Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

20181127. NGHĨ VỀ GIAI THOẠI STANFORD

ĐIỂM BÁO MẠNG
MỘT GIAI THOẠI NHỎ, MỘT BÀI HỌC LỚN

TỪ THỨC/ BVN 25-11-2018

clip_image002
Một góc trường Đại Học Stanford (Hình: humanistchaplainciesorg), thành lập vào năm 1885. Bắt đầu từ ngày 01/10/1891, trường nhận giảng dạy lứa sinh viên đầu tiên theo tính chất hợp tác giáo dục của một tổ chức phi đảng phái và chính thức đi vào hoạt động. Học phí được miễn cho đến năm 1920. ĐH Stanford giữ vị trí thứ 4 trong số các trường đại học quốc gia Mỹ trong năm 2016 và đồng thời giữ vị trí thứ 3 trong danh sách các trường đại học danh tiếng trên thế giới của The Times Higher Education vào năm 2015.
Giai thoại:
Văn phòng Giám đốc Đại Học Harvard, một ngày cuối thế kỷ 19. Một cặp vợ chồng rụt rè xin gặp ông giám đốc.
Cô thư ký nhìn vẻ quê mùa của hai người khách, chiếc quần sờn gấu của ông và bộ quần áo bình dân của bà, trả lời: ông Giám đốc rất bận, chỉ tiếp khách có hẹn. Đúng ra, ông chỉ quen tiếp những trí thức danh tiếng, những người gia thế, có vai vế trong xã hội.
Hai người khách nhất định xin được ở lại chờ, vì có chuyện muốn nói. Xế chiều, ông Giám đốc Harvard mới hết khách, xách cặp ra về. Cặp vợ chồng xin được thưa chuyện vài phút.
Ông bà cho hay người con trai duy nhất của họ, sinh viên năm đầu của trường, vừa chết vì bệnh thương hàn, và muốn dựng một cái gì để tưởng nhớ đứa con.
Ông Giám đốc thông cảm cái đau buồn của khách, nhưng trả lời: Ông bà thử tưởng tượng, nếu mỗi gia đình có tang xây một mộ bia, bồn cỏ nhà trường sẽ thành một nghĩa trang.
Ông khách nói: Chúng tôi không muốn xây mộ bia. Chúng tôi muốn nhân danh con, xây tặng một giảng đường, hay một nhà nội trú.
Ông Giám đốc nhìn bộ quần áo bình dân, vẻ quê mùa của khách, mỉm cười: Ông có biết xây một giảng đường tốn hàng trăm ngàn đô la?
Bà khách nhìn chồng, nhỏ nhẹ: Nếu chỉ có vậy, tại sao mình không dựng luôn một trường đại học?
Hai ông bà ra về. Ít lâu sau, trường Đại Học Stanford ra đời và trở thành một trong ba đại học uy tín nhất thế giới. Ông Giám đốc Harvard không biết mình vừa tiếp hai vợ chồng tỉ phú Stanford, vua xe lửa, sau này trở thành Thống đốc California.
Trả lại cho xã hội
Giai thoại trên đây về Leland và Jane Stanford được kể đi kể lại, nói lên nhân sinh quan đặc biệt của người Tây Phương, nhất là ở những xứ ảnh hưởng văn hóa Tin Lành, với phương châm được dạy dỗ và thấm nhuần từ nhỏ: Trả lại cho xã hội những gì đã nhận được của xã hội.
Khía cạnh văn hóa đó giải thích tại sao ở Hoa Kỳ và Bắc Âu có những nhà tỷ phú như Bill Gates, Warren Buffett, Zuckerberg dành những ngân khoản khổng lồ làm việc từ thiện, tài trợ những dự án có công ích, trong khi ở những xã hội khác, những người giàu có, nhất là mới giàu, chỉ biết khoe của, phung phí một cách lố bịch, nham nhở.
Những ông bà hoàng dầu lửa, keo kiệt, tàn nhẫn với gia nhân, nhất là di dân lao động, không biết dùng tiền bạc làm gì hơn là phòng tắm, cầu tiêu bằng vàng, xây cất những trường đua ngựa vĩ đại với bồn cỏ xanh giữa sa mạc, ở một xứ Hồi Giáo cấm cờ bạc, cấm đánh độ.
Những tỷ phú Tàu xây lại lâu đài Versailles hàng trăm phòng cho hai vợ chồng với một cậu cả.
Những ông trời con, những cô bồ nhí của quan lớn ở Việt Nam làm thang máy bằng vàng, xây dinh thự xanh đỏ, Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, lấy tiền gấp tàu giấy cho con thả chơi. 
Những nhà độc tài Phi Châu dựng lại nhà thờ Vatican giữa một biển nghèo đói, dùng máy bay riêng chở thợ may, thợ đóng giày nổi tiếng từ Paris, từ Rome (Roma) tới may bộ quần áo giá cắt cổ thứ 200, hay áo lông (fourrure) cho các mệnh phụ sống ở những xứ nóng như lửa.
Hai tư duy khác nhau, đưa tới hai xã hội khác nhau: Một bên thịnh vượng, tiến bộ, một bên nghèo đói, lạc hậu.
Từ kinh doanh tới việc nghĩa
Những nhà triệu phú Mỹ, khi kinh doanh, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào để thành công, kể cả đánh gục đối thủ cạnh tranh, để chiếm độc quyền. Đó cũng là một khía cạnh của văn hóa Tin Lành: Không có mặc cảm với tiền bạc, với thương mại.
Đó là một yếu tố văn hóa, nhưng nó giải thích phần nào cho sự thành công kinh tế của những nước như Hoa Kỳ, Bắc Âu. Văn hóa Tin Lành đã tạo ra những xứ tư bản Tây phương...
Người Tin Lành không che giấu chuyện đã làm ra tiền, coi đó là dấu hiệu của thành công. Gặp người Mỹ, vài giờ sau biết họ lãnh bao nhiêu đô la mỗi năm, có bao nhiêu cái nhà, cái xe.
Văn hóa Thiên chúa giáo có mặc cảm với tiền bạc. Không bao giờ người Pháp nói về lương bổng của mình, ít khi phô trương, gần như muốn che giấu nếu thành công trong đời.
Người Mỹ áp dụng những phương pháp hữu hiệu để kinh doanh, để làm giàu, nhưng khi đã thành công rồi, nghĩ tới việc trả lại cho xã hội những gì đã nhận của xã hội.
Khi Bill Gates trình bày với vợ, con về dự án dùng trên $40 tỷ cho Foundation Bill & Melinda Gates, và quyết định chỉ để lại cho mỗi người con $10 triệu (ít quá, khó thành công; nhiều quá, chỉ làm hư con cái), cả bà vợ và các con đều vui vẻ chấp nhận. Bởi vì họ được dạy dỗ, thấm nhuần văn hóa đó từ nhỏ.
Khi Bill Gates nói về dự án của mình, Warren Buffet đã hưởng ứng ngay, đóng góp phần lớn gia sản kếch xù cho Foundation Gates. Trên 50 tỷ phú, đa số là người Mỹ, đứng đầu là Zuckerberg, đã noi gương Bill Gates.
Các trường đại học Mỹ hay Anh đều giàu có, với những ngân sách khổng lồ, ngang với ngân sách một quốc gia nhỏ, mà nhà nước không tốn một xu, bởi vì những cựu sinh viên khi đã thành công ngoài đời đều quay lại, tự nguyện đóng góp. Đối với họ, đó là một chuyện tự nhiên, khỏi cần ai kêu gọi. Không làm, mới là chuyện bất bình thường.
Đơn giản như vậy, nhưng đem áp dụng ở những nước khác, rất khó. Phải bắt đầu bằng sự thay đổi văn hóa, thay đổi tư duy. Và văn hóa, không phải chuyện một sớm một chiều. Đó là chuyện của hàng thế hệ.
Tinh thần “trả lại cho xã hội” giải thích tại sao vai trò của xã hội dân sự cực kỳ quan trọng trong các xã hội Tây phương. Nó nhân bản hóa các xã hội tư bản.
Ở Hoa Kỳ chẳng hạn, tiêu biểu cho chế độ tư bản, nó xoa dịu những bất công của một xã hội cạnh tranh, mạnh được yếu thua. Đó là hai khuôn mặt mâu thuẫn của tư bản Tây phương. Mâu thuẫn hay bổ túc lẫn nhau.
Những foundation tư nhân, nhan nhản khắp nơi, với những số tiền nhận được ở khắp nơi gởi giúp, trợ cấp học bổng, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật văn hóa, giúp đỡ người nghèo,  người sa cơ lỡ vận.
Truyền thống bác ái
Tại Pháp, nơi người Tin Lành chỉ chiếm trên dưới 3%, cái tinh thần “trả lại cho xã hội” không mạnh như ở Hoa Kỳ hay các nước có văn hóa Tin Lành ở Bắc Âu. Những trường đại học lớn, uy tín nhất của Pháp, những năm gần đây kêu gọi các cựu sinh viên đã thành đạt đóng góp cho trường, nhưng kết quả rất khiêm nhượng.
Không phải một sớm một chiều người ta có thể tạo một truyền thống.
Mặc dầu vậy, tinh thần bác ái ăn sâu tại các nước Thiên chúa giáo như Pháp, Ý, Tây Ban Nha (Espagne, Spain) đã thúc đẩy các xã hội dân sự hoạt động tích cực.
Tại Pháp chẳng hạn, tổ chức Resto du Cœur mỗi năm tặng thực phẩm, bữa ăn cho hàng triệu người. Emmaüs, một tổ chức thiện nguyện do Linh mục Pierre lập ra không những giúp đỡ người nghèo, còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người. Một trong những hoạt động của Emmaüs: nhận bàn ghế, TV, tủ lạnh, computer, quần áo cũ của thiên hạ gởi tặng, sửa lại, bán rẻ lấy tiền làm việc nghĩa. Nhân viên của Emmaüs đều là những người gọi là SDF (Sans Domicile Fixe, không nhà không cửa, homeless), theo nguyên tắc dạy người ta câu cá hơn là cho tiền mua cá. Những người điều hành là những người có dư khả năng làm lương lớn trong các hãng tư, nhưng muốn làm việc công ích để đóng góp cho xã hội.
Từ gia đình tới xã hội
Người Tây phương, có tinh thần cá nhân chủ nghĩa, nhưng không ích kỷ như chúng ta nghĩ.
Rất nhiều người tích cực và nghĩ đến người khác, coi việc giúp đỡ người khác, cải thiện xã hội là một bổn phận. 
Người Việt hy sinh, nghĩ tới người khác nhiều hơn chính mình, nhưng “người khác” chỉ luẩn quẩn trong nhà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, không ra khỏi ngưỡng cửa gia đình. Gia đình Việt Nam chặt chẽ, nhưng xã hội Việt Nam lỏng lẻo. Gia đình Tây phương lỏng lẻo, nhưng xã hội của người ta chặt chẽ. Chữ liên đới, bác ái, huynh đệ không phải là những danh từ trống rỗng trên cửa miệng.
Người Việt dành trọng tâm đời mình cho gia đình. Tai họa xảy ra cho người thân làm tiêu tan luôn đời mình. Mất một người thân, cuộc đời kể như chấm dứt. Ngồi rầu rĩ thương thân, oán phận.
Thái độ của người Tây phương tích cực hơn. Họ nghĩ tới xã hội. Họ không bi quan yếm thế. Tại họa cá nhân không đánh gục họ, trái lại, trở thành một động lực khiến họ lao đầu vào việc cải tiến xã hội.
“Our Children”
Hai ông bà Stanford, khi cậu con cưng chết, quyết định: Từ nay, tất cả những đứa conCalifornia sẽ là con mình, “The children of California shall be our children”. (Giai thoại)
Ở Pháp, những bà mẹ có con thơ ấu chết vì tai nạn xe hơi, thay vì ngồi than trời oán đất, hay oán thù người gây tai nạn, đã thành lập một hội rất thế lực, Ligue Contre La Violence Routière (hội chống lại bạo lực lưu thông) hoạt động tích cực đòi Quốc hội, Chính phủ ban hành những luật lệ hạn chế vận tốc, kiểm soát, trừng phạt những người lái xe sau khi uống rượu, hút cần sa ma túy, mở những lớp về an ninh lưu thông, hỗ trợ các gia đình nạn nhân.
Các nạn nhân khủng bố lập những hội tương trợ các nạn nhân như mình. Một phụ nữ Pháp, thoát chết trong cuộc khủng bố Hồi Giáo ở Paris, nói: Chưa bao giờ tôi hạnh phúc hơn, vì có một gia đình trên 200 người.
Có người trong gia đình chết vì ung thư, họ lập những hội giúp bệnh nhân ung thư.
Những người cựu SDF, khi có công ăn việc làm, mở hội giúp những người vô gia cư.
Người có con chết vì ma túy, gia đình tan nát vì rượu chè, bỏ tiền bạc, giúp những người nghiện ngập. Họ làm việc đó tận tụy, âm thầm, coi như chuyện đương nhiên, ngạc nhiên khi có người ngạc nhiên trước các nghĩa cử đáng khâm phục đó.
Những thí dụ đó nhan nhản, ở mỗi góc phố, đếm không xuể.
Thí dụ điển hình nhất là tổ chức Télémathon. Một số gia đình có con bị các thứ bệnh hiếm, không có thuốc điều trị vì không có hãng bào chế thuốc nào bỏ ra những ngân khoản khổng lồ để tìm kiếm, sản xuất thuốc cho một số rất ít bệnh nhân, đã thành lập Télémathon, mỗi năm vận động quyên góp được hàng trăm triệu euro.
Với số tiền đang kể đó, họ lập tuyển dụng các y sĩ, các chuyên viên y khoa nổi danh, mở những laboratoires tối tân để nghiên cứu phương pháp chữa trị, tìm tòi thuốc men. Tiền đóng góp từ khắp nơi gởi về, thường thường là của những người lợi tức thấp, nhưng sẵn sàng giúp người thiếu may mắn hơn mình. Và những người hoạt động tích cực nhất là những người có con cái đã chết vì bạo bệnh, hoạt động để tránh cho người khác thảm kịch của chính mình.
Không quay đầu về quá khứ, tiến về phía trước, nghĩ đến việc cải thiện xã hội, đó là những yếu tố khiến xã hội Tây phương thành công. Cả về kinh tế lẫn chính trị. Bởi vì dân chủ không phải chỉ xây dựng trên giấy tờ, qua Hiến pháp, bầu cử, luật lệ. Nó phải được thực thi, bảo vệ, nuôi dưỡng bởi xã hội dân sự.
Cha chung không ai khóc
Người Việt Nam hy sinh cho gia đình, đó là một đức tính đáng cảm phục. Đó là một điều may, khiến xã hội Việt Nam không hoàn toàn băng hoại. Hay xã hội đã băng hoại, nhưng vẫn còn những ốc đảo là hàng triệu gia đình, đang âm thầm cố thủ.
Người Việt hết lòng với gia đình, nhưng hoàn toàn thờ ơ với xã hội.
Phương châm của người Việt: Vườn ai nấy rào. Người ta đốn cây, tôi mặc kệ, vì là cây ngoài đường. Người ta xẻ núi, phá rừng, xây chung cư, khách sạn, tôi ngoảnh mặt đi để tránh vạ lây. Hậu quả là Việt Nam được trời cho một giang sơn gấm vóc, ngày nay bị tàn phá một cách thô bạo. Nha Trang, Đà Lạt, Sapa,… những thắng cảnh tuyệt vời đang trở thành những đống xi măng, cốt sắt thô kệch, trước sự thờ ơ của mọi người. Cha chung không ai khóc. 
Tại các nước Tây phương, các di tích lịch sử được bảo trì một phần lớn nhờ các foundation, các tư nhân. Ở Việt Nam, ngược lại, người ta biến của công thành của riêng, không nương tay tàn phá di sản của đất nước để làm giàu, để trục lợi.
Khi nào tình thương, sự liên đới, lòng bác ái, tinh thần trách nhiệm của người Việt ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, lúc đó Việt Nam sẽ có một xã hội lành mạnh, lạc quan, tích cực. Đủ lành mạnh, lạc quan, tích cực, để xây dựng một chế độ dân chủ đích thực. Để xây dựng lại đất nước đang trở thành một bãi rác, nghĩa đen cũng như nghĩa bóng.
T.T.
Tác giả gửi BVN

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

20181126. BÌNH LUẬN VỀ VỤ HỌC TRÒ BỊ PHẠT 231 CÁI TÁT

ĐIỂM BÁO MẠNG
HỌC SINH NHẬP VIỆN CẤP CỨU VÌ BỊ CÔ GIÁO RA LỆNH CẢ LỚP TÁT 230 CÁI

NGUYÊN PHONG /GD 26-11-2018

Sự việc nghiêm trọng nói trên vừa xảy ra tại Trường trung học cơ sở Duy Ninh (huyện Quảng Ninh, Quảng Bình) khiến nhiều phụ huynh học sinh bức xúc.
Bị tát đến nỗi nhập viện cấp cứu
Theo tìm hiểu, vào chiều ngày 19/11, trong giờ ra nghỉ giải lao, các em học sinh lớp 6.2 Trường trung học cơ sở Duy Ninh đùa chơi với nhau.
Em HLN. phải nhập viện cấp cứu sau khi bị bạn và cô giáo tát hơn 230 cái vào má. Ảnh: NP
Sau đó, một số bạn phát hiện học sinh HLN. (11 tuổi, học lớp 6.2) có nói một số câu tục tĩu nên đã phản ánh với cô giáo chủ nhiệm Nguyễn Thị Phương Thủy (41 tuổi, giáo viên dạy bộ môn Toán và Công nghệ).
Nghe vậy, cô Thủy liền ra lệnh cho 23 em học sinh có mặt trong lớp đến tát vào má của em HLN. Theo đó, mỗi bạn tát 10 cái vào má để phạt tội nói tục theo quy định của cô Thủy đặt ra.
Em HLN. phải đứng giữa lớp chịu đựng 230 cái tát của các bạn và một cái tát nữa của cô giáo Thủy. Khi bị tát xong, HLN. vẫn cố gắng chịu đau đớn ngồi học cho đến cuối buổi.
Sau khi trở về nhà, em HLN. bắt đầu có biểu hiện sốt, nóng ran khắp cơ thể, hai má sưng vù. Người nhà thấy vậy phải đưa em vào Bệnh viện Đa khoa Dinh Mười cấp cứu.
Bà Nguyễn Thị Chước (mẹ em HLN.) vừa khóc vừa kể: “Tối ngày 19/11, cháu N. đi học về thì hai má đã sưng tấy lên, không thể ăn uống gì được, nằm sốt li bì. Cả nhà lo sợ nên đưa cháu vào nhập viện điều trị”.
Bà Chước cho biết, sau khi biết được sự việc con bị đánh ở lớp cả nhà rất bức xúc. “Cô có đến xin lỗi nhưng gia đình chưa chấp nhận, người thân gia đình tôi đang rất bức xúc trước sự việc này”.
Bác sĩ Lê Văn Hương - Phó trưởng khoa ngoại, Bệnh viện đa khoa Dinh Mười cho biết, qua thăm khám và điều trị, bệnh nhân có dấu hiệu sang chấn tâm lý, các bác sĩ cho thuốc uống để cắt giảm cơn đau. 
Bác sĩ Hương thông tin thêm:“Tình trạng bệnh nhân khi vào viện có kêu đau vùng má, há miệng có hạn chế, tại vùng má hai bên bị sưng.
Có thể trẻ sẽ bị sang chấn tâm lý nên sẽ vừa điều trị vừa động viện cháu thêm để tâm lý hồi phục”.
Nhà trường nói gì?
Chiều ngày 22/11, đại diện gia đình em HLN. và hội cha mẹ phụ huynh học sinh lớp 6.2 đã đến làm việc với cô Thủy và Ban giám hiệu nhà trường để tìm hiểu nguyên nhân sự việc.

Trường trung học cơ sở Duy Ninh, nơi xảy ra sự việc nghiêm trọng nói trên. Ảnh: NP
Theo bà Phạm Thị Lệ Anh - Hiệu trưởng Trường trường trung học cơ sở Duy Ninh thì nhà trường rất bất ngờ và bức xúc trước sự việc vừa qua.
Có thể do áp lực rèn luyện phong trào thi đua học tốt của học sinh nhà trường nên cô Thủy đã có hành vi không đúng chuẩn mực, đạo đức người giáo viên.
Hội đồng kỷ luật nhà trường đã họp lại và xem xét hình thức kỷ luật cô Thủy, đồng thời báo cáo lên phòng Giáo dục và Đào tạo huyện – bà Anh nói.
Về quy định “quái gở” của cô Thủy  là em học sinh nào vi phạm thì bị mỗi bạn tát 10 cái, bà Anh nói là do cô Thủy tự đề ra, chứ không phải chủ trương của nhà trường.
Ban giám hiệu trường không hề hay biết quy định này, nếu biết trước thì sẽ ngăn chặn kịp thời, không để sự việc đáng tiếc xảy ra.
Bà Anh cũng thừa nhận cách hành xử của cô Thủy là hoàn toàn sai trái, phản giáo dục và sẽ có phương án kỷ luật đích đáng.
Được biết, cô Thủy vừa mới được chuyển về công tác tại trường kể từ hồi đầu tháng 8 năm nay.
Sau khi sự việc xảy ra, Ủy ban nhân dã Duy Ninh, hội cha mẹ phụ huynh học sinh đã đến tận nhà động viện em HLN. cố gắng vượt qua nỗi đau, sớm trở lại trường lớp.
Về phương án xử lý trách nhiệm của giáo viên, nhà trường trong vụ việc này, chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin.
Nguyên Phong
BỆNH THÀNH TÍCH ĐÃ TÁT 231 CÁI TÊ TÁI VÀO GIÁO DỤC
NGUYỄN CAO /GDVN 26-11-2018
Hành động của cô giáo Nguyễn Thị Phương Thủy, giáo viên chủ nhiệm lớp 6.2, Trường Trung học cơ sở xã Duy Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình khi đưa ra hình phạt tát vào mặt học trò vi phạm đã gây nên bức xúc cho nhiều người trong xã hội.
Đây là một hình phạt phản cảm và có phần ác ý vô cùng nên rất khó nhận được sự đồng cảm của xã hội trong lúc này. 
Hành động của cô đáng trách vô cùng nhưng theo lí giải của cô Thủy thì nguyên nhân bắt đầu từ thành tích thi đua của lớp mà cô đang chủ nhiệm.
Suy cho cùng, thành tích không có lỗi nếu như các trường phát động thi đua một cách khoa học, lành mạnh, kích thích được động lực phấn đấu của học trò. 
Biện pháp thực hiện phải bắt đầu từ việc tạo thói quen cho học trò và từ từ uốn nắn để đi vào nền nếp. 
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý lớp học thì một số giáo viên không có những biện pháp nhân ái, khả thi nên đưa ra những mức phạt mang tính bạo lực, phản giáo dục.  
Trong khi, ai cũng biết rằng biện pháp giáo dục học trò bằng bạo lực chưa bao giờ được xem là thông minh và cũng chẳng bao giờ phát huy được hiệu quả.
Trường hợp cô giáo chủ nhiệm lớp Nguyễn Thị Phương Thủy của trường Trung học cơ sở Duy Ninh là một ví dụ điển hình.
Có lẽ, những trò nghịch ngợm, phá phách, gọi tên cha mẹ nhau trong lớp của học trò đã có từ rất lâu rồi.
Nhiều thế hệ học trò không lạ gì khi trong lớp mà thầy cô nói, hay ghi bài trên bảng có chữ nào trùng với tên cha mẹ một bạn nào đó là một số bạn cứ giả vờ hỏi lại để cô thầy đọc lại, hay cố tình đọc lớn chữ có tên cha mẹ bạn rồi cả đám cười cười lên… sung sướng. 
Biết là những chuyện như vậy không phù hợp nhưng việc làm này của học trò không phải là hành động “nói tục” và càng không phải vi phạm ở mức nghiêm trọng. 
Đó chỉ là cách trêu chọc nhau quá đà của tuổi học trò, giáo viên chỉ cần khéo léo nhắc nhở là học sinh ắt sẽ thay đổi ngay.
Theo lời kể của Hoàng Long Nhật - em học sinh vừa bị bạn và cô tát 231 cái vào má thì khi em thấy cô ghi trên bảng là “Dân ca Thanh Hoá”, em đọc đến chữ “Thanh” lớn hơn các chữ khác mà “Thanh” là tên mẹ của một bạn trong lớp. 
Bạn ngồi bên cạnh liền nói em chửi tên ba mẹ của bạn nên đã nói với cô giáo chủ nhiệm Nguyễn Thị Phương Thủy và cô giáo chủ nhiệm đã cho 23 bạn trong lớp tát vào tát má. 
Sự việc này khiến chúng ta thấy choáng váng. Hàng trăm cái tát vào mặt học trò không chỉ khiến cho học sinh đau đớn phải nhập viện mà có lẽ những thầy cô đang công tác trong ngành giáo dục đau theo vì hình phạt của đồng nghiệp trong ngành. 
Hành động của cô Nguyễn Thị Phương Thủy đã bị nhà trường đình chỉ công tác 15 ngày và tiếp tục chờ xử lý tiếp. 
Nhưng, chắc chắn một điều là trong lúc này đây cô sẽ phải ân hận vì hành động và phương pháp giáo dục của mình. 
Chuyện sai đến đâu sẽ có luật viên chức, pháp luật phán xét một cách công bằng, và với cô Thủy sẽ phải xót xa cho những hành động sai trái của mình trong quãng thời gian còn lại của đời mình. 
Nhưng ngay lúc này đây, những hành động của cô Thủy đã khiến cho dư luận bất bình, hình ảnh người thầy ít nhiều bị mai một và làm ảnh hưởng đến hàng triệu giáo viên đang phấn đấu cho sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Áp lực hiện nay của thầy cô là rất lớn nhưng khi đã chọn nghề sư phạm, điều đầu tiên người thầy phải hướng tới là luôn giữ cho thiên lương của mình trong sáng, nhân ái. 
Bản tính có thể nóng giận nhưng khi đứng trước học trò thì người thầy cần phải hành xử bình tĩnh, tế nhị và nhân văn để không làm ảnh hưởng đến danh dự bản thân của mình và của ngành giáo dục. 
Trước sự việc này, dù dư luận, phụ huynh học sinh có cảm thông nhưng rõ ràng cơ hội đứng lớp của cô giáo Nguyễn Thị Phương Thủy đã trở nên mong manh và gần như đã không còn cơ hội nữa. 
Bởi, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có văn bản yêu cầu Sở Giáo dục - Đào tạo Quảng Bình xác minh, xử lý nghiêm. 
Giám đốc Sở Giáo dục Quảng Bình thì nói: “không để một giáo viên như vậy trong ngành giáo dục”…
Trước hành động và việc làm của mình, cô giáo Nguyễn Thị Phương Thủy đã trình bày: “Tôi biết việc làm của mình là sai, cũng do tôi nóng giận và một phần vì áp lực thi đua” khiến chúng ta không khỏi ái ngại. 
Có thể lời cô Thủy là chống chế cho sai phạm của mình, cũng có thể là nói đúng. 
Bởi, áp lực thi đua ở từng lớp, từng trường bây giờ bây giờ nặng nề và kinh khủng lắm. Nhưng, với cô Thủy bây giờ thì “thi đua” còn có nghĩa gì nữa đâu! Thương thay….
Có lẽ, không phải bây giờ mà trước đây đã có nhiều giáo viên hành xử không phù hợp, bạo lực với học trò.
Gần như những trường hợp như vậy xảy ra thì giáo viên luôn là người chịu tác động nhiều nhất. Nhiều người đã mất nghề, bị dư luận dè bỉu, coi khinh.
Vì thế, trước áp lực thi đua, thành tích thì người thầy cũng cần tĩnh táo và đưa ra những giải pháp hợp lý nhất có lợi cho học sinh, cho ngành và ngay cả với cả bản thân mình. 
Đừng mải cuốn vào vòng xoáy thi đua một cách bất chấp để rồi phải ân hận, xót xa cho chính mình trong những năm tháng về sau.
Nguyễn Cao

LỆNH TÁT BẠN ĐÃ CÓ TỪ LÂU, HÀNG CHỤC EM KHÁC ĐÃ TỪNG LÀ NẠN NHÂN

NGUYÊN PHONG / GDVN 26-11-2018

Trần tình của cô chủ nhiệm
Sau khi sự việc cô giáo Nguyễn Thị Phương Thủy (Trường trung học cơ sở Duy Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình) ra lệnh 23 học sinh tát 230 cái vào má em HLN., em này nhập viện đã khiến dư luận bức xúc.

Cô Nguyễn Thị Phương Thủy thừa nhận hành vi của mình là sai trái, do áp lực thi đua. Ảnh: NP
Bộ Giáo dục cũng như các ngành chức năng đã vào cuộc để có phương án xử lý cụ thể đối với trường hợp này. Vậy thì đâu là nguyên nhân khiến em HLN. bị đối xử một cách thô bạo như vậy?
Theo bà Phạm Thị Lệ Anh - Hiệu trưởng trường trung học cơ sở Duy Ninh (huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) thì nguyên nhân dẫn đến việc cô Thủy áp dụng quy định “quái gở” tát học sinh nói tục là vì áp lực rèn luyện phong trào thi đua học tốt của học sinh nhà trường.
Việc quy định ngầm, em học sinh nào vi phạm thì bị mỗi bạn tát 10 cái là do cô Thủy tự đề ra. Ban giám hiệu trường không hề hay biết quy định này, nếu biết trước thì sẽ ngăn chặn kịp thời, không để sự việc đáng tiếc xảy ra.
Đây là bài học trong công tác chấn chỉnh, quản lý đội ngũ giáo viên của nhà trường – bà Anh nói.
Còn về phía cô Thủy cũng thừa nhận, cô này tiếp nhận làm chủ nhiệm lớp 6.2 từ đầu năm học 2018-2019. Nhưng lớp này không có thành tích tốt về học tập và thi đua rèn luyện, thường xuyên đứng “tốp” dưới của trường.
Cô Thủy cho hay, cả lớp 6.2 chỉ có một học sinh đạt học lực khá, điểm thi đua của lớp luôn xếp cuối bảng.
Nên khi nào xảy ra trường hợp có học sinh trong lớp nói tục bị phát hiện thì lớp sẽ bị trừ điểm thi đua rất nặng.
Do đó, khi về nhận lớp, cô Thủy đã đặt ra quy định: “nếu học sinh nào vi phạm nói tục sẽ bị mỗi bạn trong lớp tát 10 cái vào má. Bạn nào không tát hoặc tát nhẹ sẽ bị phạt tát ngược lại 10 cái”.
Nói về việc cho học sinh tát em HLN. 230 cái vào má, cô Thủy cho hay, hôm ngày 19/11 cô này lên lớp thì nghe có học sinh báo lại là em HLN. nói tục, chửi bậy.
“Trước đó, tôi nói ai chửi tục là sẽ bị các bạn tát nên một số em trong lớp mới tát em N. Bị đau nên em N. có chửi thề, nên tôi mới tát em một cái rồi đi ra ngoài.
Sau đó tìm hiểu và biết 23 em đã tát N. Tôi biết rõ việc làm này là sai, cũng do tôi nóng giận và một phần vì áp lực thi đua”, cô Thủy nói.
Nhiều học sinh khác cũng từng bị tát
Một học sinh lớp 6.2 cũng cho hay, việc thực hiện tát bạn N. là do cô chủ nhiệm quy định từ trước nên lớp thực hiện. Cô Thủy chỉ có mặt một lúc chứ không chứng kiến toàn bộ việc cả lớp tát bạn HLN.
Theo học sinh này thì trước đây đã có 9 – 10 bạn bị tát như thế vì nói tục, tuy nhiên không nặng như bạn HLN.
Học sinh này cũng cho biết, các bạn không muốn áp dụng quy định quái gở của cô Thủy nữa vì không ai muốn đánh bạn cùng lớp.
Theo gia đình em HLN. thì trong chiều ngày 24/11, em đã cơ bản bình phục và trở lại trường để học tập. Nhưng gia đình cũng như bản thân N. không muốn học lớp cô Thủy chủ nhiệm nữa và muốn chuyển lớp.
“Cô Thủy có đến gặp gia đình tôi để xin lỗi về sự việc vừa qua. Nếu cô biết sai và sửa chữa lỗi lầm thì gia đình cũng không muốn truy cứu đến cùng.
Còn việc xử lý kỷ luật cô Thủy ra sao thì đó là việc của nhà trường và các cơ quan chức năng”, bà Trần Thị Chước (mẹ của em N.) cho hay.
Nguyên Phong
ĐỦ DẤU HIỆU PHẠM TỘI HÌNH SỰ VỤ HỌC TRÒ BỊ TÁT 231 CÁI
HÀ DUNG/ GDVN 26-11-2018
Em HLN. (học sinh lớp 6.2) phải nhập viện điều trị sau khi bị tát 230 cái vào má theo yêu cầu của cô giáo chủ nhiệm.




Bất khả xâm phạm thân thể
Hiến pháp năm 2013 quy định rất rõ: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm;
không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.
Vấn đề này cũng đã được Luật Giáo dục đặc biệt quan tâm khi đưa vào là hành vi cấm kị, nhà giáo không được làm, đó là: nghiêm cấm hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể của người học.
Các cơ quan cần phải xác định rõ tính chất phức tạp của vấn đề để có phương án xử lý phù hợp.
Thương tật cho học sinh trong vụ việc này, có thể không trực tiếp do cô giáo gây ra. Nhưng cô giáo là người chủ động chỉ đạo, yêu cầu 23 học sinh (những người phụ thuộc mình) tát bạn và bản thân cô cũng tham gia tát.
Hành vi này gây tổn hại trực tiếp cho sức khỏe của người bị hại và gây tổn thương tinh thần do bị xúc phạm nhân phẩm.
Cụ thể, về vấn đề sức khỏe, nạn nhân trong vụ việc này đang phải nhập viện và chắc chắn trong thời gian tới sẽ có kết quả chính thức về tỉ lệ tổn thương.
Những hành vi này có dấu hiệu cấu thành tội “Hành hạ người khác” được quy định cụ thể tại điều 140 Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể:
1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 11% trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên.
Đối xử tàn ác ở đây được hiểu là hành vi gây ra sự đau đớn về thể xác và tinh thần đối với nạn nhân dưới các hình thức như đánh đập, bỏ đói, có hoặc không kèm theo việc chửi mắng thậm tệ.
Ở đây cô giáo không trực tiếp đánh 230 cái nhưng yêu cầu các học sinh khác (những người cũng lệ thuộc vào cô giáo) đánh học sinh này gây nên những tổn thương về thể xác lẫn tinh thần.
Trong vụ việc này, nạn nhân là học sinh đang tham gia học tập tại lớp lệ thuộc cô giáo, không giám phản kháng.
Chiếu theo điều luật này thì cô giáo đã vi phạm vào điểm 1 khoản 2 điều 140 nên có thể lãnh mức án từ 1 đến 3 năm tù.
Tội “Hành hạ người khác” được áp dụng khi việc đối xử tàn ác chưa đạt đến mức độ nghiêm trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ.
Còn nếu xác định việc đánh học sinh là ý thức cố ý của cô giáo, ý thức được việc đánh đó sẽ gây tổn hại về sức khỏe thì phải truy cứu tội cố ý gây thương tích.
Đối với tội phạm này, nếu thương tích dù trên hay dưới 11% thì khả năng chịu trách nhiệm hình sự vẫn rất cao.
Bởi đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác được quy định tại điểm e khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự thì:
Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương nếu dưới 11% nhưng thuộc trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Còn nếu tỷ lệ thương tích của nạn nhân từ 11% đến 30% thì sẽ bị phạt tù từ 02 đến 05 năm tù.
Tổn thất tinh thần rất nặng nề
Trong vụ việc này, học sinh bị bạn và cô giáo đánh không những bị tổn thương về mặt thể xác mà tâm lý sẽ bị ảnh hưởng vô cùng nặng nề.
Bước đầu tại bệnh viện Bác sĩ Lê Văn Hương - Phó trưởng khoa ngoại, Bệnh viện đa khoa Dinh Mười cho biết, qua thăm khám và điều trị, bệnh nhân có dấu hiệu sang chấn tâm lý.
Đứng giữa lớp để chịu 231 cái tát, ở lứa tuổi mới lớn khó mà tránh khỏi những suy nghĩ tiêu cực, tổn thương về tinh thần.
Xét về mặt đạo đức nghề nghiệp thì cô giáo cũng đã vi phạm nghiêm trọng đạo đức, gây tổn thương tinh thần không chỉ cho trực tiếp nạn nhân bị tát mà chính các em học sinh, bị ép tham gia tát bạn cũng là nạn nhân chịu những áp lực về tinh thần không hề nhỏ.
Bởi việc tát vào má bạn là việc mà không học sinh nào muốn thực hiện. Không khác nào việc “lấy học sinh trị học sinh” – một cách giáo dục thiếu nhân văn, thiếu tính giáo dục.
Thiết nghĩ, cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc để xác định hành vi vi phạm pháp luật của cô giáo trong vụ việc này để có hình thức xử lý đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hà Dung

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

20181124. GIÁO SƯ PHẠM MINH HẠC BÀN VỀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM

ĐIỂM BÁO MẠNG
TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM CỦA GS PHẠM MINH HẠC

THÙY LINH/ GDVN 24-11-2018

Theo nguyên Bộ trưởng Phạm Minh Hạc, nếu không có triết lý giáo dục, chúng ta sẽ không thể từ 5% người dân biết chữ trước Cách mạng tháng Tám, hiện đã lên hơn 90% người dân biết chữ…(Ảnh: Báo Lao động)
LTS: “Triết lý giáo dục Việt Nam” là gì?” là câu hỏi rất “nóng” thời gian gần đây. Tại hai kỳ họp Quốc hội vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội cũng như thành viên Chính phủ đã đề cập đến triết lý giáo dục. 
Trước băn khoăn này, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với Giáo sư Phạm Minh Hạc - nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục– người từng viết cuốn sách “Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam”, xuất bản lần đầu năm 2011 và tái bản năm 2013. 
Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Phóng viên: Giáo sư từng thực hiện đề tài nghiên cứu cấp bộ về triết lý giáo dục trên thế giới và Việt Nam, đồng thời đã xuất bản cuốn sách về vấn đề này. Vậy triết lý giáo dục là gì và nó có ý nghĩa thế nào đối với sự phát triển của một nền giáo dục, thưa ông?
Giáo sư Phạm Minh Hạc: Trước hết, phải khẳng định triết lý giáo dục là vấn đề lớn của xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng, vì nó có ý nghĩa quan trọng để phát triển sự nghiệp giáo dục.
Triết lý giáo dục nêu lên tư tưởng tổng quát, để xác định chủ trương, đường lối xây dựng và phát triển giáo dục. Nói cách khác, muốn phát triển giáo dục thì phải có triết lý giáo dục.
Lý do nào để Giáo sư làm nghiên cứu cũng như ra sách về triết lý giáo dục?
Giáo sư Phạm Minh Hạc: Khi đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận có cuộc họp với các Bộ trưởng và Thứ trưởng của Bộ đã nghỉ hưu tại Hạ Long. 
Sau cuộc họp đó, Bộ trưởng Luận nói với tôi là nên có tuyên bố về triết lý giáo dục. Tôi đề xuất cần có đề tài, Bộ đồng ý đề tài nghiên cứu khoa học  cấp bộ về vấn đề này.
Tôi cũng đồng thời viết cuốn sách “Triết lý giáo dục của thế giới và Việt Nam”, sau khoảng 6 tháng thì hoàn thiện, dày 300 trang. 
Khi nghiên cứu và viết sách, Giáo sư xác định triết lý giáo dục của Việt Nam là gì?
Giáo sư Phạm Minh Hạc: Khi đó, tôi xác định triết lý giáo dục là phải giáo dục cho mỗi người có “giá trị bản thân”, tức là dạy và học phải giúp người học hình thành hệ giá trị của từng người, có hiểu biết, có thái độ đúng, có năng lực. 
Mỗi người học phải làm cho mình thực sự có năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu của xã hội, bảo đảm cuộc sống cũng như trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội. “Giá trị bản thân” mà tôi đề xuất đã được ban soạn thảo Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục công dân tiếp thu.
Theo đó, “giá trị bản thân” hay “phẩm chất chủ yếu” của mỗi người sẽ gồm 5 giá trị: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm.
Mặc dù đến thời điểm này, chưa có một văn kiện nào của Đảng hay chính sách nào của Chính phủ dùng cụm từ “triết lý giáo dục”, song thực tế, triết lý này đã có và luôn là sợi chỉ xuyên suốt trong quá trình phát triển của nền giáo dục nước nhà. Thưa giáo sư, triết lý giáo dục của Việt Nam hiện nay cần hướng tới gì?
Giáo sư Phạm Minh Hạc: Đúng là từ năm 1945 đến nay, không có văn kiện nào của Đảng cũng như chính sách nào của Chính phủ đề cập đến cụm từ “triết lý giáo dục”.
Khi tôi làm ở Viện Khoa học giáo dục và Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng không dùng cụm từ này. Chính vì thế, người ta có nhu cầu đi tìm triết lý giáo dục mang tính thống nhất.
Đặc biệt khi cuộc sống đặt ra “triết lý giáo dục” thì chúng ta gọi như thế, nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta không có triết lý giáo dục. Triết lý giáo dục luôn là sợi chỉ xuyên suốt trong quá trình phát triển giáo dục của nước nhà. 
Bởi nếu không có triết lý giáo dục, chúng ta sẽ không thể từ 5% người dân biết chữ trước Cách mạng tháng Tám, hiện đã lên hơn 90% người dân biết chữ…
Cụ thể, sau Cách mạng tháng Tám, xuất phát điểm của nước ta rất thấp, chỉ 5% người dân biết chữ.
Do vậy, khoảng một tuần sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945, Chính phủ đã ban hành 3 chỉ thị về phát triển giáo dục, xóa nạn mù chữ. Theo triết lý giáo dục mà Bác Hồ đề ra khi đó “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” thì giáo dục Việt Nam rất phát triển. 
Trải qua 73 năm qua, chúng ta không dùng thuật ngữ triết lý giáo dục mà đường lối phát triển giáo dục là các khẩu hiệu để chỉ đạo sự phát triển giáo dục Việt Nam.
Triết lý giáo dục của chúng ta hiện nay chính là tư tưởng Nghị quyết số 29 - NQ/TW năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Trong đó, Nghị quyết đã đề ra triết lý giáo dục nói vắn tắt là “năng lực và phẩm chất”. 
Tức là, giáo dục không chỉ dạy kiến thức để học sinh có năng lực làm việc cho bản thân, gia đình, xã hội, góp phần đưa đất nước phát triển, mà còn tạo ra những phẩm chất tương ứng cho từng con người trong thời đại mới.
Đó là: Chăm chỉ, yêu nước, ứng xử tốt với mọi người, có học vấn, có nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, trách nhiệm, lương tâm.
Trân trọng cảm ơn Giáo sư Phạm Minh Hạc. 
Thùy Linh (ghi)
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

HÃY BÀN NHỮNG ĐIỀU THIẾT THỰC

TBKTSG 23-11-2018

Ảnh minh họa Bảo Uyên.
(TBKTSG) - Đọc qua những thông tin nổi lên về giáo dục ở các nước, có thể thấy họ đang quan tâm đến những vấn đề khác với chúng ta. Trong khi chúng ta say mê bàn về “triết lý giáo dục”, sự khác nhau giữa “đại học” và “trường đại học”, kỳ thi tốt nghiệp phổ thông nên là “mấy trong một”... thì ở các nước họ bàn những thứ rất thiết thực.
Pháp, chẳng hạn, vừa thông qua luật cấm học sinh dưới 15 tuổi sử dụng điện thoại di động, máy tính bảng, đồng hồ thông minh không chỉ trong giờ học mà còn trong giờ giải lao, lúc ăn trưa, ngoài hành lang, nói chung vào trường phải tắt máy, bỏ vào hộc tủ riêng. Mặc dù biện pháp này có thể xem là quá nghiêm khắc nhưng đó chính là “triết lý giáo dục” của người Pháp - một “luật cho thế kỷ 21” như lời Bộ trưởng Giáo dục nước này!
Mỹ thì công bố một khảo sát, trong đó, những người được khảo sát cho rằng trong tương lai bằng đại học không còn quan trọng bằng kỹ năng nghề nghiệp. Trong 20 kỹ năng xã hội ngày càng cần đến, không có kỹ năng nào cần đến bằng cấp đại học. Đã có 15 doanh nghiệp đa quốc gia tuyên bố khi tuyển dụng sẽ không đòi bằng đại học nữa. Riêng Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố một báo cáo, ước tính 65% học sinh ngày nay bước chân vào trường tiểu học sẽ ra đời và làm những nghề hiện nay chưa tồn tại. Dĩ nhiên một khi đã xác định được xu hướng nền giáo dục của các nước sẽ tìm cách xoay chuyển để thích nghi với xu hướng mới.
Vì vậy, thay vì đi sâu bàn những vấn đề hoặc là mang tính câu chữ, hoặc là quá chung chung, thiết nghĩ nên xác định những vấn đề nền giáo dục của chúng ta đang gặp phải và tìm cách giải quyết. Lấy ví dụ, Luật Giáo dục đại học được sửa chữa, bổ sung nhằm mục đích nâng cao tính tự chủ của các trường đại học - thế thì cứ nhắm vào tính tự chủ để thiết kế, làm sao để trao quyền nhiều nhất cho các trường nhưng không tạo khe hở để kẻ xấu lợi dụng biến trường học thành nơi “sản xuất bằng cấp” hay phục vụ các mục đích tư lợi khác. Tính tự chủ ấy phải đặt trong bối cảnh đang có những thay đổi về công nghệ rất lớn, tác động mạnh lên nội dung cũng như hình thức giáo dục.
Lấy thước đo đó để đối chiếu, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là hướng phải đi. Tự chủ trong chuyên môn là phải để các trường tự do tuyển sinh, tự thiết kế môn học, tự chọn môn học để đưa vào chương trình; giáo sư, phó giáo sư phải do trường công nhận và bổ nhiệm... Tự chủ trong bộ máy và nhân sự là tạo không gian pháp lý rộng rãi để trường nào có điều kiện sẽ tự nhận mình là đại học đa ngành, bên dưới có nhiều trường đại học chuyên ngành trực thuộc; hiệu trưởng phải do hội đồng trường chọn và bổ nhiệm, kể cả trường công lập... Tự chủ trong tài chính là phải tạo điều kiện để các trường công lập vẫn có thể trả lương cao cùng các điều kiện làm việc tối ưu khác để mời được thầy giỏi; thu đủ học phí nhưng phải có tỷ lệ nhất định sinh viên có học bổng nhằm tạo cơ hội cho người nghèo... Đó chỉ là một vài ví dụ minh họa.
Xác định những vướng mắc trở ngại thật sự cho ngành giáo dục, nhất là giáo dục đại học thì không khó. Vấn đề là chúng ta đã sẵn sàng để giải quyết chúng hay chưa mà thôi.
TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:
LƯỢNG ĐỔI THÌ CHẤT ĐỔI, TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CŨNG VẬY THÔI

XUÂN DƯƠNG/ GDVN 26-11-2018

Triết lý giáo dục của Việt Nam là gì? Ảnh minh hoạ: giaoduc.net.vn
Gần đây không ít người đề cập đến khái niệm “Triết lý giáo dục” của Việt Nam.
Có ý kiến cho rằng đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa có triết lý giáo dục vì không thấy văn bản, nghị quyết nào đề cập đến “Triết lý giáo dục” của Việt Nam. 
Cũng có người khẳng định Việt Nam đã có triết lý giáo dục từ khá sớm thể hiện qua câu “Tiên học lễ, hậu học văn”,… 
Một số thì cho rằng triết lý giáo dục phải mang tính bao quát, phát biểu gọn trong một câu nói, chẳng hạn giáo dục nhằm đào tạo một thế hệ đủ tầm “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. 
Tại diễn đàn Quốc hội, một số đại biểu đã chất vấn Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về “Triết lý giáo dục” và Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho biết:
“Đã chỉ đạo nhóm nghiên cứu đề tài cấp quốc gia, nghiên cứu một cách thật sự, cẩn thận” về vấn đề cần sự đồng thuận cao trong xã hội là “Triết lý giáo dục”. [1]
Nhiều năm trước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đồng ý với Giáo sư Phạm Minh Hạc - nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - về việc triển khai một đề tài khoa học cấp bộ nhằm xác định “Triết lý giáo dục” của Việt Nam. [2]
Hiện chưa biết “Triết lý giáo dục” theo đề tài cấp bộ mà nguyên Bộ trưởng Phạm Vũ Luận chỉ đạo tiến hành đã thực hiện chưa, kết quả thế nào, đã được vận dụng vào các chủ trương, quyết sách giáo dục của nhà nước hay đang lưu trữ chờ ngày “giải mật”?
Có điều chắc chắn là sang nhiệm kỳ của Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, đề tài “Triết lý giáo dục” Việt Nam đã được nâng lên cấp quốc gia chứ không phải cấp bộ.
Nếu “truyền thống” từ thời Bộ trưởng Luận, Bộ trưởng Nhạ được phát huy thì có lẽ sẽ phải hình thành đề tài cấp ASEAN hay cấp châu lục về triết lý giáo dục của Việt Nam.
Nếu điều đó xảy ra thì kinh phí đề tài sẽ do cơ quan nào chi trả.
Gần đây, một số ý kiến cho rằng “Triết lý giáo dục của chúng ta hiện nay chính là tư tưởng Nghị quyết số 29 - NQ/TW năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Theo dõi phát biểu của các đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Hải, Phạm Trí Thức, Phạm Trọng Nhân hoặc quan điểm của các tác giả khác như Hoàng Xuân Vinh, Nguyễn Khánh Trung,… có thể thấy một điều thú vị, “Triết lý giáo dục” nhận được sự quan tâm từ một bộ phận khá đông những người không làm việc trong ngành giáo dục. 
Đặc biệt là chưa thấy truyền thông đưa tin về quan điểm của các thành viên “Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nguồn nhân lực” cũng như “Ủy ban Quốc gia Đổi mới giáo dục, đào tạo” liên quan đến “Triết lý giáo dục” của Việt Nam?
Nếu thành viên hai cơ quan mang trọng trách “Quốc gia” ấy chưa lên tiếng, cùng với đó là cả hai cơ quan này chưa lên tiếng, nếu chỉ một “Đề tài khoa học” do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì là đủ để xây dựng “Triết lý giáo dục” quốc gia thì liệu có thể yên tâm đó sẽ là một “triết lý” khoa học, hoàn chỉnh có tầm tác dụng nhiều thập kỷ, hoặc là cả thế kỷ?
Với mỗi quốc gia, “Triết lý giáo dục” có quan trọng không?
Câu trả lời là có.
Từ năm 1945 đến nay, chưa có một văn kiện chính thức nào đề cập đến “Triết lý giáo dục” của Việt Nam mặc dù “Triết lý giáo dục quan trọng như Hiến pháp của quốc gia, là kim chỉ nam cho hoạt động dạy và học”. [3]
Vậy có phải vì thiếu “triết lý” mà giáo dục nước nhà có nhiều bất cập?
Câu trả lời của cá nhân người viết là không.
Trên thế giới, khi một lực lượng chính trị lên nắm quyền, chẳng hạn sau các cuộc đảo chính quân sự, việc đầu tiên mà giới tướng lĩnh cầm quyền tiến hành là sửa hiến pháp, đôi khi là bãi bỏ hiến pháp. 
Xem thế đủ thấy Hiến pháp trong không ít trường hợp chỉ là công cụ mà giới chính trị sử dụng nhằm củng cố quyền lực.
Cũng có trường hợp một số điều được ghi trong hiến pháp chỉ là để mỵ dân chứ không bao giờ được thực hiện.
Suy ra hoạt động giáo dục ngay cả khi có “Triết lý giáo dục” cũng chưa chắc mang lại kết quả (theo mong đợi của số đông) nếu lực lượng cầm quyền dành sự quan tâm nhiều hơn đến kinh tế, chính trị chứ không phải giáo dục. 
Chính vì lẽ đó, bài viết này không có tham vọng đề cập đến vấn đề “cao siêu” là triết lý giáo dục (Educational philosophy statement), cũng không muốn nói đến vấn đề chuyên sâu là “Triết học về giáo dục” (Philosophy of education) mà chỉ xin nêu một vài suy nghĩ. 
Cứ cho rằng “Triết lý giáo dục” được các chuyên gia xây dựng xong, liệu nó có giúp cho giáo dục nước nhà thực sự đổi mới theo tinh thần Nghị quyết 29 của Trung ương, có tạo nên sự biến chuyển về chất của nền giáo dục nước nhà?
Một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin là Quy luật Lượng - Chất.
Quy luật này có thể khái quát như sau: “Trong mỗi sự vật, sự thay đổi về lượng diễn ra từ từ, đến một mức độ nhất định sẽ dẫn tới sự thay đổi (nhảy vọt) về chất”.
Như vậy, muốn nền giáo dục thay đổi về “chất” thì nền giáo dục đó phải có sự thay đổi căn bản về lượng.
Đòi hỏi hình thành “Triết lý giáo dục Việt Nam” chỉ là những phát biểu hình thức hay thực sự các diễn giả muốn “chất” của giáo dục thay đổi? 
Phải chăng các ý kiến phát biểu đều cho rằng giáo dục nước nhà đã hoàn thành giai đoạn biến đổi về “lượng”, giờ là lúc “biến chất” để trở thành nền giáo dục có “triết lý”?
Không khó để nhận diện sự thay đổi về lượng của giáo dục nước nhà thông qua nghiên cứu ba lĩnh vực chủ chốt:
Các chính sách giáo dục; Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục; Chất lượng đào tạo sư phạm và trình độ thực tế của đội ngũ nhà giáo.
Về chính sách giáo dục:
Hiến pháp, Nghị quyết 29 của Trung ương đều khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, vậy cho đến nay điều này đã trở thành hiện thực hay vẫn còn đang tranh luận?
Một nền giáo dục bị điều chỉnh bởi rất nhiều đạo luật (Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Viên chức,…);
Các cơ sở giáo dục đại học bị “chủ quản” bởi rất nhiều bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị - xã hội là hợp lý hay bất cập? 
Một Bộ Giáo dục và Đào tạo “hữu danh vô thực” gần như không quản lý ngân sách và đội ngũ nhà giáo là hợp lý hay bất cập?
Với việc hiện nay, Quốc hội đang phải tiến hành sửa đổi các Luật Giáo dục, vừa sửa xong Luật Giáo dục đại học, việc chưa ban hành được Luật Nhà giáo,… có thể thấy chính sách giáo dục của Việt Nam cho đến năm 2018 này vẫn còn đang trong giai đoạn hoàn chỉnh. 
Về cơ sở vật chất:
Hệ thống trường học bị chia nhỏ, số trường liên cấp bậc phổ thông không đáng kể; Mạng lưới trường đại học, trường đào tạo nghề không hợp lý; 
Cơ sở vật chất khối trường phổ thông nghèo nàn, nhất là các phòng học ngoại ngữ, tin học; 
Tại các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông gần như không có trang thiết bị cho mảng giáo dục thể chất, thậm chí nhiều đại học tầm cỡ cùng không có bể bơi, phòng tập thể thao,… 
Tại thủ đô Hà Nội, tình trạng một lớp học có tới 60-70 học sinh không phải là cá biệt.
Nếu cần nói thêm thì đó là tình trạng xuống cấp trường lớp tại nhiều địa phương không chỉ là đe dọa an toàn tính mạng học trò mà thực sự đã khiến không ít học sinh nhập viện.
Hệ thống trường học miền núi, vùng sâu vùng xa, mạng lưới giao thông đến các điểm trường có bao nhiêu phần trăm đạt chuẩn theo quy định?
Có thể khẳng định cơ sở vật chất của giáo dục nước nhà còn nghèo nàn, ít được đầu tư và hình như chưa dành được sự quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền địa phương. 
Những cố gắng mà hệ thống chính trị mang lại rõ nét nhất là 20% ngân sách dành cho giáo dục và một số quy định trong Hiến pháp, trong các Nghị quyết mà cho đến nay không ít quy định vẫn chưa có chế tài thực hiện. 
Với nguồn ngân sách hạn hẹp, việc xã hội hóa giáo dục tuy đã đặt ra song vướng quá nhiều rào cản cả về cơ chế lẫn tâm lý cán bộ nên hầu như dậm chân tại chỗ.
Về đội ngũ nhà giáo:
Chất lượng đào tạo giáo viên, sự quan tâm của xã hội và những người hoạch định chính sách đến nghề dạy học là vấn đề không phải bàn luận thêm bởi đã có quá nhiều phân tích, đánh giá. 
Cho đến thời điểm hiện tại, khi Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đề xuất các tiêu chuẩn nâng cao trong tuyển chọn giáo sinh sư phạm thì sau bao năm nữa Việt Nam sẽ có đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn? 
Đến lúc nào sẽ tuyệt đối chấm dứt nạn cô giáo cho học sinh tát bạn hơn 200 cái, hay chuyện giảng viên Học viện Quản lý giáo dục đã đấm vào mặt trưởng khoa ngay trong cuộc họp?
Những năm qua, giáo dục là ngành có nhiều người thi tuyển viên chức nhất, và dư luận cho rằng đây là mảnh đất rất giàu “dinh dưỡng” cho những người phụ trách “canh tác”. 
Nhà giáo có lẽ là đối tượng phải “thi” nhiều nhất, thi từ lúc chưa vào ngành đến lúc cầm quyết định hưu trí.
Nhà giáo cũng là đối tượng dễ bị sa thải nhất, có khi tới hơn 400 người bị mất việc cùng lúc chỉ bởi một quyết định hành chính của chính quyền tỉnh, huyện.
Nhà giáo có lẽ là đối tượng duy nhất sau mấy chục năm công tác, khi về hưu phải được nhà nước “bù lỗ” mới nhận được mức lương hưu bằng lương cơ bản.
Đấy là thực trạng về “lượng” của giáo dục Việt Nam cho đến nay.
Với “lượng” như vậy giáo dục Việt Nam đạt được những gì?
Thứ nhất là xóa nạn mù chữ, thành tích này luôn được so sánh với thời kỳ 1945, khi đó trên 90% dân số mù chữ.
Không ít lãnh đạo và cơ quan truyền thông đề cập đến những thứ hạng cao mà nước ngoài dành cho giáo dục Việt Nam.
Đôi khi có người “tự sướng” mà quên rằng trên đời này không phải là không có kiểu “khen cho chết”.
Nếu giáo dục Việt Nam đạt chất lượng cao như thế thì vì sao rất ít người nước ngoài đến Việt Nam học tập?
Người Việt Nam mỗi năm bỏ ra từ 3 đến 4 tỷ USD cho con du học là biểu hiện rõ nhất về chất lượng giáo dục nước nhà. 
Quy ra tiền Việt, số tiền này tương đương 70 - 90 nghìn tỷ đồng nghĩa là bằng khoảng 1/3 ngân sách quốc gia chi cho giáo dục (năm 2017 chi ngân sách cho giáo dục là 248.118 tỷ đồng).
(Còn nữa)
Xuân Dương
TIN BÀI LIÊN QUAN: