có 8,3%.clip_image008
Điện tăng "không tương xứng" với công nghiệp chế biến chế tạo và GDP
“Lắp ráp điện tử và đặc biệt là thép vốn rất thâm dụng điện. Điều gì làm cho trong một thời gian ngắn, những ngành công nghiệp này lại tiết kiệm điện được đến thế để ngành điện chỉ tăng chậm mà vẫn phục vụ được cho tăng trưởng công nghiệp chế biến chế tạo và GDP cao?
“Còn nếu số liệu đúng thì chúng ta lại có một tin vui nữa. Đó là các ngành công nghiệp (trong đó có Formosa) ở Việt Nam đã rút kinh nghiệm quá khứ, hướng tới phát triển bền vững môi trường, đẩy mạnh tiết kiệm điện năng”, ông Thành bình luận.
Cứ theo số liệu tổng cầu thì tăng trưởng 6,4% còn là thấp
Hoạt động dịch vụ đã có cải thiện tăng trưởng đáng kể, tăng tới 7,25% trong 3 quý đầu năm. Thương mại, bán buôn, bán lẻ tăng 8,2%. Ăn uống, lưu trú (du lịch) tăng tới 9%. Điều này cũng được phản ánh qua tổng cầu. Bán buôn, bán lẻ tăng mạnh và tiêu dùng cuối cùng đóng góp tới 8,76 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Tăng tích lũy đầu tư đóng góp 7,78 điểm phần trăm. Tính hai sự đóng góp này, GDP phải tăng tới 13,5%.
Để khớp với số liệu từ phía sản xuất (6,4%), thì cán cân thương mại (xuất khẩu trừ nhập khẩu) từ phía cầu đã làm giảm tăng trưởng đi 7,1% điểm phần tram.
clip_image010
Tuy nhiên điều này rất khó giải thích. Cán cân thương mại trong 9 tháng được cải thiện chứ không phải thâm hụt nhiều hơn. Đó vì từ phía khu vực công nghiệp, ngành điện tử xuất khẩu mạnh và nhập khẩu phải tăng chậm hơn nếu muốn nói giá trị gia tăng nội địa là lớn. Từ phía dịch vụ, xuất khẩu du lịch tại chỗ cũng tăng mạnh, giúp giảm thâm hụt cán cân thương mại dịch vụ.
“Vậy cứ theo số liệu tổng cầu, tiêu dùng tăng mạnh, đầu tư tăng tốt, cán cân thương mại cải thiện thì tăng trưởng GDP còn cao nữa. 6,4% là còn thấp”, ông Thành nhìn nhận.
Tại phiên họp ngày 31/10, đại biểu Hoàng Quang Hàm, Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng số liệu tăng trưởng các năm gần đây không hợp lý, tăng trưởng giữa các quý lên xuống đột ngột, không theo logic thông thường như việc các quý cuối năm tăng trưởng rất cao nhưng sang quý 1 đầu năm sau giảm đột ngột.
"Nếu quý IV/2015, cả nước hân hoan vì tăng trưởng đạt 7,01% thì quý I/2016 rơi thẳng xuống còn 5,48%. Mức tăng trưởng này đạt mức cao 6,68% ở quý IV/2016 nhưng lại đột ngột giảm ngay ở quý I/2017 còn 5,1% và lại đang tăng tốc rất thần kỳ ở các quý cuối năm 2017", ông Hàm dẫn chứng và không khỏi hoài nghi: Liệu quý I năm sau có thoát khỏi quy luật bất thường này không thì chưa rõ?
"Với số liệu trên, nếu thống kê tốt, không có nghi vấn gì thì tăng trưởng đã có những điểm nghẽn rất bất hợp lý, trái với logic thông thường. Đề nghị Chính phủ phải làm rõ và có giải pháp khắc phục ngay", ông nói.
Giải trình về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nói: "Về mặt số liệu là đáng tin cậy. Phương pháp thống kê có cơ sở khoa học và khách quan, đúng quy định của pháp luật thống kê đã áp dụng nhiều năm. Trong cơ cấu giá trị GDP cả năm thì quý IV có tỷ trọng cao nhất, bình quân khoảng 32%, còn quý I thấp nhất với tỷ trọng khoảng 18%. Điều này là thông lệ nhiều năm bởi quý I sản xuất giảm vì kết thúc Tết âm, ảnh hưởng lễ hội, mùa vụ nông nghiệp, chu kỳ mua sắm".
L.N.

Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

20171102. KERALA NÊN GỌI LÀ THIÊN ĐƯỜNG GÌ ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
CÓ MỘT THIÊN ĐƯỜNG CỘNG SẢN HIỆN THỰC

BÙI TÍN/VOA/ BVN 1-11-2017

clip_image001
Karl Marx
Xưa kia khi Liên Xô còn hùng mạnh, phe xã hội chủ nghĩa còn rộng lớn, kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga 1917 là ngày hội lớn nhất.
Lễ kỷ niệm hoành tráng, duyệt binh rầm rộ, biểu tình quần chúng đông đảo, ăn uống linh đình, cờ và khẩu hiệu rực rỡ, diễn văn lê thê, thôi thì đủ như náo động.
Năm nay kỷ niệm tròn 1 thế kỷ Cách mạng tháng Mười Nga (1917 – 2017), lẽ ra phải là ngày hội lớn nhất. Nhưng ở nước Nga, gần như yên lặng. Còn có gì để kỷ niệm? Chỉ nổi cộm một vấn đề mong muốn một số người, ngay trong quốc hội Nga, là đưa thi hài đã rữa của ông V.I. Lenin về mai táng ở Petersburg để «giải phóng Hồng trường giữa thủ đô Moscow».
Ở Bắc Kinh cũng êm re, ông Tập Cận Bình tập trung sức củng cố thế lực «Hoàng đế Đỏ» của mình. Tại Bình Nhưỡng, Kim Jong-un đang bận rộn thử tên lửa và bom nguyên tử. Ở Cu Ba, sau khi Fidel Castro qua đời, ông em già yếu Raul Castro đang lo chuyện bàn giao quyền lãnh đạo cho thế hệ mới.
Riêng tại Việt Nam, lãnh đạo ưa thích chơi đồ cổ, không có lễ kỷ niệm gì lớn, nhưng vẫn có một buổi tọa đàm nhỏ ngày 22/10 lưa thưa nhạt nhẽo, và một buổi hội thảo ngày 26/10 cũng nhạt nhẽo lưa thưa không kém do Học viện Chính trị quốc gia cùng Ban Tuyên giáo Trung ương đảng, Hội đồng lý luận trung ương và Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam tổ chức. Đó là những tổ chức đặc sệt giáo điểu cổ hủ với những phát biểu già nua có từ nửa thế kỷ trước, đọc lại nguyên si, cứ như trái đất ngừng quay, đồng hồ ngừng chạy 30, 40 năm nay!
Vẫn là Mác – Lenin, là chủ nghĩa xã hội hiện thực, tương lai của thế giới cộng sản trên trái đất này! Đọc và nghe mà khiếp vía! Xưa là «hủ nho», nay là «hủ Mác»! Không một trí thức tự do nào tham dự những buổi đọc kinh này.
May thay! Cũng vào ngày 26/10/2017 trên báo Washington Post có bài báo rất hay, bổ ích, lý thú của 2 nhà báo Greg Jaffe và Vidhi Osh nhan đề «Đây là một chỗ hiếm mà người cộng sản còn có thể mơ ước». Ở đâu vậy? Xin hãy hồi hộp chờ xem.
Hai tác giả cho rằng hiện còn có 5 nước theo chủ nghĩa cộng sản. Đó là Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều Tiên và Lào. Tại đó học thuyết cộng sản đã phá sản hoàn toàn, do thực hiện những điều tệ hại nhất của chủ nghĩa Mác – Lê, áp dụng bạo lực, khủng bố, đấu tranh giai cấp khốc liệt trong nội bộ đảng và ngoài xã hội. Thiên đường chẳng thấy đâu, chỉ có chết chóc, nghèo đói, bất công, do đàn áp và thất bại, đổ vỡ, chỉ là địa ngục trần gian, tạo nên trên 100 triệu nhân mạng tiêu vong.
Chỉ có một nơi trên quả đất này, chủ nghĩa cộng sản có sức sống kỳ diệu, do những nhà lãnh đạo ở đó biết chắt lọc, chỉ thực hiện những điều tốt đẹp của chủ nghĩa Mác, kiên quyết xa rời những mặt tối, tiêu cực, có hại của cái học thuyết ấy.
Đó là bang Kerala thuộc Ấn Độ, có 35 triệu dân, do đảng cộng sản Kerala lên nắm chính quyền từ năm 1957 đến nay qua tự do bầu cử. Đây là mảnh đất phì nhiêu vùng Tây Nam Ấn Độ, có 800 km bờ biển nhìn ra biển A-rập, theo đạo Phật gốc từ xa xưa vẫn mộ đạo đến ngày nay, chuộng từ bi hỷ xả, cứu nhân độ thế thành nếp sống và nếp tư duy văn hóa cao quý.
Đảng cộng sản Kerala hiện vẫn quý trọng cố Tổng bí thư đảng thời 1957 E.M.S.
Namboodiripad đã định hướng cho việc áp dụng chủ nghĩa Mác có lựa chọn, không mù quáng, không giáo điều, không Lenin, không Staline, cũng không Mao. Hai định hướng là giáo dục phát triển từ mầm non đến Đại học, trên đại học, luôn dẫn đầu toàn nước Ấn. Thứ hai là xã hội chăm lo sức khỏe cho toàn dân một cách bình đẳng, rộng rãi, có chất lượng cao nhất, không mất tiền.
Theo thống kê chung toàn Ấn Độ, Kerala là bang mũi nhọn,
· Có chỉ số phát triển con người HDI cao nhất: 0,790 (toàn Ấn là: 0,513) ;
· Có số người biết chữ cao nhất: 93,91% (toàn Ấn là: 74,04%) ;
· Có tuổi thọ trung bình cao nhất: 77 tuổi (toàn Ấn là: 63) ;
· Có văn hóa, báo chí dẫn đầu Ấn Độ, báo ra bằng 9 thứ tiếng;
· Là vùng du lịch trọng điểm, đông khách nhất, có nhiều đền đài Phật giáo, Ấn độ giáo, nhiều điệu múa cổ điển… Ngành điện ảnh cũng đặc sắc.
· Kerala từng mang danh hiệu «Nữ hoàng của biển Ả-rập», được bình chọn là 1 trong 10 Thiên đường của thế giới.
· Kerala rất giàu tài nguyên: gạo, dừa, chè, cà phê, cao su, hạt tiêu, ớt, quế, nghệ, được coi là «vườn gia vị của Ấn Độ.»
· Cuộc sống ở Kerala thanh bình, hầu như không có cướp giật, móc túi đến hối lộ tham nhũng, mua bán chức tước, trường học, thư viện, nhà văn hóa... nhiều hơn nhà tù, trại giam.
Hiểu biết về cuộc sống ở Kerala áp dụng chủ nghĩa Mác một cách có sàng lọc theo chế độ xã hội dân chủ, tôi bỗng nghĩ đến chủ trương của cụ Phan Châu Trinh, nâng dân trí, hậu (làm cho hùng hậu) dân khí, vượng dân sinh, nếu được thực hiện cũng sẽ đạt Thiên đường trên đất mình, như Kerala-Thiên đường cộng sản hiện thực ngày nay vậy.
Chúng ta nên kết luận gì ở đây? Về toán học thường quy luật nào cũng có một vài trường hợp lẻ loi, ngoại lệ. Nên có phương ngôn: «Ngoại lệ chứng minh cho quy luật». Kerala, chỉ chiếm có 1 phần trên 2 nghìn dân số toàn thế giới, 35 triệu trên 7,5 tỷ dân. Tác giả «Tuyên ngôn của đảng Cộng sản» là Marx và Engels hy vọng hão huyền sẽ nhuốm đỏ toàn thế giới. Nhưng may mà có người biết cách thực hiện mặt ước vọng viển vông của học thuyết ấy bằng biện pháp riêng tư, bỏ qua các biện pháp bạo lực bất nhân, nên đã thắng lợi. Điều này không mảy may chứng minh sức sống của chủ nghĩa Mác, mà chỉ chứng minh đó là một tà thuyết chết người, bị 98% dân số thế giới bác bỏ dứt khoát. Kerala có giá trị là một ngoại lệ để chứng minh hùng hồn cho chân lý ấy. Cám ơn 2 nhà báo Greg Jaffe và Vidhi Osh đã nêu lên ngoại lệ hấp dẫn này.
Rất mong các đảng viên cộng sản Việt Nam, từ đảng viên thường, các trí thức có học, đến các ủy viên TƯ, các ủy viên Bộ Chính trị hãy tìm hiểu tường tận về Kerala, đi du lịch học hỏi tại chỗ không xa xôi gì, để ngẫm nghĩ cũng là người cộng sản mà sao họ minh mẫn thế, thông minh thế, vì dân đến thế, coi trọng giáo dục, văn hóa, y tế công cộng đến thế, xã hội bình đẳng an bình như thế, sao ta lại không làm nổi? hãy cố đi một quãng đường gần, mở mắt nhìn ra nước ngoài, cố học một sàng khôn.
B.T.
Bài đã đăng trên VOA

XIN ĐỪNG NHẦM LẪN !

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 2-11-2017

clip_image002

Ngày 30/10, trang Báo Tiếng Dân và ngày 1/11 trang Boxitvnđăng bài của Bùi Tín, nhan đề: Có một thiên đường cộng sản hiện thực. Theo tôi bài báo đã có một nhầm lẫn lớn, nếu không được phân tích và đính chính sẽ có thể bị ai đó lợi dụng để lừa gạt.
Nội dung bài báo trình bày tình hình bang Kerala thuộc Ấn Độ. Bang này có 35 triệu dân, do người của đảng cộng sản (ĐCS) Kerala nắm chính quyền từ năm 1957 đến nay qua tự do bầu cử. Bang Kerala có một số đặc điểm như sau, so với toàn nước Ấn Độ: Có chỉ số phát triển con người HDI cao nhất; có số người biết chữ cao nhất; có tuổi thọ trung bình cao nhất; có văn hóa, báo chí dẫn đầu Ấn Độ; là vùng du lịch trọng điểm, đông khách nhất, được bình chọn là 1 trong 10 Thiên đường của thế giới; có cuộc sống thanh bình, hầu như không có cướp giật, móc túi, hối lộ tham nhũng, mua bán chức tước…; trường học, thư viện, nhà văn hóa... nhiều hơn nhà tù, trại giam.
Tôi chưa được đến Karala, nhưng tôi tin những điều được viết phản ảnh gần đúng sự thật. Như vậy có thể xem nơi đó là một trong 10 thiên đường (một số thiên đường khác thuộc vùng Bắc Âu). Nhầm lẫn là ở đầu đề bài báo. Nó là một “Thiên đường trên Quả Đất” chứ không phải “Một thiên đường cộng sản”.
Vì sao vậy? Rõ ràng nó do đảng viên cộng sản nắm quyền kia mà, Đảng cộng sản ở đây là đảng cầm quyền thông qua tự do bầu cử. Tuy đảng cộng sản cầm quyền nhưng chế độ không phải là chế độ cộng sản.
Đã một số lần tôi phân tích, phải phân biệt một đảng cách mạng và một đảng cầm quyền, phân biệt giữa đảng và đảng viên. Một đất nước muốn xây dựng chế độ cộng sản (thời kỳ đầu là CNXH) theo Chủ nghĩa Mác Lênin (CNML) thì bắt buộc phải do đảng theo học thuyết đó lãnh đạo. Đảng ấy thường lấy tên Cộng sản, nhưng cũng có thể lấy tên khác như Lao động, Xã hội chủ nghĩa, Công nhân thống nhất, Liên minh công nông, v.v. Tên gọi tuy quan trọng nhưng quyết định là ở ý thức hệ, ở đường lối. Một đảng dù mang tên Cộng sản, tuy có treo ảnh Mác và Lênin, có tuyên bố là phụng thờ các ông, nhưng thực chất không làm theo học thuyết, không đi theo đường các ông đã vạch thì không thể nói là đảng đó đang xây dựng chế độ theo học thuyết cộng sản. Dân Việt có câu: Treo đầu dê, bán thịt chó, hoặc: Nói dzậy nhưng không phải dzậy.
Để xem một nước có phải đang trên đường xây dựng chủ nghĩa cộng sản theo CNML hay không phải dựa vào những tiêu chí nào? Chủ nghĩa Mác bắt đầu bằng kinh tế với phân tích sự chiếm hữu tư liệu sản xuất, với mâu thuẩn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, với bóc lột và giá trị thặng dư, với đấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản. CNML dẫn đến chuyên chính vô sản thời kỳ XHCN, rồi chế độ cộng sản với công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, với mọi người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Thử hỏi bang Kerala đạt được những thành tựu như đã mô tả là nhờ cái gì? Phải chăng là nhờ CNML hay thứ khác?
Liên hệ tình hình Việt Nam, trong vài bài trước đây tôi có phân tích điều sau: ĐCSVN theo CNML. ĐCSVN đã lãnh đạo nhân dân làm chiến tranh và thu chiến thắng. Nhưng kết luận nhờ CNML mà có chiến thắng lại sai, mắc vào ngụy biện. Với bang Kerala cũng thế. Tôi chưa đến Karala, chưa có những nghiên cứu kỹ về Karala. Những điều trình bày sau đây chủ yếu lấy thông tin từ mạng Internet và do suy luận. Nếu có ai phát hiện ra tôi phạm sai lầm chỗ nào xin được đối thoại.
Ở Ấn Độ có những đảng toàn quốc và đảng của các bang. Cuộc bầu cử năm 2014 có 1766 đảng tham dự. Ở toàn quốc có 2 đảng cộng sản. Ở các bang có nhiều đảng cộng sản khác. Bang Kerala theo chế độ dân chủ đại nghị với tam quyền phân lập. Lập pháp có 1 viện, hiện tại ĐCS Kerala đang chiếm đa số. Hành pháp có người đứng đầu là Thống đốc do Tổng thống chỉ định. Thống đốc cử ra Chủ tịch bộ trưởng (Chief Minister) là đại diện của đảng đa số ở Nghị viện. Tư pháp độc lập.
Từ 1957, Đảng Cộng sản Kerala chiếm đa số trong Nghị viện. Lúc đó đảng do Namboodinpad lãnh đạo. Ông là một trí thức thuộc tầng lớp tinh hoa. Ông lập ra đảng chính trị và lấy tên cộng sản là theo phong trào, lúc đó Ấn Độ đang ngã mạnh về Liên Xô. Ngay từ đầu, đây là một đảng chính trị theo xu hướng dân chủ. Tôi nghĩ rằng hiện tại Đảng cộng sản Kerala chỉ có cái tên là cộng sản do lịch sử để lại còn thực chất đó không phải là một đảng cách mạng theo mô hình của Lênin với đường lối đấu tranh giai cấp, với chủ trương chuyên chính vô sản, với công hữu hóa tư liệu sản xuất. Đảng cộng sản Kerala vẫn giữ được sự tín nhiệm cao của nhân dân thông qua bầu cử tự do vì họ không chủ trương độc tài toàn trị, không dùng thủ đoạn dối trá trong tuyên truyền, không dùng biện pháp khủng bố bất đồng chính kiến trong quản lý xã hội. Thực ra, nếu họ có ý đồ dùng một trong các thủ đoạn trên thì đã sớm bị loại trong bầu cử tự do. Không thấy nói họ đổi mới tư duy, hay chống diễn biến hòa bình ở đâu cả.
Kerala phát triển được tốt đẹp trước hết là nhờ dân bầu ra được những người lãnh đạo thực sự tài năng từ trong tầng lớp tinh hoa, họ đã tránh được những độc hại của CNML, nhờ đội ngũ doanh nhân tài giỏi, nhờ nhân dân thực sự đoàn kết, hòa hợp chứ chẳng nhờ gì học thuyết cộng sản.
Xét như vậy để thấy nói hoặc viết “Kerala là thiên đường cộng sản” là một sự nhầm lẫn lớn về nhận thức. Thiên đường cộng sản chỉ là ảo tưởng. Cứ đi theo con đường cộng sản với đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, độc tài đảng trị, công hữu kinh tế, hạn chế tự do, bóp nghẹt nhân quyền thì chỉ có dắt dẫn nhau xuống hố tai ương, hướng tới địa ngục chứ mơ gì đến thiên đường!
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

20171101. MẶT TRÁI CỦA VNEN

ĐIỂM BÁO MẠNG
CÁI KIM TRONG 'BỌC' VNEN ĐÃ LÒI RA

ĐẠT NGUYỄN/ GDVN 29-10-2017

Ảnh minh họa: chụp màn hình phóng sự của VTV.
Tình cờ đọc được bài viết “Nghiên cứu tổng thể đầu tiên về VNEN” [1] của tác giả Thu Quỳnh trên Tạp chí Tia sáng ngày 18/10/2017, tôi nghiệm thấy quả đúng như dân gian thường nói:
“Cái kim trong bọc sẽ có ngày lòi ra.”
Những ai quan tâm đến thời sự giáo dục đều thấy rõ:
Nhưng khổ nỗi là mỗi vị có một cách lí giải khác nhau, thậm chí rất mâu thuẫn với nhau. 
Nào là do cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ giáo viên, nóng vội của địa phương,... cho đến do thiếu niềm tin. Nào là phương pháp VNEN không đòi hỏi đặc biệt gì về cơ sở vật chất, v.v…
Và gần đây, mượn “oai” của Ngân hàng Thế giới, họ đã trưng ra một báo cáo nghiên cứu đánh giá tác động VNEN dài 185 trang mang tên:
Báo cáo này phải chăng là kết quả của hợp đồng (mà giá trị thù lao không được tiết lộ) giữa Ban quản lí Dự án VNEN với nhóm nghiên cứu?
Nhưng chắc chắn tiếp theo, sau báo cáo này sẽ có những nghiên cứu về VNEN để tranh thủ khoản tài trợ 5 triệu USD cũng từ Quỹ Dubai Cares, đơn vị tài trợ cho báo cáo nói trên. [2]
Tuy nhiên, báo cáo này hầu như không tạo được chút thay đổi tích cực nào trong niềm tin của nhiều giáo viên và cha mẹ học sinh đối với mô hình VNEN; 
Trái lại, nó còn gây thêm nhiều sự hoài nghi về tích xác thực của các số liệu trong báo cáo.
Bây giờ, phát biểu của Tiến sĩ Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong, trưởng nhóm nghiên cứu, đã gần như bộc lộ rõ bản chất của những bất cập trong việc triển khai mô hình VNEN trong thời gian qua.
Theo Tiến sĩ Phùng Đức Tùng:
Không cần phải có tư duy khoa học hay quản lí gì cao lắm, người có lí trí bình thường cũng có thể đặt câu hỏi: 
Tại sao sau khi đã triển khai vội vàng, ồ ạt với quy mô lớn trong liên tục hơn 4 năm học, các vị cổ suý cho VNEN lại mới thấy cần phải nghiên cứu về các điều kiện cần và đủ để áp dụng mô hình VNEN? 
Việc này, lẽ ra đã phải thực hiện ngay từ lúc thí điểm đầu tiên trên quy mô nhỏ (48 trường tiểu học tại 6 tỉnh ở những vùng miền khác nhau trong năm học 2011-2012) rồi chứ? 
Cách làm ngược như thế này thì thí điểm chẳng khác nào là “làm thí”, “làm đại” để có tiền dự án?
Thú thật, là người trong ngành và tham gia quá trình triển khai VNEN, tôi không hề nghe thấy hay đọc được bất cứ một thông tin hoặc văn bản nào về quá trình và kết quả thí điểm tại 6 tỉnh này. 
Trong các hội nghị triển khai và tập huấn về VNEN, Vụ Giáo dục tiểu học chưa bao giờ có một công bố hay lưu ý nào về giai đoạn thí điểm này. 
Có gì bí mật hay vì chẳng rút ra được điều gì để công bố về giai đoạn thí điểm ngắn ngủi ấy?
Tiết lộ này của Tiến sĩ Phùng Đức Tùng vô hình trung đã cho thấy tính chất phi khoa học của dự án VNEN;
Bởi học sinh vừa là mục tiêu tác động chính yếu, vừa là đối tượng thụ hưởng kết quả (nếu có) của dự án, đã không hề được xem xét, cân nhắc thận trọng trước khi triển khai. 
Không trách chi công luận lâu nay vẫn thường ca thán về việc lấy học sinh làm “chuột bạch” trong các thí điểm của giáo dục.
Đừng quên rằng số lượng học sinh dân tộc trong dự án VNEN chiếm tỉ lệ khá lớn, vì trong 53 tỉnh, thành được chọn vào dự án có đến 20 tỉnh thuộc vùng núi, vùng khó khăn đặc biệt (nhóm ưu tiên 1). 
Viết đến đây, tôi muốn bày tỏ lòng cảm kích trước sự dũng cảm và tinh thần trách nhiệm cao đối với con em mình của chính quyền và ngành giáo dục tỉnh Hà Giang.
Tình miền núi này đã dũng cảm dứt khoát chấm dứt việc thực hiện mô hình VNEN ngay sau khi dự án vừa kết thúc. 
Chắc hẳn đó là vì tỉnh Hà Giang đã nhận thức rõ những gì thật sự cần thiết cho sự đổi mới giáo dục tại địa phương mình, chứ không phải từ những khẩu hiệu đao to búa lớn hay hình thức vẽ vời kiểu VNEN. 
Về phương pháp, tôi tin rằng tất cả những ai đã học tập, nghiên cứu và thực sự áp dụng phương pháp/hình thức tổ chức học tập, hoạt động nhóm, đều hoàn toàn có thể sử dụng phương pháp này cho học sinh ngay từ lớp 1. 
Đây là một phương pháp đã và đang được giảng dạy từ khá lâu trong các trường sư phạm hiện nay.
Học theo nhóm không có nghĩa chỉ là hoàn toàn dùng ngôn ngữ để thảo luận, phát biểu; 
Học sinh lớp 1 – kể cả học sinh dân tộc ít người, vẫn có thể làm việc theo nhóm một cách đầy phấn khích để cùng nhau phát hiện âm, vần, tiếng đã/đang học hay tạo ra tiếng/từ mới nếu giáo viên biết tổ chức và chuẩn bị cho các em thẻ âm, vần,… 
Các cán bộ, giáo viên tiểu học tỉnh Bình Thuận, qua thực tiễn và kết quả hoạt động 10 năm của dự án Tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Úc, hoàn toàn có thể xác thực điều này.  
Tuy nhiên, với phương pháp VNEN thì hoàn toàn khác biệt. 
Không có lớp 1 nào trong mô hình này. 
Và có thể, với nhận định nêu trên của Tiến sĩ Tùng, không chừng VNEN sẽ tiếp tục loại bỏ các lớp có học sinh dân tộc thiểu số ra khỏi mô hình?! 
Đây cũng là một minh chứng cho sự bất cập về phương pháp và tính thiếu hệ thống của mô hình VNEN. 
Mời quý bạn đọc quan tâm đón đọc phần 2: Cháy nhà ra mặt “phương pháp VNEN”
Tài liệu tham khảo:
Đạt Nguyễn
CHÁY NHÀ RA MẶT 'PHƯƠNG PHÁP VNEN'
ĐẠT NGUYỄN/ GDVN 31-10-2017
Học sinh một lớp VNEN đang chăm chú làm bài, ảnh minh họa: globalpartnership.org.
Xin có đôi điều nêu rõ về góc độ phương pháp của VNEN như sau. 
Với chiếc áo khoác hiện đại có tên là “phương pháp học tập tích cực và hợp tác”, các vị cổ suý mô hình VNEN (hay phương pháp VNEN) đã mộng tưởng:
Đây sẽ là “phương thuốc bách bệnh” cho giáo dục phổ thông Việt Nam ở mọi cấp học, mọi địa phương và tất cả đối tượng học sinh. 
Sự thật là: 
(i) “Phương pháp học tập tích cực và hợp tác” nêu trong báo cáo đánh giá tác động VNEN được dịch từ “Participating and collaborating learning”. 
Đây là phương pháp tổ chức việc học theo hướng người học và cha mẹ học sinh (hay những thành phần liên quan khác; ví dụ, người sử dụng lao động) có thể tham gia (participate) vào quá trình xây dựng nội dung, mục tiêu của chương trình đào tạo/giáo dục;
Và trong quá trình thực hiện, có sự hợp tác (collaborate) giữa các thành phần tham gia, trong đó hợp tác giữa người học và người dạy, và người học với người học được đề cao. 
Phương pháp tiếp cận này thường được áp dụng đối với các chương trình đào tạo nghề ở các nước tiên tiến;
(ii) Trong các tài liệu tập huấn chính thức của mô hình VNEN không sử dụng thuật ngữ này, mà chỉ có tên gọi “phương pháp học tập hợp tác”.
Tên gọi này thường được diễn giải như một hình thức/phương pháp tổ chức học tập/hoạt động nhóm theo kiểu VNEN - trong đó, sự thành bại chủ yếu được đặt trên khả năng của học sinh làm nhóm trưởng; 
(iii) Do đó, cách dịch “phương pháp học tập tích cực và hợp tác” không làm rõ ý nghĩa nội hàm của thuật ngữ gốc, ngoài việc cố ý nhấn mạnh yếu tố tích cực của phương pháp chủ đạo trong mô hình VNEN.
(iv) Mô hình Trường học mới (EN) tại Colombia được nhìn nhận là một thành công và tác giả của nó, bà Vicky, được tôn vinh là hoàn toàn xứng đáng. 
Vì trải qua thời gian gần 3 thập kỉ (từ năm 1970), bà Vicky và cộng sự đã tiến hành nghiêm túc và thận trọng một công trình thực nghiệm sư phạm.
Nhưng thành công của EN tại Colombia hoàn toàn không thể là một bảo đảm cho sự tốt đẹp của VNEN. 
Với cung cách tiếp nhận vội vàng và triển khai rầm rộ trên quy mô lớn mà chưa hề có sự nghiên cứu cẩn trọng về các điều kiện “cần và đủ” như VNEN đã làm, thì có khác gì với việc mượn toa thuốc của thiên hạ đem về trị bệnh cho con cái nhà mình. 
Chẳng phải đây là việc làm mà các chuyên gia ngành y tế luôn phản đối và lên án đấy sao?
Điều thứ hai, theo Tiến sĩ Phùng Đức Tùng, cần có nghiên cứu chỉ ra rằng, giáo viên cần đáp ứng những kỹ năng mềm nào để có thể dạy theo mô hình VNEN. 
Để đưa mô hình VNEN vào thực hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tập huấn giáo viên theo hai cấp (tập huấn cho cán bộ các sở, rồi các cán bộ này về tập huấn cho các giáo viên) có thể dẫn đến các sai sót nhất định. 
Do vậy, cần có đánh giá lại về quá trình tập huấn và khả năng đáp ứng của giáo viên trong các trường thuộc Dự án.
Đọc lại Báo cáo đánh giá tác động VNEN về nội dung Tập huấn (trang 76, 77 và 78), tôi thấy một cách nhìn rất khác với nhận định nêu trên. 
Xin trích đoạn một phần để dẫn chứng:
“Việc tập huấn giáo viên để họ có thể giảng dạy bằng phương pháp sư phạm VNEN là một yếu tố đầu vào quan trọng của VNEN. 
(…) Tất cả các giáo viên tiểu học ở Việt Nam tham gia hai tuần tập huấn vào mùa hè, đây là đợt tập huấn ban đầu về VNEN đối với hầu hết giáo viên. 
Một hạn chế của mô hình “đào tạo các tập huấn viên” thông thường là không đảm bảo được tính chính xác ban đầu, để khắc phục điều này, giáo viên đã tham gia vào tất cả các cấp tập huấn. 
Thử nghiệm VNEN quy mô nhỏ trước đây tại 6 tỉnh đã giúp một số giáo viên có kinh nghiệm với phương pháp EN. 
Những giáo viên có kĩ năng và nhiệt huyết nhất đã tham gia vào đội ngũ tập huấn viên.
Đợt tập huấn được tổ chức chồng lên nhau sao cho có thể tập huấn được hàng chục ngàn giáo viên trong vòng một vài tuần mùa hè.
Ba khía cạnh của viêc tập huấn có vai trò quan trọng liên quan tới tác động của chương trình, bao gồm: 
(i) Tập huấn theo quan điểm cho rằng để có một chương trình tâp huấn hiệu quả thì bản thân thời gian diễn ra sự kiện tập huấn chỉ chiếm một phần nhỏ. 
Theo đó, giáo viên đã nhận được tất cả các tài liệu tập huấn ít nhất 2 tuần trước khi khoá tập huấn bắt đầu và tham dự khoá tập huấn khi đa được chuẩn bị; 
(ii) Sự kiện tập huấn bao gồm việc thực hiện thực tế ở các lớp học VNEN chứ không phải lắng nghe các bài giảng về VNEN – và học viên đã thảo luận một cách tích cực về hành vi họ dự định sẽ tái tạo trên lớp học; 
(iii) Tập trung vào giáo viên với tư cách là các tập huấn viên, có nghĩa là một số giáo viên có nhiều cơ hội để tham gia tập huấn trong năm học.(…)
Là một phần thuộc triết lí đào tạo của VNEN, ngoài 2 tuần tập huấn chuẩn bị vào đầu năm học, chương trình cũng cung cấp hoạt động phát triển chuyên môn được duy trì liên tục trong suốt năm học.”
Cứ theo nội dung báo cáo này thì mọi việc đã được tiên liệu, phòng ngừa trước và công việc tập huấn đã diễn ra với triết lí mới, theo phương thức mới và đã rất thành công;
Vì báo cáo nói giáo viên “đã thảo luận một cách tích cực về những hành vi họ dự định sẽ tái tạo trên lớp học”. 
Hơn nữa, giáo viên không chỉ tham gia tập huấn trong hè mà còn dự các kì sinh hoạt chuyên môn theo cấp cụm trường trong suốt năm học để phát triển chuyên môn. 
Vậy, so với nhận định trên, có phải đánh giá kết quả tập huấn như thế để cho xứng đáng với phần kinh phí khá lớn mà dự án VNEN đã tiêu tốn cho công tác tập huấn?
Về các kĩ năng mềm cần thiết đối với giáo viên, trong tất cả các tài liệu tập huấn giáo viên về VNEN, không hề có câu nào nhắc đến yêu cầu này.
Tài liệu tập huấn VNEN chỉ nhấn mạnh đến việc hình thành cho học sinh – nhất là các nhóm trưởng, các kĩ năng của thế kỉ 21 như lãnh đạo, điều hành, ra quyết định,…
Vậy, nếu giáo viên không có những kĩ năng này thì việc huấn luyện cho học sinh trong mô hình VNEN mấy năm nay chỉ là việc nói cho vui thôi sao?
Và trong thực tế, theo một nhận xét vui của biên tập viên đài VTV trong chương trình Vấn đề hôm nay với chủ đề “VNEN hay không?” thì một số học sinh (có chức sắc) trong lớp VNEN dường như có thể thể hiện một số bản lĩnh như các MC (người dẫn chương trình). 
Vậy không lẽ chúng ta thực sự mong muốn mọi học sinh đều có những kĩ năng của người dẫn chương trình? Hay là những kĩ năng của người dân chương trình đã là đủ cho các kĩ năng thế kỉ 21?
Cũng theo Tiến sĩ Phùng Đức Tùng, điều thứ ba là:
Tôi tán thành nhận định này ở chỗ cần nghiên cứu đánh giá lại vì sách giáo khoa (?!) của chương trình VNEN đã được xây dựng rất vội vàng. 
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, tại sao chưa rà soát và lấy ý kiến sửa đổi từ các giáo viên đang dạy mô hình này mà các lần tái bản sách đều ghi là có sửa chữa, điều chỉnh? 
Nhưng cá nhân tôi không tán thành ý tưởng tiếp tục duy trì một bộ sách 3 trong 1 theo kiểu VNEN. 
Một lần nữa, xin nêu lại nhận xét của mình đã trình bày về Tài liệu hướng dẫn học tập của VNEN (trong bài viết “Vì sao giáo viên không chấp nhận VNEN, tiếng nói người trong cuộc”). 
Chính tài liệu này là nguyên nhân của sự “cứng nhắc rập khuôn” vì học sinh cần phải tuần tự theo các hoạt động quy định trong sách để thực hiện các bước tự học theo kiểu VNEN. 
Nếu không, học sinh mua tài liệu này liệu có ích gì cho việc tự học? 
Việc giáo viên thay đổi thứ tự hoặc loại hình hoạt động của các hoạt động học tập quy định trong tài liệu nhất định sẽ gây rối cho cả lớp và cản trở quá trình tự học theo nhịp riêng của học sinh như mong muốn của mô hình VNEN.
Còn nếu như “Giáo viên phải nghĩ ra các trò chơi tình huống nào khiến học sinh nắm được kiến thức cơ bản và vận dụng vào trong các trò chơi đó” theo gợi ý của Tiến sĩ Tùng, thì tốt hơn là giáo viên tự soạn lấy giáo án để tổ chức tiết học một cách “chủ đạo thực sự”. 
Lúc ấy, học sinh sẽ không cần đến Tài liệu hướng dẫn học mà chỉ cần sách giáo khoa hiện hành.
Và chính sự tồn tại các loại tài liệu học tập của VNEN cùng lợi nhuận khủng khiếp của nó đã góp phần lớn vào việc kéo dài mô hình VNEN đầy tai tiếng hiện nay. 
Tôi phân vân, liệu trong một vài năm nữa, khi chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai, và nếu Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện nghiêm túc, minh bạch chủ trương của Quốc hội về việc “một chương trình, nhiều sách giáo khoa”, các loại tài liệu 3 trong 1 kiểu VNEN có nhanh chóng đi vào dĩ vãng?
Cuối cùng, dù sao, cũng rất cảm ơn Tiến sĩ Phùng Đức Tùng đã giúp làm “lòi cây kim trong bọc”.
Đạt Nguyễn