Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2019

20190928. QUANH DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT CÁT LINH- HÀ ĐÔNG

ĐIỂM BÁO MẠNG

NHẬN VƠ... HỮU NGHỊ

XUÂN DƯƠNG/ GDVN 

Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông được nghiên cứu tiền khả thi từ giai đoạn 2002-2003, đến ngày 30/05/2008 chính thức ký hiệp định khung đầu tư xây dựng bằng vốn vay ODA của Chính phủ Trung Quốc.
Ràng buộc của phía cho vay (Trung Quốc) là hợp đồng phải theo hình thức EPC và nhà thầu phải là doanh nghiệp Trung Quốc.
Hợp đồng tổng thầu EPC (Engineering Procurement and Construction), là hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, là một loại hợp đồng xây dựng mà nhà thầu thực hiện toàn bộ công việc từ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình và chạy thử trước khi bàn giao cho chủ đầu tư.
Hình thức này giúp chủ đầu tư nhẹ gánh nếu nhà thầu là đơn vị có uy tín và kinh nghiệm, ngược lại nếu nhà thầu làm ăn kiểu chụp giật và chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm giám sát (hoặc có sự bắt tay ngầm) thì sự cố là điều khó tránh.
Câu chuyện đội vốn, chậm tiến độ, kỹ thuật lạc hậu,… trong dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông đã được phản ánh qua quá nhiều văn bản và bài báo nên không cần nói gì thêm.  
Tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông. (Ảnh: Laodong.vn)
Báo An ninh Thủ đô ngày 13/05/2018 đăng ý kiến của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Văn Thể về dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông như sau:
“Dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh - Hà Đông là biểu tượng mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Khó khăn nhất của dự án trong giai đoạn vừa qua là nguồn vốn bổ sung 250,6 triệu USD đã được hai nước giải ngân, vì vậy không thể để các khó khăn, vướng mắc khác làm cản trở tiến độ dự án”. [1]
Có vài suy nghĩ nho nhỏ về phát biểu của Bộ trưởng Thể.
Thứ nhất, “biểu tượng mối quan hệ hữu nghị” giữa hai đối tác hoặc quốc gia phải là cách suy nghĩ đồng điệu của cả hai phía, nếu chỉ ông Thể cho là “hữu nghị” còn đối tác không nghĩ như vậy thì phải chăng Bộ trưởng Thể nói nhầm hay đang … nhận vơ?
Muốn biết ông Thể có “nhận vơ” hay không thì phải xem phía đối tác Trung Quốc có nghĩ như ông Thể hay không, họ có thật sự mong muốn 13,5 km đường sắt này trở thành “biểu tượng hữu nghị” hay chỉ là một vụ làm ăn mà họ tìm mọi cách hưởng 
Nhiều người đồng ý rằng: Một công trình, được xem là “biểu tượng của tình hữu nghị” giữa hai quốc gia, hai dân tộc khi và chỉ khi nó gây được thiện cảm với người dân nơi đặt công trình. 
Sự thiện cảm ấy chỉ có thể tạo dựng bởi vẻ đẹp kiến trúc của công trình, sự an toàn trong kết cấu, tính hiệu quả trong sử dụng, sự tiết kiệm trong xây dựng,…
Cố biến công trình thành “biểu tượng mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc” trong khi cả xã hội lắc đầu ngao ngán, ông Thể có lẽ chưa lường trước sự phản tác dụng trong phát biểu của mình.
Rồi đây, người Hà Nội, người Việt Nam mỗi khi nhìn con đường sắt trên cao này sẽ nhớ đến cái gì?
Hãy cùng tìm hiểu bức tranh toàn cảnh của một dự án mang tầm “biểu tượng mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc” theo lời người đứng đầu ngành Giao thông Việt Nam là như thế nào?
Trước hết là đánh giá của phía Việt Nam qua kết luận của Kiểm toán Nhà nước:
“Dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông phải chỉ định thầu cho nhà thầu Trung Quốc là 13.751 tỷ đồng, chiếm 77% tổng mức đầu tư; Tư vấn giám sát do bên tài trợ vốn chỉ định mà phía Việt Nam không thể thay thế;…”. [2]
Đánh giá của giới chuyên môn và truyền thông trong và ngoài nước thì “phong phú” hơn nhiều so với Kiểm toán Nhà nước:
“Đường sắt Cát Linh - Hà Đông chậm do Tổng thầu Trung Quốc không làm theo chỉ đạo”. [3]
“Đường sắt Cát Linh - Hà Đông, vay vốn Trung Quốc, bị nhiều phụ thuộc”. [4]
“Tổng thầu EPC (Công ty hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc) - chưa bao giờ thi công đường sắt”. [5]
Theo tính toán, suất đầu tư cho một km đường sắt đô thị Việt Nam vào khoảng 100 triệu USD trong khi tại Thượng Hải - Trung Quốc, giá một km đường tàu điện ngầm (chạy ngầm 100%) dành cho vận tải lớn chỉ là 91 triệu USD. [6]
Thay vì đường sắt trên cao gây tiếng ồn dọc toàn tuyến, thay vì “đường cong mềm mại” rất khó chấp nhận, thay vì phải dành một diện tích đất khá lớn cho công trình, làm đường tàu điện ngầm rẻ hơn, ưu việt hơn tại sao lại không làm?  
Vậy là cả dư luận trong nước lẫn quốc tế đều coi quyết định thực hiện dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông là một sai lầm về chủ trương đầu tư, là thất bại trong đàm phán hợp đồng thương mại với đối tác Trung Quốc. 
Có thể thấy phía đối tác Trung Quốc chỉ xem đây là một thượng vụ làm ăn, bỏ tiền cho Việt Nam vay, họ yêu cầu phải để doanh nghiệp của họ thực hiện trọn gói toàn bộ dự án dù đơn vị thi công phía Trung Quốc không có kinh nghiệm làm đường sắt trên cao, thậm chí cả tư vấn giám sát cũng là của Trung Quốc.
Khi người Trung Quốc vừa đá bóng vừa thổi còi thì Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam chỉ còn vai trò là “quan sát viên danh dự”! 
Và người dân, những khán giả bất đắc dĩ đã phải bỏ rất nhiều tiền mua vé nhưng chưa biết đến bao giờ sẽ được thưởng thức thứ mà mình đã bỏ tiền mua.
Một khi phía đối tác không xem hợp đồng này là một biểu hiện của “tình hữu nghị” thì sự “nhận vơ” của ông Bộ trưởng Giao thông là khỏi phải bàn luận.
Được biết gần đây Bộ Giao thông Vận tải đã thuê tư vấn độc lập của Pháp để tiến hành đánh giá an toàn từ khâu thiết kế, thi công, lắp đặt thiết bị và vận hành toàn bộ hệ thống. 
Thế tư vấn giám sát Trung Quốc làm những công việc gì trong hợp đồng tổng thầu EPC mà Việt Nam lại phải mất thêm tiền cho hoạt động này?
Suy nghĩ thứ hai về phát biểu của Bộ trưởng Thể “Không thể để các khó khăn, vướng mắc khác làm cản trở tiến độ dự án” liệu có phải là cư dân Hà Nội, các cơ quan chức năng nên bỏ qua các “vướng mắc khác” để đứa con yêu quý của ngành giao thông sau hơn chục năm bú mớm có thể bắt đầu tập bò?
Theo thiết kế cứ 2 phút có một đoàn tàu chạy, và đây là đường ray với bánh tàu bằng thép, không khác mấy so với các đoàn tàu hỏa thông trường, vậy người dân thủ đô sống trong các nhà cao tầng mà đường ray chạy ngang cửa sổ có nên “bỏ qua vướng mắc”, tự gia cố nhà cửa để khỏi giật mình thức giấc trong đêm?
Còn những người khắt khe về thẩm mĩ cũng nên bỏ qua sự cong mềm mại của tuyến đường, chấp nhận đoàn tàu màu xanh lét ì ầm diễu hành với tốc độ 35km/giờ (nếu nó được phép chạy)?
Suy nghĩ thứ ba liên quan đến phát biểu của Bộ trưởng Thể là không biết còn bao nhiêu người cùng quan điểm, rằng các dự án liên quan đến đối tác Trung Quốc đều là “biểu tượng mối quan hệ hữu nghị” giữa hai bên?
Về điều này, chỉ cần tìm hiểu các dự án của Bộ Công thương chắc chắn sẽ có câu trả lời, xin điểm một số bài báo:
Báo Tienphong.vn trong bài “Hợp đồng EPC từ Trung Quốc: Hàng loạt bất ổn làm méo mó dự án” có đoạn:
“Trung Quốc cho Việt Nam vay vốn lãi suất 3%/năm và cho Thái Lan vay với lãi suất 2,5%. Dù lãi suất thấp, Thái Lan vẫn kiên quyết lắc đầu.
Trung Quốc có chiến lược đặc thù, tận dụng kiểu làm việc của một số đối tác Việt Nam là “thích đi đêm”; “đặt cược trước được bao nhiêu phần trăm của hợp đồng” nên đa số dự án Trung Quốc thắng thầu”. [7]
“Tranh chấp với đối tác Trung Quốc, 4 dự án nghìn tỷ thua lỗ phải nhờ Trọng tài quốc tế” là bài viết trên Tạp chí điện tử Diễn Đàn Đầu Tư thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư Nước ngoài. [8]
Bài báo cho hay trong số 12 dự án nghìn tỷ thua lỗ đã có tới 8 dự án, doanh nghiệp có vướng mắc, tranh chấp hợp đồng EPC (với đối tác Trung Quốc – NV) tức là cùng loại với hợp đồng xây dựng tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông.
Ý kiến trên Tienphong.vn: “Kiểu làm việc của một số đối tác Việt Nam là “thích đi đêm”; đặt cược trước được bao nhiêu phần trăm của hợp đồng” liệu có loại trừ dự án Cát Linh – Hà Đông? 
Nếu không thì ngoài Kiểm toán Nhà nước, Quốc hội, Ủy ban Kiểm tra trung ương, Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ,… có nên vào cuộc, tìm xem ai phải chịu trách nhiệm?
Trên mạng xã hội đang có một số ý kiến lo ngại về an toàn của cả tuyến đường và trang thiết bị kèm theo, thậm chí có ý kiến bi quan, rằng nên bỏ tuyến đường sắt này và giữ lại một vài đoạn như là kỷ niệm buồn về một thời “hữu nghị”.
Cách nghĩ như thế có thể là hơi quá song người viết xin đưa ra một gợi ý, để tránh tiếng ồn cho cư dân các nhà cao tầng ven tuyến, để dự phòng chất lượng thiết bị và toa tàu không đảm bảo (nếu tư vấn Pháp kết luận như vậy), nên bóc toàn bộ đường sắt và biến tuyến đường này thành “đường bộ trên cao”, có thể là tuyến dành riêng cho xe bus nội đô.  
Điều quan trọng là khi toàn thế giới chao đảo vì cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc thì Việt Nam có nên chấm dứt ngay “Tư duy hữu nghị” trong đàm phán các hợp đồng kinh tế, thương mại với bất kỳ đối tác nào chứ không chỉ Trung Quốc.
Tài liệu tham khảo:
[1] //anninhthudo.vn/oto-xe-may/bo-truong-bo-giao-thong-duong-sat-cat-linhha-dong-co-on-nhung-khong-lon-nhu-duong-sat-quoc-gia/767553.antd
[2] //thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thoi-su/2019-07-06/du-an-duong-sat-cat-linh-ha-dong-thiet-ke-tung-phan-co-nguy-co-rui-ro-chat-luong-73604.aspx
[3] //vneconomy.vn/duong-sat-cat-linh-ha-dong-cham-do-tong-thau-trung-quoc-khong-lam-theo-chi-dao-2019081211365997.htm
[4] //vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/duong-sat-cat-linh-ha-dong-vay-von-trung-quoc-bi-nhieu-phu-thuoc-570052.html
[5] //vn.sputniknews.com/vietnam/201908267962808-hua-va-that-hua-bo-gtvt-bat-luc-voi-nha-thau-trung-quoc-du-an-cat-linh-ha-dong/
[6] //vnexpress.net/kinh-doanh/mot-km-duong-sat-do-thi-co-gia-hon-100-trieu-usd-3111487.html
[7] //www.tienphong.vn/kinh-te/hop-dong-epc-tu-trung-quoc-hang-loat-bat-on-lam-meo-mo-du-an-1446767.tpo
[8]//bizlive.vn/doanh-nghiep/truoc-khi-dhg-xin-noi-room-taisho-pharmaceutical-da-gom-them-650-nghin-co-phieu-3453699.html
Xuân Dương
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

TƯ VẤN PHÁP CHỈ RÕ: 'ĐƯỜNG SẮT CÁT LINH-HÀ ĐÔNG THIẾU '3 KHÔNG' '

ĐINH TỊNH/ BVN 28-9-2019
(VNF) – “Dự án không bổ sung đủ hồ sơ quản lý chất lượng, không đủ cơ sở xác định mức độ an toàn của toàn hệ thống và không đủ điều kiện để cấp chứng nhận an toàn hệ thống theo quy định”, Công ty Tư vấn ACT của Pháp chỉ rõ.
Tư vấn Pháp chỉ rõ: ‘Đường sắt Cát Linh – Hà Đông thiếu 3 ‘không’’
Nên nhớ, phía Tư vấn ACT của Pháp được mời với tư cách là tư vấn độc lập đánh giá an toàn hệ thống đường sắt Cát Linh – Hà Đông một cách khách quan nhất.
Ngoài ra, phía Bộ GTVT cũng thừa nhận, dự án chưa hoàn thành công tác chỉnh trang, hoàn thiện mỹ quan, khắc phục tồn tại kiến trúc các nhà ga, hoàn chỉnh hồ sơ hoàn công, thủ tục nghiệm thu…
Về các thiết bị đã lắp đặt, Tổng thầu Trung Quốc chưa cung cấp được đầy đủ các chứng chỉ, hồ sơ… để hoàn tất đánh giá an toàn hệ thống; chưa hoàn thành đề cương vận hành chạy thử toàn hệ thống để cho tất cả các đoàn tàu chạy tử (thông tin tín hiệu, hệ thống bán vé…) để đồng bộ hóa làm cơ sở kiểm chứng hoạt động của thiết bị và đánh giá độ sẵn sàng của hệ thống, nhân sự vận hành.
“Dù đã làm việc với cơ quan chức năng Trung Quốc về các nguyên nhân, tồn tại, khó khăn, vướng mắc song đến nay dẫn đến chưa vận hành, khai thác thương mại. Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông Vận tải chủ động xử lý dứt điểm theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết,” ông Nguyễn Trí Đức, Chánh văn phòng Bộ GTVT cho biết.
Về mốc thời gian bao giờ dự án này hoàn thành? Phía Bộ GTVT cũng chỉ trả lời: “Bộ GTVT đang yêu cầu Tổng thầu khẩn trương lập kế hoạch chi tiết cụ thể đối với từng hạng mục còn lại để xác định thời gian hoàn thành dự án sớm nhất. Sau khi chốt được mốc hoàn thành, Bộ sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền”.
Như vậy, rõ ràng thời gian của tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông đang phụ thuộc hoàn toàn vào phía nhà thầu Trung Quốc.
Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông thừa nhận, dù chỉ còn 1%, nhưng tồn tại lớn nhất là việc tập hợp hệ thống, hồ sơ đi kèm theo.
“Về cơ bản xây dựng đã được nghiệm thu nhưng phần lắp đặt thiết bị hồ sơ đi kèm chậm. Hiện, Bộ thuê tư vấn độc lập ACT của Pháp đánh giá 6/14 quy định, những điều kiện phải xem xét chứng chỉ, hồ sơ đảm bảo an toàn mới đưa vào khai thác thương mại và yêu cầu Tổng thầu Trung Quốc phải cung cấp thêm để hoàn tất. Những phần không khả thi, Bộ yêu cầu Tổng thầu phải làm lại và việc tập hợp của Tổng thầu cũng chậm,” ông Đông nói.
Dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh-Hà Đông được Bộ GTVT phê duyệt đầu tư vào tháng 10/2008 với tổng mức đầu tư hơn 8.700 tỷ đồng tương đương 552 triệu USD.
Hiện tại, dự án đã đội vốn lên thành 18.001,59 tỷ đồng (tương đương 868,04 triệu USD). Nguồn vốn sử dụng từ vốn vay ưu đãi của Chính phủ Trung Quốc với giá trị 669,62 triệu USD và vốn đối ứng Việt Nam là 198,42 triệu USD.
Dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng trọn gói (EPC), trong đó Tổng thầu là Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc.
Đ.T.

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2019

20190927. BÀN VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

ĐIỂM BÁO MẠNG

XÂY DỰNG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

CAO VIẾT SINH / TVN 23-9-2019

Tại Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam lần thứ hai tổ chức tại Hà Nội cuối tuần trước, Nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Cao Viết Sinh đã có bài viết về xây dựng thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tuần Việt Nam xin trích đăng.
Những kết quả cụ thể
(1) Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện, có nhiều đặc điểm theo hướng hiện đại, đồng bộ và hội nhập. Ban hành Hiến pháp năm 2013 và tập trung sửa đổi, hoàn thiện các luật, pháp lệnh và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, nhất là trong các lĩnh vực đầu tư kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, bảo vệ môi trường, chuyển giao công nghệ cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, bảo vệ người tiêu dùng, đấu giá tài sản, giải quyết tranh chấp, phá sản, xử lý vi phạm...  
(2) Các yếu tố thị trường và các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ từng bước hình thành đồng bộ, vận hành cơ bản thông suốt và bước đầu có sự gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế, góp phần quan trọng trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán phát triển mạnh, trở thành một kênh huy động vốn cho nền kinh tế. Thị trường bất động sản phát triển khá đa dạng về loại hình, chất lượng sản phẩm; quy mô tăng nhanh. 
(3) Thể chế môi trường đầu tư kinh doanh đã được hoàn thiện và bước đầu tiệm cận với thông lệ quốc tế tốt. Môi trường đầu tư kinh doanh chuyển biến rõ nét; quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh, tiếp cận cơ hội kinh doanh được cải thiện; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện giảm từ 267 ngành năm 2014 xuống còn 243 ngành năm 2016 Vị trí xếp hạng môi trường kinh doanh toàn cầu của Việt Nam tăng cao. Báo cáo Môi trường Kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam từ vị trí 88/183 năm 2010 tăng lên vị trí 69/190 nước.
(4) Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Thể chế nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đã được hoàn thiện với quy định về vai trò của nhà nước được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường; đổi mới phương thức quản lý; cải cách hành chính; phòng chống tham nhũng, lãng phí; giảm đáng kể chi phí cho doanh nghiệp. Việc tổ chức thi hành pháp luật từng bước được tăng cường, nhất là trong những năm gần đây. Các bộ, ngành, địa phương bước đầu đã tạo sự chuyển biến trong công tác cải cách hành chính. 

Xây dựng thể chế kinh tế thị trường Việt Nam
Đảm bảo nhất quán giữa luật pháp và thực thi luật pháp, nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân nhằm giảm rủi ro. Ảnh: Lê Anh Dũng
So với thông lệ quốc tế, vẫn còn một số vấn đề đặt ra:
(1) Thể chế kinh tế thị trường vẫn chưa đồng bộ, đầy đủ để bảo đảm thị trường vận hành thông suốt, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thúc đẩy nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập. Một số quy định trong hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và quản lý, điều hành còn chồng chéo, thiếu chặt chẽ, nhanh bị thay đổi, và nhiều trường hợp có những cách hiểu khác nhau, dẫn đến tình trạng  khó thực hiện. Hệ thống văn bản luật chủ yếu vẫn mang tính chất định khung, khó áp dụng trực tiếp. Có khoảng cách lớn giữa tuyên bố chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng với việc thể chế hóa và thực thi trên thực tế (Đến nay mới có 71 nước công nhận Việt Nam có kinh tế thị trường, còn một số đối tác thương mại lớn chưa công nhận).
(2) Vấn đề về sở hữu và quyền sở hữu tài sản, bảo đảm quyền tự do kinh doanh còn hạn chế; hiệu quả giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm chưa cao như: Vấn đề sở hữu và quyền sở hữu tài sản chưa được bảo đảm thực thi nghiêm minh, đặc biệt vấn đề đất nông nghiệp/ quyền sử dụng đất nông nghiệp, sở hữu trí tuệ... Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ khi việc cắt giảm điều kiện kinh doanh chưa thực chất, chưa minh bạch. Môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, công bằng, minh bạch; cạnh tranh bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, thành phần kinh tế vẫn diễn ra.
Theo đánh giá của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam về Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2018 (PCI 2018): 45% doanh nghiệp cho rằng doanh nghiệp FDI được ưu tiên giải quyết khó khăn hơn doanh nghiệp trong nước; 37% doanh nghiệp cho rằng chính quyền ưu tiên thu hút FDI hơn phát triển tư nhân trong nước; FDI được hưởng ưu đãi về thuế lớn. Hiện tượng “lợi ích nhóm”, “doanh nghiệp sân sau”, “doanh nghiệp thân hữu”: 70% doanh nghiệp cho rằng “nguồn lực kinh doanh (hợp đồng, đất đai, v.v.) chủ yếu rơi vào doanh nghiệp thân quen, có quan hệ với cán bộ công quyền”; Việc tiếp cận thông tin thiếu công bằng giữa các doanh nghiệp, để có thông tin hay tài liệu của tỉnh, 69% doanh nghiệp cho rằng cần phải có “mối quan hệ”.
(3) Thị trường chưa là cơ sở, căn cứ để huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển. Một số thị trường chậm phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc, kém hiệu quả, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, thị trường khoa học công nghệ. Thị trường đất đai nông nghiệp, quyền sử dụng đất nông nghiệp tồn tại nhiều bất cập, như quy mô đất nông nghiệp của các hộ nông nghiệp ít thay đổi, nhỏ lẻ, manh mún, gây rất nhiều khó khăn cho việc tích tụ và tập trung ruộng đất để phát triển lớn. 
Thị trường bất động sản phát triển chưa bền vững, một số phân đoạn thị trường còn phát triển méo mó, các nguyên tắc thị trường chưa được vận dụng hiệu quả, thị trường bất động sản ở một số đô thị lớn, như thị trường nhà ở, nhà chung cư tăng trưởng nóng, thiếu kiểm soát. 
Thị trường khoa học - công nghệ quy mô còn nhỏ, kết nối cung - cầu còn nhiều hạn chế. Các nghiên cứu khoa học và công nghệ có tính ứng dụng thấp, ít gắn kết với thực tiễn, chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Năng lực nghiên cứu của các viện, trung tâm nghiên cứu thấp. Các doanh nghiệp ít có nhu cầu mua bán, chuyển giao công nghệ ở trong nước.
Giá cả một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, và các yếu tố sản xuất chưa phản ánh đúng quan hệ cung – cầu thị trường, dẫn đến việc phân bổ nguồn lực nhà nước chưa thực sự theo thị trường, sử dụng kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí. 
(4) Còn khoảng cách khá lớn về quản trị nhà nước tốt; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế; tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình còn thấp. Công tác cải cách hành chính trong một số lĩnh vực vẫn chưa thực chất; hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính và phân cấp, phân quyền cải thiện còn chậm; còn tình trạng đùn đẩy công việc, trách nhiệm… Thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trên một số lĩnh vực còn chồng chéo, rườm rà, phức tạp.
Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương thiếu chặt chẽ, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý tập trung thống nhất của Trung ương và tính năng động, chịu trách nhiệm của địa phương. Thiết chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp trong kinh doanh yếu, tăng rủi ro cho doanh nghiệp. Thực thi pháp luật chưa nghiêm, chi phí tuân thủ pháp luật còn cao. Các biện pháp ngăn ngừa tham nhũng chưa đạt yêu cầu đề ra; tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng.
Báo cáo phòng chống tham nhũng 2018: tình trạng “tham nhũng vặt”, nhũng nhiễu, tiêu cực còn xảy ra phổ biến; còn xảy ra sai phạm, tham nhũng ngay trong cơ quan bảo vệ pháp luật. Báo cáo PAPI: tình trạng phải đưa “lót tay”, “chung chia”, “bồi dưỡng” vẫn còn. Báo cáo PCI: 54,8% doanh nghiệp phải chi chi phí không chính thức, 58,2% doanh nghiệp cho biết có sự nhũng nhiễu của cán bộ nhà nước; 48,4% doanh nghiệp cho rằng chi “hoa hồng” là cần thiết để thắng thầu.
Một số định hướng hoàn thiện
Trước hết, phải hoàn tất quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập theo thông lệ quốc tế. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các khung khổ thể chế, pháp luật theo hướng ổn định, cụ thể, minh bạch và thực thi nghiêm túc để phát triển đầy đủ và đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất, bảo đảm đầy đủ quyền tự do, an toàn trong hoạt động kinh doanh; huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo nguyên tắc thị trường. Xây dựng và hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các loại hình kinh doanh mới, kinh tế số, cung cấp dịch vụ công, quản lý và bảo vệ môi trường theo nguyên tắc thị trường. 
Hai là, làm cho thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất hoạt động đầy đủ, không méo mó, không sai lệch và trở thành yếu tố quyết định trong huy động và phân bổ nguồn lực xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, cần ưu tiên hoàn thiện thị trường quyền sử dụng đất và thị trường khoa học công nghệ để thúc đẩy huy động nguồn lực và đổi mới sang tạo. Việc tạo khuôn khổ pháp lí thích ứng với các nguyên tắc thị trường là yếu tố quan trọng nhất để hình thành và phát triển mạnh thị trường đất, quyền sử dụng đất một cách thực sự thúc đẩy tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp hàng hóa qui mô lớn, phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn gắn với giải quyết việc làm và tăng thu nhập.
Đổi mới và thực hiện chế độ quản lý mục đích sử dụng đất nông nghiệp một cách linh hoạt hơn; bãi bỏ các giới hạn, khống chế về đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp; nâng đến mức đáng kể hoặc xóa bỏ hạn điền sử dụng, tăng thời hạn giao đất, cho thuê đất nông nghiệp.  Công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước. Bảo đảm minh bạch thông tin về thị trường đất, quyền sử dụng đất, xác định giá trị quyền sử dụng đất theo cơ chế thị trường thông qua đấu giá, đấu thầu, thỏa thuận mua bán theo thị trường, thúc đẩy phát triển thị trường bất động sản một cách lành mạnh.
Phát triển mạnh thị trường khoa học, công nghệ gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ. Kết nối có hiệu quả các sàn giao dịch công nghệ quốc gia với các trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ ở các địa phương. Khuyến khích nhập khẩu, chuyển giao công nghệ tiên tiến của thế giới. Tập trung nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Tạo áp lực cạnh tranh trong môi trường kinh doanh để thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng công nghệ, tăng năng suất lao động. Tăng cường công tác bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Ba là, Nhà nước tiếp tục chủ động giảm bớt và thay đổi vai trò và chức năng của mình, qua đó, làm thay đổi vai trò, chức năng của thị trường và quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. Nhà nước thực hiện tốt chức năng xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách, phân bổ nguồn lực phát triển (vốn, đất đai, khoáng sản, tài nguyên…) theo cơ chế thị trường. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh, thực thi hợp đồng của người dân, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. 
Nhà nước coi trọng vai trò của thị trường, xây dựng thể chế phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân tự do kinh doanh và phát triển. Đồng thời, nhà nước chủ động kiểm soát, tác động vào thị trường để phát huy mặt tích cực và hạn chế tác động của những yếu tố không hoàn thiện, tiêu cực của thị trường.
Cải cách quyết liệt, hiệu quả thủ tục hành chính, bãi bỏ các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch. Xây dựng nhanh nền hành chính kiến tạo phát triển dựa trên chế độ chức nghiệp thực tài, phục vụ người dân, doanh nghiệp; thực hiện phương thức, công cụ quản lý nhà nước chủ yếu bằng điều tiết gián tiếp, tăng cường hậu kiểm; giảm tối đa rủi ro pháp lý và chi phí tuân thủ đối với người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử; thiết kế đồng bộ, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tích hợp, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu lớn. Thực hiện chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện từ chính phủ đến xã hội, doanh nghiệp để phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số.
Bốn là, tập trung xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, tiếp tục mở rộng và thực thi dân chủ, đảm bảo thực hiện đầy đủ và thực chất các quyền con người, quyền công dân; thiết lập cơ cấu quản trị quốc gia không có xung đột lợi ích, cân bằng giữa quyền lực và giám sát quyền lực, trách nhiệm giải trình đầy đủ trước người dân và doanh nghiệp. Tập trung đổi mới quản trị nhà nước theo hướng quản trị nhà nước tốt.
Tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, thu gọn đầu mối theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Nâng cao chất lượng, đổi mới công cụ quản lý nhà nước, đặc biệt hệ thống pháp luật hướng đến duy trì kỷ cương, trật tư xã hội, đảm bảo thượng tôn pháp luật, thiết lập và duy trì cạnh tranh thị trường công bằng, khắc phục khiếm khuyết của thị trường.
Đổi mới và nâng cao năng lực của bộ máy nhà nước; tách chức năng làm chính sách và chức năng thực thi chính sách. Đảm bảo nhất quán giữa luật pháp và thực thi luật pháp, nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân nhằm giảm rủi ro, tăng mức độ an toàn pháp lý; giảm chi phí tuân thủ, mở rộng cơ hội và khuyến khích sáng tạo kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.
Tư Gianglược ghi
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:


XÂY DỰNG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG- NHÀ NƯỚC BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU ?
NGUYỄN MINH ĐỨC / TVN 24-9-2019

Dù bất cứ mô hình nào thì vai trò của nhà nước trong nền kinh tế là điều không thể tránh khỏi. Nhà nước giúp chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, cung cấp dịch vụ công, phúc lợi xã hội, chống độc quyền, bảo vệ môi trường, thậm chí cả việc đầu tư, kinh doanh, điều hành các doanh nghiệp nhà nước, cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế… 
Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế ra thành 4 nhóm chức năng: (1) tạo lập nền tảng của thị trường; (2) khắc phục khuyết tật của thị trường; (3) cung cấp dịch vụ công, phúc lợi xã hội; và (4) tham gia phát triển kinh tế. 
Nhà nước nên làm tốt từng nhóm chức năng theo thứ từ từ nhỏ đến lớn. Tức là đầu tiên phải tạo lập được nền tảng của thị trường rồi mới nghĩ đến chuyện khắc phục khuyết tật. Khắc phục khuyết tật thật tốt rồi mới nghĩ đến cung cấp dịch vụ công, phúc lợi xã hội. Cung cấp dịch vụ công tốt rồi mới tham gia phát triển kinh tế. 
Nhưng có lẽ, chúng ta đang cố gắng làm ngược lại, tập trung vào vấn đề tham gia phát triển kinh tế, cung cấp dịch vụ công, phúc lợi xã hội, trong khi các nền tảng của thị trường chưa được giải quyết thấu đáo.
Nền tảng thị trường là gì? Đó là bảo vệ quyền tài sản và quyền hợp đồng. 
Xây dựng thể chế kinh tế thị trường – Nhà nước bắt đầu từ đâu?
Nhà nước không nên sản xuất và kinh doanh sữa.
Yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất của kinh tế thị trường là tài sản và hợp đồng. Bảo vệ tài sản khiến người ta tin tưởng rằng mình được hưởng thành quả lao động của mình, vì vậy người ta sẽ lao động nhiều hơn. Bước từ bao cấp sang đổi mới, một trong những cam kết quan trọng của Hiến pháp là bảo vệ tài sản sinh hoạt của người dân, do đó người nông dân, công nhân mới chăm chỉ làm việc, chứ không “lười” như thời bao cấp. 
Quan trọng hơn, bảo vệ tài sản khiến người ta yên tâm đầu tư. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay rất cần đầu tư, từ đầu tư nhà máy, thiết bị, xây dựng, đầu tư cho thương hiệu, cho nghiên cứu sáng tạo. Nền kinh tế không thể chỉ sống nhờ nông nghiệp tay chân, nhờ bán lẻ, xe ôm, cắt tóc, gội đầu… mà cần có đường cao tốc, sân bay, cần có xây dựng, nhà máy, có điện, có thương hiệu, sáng chế. Tất cả những lĩnh vực lớn, bé này đều cần đầu tư dài hạn. 
Đầu tư sẽ biến tiền trở thành tài sản, nhưng tài sản đó mất thời gian rất dài để có thể thu hồi vốn. Vậy nếu trong thời gian đó có những rủi ro thì sao? Từ việc bị thu hồi đất và công trình, cây trồng lâu năm gắn liền với đất, cho đến việc bị ngừng, bị cấm kinh doanh vì những thứ giấy phép con và sự tuỳ tiện của cán bộ nhà nước. 
Chẳng ai đầu tư vào nghiên cứu chế tạo để có được các sáng chế, tài sản trí tuệ nếu biết rằng nó có thể bị đối thủ cạnh tranh hoặc người lao động của mình ăn cắp mà doanh nghiệp không có cách nào để được bảo vệ. Chẳng ai bỏ tiền làm thương hiệu, đi làm chứng nhận tiêu chuẩn cao cấp nếu hàng giả, hàng nhái tràn lan, hay việc giả nhãn mác, giả xuất xứ diễn ra nhan nhản. 
Thứ quan trọng thứ hai là quyền hợp đồng. Muốn kinh tế vận hành chúng ta phải có các hợp đồng. Nhưng người ta sẽ làm thế nào khi đối tác nhận tiền nhưng không giao hàng, hoặc giao hàng không đảm bảo chất lượng, làm thế nào khi người lao động được cử đi đào tạo nhưng lại về làm cho đối thủ, làm thế nào khi con nợ không trả nợ? 
Khởi kiện ra toà ư? Với thời gian xét xử tính bằng năm, nộp đơn đã khó, được thụ lý cũng khó, rồi để xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, để không bị tạm đình chỉ, để không bị kháng nghị tuỳ tiện, không bị trả án xét xử lại đã là một hành trình gian truân. Đến khi thi hành án thì trung bình chỉ đòi được 32% số tiền kể cả khi con nợ còn tài sản.
Vậy nên, Nhà nước cần tập trung nhiều hơn vào việc cắt giảm giấy phép con, tăng cường kỷ luật cán bộ, chống hàng giả, hàng nhái, bảo hộ sáng chế, nhãn hiệu, đẩy nhanh tốc độ và hiệu quả của xét xử và thi hành án dân sự. Còn những việc như chiếu phim lưu động cho bà con, xây nhà hát nghìn tỷ, điều hành doanh nghiệp nhà nước bán bia, bán sữa, trợ cấp hoạt động của các đoàn hội… thì Nhà nước thư thư hẵng làm cũng được.
Nguyễn Minh Đức 

TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN: 

THỂ CHẾ, THỂ CHẾ VÀ THỂ CHỂ

NGUYỄN SĨ DŨNG/ TVN 26-9-2019

LTS: Tiến sỹ Nguyễn sĩ Dũng, nguyên phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội có bài viết phân tích sâu sắc về thể chế và các mô  hình phát triển nhân Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam được tổ chức gần đây. Nội dung này có giá trị và có tính xây dựng trong quá trình hoàn thiện bộ máy, xây dựng thể chế ở nước ta, Diễn đàn Vì Việt Nam hùng cường/Tuần Việt Nam xin trân trọng giới thiệu. 
“Cải cách thể chế, cải cách thể chế và cải cách thể chế” đang là khẩu hiệu hành động được nhiều nhà lãnh đạo đưa ra. Quả thực, về mặt nhận thức, đây là một thành tựu rất đáng được ghi nhận. Không có được nhận thức như vậy, không thể có đủ quyết tâm chính trị để thúc đẩy những cải cách về cơ bản là khó khăn và cũng đầy rủi ro.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở nhận thức về sự cần thiết phải cải cách thể chế, mà còn nằm ở nhận thức về việc phải cải cách như thế nào và xử lý những rủi ro đi kèm ra làm sao. 
'Thể chế, thể chế và thể chế'
Tinh thần và tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu vào các quốc gia bắc Á, nơi Việt Nam thuộc về.
Thể chế và văn hóa
Để trả lời câu hỏi cải cách thể chế như thế nào thì quan trọng nhất là lựa chọn mô hình thể chế. Các mô hình thể chế đưa lại thành công và thịnh vượng không thiếu ở trên thế giới. Vấn đề là phải lựa chọn cho được mô hình phù hợp với Việt Nam. 
Nước Mỹ, nước Úc, nước Canada, nước New Zealand đều đã từng là thuộc địa của nước Anh và đều đã rất thành công khi áp dụng mô hình thể chế của Anh cho đất nước mình. (Nước Mỹ có mô hình tổ chức nhà nước hơi khác, nhưng về cơ bản, các mô hình thể chế khác đều chịu ảnh hưởng của Anh). Nhiều người cho rằng di sản lớn nhất của nước Anh là mô hình thể chế của nước này. Các nước cựu thuộc địa của Anh đã được tận hưởng được mô hình thể chế của Anh nên đều rất phát triển. Tuy nhiên, nếu nhận xét nói trên đúng cho nước Mỹ, nước Úc, nước Canada, nước New Zealand, thì có vẻ lại không hoàn toàn đúng cho Ấn độ, Pakistan và nhiều nước châu Á-Phi từng là thuộc địa của Anh khác.
Tại sao mô hình thể chế của nước Anh lại chỉ phát huy tác dụng ở một số nước, còn ở một số nước khác thì không? Câu trả lời nằm ở nền tảng văn hóa của các nước. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, các nước Mỹ, Úc, Canada, New Zealand có nền tảng văn hóa tương đồng với nước Anh. Người Anh đã không chỉ xuất khẩu thể chế, mà còn di dân và xuất khẩu văn hóa tới những nước trên. Trong lúc đó, nước Anh đã không thể xuất khẩu văn hóa của mình sang Ấn Độ, Pakistan và các nước cự thuộc địa khác. Chính vì thế mô hình thể chế của nước Anh ít phát huy tác dụng ở các nước nói trên. Điều dễ nhận thấy ở đây là: một mô hình thể chế chỉ phát huy tác dụng ở các nước có nền tảng văn hóa tương đồng và ít phát huy tác dụng ở các nước có nền tảng văn hóa khác biệt.
Tương tự cũng là điều chúng ta có thể nói về mô hình thể chế của nhà nước phúc lợi. Các nhà nước phúc lợi Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Phần lan, Na Uy…) là mô hình thể chế có thể được coi là thịnh vượng và tốt đẹp nhất đang tồn tại trên thế giới hiện nay. Ở các nước này, người dân sinh ra đã được nhà nước chăm lo đầy đủ về mọi mặt. Cuộc sống của họ hết sức an toàn, đầy đủ và hạnh phúc. Thế nhưng tại sao một mô hình thể chế tốt đẹp (Có người còn coi là mô hình thể chế chủ nghĩa xã hội nhất) lại không thể nhân rộng ra được ngoài vùng Bắc Âu? Lý do là vì thiếu nền tảng văn hóa của Bắc Âu không thể vận hành được một mô hình như vậy. “Biết thế nào là đủ” là một nét văn hóa rất đặc biệt của những người dân Bắc Âu. Những người dân này sẵn sàng đóng thuế cho nhà nước đến 70-75% thu nhập của mình mà không hề tâm tư, suy bì. Bất cứ ở một nơi nào khác trên thế giới, mức thuế như trên sẽ triệt tiêu động lực làm việc, còn ở các nước Bắc Âu thì lại không. Ví dụ từ các nước Bắc Âu một lần nữa khẳng định nền tảng văm hóa là rất quan trọng để một mô hình thể chế có thể thành công. 
Nền tảng văn hóa của Việt Nam phù hợp với mô hình thể chế nào? 
Về mặt vị trí địa lý, Việt Nam thuộc về nhóm các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, về mặt văn hóa, chúng ta lại thuộc về các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên). Ăn cơm bằng đũa, viết chữa tượng hình (Việt Nam đã từng có chữ nôm là chữa tượng hình) chỉ là một vài biểu hiện ra bên ngoài của văn hóa Đông Bắc Á. Cái nằm sâu bên trong ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách hành xử của cư dân ở vùng này là tinh thần và tư tưởng Nho giáo. Một trong những đặc điểm nổi bật của các nước này là truyền thống khoa bảng. Học hành, thi cử để làm quan là con đường phấn đấu được coi trọng nhất. Đây cũng là nền tảng văn hóa để nhà nước có thể tuyển dụng được những người tài giỏi nhất cho nền quản trị công.
Mô hình thể chế được hầu hết các nước Đông Bắc Á lựa chọn là nhà nước kiến tạo phát triển (developmental state). Mô hình thể chế này đã đưa lại sự phát triển kỳ điệu cho cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài loan và gần đây là cả Trung Quốc. Sự thành công của các nước này cho thấy mô hình nhà nước kiến tạo phát triển rất phù hợp với nền tảng văn hóa của các nước Đông Bắc Á. Mà như vậy thì mô hình này có nhiều khả năng sẽ phù hợp với Việt Nam hơn cả.
Điều đáng nói ở đây là rất nhiều nước ở các vùng miền khác trên thế giới đã cố gắng áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, nhưng đều đã không thành công. Trường hợp ngoại lệ , có lẽ, chỉ là Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. 
Nội hàm của khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” 
Khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” được nhà nghiên cứu Chalmers Johnson đưa ra từ những năm tám mươi của thế kỷ trước khi ông nghiên cứu về sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Ông nhận thấy rằng trong sự phát triển thần kỳ ấy có vai trò rất quan trọng của nhà nước. Nhà nước Nhật Bản đã không chỉ tạo ra khuôn khổ cho sự phát triển, mà còn định hướng và thúc đẩy sự phát triển đó. Sau này, ngoài Nhật Bản ra, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc... đều được xem là những nhà nước kiến tạo phát triển. 
Đặc trưng hết sức cơ bản của mô hình nhà nước này là nhà nước trực tiếp đề ra một kế hoạch phát triển công nghiệp (với những tham vọng lớn) và đầu tư mãnh mẽ về cơ chế, chính sách và nhiều khuyến khích khác để thúc đẩy công nghiệp phát triển. Theo các nhà nghiên cứu, đây là mô hình nhà nước nằm ở giữa nhà nước điều chỉnh Anh-Mỹ (theo chủ thuyết thị trường tự do) và nhà nước kế hoạch hóa tập trung (theo mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống). 
Nhà nước kiến tạo phát triển không đứng ngoài thị trường, nhưng cũng không làm thay thị trường. Mà nhà nước kiến tạo phát triển chủ động can thiệp mạnh mẽ vào thị trường để thúc đẩy phát triển và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đã được đề ra. Để đạt được mức tăng trưởng GDP gấp đôi, một nhà nước điều chỉnh (như Mỹ) sẽ phải mất đến 50 năm, trong lúc đó một nhà nước kiến tạo phát triển (như Trung Quốc) chỉ mất 10 năm. 
Những nét đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển được tác giả Chalmers Johnson đưa ra là:
1. Một bộ máy hành chính gọn nhẹ, nhưng tinh hoa và hiệu quả.
2. Bộ máy hành chính được trao quyền đầy đủ để đưa ra những sáng kiến và vận hành hiệu quả.
3. Nhà nước thông qua các thiết chế tài chính và các hướng dẫn hành chính để can thiệp vào thị trường.
4. Có Bộ thương mại quốc tế và công nghiệp như một thiết chế mạnh điều phối chính sách phát triển công nghiệp.
Cũng nghiên cứu về nhà nước kiến tạo phát triển, tác giả Adrian Leftwith lại đưa ra những đặc điểm sau đây:
1. Một tầng lớp công chức hành chính tinh hoa hộ trợ cho nhà nước. Các chính sách phát triển chịu ảnh hưởng của tầng lớp công chức ưu tú này.
2. Nhà nước có tính độc lập, tự chủ cao trước các nhóm lợi ích và luôn luôn đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết.
3. Nhà nước điều phối kinh tế thông qua một số thiết chế chuyên biệt (ví dụ như Bộ thương mại quốc tế và công nghiệp) có thực quyền.
4. Xã hội dân sự yếu, chính quyền mạnh và kiểm soát xã hội dân sự rất chặt chẽ, đặc biệt là trong thời kỳ đầu.
5. Nhà nước ít chịu ảnh hưởng bởi các lợi ích kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong thời kỳ đầu.
6. Các quyền dân sự bị hạn chế, đặc biệt là trong thời kỳ đầu. Nhà nước mang tính chuyên chế cao, nhưng lại có được sự chính danh và sự ủng hộ của dân chúng cao nhờ tạo được sự tăng trưởng kinh tế cao và sự phân phối thu nhập tương đối công bằng.
Nhiều người cho rằng, nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình nhà nước kết hợp được ưu điểm, đồng thời khắc phục được nhược điểm của cả hai mô hình nhà nước điều chỉnh và nhà nước kế hoạch hóa tập trung.  
(Còn nữa)

TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

CẢI CÁCH THỂ CHẾ- LỰA CHỌN CHO VIỆT NAM 

NGUYỄN SĨ DŨNG/ TVN 27-9-2019

LTS:Tiến sỹ Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội có bài viết phân tích sâu sắc về thể chế nhân Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam. Nội dung này có giá trị xây dựng trong quá trình hoàn thiện bộ máy, xây dựng thể chế ở nước ta, Tuần Việt Nam xin giới thiệu tiếp phần 2 bài viết.

Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển là tối ưu cho Việt Nam do chúng ta là một nước có nền tảng văn hóa của Đông Bắc Á.
Thật ra, kể từ Đại hội VI của Đảng, chúng ta đã thật sự từ bỏ mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung, mà đi theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Đảng và Nhà nước đã đề ra đường lối công nghiệp hóa đất nước, đã công nhận cơ chế thị trường, nhưng vẫn coi trọng vai trò quản lý của Nhà nước. Như vậy tất cả các phần cấu thành quan trọng của một nhà nước kiến tạo phát triển đều đã được khẳng định trong đường lối phát triển của chúng ta.
Có lẽ, chính vì thế, kinh tế nước ta đã có sự phát triển khá ngoạn mục trong thời gian vừa qua. Sau 30 năm đổi mới, quy mô nền kinh tế, cũng như thu nhập bình quân đầu người ở nước ta đã tăng đến hàng chục lần. Rất nhiều nước cộng hòa Xô viết (thuộc Liên xô trước đây) từ bỏ mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung đã không có được một sự phát triển ngoạn mục như vậy.
Tuy nhiên, vấn đề là đất nước ta vẫn chưa trở thành “hổ”, thành “rồng’ như các nước Đông Bắc Á.
Nguyên nhân có nhiều, nhưng cơ bản nhất là chúng ta đã không thúc đẩy phát triển công nghiệp thông qua các công ty, các tập đoàn tư nhân như ở Nhật Bản và Hàn Quốc, mà lại thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Một nguyên nhân cơ bản khác nữa là chúng ta cũng đã không có được một bộ máy hành chính, công vụ chuyên nghiệp và tài giỏi để hiện thực hóa chương trình công nghiệp hóa. Có lẽ đây là những khiếm khuyết mà chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực để khắc phục. Đồng thời phải kiên trì mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. 
Công bằng mà nói, một khuôn khổ khái niệm sáng rõ và mạch lạc về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển chưa thật sự hình thành ở nước ta. Sự lựa chọn của chúng ta trong quá trình đổi mới nếu không phải do may mà đúng, thì cũng chủ yếu là đi theo sự đòi hỏi khách quan của tình hình hơn là trên một nền tảng lý thuyết vững chắc.
Cải cách thể chế - lựa chọn cho Việt Nam
Chủ trương cắt giảm bộ máy hiện nay là cơ hội để chúng ta loại bỏ bớt những công chức năng lực hạn chế ra khỏi bộ máy hành chính. Ảnh: VietNamNet
Tuy nhiên, điều đáng băn khoăn là những cố gắng của chúng ta trong thời gian gần đây lại có vẻ đang đi chệch khỏi mô hình nhà nước kiến tạo phát triển sang mô hình nhà nước điều chỉnh. Khi Chính phủ kiến tạo phát triển được hiểu là: “Chính phủ chủ động thiết kế ra một hệ thống pháp luật tốt, những chính sách tốt, thể chế tốt để nuôi dưỡng nền kinh tế phát triển”; “Nhà nước không làm thay thị trường”; “Chính phủ phải kiến thiết được môi trường kinh doanh thuận lợi”...
Đây quả thực là mô thức hành động của nhà nước điều chỉnh (trong đó có Chính phủ điều chỉnh) theo mô hình Anh, Mỹ. Cách làm này đã đưa lại sự phát triển và thịnh vượng cho hai quốc gia nói trên là điều không thể chối cãi. Và trong điều kiện các doanh nghiệp của nước ta làm ăn khó khăn như hiện nay, có lẽ đây cũng là cách làm rất cần thiết. 
Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất ở đây là các điều kiện kinh doanh thuận lợi có thể được tạo ra, nhưng tận dụng chúng lại là các doanh nghiệp nước ngoài chứ không phải là doanh nghiệp Việt. Thành công của mô hình nhà nước điều chỉnh vì vậy còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các doanh nghiệp trong nước.
Sự lựa chọn đúng đắn hơn cho đất nước ta vì vậy có vẻ vẫn là mô hình nhà nước kiến tạo phát triển (theo mô hình các quốc gia Đông Bắc Á) chứ không hẳn là mô hình nhà nước điều chỉnh (theo kiểu Anh-Mỹ).
Vượt qua những rủi ro của việc lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển
Lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển là tối ưu cho đất nước ta, tuy nhiên rủi ro của lựa chọn này là hoàn toàn không nhỏ. Trước hết, là rủi ro về năng lực. Chúng ta có khả năng hoạch định chính sách phát triển công nghiệp đúng đắn hay không? Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thì chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam phải là gì? Đây quả thực là những câu hỏi không dễ trả lời.
Thiếu một đội ngũ lãnh đạo tinh hoa khó lòng hoạch định chính sách phát triển đúng đắn được. Để có được một đội ngũ lãnh đạo như vậy, thu hút người tài vào trong Đảng là rất quan trọng. Đây phải được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của Đảng ta trong thời gian sắp tới. Ngoài ra, tận dụng tri thức của giới Việt kiều tinh hoa để hoạch định chính sách phát triển công nghiệp cũng rất quan trọng.
Rủi ro thứ 2, do đã hội nhập sâu rộng với thế giới và tham gia rất nhiều các hiệp định về tự do thương mại song phương và đa phương, nên không gian chính sách còn lại của Nhà nước ta cho việc hoạch định và triển khai chương trình công nghiệp hóa một cách độc lập và tự chủ là rất nhỏ hẹp.
Bị ràng buộc bởi vô vàn những cam kết quốc tế, Nhà nước rất khó can thiệp vào thị trường để thúc đẩy phát triển những ngành công nghiệp mà chúng ta lựa chọn. Để vượt qua rủi ro này, quan trọng là phải nâng cao năng lực thiết kế các hàng rào kỹ thuật, các hàng rào về thủ tục. Điều này có vẻ như đang đi ngược với những cố gắng cắt giảm thủ tục hành chính của Chính phủ hiện nay.
Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam, thì hàng rào kỹ thuật là rất cần thiết để ngành công nghiệp non trẻ này của đất nước không bị cạnh tranh quốc tế bóp chết từ trong trứng nước. Tận dụng các khoảng trống chính sách cũng rất quan trọng ở đây. Các hiệp định tự do thương mại không hạn chế Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực (ví dụ như an ninh, quốc phòng chẳng hạn). Tại sao chúng ta không đầu tư vào đây, khi cần thiết thì vẫn có thể chuyển giao các thành tựu nghiên cứu cho các lĩnh vực dân sự?
Rủi ro thứ 3, bộ máy hành chính và đội ngũ công chức của chúng ta khá yếu kém. Bộ máy này đang bị chính trị hóa rất nặng nề. Nhiều quan chức hành chính chỉ giỏi nói chính trị, nói nghị quyết, nhưng lại không tài giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, không giỏi điều hành. Không có đội ngũ công chức hành chính tinh hoa, không thể vận hành hiệu quả mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Chủ trương cắt giảm bộ máy hiện nay là cơ hội để chúng ta loại bỏ bớt những công chức năng lực hạn chế ra khỏi bộ máy hành chính.
Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là phải lựa chọn cho được những người tài giỏi nhất vào bộ máy hành chính. Truyền thống khoa bảng là điều kiện rất thuận lợi để chúng ta tuyển chọn người tài ở đây. Ngoài ra, tâm lý thích học để làm quan cũng là động lực quan trọng để thu hút người tài vào bộ máy Nhà nước. Vấn đề là phải học thật và thi thật. Phải kiên quyết áp đặt một chế độ khoa bảng và thi tuyển nghiêm khắc nhất vào bộ máy hành chính nhà nước.
Rủi ro thứ 4, quỹ thời gian để xây dựng thành công mô hình nhà nước kiến tạo phát triển còn lại không nhiều. 
Với áp lực của hội nhập và dân chủ hóa, mô hình coi trọng phát triển kinh tế hơn mở rộng dân chủ và nhân quyền như nhà nước kiến tạo phát triển chưa chắc đã có được sự chấp nhận của đông đảo công chúng. Để vượt qua thách thức này, truyền thông đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Không có một nền tảng kinh tế-xã hội phù hợp (với đa số dân chúng là tầng lớp trung lưu) và một nền tảng văn hóa chính trị trưởng thành, những cải cách dân chủ manh động không khéo lại chỉ dẫn đến đổ vỡ và bất ổn xã hội mà thôi.
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN: