Thứ Năm, 28 tháng 3, 2019

20190328. BÀN VỀ NGUYÊN NHÂN VIỆT NAM CHẬM PHÁT TRIỂN

ĐIỂM BÁO MẠNG
VIỆT NAM ĐÃ 'ĐỤNG TRẦN' ĐỂ KÍCH THÍCH TƯ DUY, SÁNG TẠO CHO PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

NGUYỄN ĐÌNH CUNG/ TVN 25-3-2019

Việt Nam đã ‘đụng trần’ để kích thích tư duy, sáng tạo cho phát triển đất nước

 - Sau hơn 30 năm đổi mới và mở cửa nhằm tìm kiếm một con đường phát triển mới, Việt Nam vẫn đang đối diện với hàng loạt vấn đề chưa được xác định rõ cả về lý luận và thực tiễn.
GDP ngày càng suy giảm 
Như thành tựu của Đổi mới, Việt Nam từ một nước nghèo, kém phát triển đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp.
Trong 30 năm từ giai đoạn 1986-2016 tăng trưởng GDP trung bình hàng năm 6,51%; cao nhất 9,54% (1995), thấp nhất 2,76% (1986).
Trong 3 năm nay (2016-2018) tăng trưởng GDP trung bình khoảng 6,7%, cao hơn gần 0,2 điểm phần trăm so với trung bình của 30 năm trước. Thu nhập GDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 2.790 USD, theo IMF.
Tuy vậy, với tốc độ tăng trưởng GDP nêu trên, Việt Nam khó có thể thu hẹp khoảng cách phát triển và trở thành quốc gia có thu nhập cao trong vài thập niên sắp tới.
Có một vài ví dụ cho nhận định trên. Cũng trong vòng 30 năm (1960-1990) mà Hàn Quốc có tăng trưởng GDP hàng năm trung bình đạt 9,58%. Quốc gia này có 14 năm đạt mức tăng trưởng trên 10%; và đạt mức tăng trưởng cao nhất là 14,8% (năm 1973); GDP/người năm 2018 đạt 32.770 USD (theo IMF).
Trung Quốc trong 30 năm cải cách và phát triển (1977-2007) có tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 10,02%; đạt mức tăng trưởng cao nhất (năm 1984) là 15,14%; có 15 năm tăng trưởng GDP đạt hơn 10%; GDP/người năm 2018 đạt 10.100 USD (theo IMF).
Kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan cũng cho thấy thực tế tương tự.
Với Việt Nam, điều đáng lo lắng, tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 1986-2016 đạt khoảng 6,5%, có nghĩa chúng ta chưa bao giờ có tốc độ tăng trưởng 2 con số như các quốc gia nêu trên dù xuất phát điểm của chúng ta rất thấp; trong khi đó tốc độ tăng trưởng GDP của chúng ta có xu hướng giảm dần.
Giai đoạn 1990-1999, mức tăng trưởng cao nhất là 9,5% (năm 1995); giai đoạn 2000-2010 mức tăng trưởng cao nhất là khoảng 8,5%; giai đoạn 2011-2018 mức tăng cao nhất cho đến nay 7,08% (2018). Giai đoạn 1990-2007 tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7,44%; 2008-2015 bình quân là 6,43%; và ba năm 206-2018 bình quân là 6,7%.
Với thực trạng như hiện nay, mức tăng trưởng GDP/người hàng năm của Việt Nam được dự báo chỉ còn khoảng 5,5-6%, thấp xa so với của Hàn Quốc và Trung Quốc trong quá khứ.
Theo Báo cáo Việt Nam 2035, với tốc độ tăng trưởng đối đa, GDP của Việt Nam vào năm 2035 chỉ bằng Malaisia năm 2010, tức là GDP/bình quân người theo PPP khoảng 18.000 USD. Chúng ta chưa thể đạt mức của quốc gia có thu nhập trung bình cao và thậm chí khó có thể trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.
Nhìn lại hơn ba thập niên đổi mới (1986-2018), Việt Nam ta đã phải trải qua 12 năm khủng hoảng và xử lý khủng hoảng kinh tế, thậm chí là khủng hoảng kinh tế-xã hội. Đó là các năm 1986-1989, 1998-1999 và 2009-2014.
Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đang có xu hướng giảm dần về dài hạn do nền kinh tế đã và đang bộc lộ không ít yếu kém nội tại.
Hiệu quả sử dụng nguồn lực còn thấp mặc dù số nguồn lực huy động được, nhất là vốn đầu tư, không phải thuộc loại thấp trên thế giới. Cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần, cơ cấu thành thị-nông thôn,.v.v.v… còn rất lệch lạc.
Tất cả những điểm yếu nói trên cho thấy nền kinh tế kém năng động và chưa có chuyển dịch quy mô lớn về phân bố nguồn lực, từ đó, thiếu động lực nội sinh thúc đẩy tận dụng hết tiểm năng phát triển của đất nước.
Những quả ngọt dễ hái đã hết
Những nguyên nhân, thành tựu kinh tế có được trong hơn 30 năm qua chủ yếu nhờ những cải cách, chuyển đổi theo định hướng thị trường và mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Đổi mới chuyển hộ nông dân thành đơn vị sản xuất tự chủ đã biến Việt Nam từ một quốc gia thiếu đói thành nhà xuất khẩu gạo và nông sản thuộc nhóm hàng đầu thế giới.
Bên cạnh đó, tự do hóa giá cả bằng việc áp dụng các công cụ quản lý tổng cầu đã giúp cho kinh tế vĩ ổn định dần vào các năm 1989-1991 sau nhiều năm bất ổn liên miên.
Ổn định kinh tế vĩ mô kết hợp với cải cách mạnh mẽ doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thu hút đầu tư trước tiếp nước ngoài (FDI) và thừa nhận sự tồn tại, bước đầu khuyến khích kinh tế tư nhân (1989-1991) đã tạo động lực tăng trưởng cao vào các năm tiép theo, hạn chế phần nào tác động khủng hoảng kinh tế Đông Á (1997-1999).
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã tạo động lực tăng trưởng cao trong các năm 2000-2007; và gia nhập WTO năm 2007 đã giúp thu hút mạnh mẽ đầu tư FDI trong các năm tiếp theo, nhờ đó, hạn chế đáng kể tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009-2011.
Hơn nữa, những cải cách thể chế mạnh mẽ những năm gần đây đã giúp phục hồi,  tạo đà và lực cho tăng trưởng cao hơn.
Tuy nhiên, như trên đã trình bày, những kết quả đạt được là chưa đủ, thậm chí còn thấp xa so với yêu cầu thu hẹp khoảng cách và bắt kịp trình độ phát triển trung bình trên thế giới, khắc phục tụt hậu đối với các quốc gia phát triển.
Tất nhiên, chúng ta vẫn đang đối diện với nhiều nguyên nhân, mà vì nhiều lý do chúng ta không mấy khi phân tích, mổ xẻ. Đổi Mới về bản chất là nhằm tìm kiếm một đường phát triển mới, nhưng đến nay chúng ta vẫn còn hàng loạt vấn đề chưa được xác định rõ cả về lý luận và thực tiễn như sau:
Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? 
Mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước và nội hàm mối quan hệ và thể chế thực thi mối quan hệ “Đảng lãnh đạo toàn diện, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là gì?
Đổi mới chính trị và sự phù hợp giữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế là gì?
Vai trò của nhà nước, vai trò của kinh tế nhà nước và của DNNN và vai trò của thị trường, mối quan hệ giữ nhà nước và thị trường ra sao?
Xã hội dân sự và vai trò của xã hội dân sự trong bổ sung cho nhà nước và thị trường, trong quản trị và phát triển xã hội được xác định như thế nào?
Những vấn đề trên chưa được làm sáng rõ cả về lý luận và thực tiễn đã và đang tạo ra “giới hạn trần” về tư duy, sáng tạo đối với con đường cải cách và phát triển đất nước cho giai đoạn tiếp theo.
Do đó, cải cách thể chế, chuyển đổi kinh tế - xã hội không nhất quán, còn chần chừ do dự và thiếu đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị; giữa lập pháp, tư pháp và hành pháp; giữa vai trò của nhà nước và vai trò của thị trường và xã hôi.
Nhận diện những hòn đá tảng 
Về thể chế kinh tế, chúng ta không dứt khoát chuyển đổi sang kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại, nâng cấp và mở rộng quy mô thị trường. Các thị trường nhân tố sản xuất còn rất sơ khai hoặc méo mó, kém phát triển; thị trường còn kém minh bạch, chưa có cạnh tranh công bằng.
Về thể chế chính trị, vai trò chức năng của nhà nước, bộ máy nhà nước, cách thức vận hành và công cụ quản lý nhà nước,…vẫn chủ yếu cải biến trong mô hình “Xô Viết” trước đây hay mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa kiểu cũ.
Chúng ta chưa dám dứt khoát thay đổi để thoát khỏi mô hình đó; chưa dứt khoát chuyển đổi để thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại.
Các chủ trương, giải pháp cải cách, đổi mới và phát triển trên tất cả các lĩnh vực về cơ bản không đủ rõ ràng, có thể giải trình, không đủ cụ thể để có thể hành động được; hoặc không đủ mạnh, quyết liệt và nhất quán để có hành động tương ứng trên thực tế theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, đưa nước ta sớm trở thành quốc gia phát triển.
Có khoảng cách lớn giữa tuyên bố đường lối, chính sách và thực tế thực hiện; nói chưa đi đôi với làm; từ đó, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Không huy động được tất cả nguồn lực, nhất là nội lực, trí tuệ và sức mạnh con người Việt nam vào công cuộc cải cách và phát triển đất nước. Không tập trung và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; không tận dụng, thậm chí bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển của đất nước.
Ngược lại, quyền lực, nguồn lực và động lực không hướng đến mục tiêu phát triển chung; mà bị phân tán theo nhiều hướng, bị giằng xé, chi phối bởi các nhóm lợi ích khác nhau.
(còn nữa) 
Nguyễn Đình Cung
Phải đặt mục tiêu chiến lược đủ cao, thể hiện khát vọng của nhân dân, của dân tộc vươn tới trình độ phát triên cao.

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2019

20190327. CHÂN DUNG TRỤ TRÌ CHÙA BA VÀNG THÍCH TRÚC THÁI MINH

ĐIỂM BÁO MẠNG
CHÂN DUNG TRỤ TRÌ CHÙA BA VÀNG

NGUYỄN THẢO/ VNN 22-3-2019

Chân dung trụ trì chùa Ba Vàng
Đại đức Thích Trúc Thái Minh - Trụ trì chùa Ba Vàng (TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) tại buổi livestream tối 21/3
Đại đức Thái Minh - trụ trì chùa Ba Vàng là cựu sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân. Sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại trường và làm giảng viên trong khoảng 2 năm.

Những phản ánh gần đây của báo chí về chùa Ba Vàng đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Mới đây, trụ trì ngôi chùa này - 
Đại đức Thích Trúc Thái Minh cũng lên tiếng nói rõ về sự việc.

Đại đức Thích Trúc Thái Minh tên thật là Vũ Văn Hiếu, hiện là Uỷ viên dự khuyết Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Giáo hội). Ông cũng là Phó ban Thông tin truyền thông của Giáo hội, phó ban thường trực Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lai Châu, Uỷ viên thường trực Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Ninh, đồng thời là Trụ trì chùa Ba Vàng.
Chia sẻ với VietNamNet, Thượng toạ Thích Đạo Hiển - Phó trưởng ban kiêm Chánh thư ký ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh cho biết, Đại đức Thái Minh sinh năm 1967 tại Lương Tài, Bắc Ninh. Ông là cựu sinh viên trường ĐH Kinh tế Quốc dân. 
Trao đổi với VietNamNet, PGS.TS Bùi Đức Thọ - Trưởng phòng Tổ chức cán bộ trường ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết: "Ông Vũ Văn Hiếu từng là sinh viên lớp Vật tư K26, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, ông là sinh viên xuất sắc của trường và là 1 trong 2 người được giữ lại giảng dạy tại khoa Vật tư năm đó. Ông là giảng viên của trường trong khoảng 2 năm".
Theo Thượng toạ Thích Đạo Hiển, khi xuất gia, thầy Thái Minh tu tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, theo pháp môn thiền của hoà thượng Thích Thanh Từ. Đến khoảng năm 2004-2005, ông được đưa ra làm tăng chúng, tu học tại chùa Lâm, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Sau đó, thầy rời Thiền viện Trúc Lâm và xin phép TP. Uông Bí ra trụ trì chùa Ba Vàng. 
Từ đó, thầy Thái Minh bắt đầu kêu gọi các nguồn lực xã hội hoá xây dựng chùa Ba Vàng. Thượng toạ Thích Đạo Hiển thừa nhận, thầy Thái Minh có công lao lớn trong việc tập trung nguồn lực xã hội hoá để trùng tu, xây dựng chùa Ba Vàng có quy mô lớn như ngày hôm nay. Giá trị vật chất để xây dựng chùa Ba Vàng được ước tính lên tới vài trăm tỷ đồng.
"Đại đức Thái Minh là một người năng động, làm kinh tế tốt, có lẽ cũng nhờ thầy xuất thân là người học kinh tế. Hoạt động trong Giáo hội của thầy Thái Minh bình thường, chưa có gì xuất sắc”, Thượng tọa Thích Đạo Hiển cho biết.
Khi được hỏi về cách thức huy động nguồn lực xã hội hoá của trụ trì chùa Ba Vàng, Thượng toạ Thích Đạo Hiển nói vui: “Thầy có nhiều cách thức để tập trung nguồn lực xây dựng chùa mà mấy chục năm nay tôi muốn học theo mà không học được”.
NGUYỄN THẢO
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

TRỤ TRÌ CHÙA BA VÀNG, NGƯỜI BẢO VỆ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

MẠNH KIM / Blog VOA 23-3-2019

Thông tin trên nhiều cơ quan truyền thông chính thức về chùa Ba Vàng đang làm dư luận chấn động… Trong hàng loạt thắc mắc đã được nêu ra quanh scandal này, thắc mắc lớn nhất hình như là: Tại sao trụ trì chùa Ba Vàng có thể khai phá cả héc ta rừng, dựng ngôi chùa đồ sộ với một số yếu tố “nhất Đông Dương”, rồi tập hợp, khuyến dụ tín đồ tham gia giải vong lại dễ dàng đến vậy?
Muốn trả lời câu hỏi ấy, có lẽ cần nhìn lại cách thức quảng bá về nhà sư này trên các phương tiện truyền thông, kể cả hệ thống truyền thông chính thức và cơ quan ngôn luận của Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN...
Video mang tựa “Đôi nét về thầy Thích Trúc Thái Minh” trên trang https://thaythichtructhaiminh.com, giới thiệu về chính trụ trì chùa Ba Vàng thế này: “Với tư chất thông minh, lại thiện nết, kết thúc 4 năm đại học, người thanh niên trẻ được giữ lại trường làm giảng viên. Một tương lai tươi sáng đang mở ra trước mắt. Những tưởng người thanh niên ấy vẫn sẽ tiếp tục guồng quay cuộc sống nhưng khi tình cờ đọc được bốn câu kệ: “Muốn thấy thập phương tất cả Phật; Muốn ban vô tận công đức tăng; Muốn diệt chúng sinh tất cả khổ/ Phải nên mau phát Bồ Đề tâm” và khi cầm trên tay cuốn sách “Khuyến phát Bồ Đề Tâm” của Thật Hiền Đại sư giữa một chồng sách tại thư viện chùa Quán Sứ, thầy Thích Trúc Thái Minh đã ước mơ đuợc phát bồ đề tâm...”.
Cần lưu ý, trước khi xuống tay với Đại đức Thích Trúc Thái Minh như đang thấy, hệ thống truyền thông chính thức từng gọi nhà sư là NGƯỜI. Chẳng hạn trong bài “Chuyện về một giảng viên rũ bỏ sự nghiệp đi tu” của Hoàng Tào, đăng trên báo Đời Sống & Pháp Luật, tác giả viết: “Nhờ sự giáo dục trong gia đình nề nếp nên ngay từ khi còn nhỏ Thầy đã nổi tiếng là con ngoan và trò giỏi. Người luôn đứng trong hàng ngũ lớp chọn và đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia. Sau khi học xong phổ thông trung học, Người đã nộp hồ sơ dự thi vào Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội) - một trong những truờng đại học danh giá thời bấy giờ. Với tư chất thông minh, tính tình hiền lành, Người luôn được thầy thương bạn mến. Tốt nghiệp đại học, Người được giữ lại trường làm giảng viên”...
Dường như sợ rằng tán tụng như thế chưa đủ để bá tánh ngưỡng mộ Đại đức Thích Trúc Thái Minh, tác giả còn thu thập - giới thiệu thêm những lời tán tụng khác: “Thầy Lê Anh Tuấn, nguyên Trưởng phòng Chính trị và Công tác sinh viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết: Tôi cũng không nhớ rõ Thầy Vũ Minh Hiếu làm giảng viên tại trường từ năm nào đến năm nào. Tôi chỉ biết Thầy đã từng làm giáo viên thỉnh giảng tại trường 5 năm… Sau 5 năm làm giảng viên Đại học, Thầy chuyển sang công tác tại Viện Nghiên cứu chế tạo máy của Bộ Công Thương. Tại đây, ngoài công việc chuyên môn, Thầy còn được bổ nhiệm làm Bí thư Đoàn, thuờng xuyên tổ chức cho cán bộ nhân viên trong cơ quan đi chùa, lễ Phật… Với ý chí và lòng quyết tâm, ngày 19/6/1998, Thầy cùng Đạo tràng bắt xe vào Đà Lạt xin phát bồ đề tâm trước Hòa Thượng Thích Thanh Từ tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. Sau chuyến đi Thầy càng có niềm tin và quyết tâm dấn thân cầu đạo giải thoát”…
Ông Hồ Chí Minh được xưng tụng là Người vì “ra đi tìm đường cứu nước”, Đại đức Thích Trúc Thái Minh được xưng tụng là “Người” vì ra đi tìm đường cứu… chúng sinh. Rõ ràng tác giả đã vận dụng toàn bộ công lực, rung cho thiên hạ… động vì “Người” rũ bỏ mọi thứ để cứu chúng sinh: “...Chướng duyên theo nhau mà đến. Khi Thầy quyết tâm đi tu, bố mẹ đã phản đối dữ dội. Hơn nữa, cô bạn gái cũng là vợ sắp cưới của Thầy cũng phản đối. Tuy nhiên trước ý nguyện của người yêu mình, cô đã ủng hộ. Được biết, cô gái này đã tình nguyện chia tay để Thầy có thể thoát tục. Người yêu cũ cũng theo đoàn về thuyết phục để Thầy được thỏa ước nguyện. Cuối cùng gia đình đã đồng ý cho con xuất gia. Buổi tiễn đưa diễn ra trong nghẹn ngào nước mắt: Con biết rằng, tình mẹ thương con vô bờ, không muốn cách xa con khờ, nhưng vì chí nguyện riêng của con nên mẹ ngăn lệ nuốt sầu tiễn con đi”.
Ai từng đọc về cuộc đời và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh hẳn sẽ nhận ra những đoạn như thế này là… anh em đồng hao với… Nhà Xuất bản Sự Thật “… ngày 19/6/1999, Thầy tiếp tục bắt xe vào Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt để xin xuất gia, chính thức bước vào đời sống tu sĩ… Năm 2001, khi hội tụ đầy đủ duyên lành, Thầy xin Hòa Thượng quay ra Bắc, góp sức xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử. Ban lãnh đạo của Thiền viện nhìn thấy được khả năng và đức hạnh của Thầy nên đã giao phó cho Người làm tri khách… Đến năm 2007, chính quyền và nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xin thỉnh Thầy về làm Trụ trì Chùa Ba Vàng – Bảo Quang Tự. Với tấm lòng từ bi, luôn vì chúng sinh nên Thầy được nhiều Phật tử ở nhiều vùng miền trong cả nước và nước ngoài yêu kính... Đó là tình cảm của một người cha yêu thương các con bằng tấm lòng bao dung, dù cho con có gây ra bao nhiêu lỗi lầm đi chăng nữa thì cha vẫn dang rộng vòng tay che chở”.
Không biết Hoàng Tào có phải là đảng viên CSVN hay không, cũng không biết quan điểm và lập trường của báo Đời Sống & Pháp Luật vững vàng như thế nào, kiên định ra sao nhưng chẳng lẽ tự nhiên mà ngày 11-7-2017, trong bài “Thức tỉnh lòng nhân ái” báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, viết như thế này về Đại Đức Thích Trúc Thái Minh: “Là người tu hành, Đại Đức Thích Trúc Thái Minh không xa rời với cuộc sống của con người và nhân dân, nhất là giới trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước. Đại Đức rất quan tâm đến lĩnh vực giáo dục - đào tạo, đặc biệt là vấn đề đạo đức, lối sống, lòng nhân ái của các em học sinh, sinh viên… Thông qua khóa tu, bên cạnh những thuyết giảng về “Phật pháp” về “Đạo hiếu”, “Đạo làm người”…, các em còn được nghe những câu chuyện giản dị về tấm gương, đạo đức, về lòng khoan dung, nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua đó, các em hiểu thêm về ý nghĩa của việc ‘Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh’, góp phần khơi dậy lòng nhân ái một cách tự nhiên và dễ dàng hơn”.
***
Trong bối cảnh như hiện nay, đâu dễ tìm được những người đủ uy tín, năng lực để chủ động kết hợp giữa thuyết giảng Phật pháp, với giáo dục giới trẻ về ý nghĩa của việc ‘Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh’ như Đại Đức Thích Trúc Thái Minh. Thế thì tại sao lại tấn công trụ trì chùa Ba Vàng, không đếm xỉa gì đến công lao, thành tích của nhà sư vốn đã từng được báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ghi nhận một cách trân trọng như đã kể? Người sử dụng mạng xã hội, hệ thống truyền thông chính thức có thể “nhẹ dạ, cả tin” nhưng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, chính quyền tỉnh Quảng Ninh,… mà cũng bị “lôi kéo, tác động” thì rõ ràng không thể chấp nhận được.
Phải thấy đó là sự xúc phạm nặng nề đến Đại Đức Thích Trúc Thái Minh, khiến ông phải… tạm ngưng tu tập, tạm gạt bỏ từ bi, bao dung như “của một người cha”, luôn “dang rộng vòng tay”, bất kể “con có bao nhiêu lỗi lầm”, để tổ chức ngay một buổi “live stream”, cảnh báo về khả năng “thế lực thù địch” lợi dụng, giật dây. Để một người chuyên tâm phổ độ chúng sinh như Đại đức Thích Trúc Thái Minh không dám lơ là, lúc nào cũng đề cao cảnh giác như thế là tạo nghiệp đấy!

MẠT PHÁP PHẬT GIÁO VIỆT NAM: CÁI SẢY NẢY CÁI UNG ?

HOÀNG HƯNG/ BVN 25-3-2019

Những vụ “Cúng sao giải hạn” hằng năm làm tắc đường Hà Nội của chùa Phúc Khánh, rồi “trả nghiệp theo giá ra của Vong” ở chùa Ba Vàng quá trắng trợn phản Phật pháp gần đây, cùng với hội chứng start-up đua nhau xây chùa to để buôn thần bán thánh, chỉ là bước “cái u” biến thành “ung thư” của tình hình Phật giáo nước nhà.
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2019/03/H1-102.jpg
Chùa Ba Vàng. Nguồn: Journey Vietnam
“Cái u” đã được cảnh báo từ lâu, bởi không ít thiện trí thức. Ngay ít lâu sau khi mới về nước, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gửi tới Chủ tịch Nguyễn Minh Triết bản kiến nghị 10 điểm, trong đó có điểm yêu cầu cải tổ tổ chức Phật giáo đã bộc lộ nhiều sự suy thoái. Tức là đã mọc “u”. Bản chất của “cái u” đó và liệu pháp cho nó là gì? Hãy nghe phân tích của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong thư 7 điểm gửi trực tiếp cho Thủ tướng Phan Văn Khải năm 2005. Điểm đầu tiên chính là: Tách giáo quyền ra khỏi chính quyền:
“Ngày xưa vua Lý Thái Tổ đã yểm trợ đạo Phật xây dựng cơ sở giáo hội, và thiền sư Vạn Hạnh đã chỉ bày thêm cho vua về các đường lối kinh tế, văn hóa, đạo đức và chính trị. Nhưng vua không chen vào để kiểm soát Phật giáo và thiền sư cũng không nhận trách vụ gì trong guồng máy chính trị. Nhà nước bảo đảm là từ nay các vị xuất gia sẽ không bị mời làm dân biểu Quốc hội, trở nên thành viên hội đồng nhân dân các cấp và của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc trở nên đảng viên của bất cứ một đảng phái chính trị nào. Xen vào lãnh vực chính trị như thế các vị xuất gia sẽ phạm giới, làm mất uy tín của giáo đoàn Phật giáo và cũng làm cho chính quyền mang tiếng là sử dụng những vị ấy để kiểm soát tôn giáo. Từ nay các vị xuất gia sẽ không còn nhận huân chương của chính quyền”.
Vì sao khẳng định: cái u gốc của bệnh ung thư Phật giáo hiện nay chính là việc nhập nhèm giữa chính quyền với giáo quyền?
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2019/03/H4-32.jpg
 Hàng ngàn người dân đổ về chùa Phúc Khánh cúng sao giải hạn đầu năm. Ảnh: PNNews
Khỏi cần truy lại lịch sử xa xưa, khi Phật giáo là quốc giáo vào thời Lý, Trần. Vua trở thành sư, sư làm quốc sư. Có thể nói Phật giáo đã cho dân tộc sức mạnh tinh thần để giữ được độc lập, chiến thắng ngoại xâm. Nhưng rồi, với cái lọng che quá lớn của thế quyền, Phật giáo cũng thoái hoá, bị lạm dụng, trở thành nơi “trốn việc quan”, để rồi chính quyền phải ra tay… dọn dẹp, và sau đó là mất địa vị quốc giáo suốt các triều đại kế tiếp.
Cho đến thế kỷ 20. Sau thời gian Việt Nam trở thành thuộc địa, đạo Ki tô được chính quyền thực dân tạo thuận lợi để phát triển, thế lực vượt trội so với Phật giáo. Một phong trào chấn hưng Phật giáo đã được các thiện trí thức phát động, nằm trong công cuộc phục hưng tinh thần dân tộc, nuôi dưỡng lòng yêu nước để đòi lại độc lập. Có thể nói, đó là tiền đề để sinh ra ý tưởng “chính trị hoá” Phật giáo của Đảng Cộng sản sau Cách mạng 1945, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và thôn tính miền Nam, cũng như của cả những lực lượng Phật giáo không CS chống lại Ngô Đình Diệm và Ki tô giáo được gia đình ông Diệm bảo trợ.
Các đảng viên Cộng sản khoác áo thầy chùa, cũng như các thầy chùa trở thành đảng viên CS, các ngôi chùa trở thành cơ sở cách mạng là chuyện rõ như ban ngày. Gần đây, không ít vị cao tăng đã công khai thân phận “đảng viên lão thành” của mình khi lâm chung.
Mặt tích cực của Phật giáo “nhập thế” có thể được biện minh trong công cuộc toàn dân đánh giặc để giành độc lập. Nhưng cái “sảy” cũng sinh ra từ đó, để rồi “nảy cái ung”.
Cái “sảy” này xuất phát từ việc nhà cầm quyền CS, thấy được sự lợi hại của tôn giáo trong việc dắt dẫn quần chúng, bèn quyết nắm chặt lấy Phật giáo là tôn giáo của đa số nhân dân và có truyền thống yêu nước, đi cùng với mình trong hai cuộc chiến, trong khi Ki tô giáo vẫn bị coi là “ngoại đạo” gắn với kẻ xâm lược cũ và họ khó lòng thâm nhập. Nhưng bây giờ, mục đích không còn là để hướng Phật giáo “nhập thế” cứu nước, mà là để giữ vững “ổn định chính trị”, nói trắng là giữ cho chặt quyền thống trị của mình.
Chính trị hoá Phật giáo với khẩu hiệu trắng phớ “Dân tộc, Đạo pháp và Chủ nghĩa xã hội”, với tổ chức Phật giáo nằm trong sự khống chế của các Đảng viên và nhất là công an khoác áo thầy chùa không có gì là bí mật. Những nhà lãnh đạo Phật giáo tốt nghiệp trường Đảng, từng là cấp tá công an, tướng quân đội… có thể thấy ở nhiều ngôi chùa lớn.
Bản thân tôi đã có thời gian học thiền ở một ngôi chùa lừng danh có vị phó viện trưởng được giới thiệu là nguyên đại tá an ninh, vị tri khách tự giới thiệu là nguyên Thiếu tướng quân đội.
Cũng đã từng được một sĩ quan an ninh đến theo dõi ở một ngôi chùa lớn ở Ấn Độ. Vị này rất thành thạo kinh sách, rất siêng năng trong vai một tín đồ thuần thành, tin kính, rất mẫu mực. Sau này, anh ta thật thà khoe về quá trình rèn luyện rất gian khổ để đi vào lòng Phật giáo, từng có thời gian luyện du hành khắp các chùa bên Tàu chỉ với một bao gạo, một lon nước và cái bật lửa!
Ít năm sau, vị sư trụ trì này khi về nước báo cho tôi một tin giật gân: cái anh theo dõi mình hồi đó giờ đã lên… tướng!
Tôi không lên án tất cả các vị đảng viên và công an khoác áo thầy chùa. Rất có thể nhiều người trong đó có đạo đức, có lương tâm, họ thành thực nghĩ rằng họ nên đóng vai trò đảm bảo để Phật giáo không bị lôi kéo vào những âm mưu chính trị chống lại chính quyền.
Tôi cũng chưa muốn chê trách đại đa số trong Giáo hội Phật giáo chính thống lâu nay hầu như luôn “sống chung hoà bình” quá ngoan ngoãn với chính quyền, không hề cất một tiếng dù chỉ là kêu thương cho dân lành chịu bất công oan khuất trong đời, tức là vứt bỏ tinh thần “nhập thế” tích cực của chính mình trong thời giành độc lập!
Nhưng vài chục năm may, một khi bản thân chính quyền đã tha hoá, biến chất, bộ phận phản bội ngay lý tưởng “vì dân vì nước” của các bậc tiền bối đã đông đảo như nấm mọc sau mưa, thì đương nhiên những kẻ “ăn theo” trong “ngành” Phật giáo tội gì không… vứt bỏ mũ ni áo chùng để thoải mái ăn thịt, uống rượu, chơi đồng hồ xe hơi xịn hay hơn thế nữa…
Dựa vào tình trạng mất lòng tin hoàn toàn vào “lý tưởng” bánh vẽ, vào công lý xã hội, vào chính quyền, cộng với óc mê tín sâu nặng vốn là truyền thống của người dân ở xứ sở kém phát triển, “một bộ phận không nhỏ” thầy chùa bắt đầu đua nhau… kinh doanh “tâm linh”, buôn thần bán thánh!
Một câu hỏi: Tại sao không thấy tình trạng buôn bán nhảm nhí như thế ở những ngôi chùa thuộc các tổ chức “phi quốc doanh” như “tàn dư” của Giáo hội Phật giáo VN thống nhất (miền Nam cũ) hay Giáo phái Làng Mai (Bát Nhã, Lâm Đồng). Tại sao có sự trùng hợp: trong khi những ngôi chùa này đều bị nhà nước quyết triệt bỏ, thì những ngôi chùa buôn thần bán thánh linh đình đều được sự ưu ái của các quan chức cao cấp (như những gốc cây kỷ niệm, những bức hình chụp đã thừa sức tố cáo) và cũng “tiên phong” trong việc biến các lãnh tụ chính trị thành “Phật” để thờ cúng trong chùa?
Hỏi là đã trả lời.
Cái “u” thuở nọ nay đã thành “ung thư”: sự gắn kết giữa một hệ thống Phật giáo với chính quyền vì mục đích chính trị nay đã “chuyển hoá” thành sự lợi dụng của bọn “đậu phụ nhà” kết cấu với bọn tham quan và gian thương biến chùa chiền thành nơi ô uế, phá hoại Phật giáo, chỗ dựa tinh thần cuối cùng của dân tộc.
Tội ác này, bệnh ung thư này phải trị tận gốc: Trả lại Phật giáo cho các phật tử chân chính. Chấm dứt việc chính trị hoá tôn giáo, chính quyền-công an thọc tay vào Giáo hội. Tôn trọng thực sự quyền tự do tôn giáo bằng cách tôn trọng các tổ chức tôn giáo độc lập!
H.H.
Nguồn: https://baotiengdan.com/2019/03/24/mat-phap-phat-giao-viet-nam-cai-say-nay-cai-ung/