Thứ Tư, 29 tháng 8, 2018

20180829. GÓP Ý LUẬT GIÁO DỤC SỬA ĐỔI

ĐIỂM BÁO MẠNG
BA GÓP Ý VỀ CÁC VẤN ĐỀ LỚN CỦA LUẬT GIÁO DỤC SỬA ĐỔI

NHẬT KHOA/ GDVN 29-8-2018


Thí sinh tham dự kì thi trung học phổ thông Quốc gia (Ảnh minh họa: TTXVN).
Ngày 24/8 tại Hà Nội, Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tổ chức Hội nghị góp ý kiến về dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi và dự thảo Luật sửa đổi trong đó có vấn đề lương nhà giáo, không thu học phí trung học cơ sở, thi tốt nghiệp trung học phổ thông hay xét tốt nghiệp, sách giáo khoa, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học...
Hội nghị tổ chức với mục đích lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia, các nhà giáo, nhà quản lý trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và các cơ quan hữu quan nhằm hoàn thiện hai dự thảo luật.
Trong 5 vấn đề lớn trên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội mong muốn nhận được các ý kiến của chuyên gia tâm huyết tiếp tục đóng góp.
Với kinh nghiệm làm công tác giáo dục hơn 20 năm, cùng mong muốn đóng góp ý kiến của bản thân về các chính sách giáo dục, tôi xin được góp ý về 3 vấn đề sau:
Thứ nhất về vấn đề thi trung học phổ thông Quốc gia
Theo quan điểm của cá nhân tôi, kỳ thi này hiện nay có ưu điểm rất lớn như tiết kiệm, tiên tiến, khoa học…
Trước đây, học sinh khi hoàn thành chương trình lớp 12 phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Sau đó, các em phải tốn kém thời gian, tiền của, công sức để ôn luyện ở các “lò” luyện thi và phải trải qua các kỳ thi đại học, thi cao đẳng, thi trung cấp rất tốn kém, lãng phí, gian khổ, áp lực.
Còn hiện nay ưu điểm của kỳ thi này là học sinh học xong sẽ dự thi mà không phải tốn thời gian luyện thi, không phải trải qua nhiều kỳ thi căng thẳng, tốn kém.
Học sinh không phải đi xa, không có kẹt đường ở các thành phố lớn vào mùa thi, không có tệ nạn “cò” mùa thi, hạn chế tai nạn giao thông khi các em phải đi thi xa, cha mẹ không phải quá lo lắng mất ăn, mất ngủ về việc đi thi của học sinh…
Việc thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan cũng hạn chế tối đa gian lận trong coi thi (mỗi học sinh trong 1 phòng thi làm mỗi mã đề khác nhau, câu hỏi khác nhau).
Nói chung kỳ thi trung học phổ thông Quốc gia hiện nay được nhiều hơn mất.
Nhưng, nó cũng bộc lộ hạn chế lớn nhất về quy chế thi và sử dụng kết quả năm học lớp 12 nên tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông như năm nay hơn 98% cho thấy căn bệnh thành tích quá nặng (đây chính là lý do có nhiều đề xuất bỏ kỳ thi trung học phổ thông Quốc gia).
Kết quả năm học lớp 12 không phản ánh thực chất năng lực học tập của học sinh (các trường địa phương đều cố gắng nâng điểm các em học sinh lớp 12 rất cao), tôi tin rằng nếu tính điểm tốt nghiệp như ngày trước chỉ lấy điểm thi làm căn cứ tốt nghiệp (học sinh đạt khi điểm trung bình các môn thi phải đạt 5,0 trở lên) thì tỷ lệ đỗ tốt nghiệp chưa đến 40%.
Vấn đề bất cập thứ 2 là giao kỳ thi cho địa phương thì các trường đại học không yên tâm về kết quả.
Có nhiều ý kiến phản ánh về kết quả bất thường của các năm trước nhưng chỉ ở năm nay mới phát hiện do Bộ Giáo dục và Đào tạo vào cuộc.
Việc đưa những học sinh yếu kém vào trường uy tín sẽ tạo ra nguồn nhân lực yếu, kém, gian dối trong tương lai.
Việc loại các em học sinh giỏi chính là bất công lớn (điều này có thể khắc phục triệt để bằng cách tổ chức kỳ thi nghiêm túc, Chính phủ, Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo…xử lý nghiêm sai phạm của các cá nhân).
Tôi xin phép được nêu 2 phương án tổ chức để vừa giữ kỳ thi trung học phổ thông Quốc gia tại địa phương, vừa phải đảm bảo kỳ thi nghiêm túc, khoa học:
Phương án 1: Vẫn giữ kỳ thi trung học phổ thông Quốc gia như hiện nay về hình thức, tính chất nhưng thay đổi phương án công nhận tốt nghiệp là điểm thi x 70% (A), điểm trung bình cả năm x 30% (B), để được công nhận tốt nghiệp thì A + B phải đạt 5,0 trở lên (điều này sẽ làm hạn chế việc các trường phổ thông nâng điểm của học sinh lớp 12 và cũng phù hợp với tính chất kỳ thi).
Vấn đề tiếp theo cần thay đổi là coi thi nghiêm túc, giao nhiều thanh tra, công an hoặc hoán chuyển lãnh đạo, giám thị.
Để hạn chế việc gian lận nâng điểm thì mỗi phòng thi có máy quét dữ liệu sau khi kết thúc bài thi.
Đây là phương án khá hay nhưng nếu làm theo phương án trên quá tốn kém vì phải mua sắm rất nhiều máy quét dữ liệu bài thi và chỉ sử dụng máy cho kỳ thi trung học phổ thông Quốc gia rồi sau đó cất cả năm thì dễ hư hỏng, lãng phí.
Theo tôi cách tốt nhất là khi kết thúc bài thi sau tối đa 30 phút thì Chủ tịch hội đồng coi thi niêm phong toàn bộ bài thi (ghi rõ thời gian niêm phong) và giao cho cán bộ Thanh tra Bộ Giáo dục ngay sau khi kết thúc bài thi, cán bộ trên tiếp nhận và giao về các điểm chấm thi là các trường đại học.
Phương án 2: Nếu tổ chức theo phương án 1 có khá nhiều điểm tốt nhưng theo tôi sẽ có khá nhiều em không được xét tốt nghiệp, mất đi cơ hội được học tập ở các trường nghề chất lượng cao, cũng như làm chậm cơ hội đi làm việc hay xuất khẩu lao động (yêu cầu phải tốt nghiệp trung học phổ thông) của một số em.
Nó có vẻ chưa phù hợp với vai trò của việc học ở bậc trung học phổ thông là giai đoạn định hướng nghề nghiệp.
Theo tôi có thể thực hiện theo phương án, học sinh sau khi hoàn tất việc học lớp 12, đủ điểm quy định về việc lên lớp của lớp 12 (trung bình môn cả năm đạt 5,0 trở lên) thì tiến hành cấp giấy chứng nhận "Đã học xong chương trình lớp 12".
Giấy chứng nhận trên có giá trị trong việc học nghề, trung cấp nếu muốn học lên cao đẳng hay đại học học sinh phải đăng ký dự thi trung học phổ thông Quốc gia.
Xét tốt nghiệp dựa trên trung bình cộng của điểm thi tốt nghiệp, học sinh đạt thì được công nhận tốt nghiệp và dùng kết quả trên làm căn cứ xét tuyển vào cao đẳng, đại học.
Thứ hai là đề xuất cho học sinh phổ thông không học ngày thứ bảy
Thường trực Ủy ban Giáo dục đề nghị cân nhắc không tổ chức dạy học vào thứ Bảy ở các cơ sở giáo dục phổ thông, dành thời gian phù hợp cho các em tham gia vào các hoạt động của gia đình và cộng đồng.
Theo tôi vấn đề trên hết sức hợp lý về việc học tập, nghỉ ngơi cho học sinh, bố trí thời gian chăm sóc con cái, tái tạo sức lao động, học tập…
Có thể dành ngày thứ 7 cho việc hội họp, sinh hoạt hay tổ chức các hoạt động cho giáo viên, cũng như tổ chức các chuyên đề, các buổi trải nghiệm cho học sinh…
Vấn đề bây giờ là phải tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, phòng học đáp ứng đầy đủ vấn đề trên, vấn đề này mong lãnh đạo chính quyền và Bộ Giáo dục quan tâm kịp thời.
Thứ ba là vấn về chính sách giáo viên, sĩ số học sinh
Về chính sách của giáo viên đã có trong các nghị quyết của trung ương về chính sách cho nhà giáo được xếp lương cao nhất trong khối hành chính sự nghiệp, được xếp thang, bảng lương riêng, phù hợp tính chất, mức độ của nghề giáo, vấn đề này không còn phải bàn cãi mà chỉ cần ra nghị quyết về lộ trình thực hiện cụ thể vào thời gian nào.
Về vấn đề tiếp theo là sĩ số học sinh trên lớp tôi nghĩ chúng ta vừa nâng cao việc xây dựng cơ sở vật chất, phòng học đáp ứng cho việc không dạy ngày thứ bảy, thì cũng phải tăng cường cơ sở vật chất cho việc quy định cứng số lượng học sinh trên lớp không quá 35 học sinh.
Mỗi cơ sở giáo dục tối thiểu 15 lớp (nếu không đủ thì phải giải thể, sáp nhập). Sĩ số học sinh quá đông như hiện nay (có nơi có khoảng 69 học sinh/lớp) không thể triển khai hoạt động dạy học, giáo dục hay tiếp cận chương trình mới, tiên tiến.
Trên đây là những góp ý của tôi gửi đến Bộ Giáo dục và Đào tạo, rất mong nhận thêm nhiều góp ý thêm của các chuyên gia giáo dục, các thầy cô giáo và nhân dân cả nước để nền giáo dục ngày càng hoàn thiện, tiên tiến.
Bài viết thể hiện nhận thức, góc nhìn, quan điểm và cách hành văn của riêng tác giả.
NHẬT KHOA
TIN BÀI LIÊN QUAN:
KÊU GỌI NGƯỜI TÀI TRỞ VỀ:  BẮT ĐẦU TỪ LÒNG YÊU NƯỚC
QUỐC PHONG/ TVN 28-8-2018
 - Điều quan trọng nhất trước tiên chính là cần phải khơi dậy nơi các trí thức trẻ tài năng lòng yêu đất nước, không muốn Việt Nam bị thế giới xem thường.
Câu chuyện vừa qua, 100 người Việt trẻ tiêu biểu hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ ở nước ngoài trở về nước cùng tham dự Chương trình kết nối mạng lưới đổi mới sáng tạo với sự hiện diện và đối thoại của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng các lãnh đạo bộ, ngành đã cho thấy Đảng, Chính phủ đặc biệt quan tâm đến khoa học công nghệ, nguồn nhân lực thời kỳ 4.0 và thực lòng mong muốn quy tụ hiền tài về đóng góp cho đất nước.
Nhắc tới tên tuổi nhiều nhà khoa học tận hiến cả cuộc đời cho đất nước, được Tổ quốc ghi công và lịch sử ghi danh như giáo sư Trần Đại Nghĩa, nhà bác học Lương Định Của, bác sĩ Đặng Văn Ngữ…, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, lịch sử cho thấy, đất nước chỉ hưng thịnh khi khơi dậy được lòng yêu nước, quy tụ được người tài, đức dốc lòng vì nước, dám xả thân vì nghĩa lớn. Đất nước không có người hiền tài thì không thể hưng thịnh...
Trong bài viết này, tôi muốn bàn sâu đến một khía cạnh. Nước ta còn nghèo và khó khăn về nhiều mặt. Nói “trải thảm” để mời giới trí thức giỏi, tâm huyết về giúp đất nước, là điều chúng ta sẽ cố gắng làm, nhưng chắc chắn không dễ bởi cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn. Lương trả dù thế nào cũng không thể đủ cao tương xứng đóng góp của họ. Rồi thì cơ sở vật chất kèm theo, như nhà ở, phương tiện đi lại cũng như máy móc, môi trường nghiên cứu cũng có nhiều vấn đề,... 

Kêu gọi người tài trở về: Bắt đầu từ lòng yêu nước
Thủ tướng gặp gỡ các trí thức trẻ tài năng. Ảnh: VGP

Vì thế, điều quan trọng nhất trước tiên chính là cần phải khơi dậy nơi họ lòng yêu đất nước, yêu dân tộc, không muốn Việt Nam bị thế giới xem thường và thể hiện rõ thiện ý đón các trí thức trở về cống hiến cho quê hương. Người Việt ta, dù ở phương trời nào, cũng đều canh cánh trong lòng nỗi trăn trở làm sao để đất nước phát triển, mở mày mở mặt với bên ngoài. Làm sao để có các sản phẩm, các công ty tầm cỡ thế giới “made in VietNam”, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ. Thời nào cũng vậy, cho dù là thời 4.0 đi chăng nữa. Và lịch sử có thể cho chúng ta rất nhiều bài học hữu ích về quy tụ nhân tài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc vĩ đại và vô cùng thành công trong việc “chiêu hiền đãi sĩ”. Chỉ một lời kêu gọi đúng lúc, đúng chỗ, đúng người cần vận động, Người có thể làm được những điều mà không ai có thể làm được.
Như trường hợp kỹ sư Trần Đại Nghĩa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã trở về nước cống hiến từ năm 1946, sau lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp. Ông đã từ bỏ giàu sang phú quý bên nước người dù có rất nhiều bằng đại học, để về nước, dấn thân cùng dân tộc trong cuộc trường chinh đầy gian khổ. Con người huyền thoại ấy có thể xem như một điển hình của việc Đảng và Chính phủ ta quy tụ hiền tài.
Năm 1935, một số trí thức và nhà giáo tiến bộ đương thời ở Nam bộ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho cậu học sinh đậu tú tài vốn thông minh hơn người Phạm Quang Lễ (tên khai sinh của Trần Đại Nghĩa) sang Pháp du học. Và suốt 11 năm ở Pháp (1935 – 1946), ông đã tốt nghiệp nhiều trường Đại học quốc gia: Cầu – Đường, Điện, Mỏ, Bách khoa, Học viện kỹ thuật Hàng không và nhiều chứng chỉ khoa học cơ bản của Đại học Tổng hợp Sorbonne. Ông cũng đã bí mật học thêm nghề chế tạo vũ khí.
Tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Paris dự Hội nghị Fontainebleau, ông đã được gặp Bác. Ít ngày sau đó, ông cùng một số trí thức yêu nước tình nguyện theo Bác về Việt Nam với hơn một tấn tài liệu quý thuộc lĩnh vực chế tạo vũ khí. Ông trở thành người khai sinh ra ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam từ hai bàn tay trắng, góp phần đánh thắng thực dân Pháp. Ông trở thành giáo sư, viện sĩ, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Anh hùng Lao động và được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu và chế tạo vũ khí.
Khi kháng chiến chống Pháp, chúng ta tiếp tục được đón các trí thức lớn khác trở về từ Pháp, như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, bác sĩ Trần Hữu Tước, ông Nguỵ Nhu Kon Tum, như tiến sĩ Triết học lỗi lạc Trần Đức Thảo, như giảng viên Hoàng Xuân Nhị, như anh em ruột, kĩ sư Võ Đình Quỳnh và kĩ sư Võ Đình Bông..., ở Nhật về nước thì như bác sĩ Đặng Văn Ngữ...
Rồi thì một lớp trí thức khác nữa được đào tạo căn cơ ở nước ngoài rồi về nước làm việc, đời sống tuy khá giả nhưng cũng đã từ bỏ tất cả, chỉ bởi có cảm tình với cách mạng mà chấp nhận rời Thủ đô tham gia đồng hành cùng cuộc kháng chiến cứu quốc, như kỹ sư Tạ Quang Bửu, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ...
Rất nhiều nhà khoa học trong số này đều trở thành các giáo sư, tiến sĩ khoa học đầu ngành và nhận giải thưởng cao quý, như Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước...
Suốt những chặng đường khó khăn, gian khổ của dân tộc, đã có biết bao trí thức tài ba từ bỏ cuộc sống sung túc, đủ đầy, hào quang hứa hẹn để trở về chung vai gánh vác cùng đồng bào mình. Nếu không phải là lòng yêu nước luôn da diết, nồng nàn trong thăm thẳm mỗi người Việt, thì chắc hẳn chẳng có động lực nào đủ mạnh.
Bối cảnh Việt Nam ngày nay đã khác, đã phát triển hơn trước rất nhiều. Nhưng chưa bao giờ chúng ta có thể ngủ quên trong sự thỏa mãn với những gì đạt được. Giờ đây “Cách mạng 4.0” đã trở thành khái niệm bắt gặp nơi nơi, là tương lai mà chúng ta không thể đứng ngoài. Nhưng để nó trở thành hiện thực là cả con đường đầy thách thức.
Trên con đường đó không thể thiếu sự chung tay của những trí thức trẻ tiêu biểu trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Tất nhiên, thế hệ trẻ hôm nay cũng đã khác, với những hệ giá trị, thế giới quan, những kỳ vọng cũng như những nhu cầu phong phú và khác cha ông rất nhiều. Bởi thế cách thu hút và quyết tâm tháo bỏ những rào cản để mời họ trở về cũng sẽ phải khác đi. Nhưng tất cả vẫn phải bắt đầu từ một tấm lòng khát khao dựng xây đất nước hùng cường – từ cả hai phía, người mời và người được mời.
Quốc Phong

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2018

20180828. ĐỔI MỚI 'LẦN HAI' TRONG BỐI CẢNH CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI

ĐIỂM BÁO MẠNG
ĐỔI MỚI  'LẦN HAI' TRONG BỐI CẢNH CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI

NGUYỄN QUANG DY/ TBKTSG 27-8-2018

Kinh tế Việt Nam chủ yếu vẫn dựa trên gia công xuất khẩu và bất động sản. Đó không phải là tiền đề tốt cho mô hình tăng trưởng bền vững. Ảnh: THÀNH HOA
(TBKTSG) - Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đang leo thang và chưa thấy điểm dừng với hệ quả khôn lường, Việt Nam đứng trước những cơ hội và rủi ro chưa từng có trong mấy thập kỷ qua.
Để tránh rủi ro và nắm bắt cơ hội mới, công tác đối ngoại cũng như đối nội đang đứng trước những thách thức lớn. Trong lúc này, không thể “trên nóng dưới lạnh”, mà từ trên xuống dưới phải đổi mới tư duy, thể chế, và hành động trước khi quá muộn.
Đổi mới thể chế để có nội lực
Người ta thường nói “có thực mới vực được đạo”. Đó không chỉ là câu chuyện của mỗi nhà mà còn là vấn đề của mỗi quốc gia. Tương tự như vậy, người ta nói “chính sách đối ngoại là sự nối tiếp của chính sách đối nội”. Tuy đối ngoại có vai trò chủ động rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh quốc tế phức tạp hiện nay, nhưng nếu đối nội không đổi mới kịp thời thì đối ngoại cũng bó tay.
Gần đây, Bộ Công an đang đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và thể chế, như một chuyển biến tích cực và đúng hướng. Nhưng các bộ, ngành khác cũng phải đổi mới tương tự.
Muốn nâng cao nội lực, để không ai bắt nạt được mình và “sánh vai với các cường quốc năm châu”, Việt Nam phải “kiến tạo lại” bộ máy nhà nước “gọn nhẹ nhưng hiệu quả”. Có lẽ không có nước nào trên thế giới lại có bộ máy cồng kềnh, tốn kém và năng suất thấp như Việt Nam.
Một khi Bộ Công an đã đổi mới, người ta mong đợi các bộ, ngành khác - bao gồm cả Quốc phòng và Ngoại giao - cũng phải đổi mới đồng bộ. Đã đến lúc Việt Nam phải làm lại “cải cách hành chính” có thực chất và hiệu quả, vì đang tụt hậu so với khu vực.
Sau hơn ba thập kỷ đổi mới “vòng một”, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đầy ấn tượng. Nhưng thành quả cải cách kinh tế bị triệt tiêu bởi nạn tham nhũng và thể chế bất cập, nên phải đổi mới “vòng hai”. Đến nay, kinh tế Việt Nam chủ yếu vẫn dựa trên gia công xuất khẩu (71% xuất khẩu từ khu vực FDI) và bất động sản. Đó không phải là tiền đề tốt cho mô hình tăng trưởng bền vững, để kiến tạo một nền kinh tế tri thức, ứng dụng công nghệ 4.0.
Gần đây, các chuyên gia kinh tế hay nói đến “bẫy gia công” hay “bẫy thu nhập trung bình”, vì năng suất lao động còn quá thấp. Muốn tháo gỡ các điểm ách tắc đó, Việt Nam cần tìm lối đi mới. Tại cuộc họp Ban chỉ đạo Quốc gia về cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng hồi đầu tháng 8 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói: “Chúng ta cứ đi mãi con đường cũ trong tổ chức sản xuất, quản lý thì không thể phát triển được”. Phát biểu của Thủ tướng phản ánh thực trạng kinh tế hiện nay và nhu cầu đổi mới thể chế.
Cách đây mấy năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Thế giới đã chủ trì việc soạn thảo Báo cáo “Việt Nam 2035” (công bố tháng 2-2016) khuyến nghị cải cách thể chế đồng bộ.
Tại sao “chúng ta cứ đi mãi con đường cũ”? Nếu không đổi mới thể chế thì không tháo gỡ được nút thắt gây ách tắc, để phát huy nội lực. Đó là yêu cầu cấp bách để nâng cao năng lực và giảm chi ngân sách thường xuyên vốn là gánh nặng quá lớn đối với một nước thu nhập trung bình thấp như Việt Nam.
Tái cân bằng quan hệ quốc tế
Chính sách đối ngoại của Việt Nam dựa trên sự cân bằng (như làm bạn với tất cả các nước) và không liên kết (như nguyên tắc ba không). Tuy Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 12 nước (Anh, Pháp, Úc, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Malaysia, Philippines), nhưng quan hệ với các cường quốc (như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản) là quan trọng nhất (là đối tác chiến lược/toàn diện), trong khi quan hệ với các nước láng giềng (Lào, Campuchia, ASEAN) là quan trọng đặc biệt.
Trong bối cảnh tương quan chiến lược (Mỹ - Trung - Nga), điều chỉnh chiến lược của Mỹ theo tầm nhìn “Indo-Pacific tự do rộng mở” và chiến tranh thương mại (Mỹ-Trung) đang diễn biến khó lường, Việt Nam cần làm ba việc chính.
Một là tránh bị lôi cuốn vào cuộc chơi “ủy thác” (proxy), biến Việt Nam thành sân sau để hàng hóa Trung Quốc “made in Vietnam” tái xuất và trốn thuế của Mỹ. Thời buổi này khó lừa được người khác và không ai lại dại để “trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết”.
Hai là tránh bị xô đẩy vào cuộc chiến tiền tệ, với trò chơi tỷ giá đầy rủi ro khó lường.
Ba là điều chỉnh chiến lược từ quan hệ nước đôi (hedging) thành tái cân bằng tích cực (active rebalance), đặc biệt là với “tứ cường” Mỹ, Nhật, Ấn, Úc.
Gần đây, Việt Nam đã tăng cường quan hệ cả về kinh tế và chiến lược với bốn cường quốc nói trên, qua các chuyến thăm chính thức của các lãnh đạo cấp cao nhất. Đó là điều chỉnh chiến lược quan trọng theo hướng tái cân bằng tích cực, nhất là trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung có thể leo thang thành chiến tranh tiền tệ, hay một cuộc chiến tranh lạnh mới. Đồng thời, trong bối cảnh Mỹ đã rút khỏi TPP (chưa biết đến bao giờ mới quay lại tham gia TPP11, hiện là CPTPP), Việt Nam đang cố gắng tăng cường quan hệ với các nước EU, nhằm thúc đẩy tiến trình ký kết Hiệp định Tự do thương mại EVFTA (có ý nghĩa quan trọng thứ hai, sau TPP).
Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tên lửa Triều Tiên được tháo gỡ, theo hướng “phi hạt nhân hóa” bán đảo Triều Tiên, cuộc gặp cấp cao Trump-Kim tại Singapore hồi tháng 6-2018 là một bước ngoặt. Xu hướng hòa giải đang thay thế đối đầu, xu hướng “thoát Trung” đang làm thay đổi bàn cờ địa chính trị tại Đông Á.
Trong khi đó, Bắc Kinh đã mắc phải một sai lầm lớn (như “ngộ nhận chiến lược”). Lãnh đạo Trung Quốc đã quá tự tin và chủ quan nên đánh giá thấp Trump, tưởng ông là “tổng thống con buôn” chắc chỉ dọa già để đàm phán, chứ không dám liều tấn công. Vì vậy khi Washington ra đòn quyết liệt, Bắc Kinh đã bị bất ngờ, đối phó lúng túng và bị động. Bắc Kinh càng trả đũa để tỏ ra cứng rắn lại càng mắc kẹt. Nhưng dù Bắc Kinh có nhận ra sai lầm thì rất khó xuống thang vì tâm lý nước lớn và khó thay đổi vì đã trót đi quá xa. Tuy đó là cái giá phải trả cho ngộ nhận, như một nghịch lý của người Trung Quốc, nhưng Việt Nam cần phải sớm rút ra bài học kinh nghiệm, để thoát hiểm (và thoát Trung).
Muộn còn hơn không
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (về thu hút, quản lý và sử dụng vốn vay ODA giai đoạn 2018-2020, tầm nhìn 2025) trong số 12 dự án lớn thua lỗ nặng của Bộ Công Thương, có bốn dự án sử dụng vốn vay Trung Quốc. Theo nhận định của bộ này, các khoản vay ưu đãi từ Trung Quốc thường có lãi suất cao hơn gấp rưỡi hoặc gấp đôi so với các nguồn vay khác. Trong khi đó, điều kiện vay kém ưu đãi hơn, kèm theo yêu cầu chỉ định thầu cho các công ty Trung Quốc; và các dự án do nhà thầu Trung Quốc thực hiện thường xuyên chậm tiến độ và đội vốn. Đó là chưa nói đến việc sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, và rủi ro an ninh.
Với những đánh giá trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng trong thời gian tới cần xem xét, cân nhắc và nên hạn chế vay vốn ưu đãi từ Trung Quốc. Cảnh báo này tuy muộn còn hơn không, phản ánh một xu hướng mới.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam cần đổi mới “vòng hai” về thể chế, và tái cân bằng tích cực quan hệ quốc tế để giảm phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.
Để bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế, chúng ta cần nắm bắt cơ hội mới để điều chỉnh chiến lược, phù hợp với các xu hướng hiện nay trong khu vực Indo-Pacific, trong đó có xu hướng thoát Trung. Tuy nhiên, cần xác định rõ thoát Trung không phải là bài Trung hay chống Trung Quốc, mà nhằm “kiến tạo” một quan hệ bình đẳng hơn và tích cực hơn, nhằm góp phần duy trì hòa bình và ổn định tại khu vực và trên thế giới. Trong lúc khó khăn, người ta cần tư duy tích cực, vì “trong nguy có cơ” và “cùng tắc biến, biến tắc thông”.
Ngoại giao kinh tế lấy doanh nghiệp làm trung tâm
Phát biểu tại hội nghị ngoại giao lần thứ 30 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giao nhiệm vụ cho Bộ Ngoại giao phải nâng tầm công tác ngoại giao kinh tế và lấy ngoại giao kinh tế làm tiêu chuẩn để đánh giá các cơ quan đại diện.
Cụ thể, ngoại giao kinh tế cần làm tốt bốn nhiệm vụ lớn là: thu thập thông tin một cách chính xác, kịp thời, liên tục, đặc biệt là dự báo kinh tế; tham mưu cho Chính phủ, bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; đồng hành, hỗ trợ các bộ ngành và địa phương, doanh nghiệp, đặc biệt là trong khâu tháo gỡ vướng mắc; và cuối cùng là đôn đốc triển khai các cam kết, thỏa thuận, dự án hợp tác quốc tế.
Theo Thủ tướng, ngoại giao kinh tế cần lấy doanh nghiệp làm trung tâm, đồng hành cùng doanh nghiệp vươn ra thế giới. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế có thành công hay không phần lớn là nhờ vào sự năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp và thành công của doanh nghiệp trong hội nhập là thước đo thành công của hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhuận Quảng Trí
TIN BÀI LIÊN QUAN:
NẾU VIỆT NAM MUỐN TẠO RA ALIBABA HAY WEIBO PHẢI VƯƠN RA TOÀN CẦU

HIỆU MINH/ TVN 28-8-2018
 - Muốn sớm có hệ sinh thái điện tử, hãy bắt đầu từ cách nghĩ của thời 4.0.
Hai mươi năm trước tôi từng đi xin giấy phép để vận hành hệ thống thu tín hiệu vệ tinh (VSAT) cho VP World Bank ở Hà Nội. Người phụ trách bên Cục Vô tuyến đã hỏi tôi, Trung Quốc làm như thế nào. Tôi phải về VP alo và nhờ các đồng nghiệp Bắc Kinh gửi tài liệu sang chứng tỏ nước bạn đã cấp rồi, không vấn đề gì, khi đó bên ta mới đi những bước đầu tiên nhỏ giọt.
Tôi cứ băn khoăn mãi, sao phải hỏi Trung Quốc, sao ta không tự thay đổi. Não trạng phải hỏi người khác khó có sức sáng tạo, bởi mỗi quốc gia, mỗi châu lục có hoàn cảnh địa chính trị khác nhau.
Trong giáo dục người ta nói vui, Trung Quốc giáo dục công dân của họ nghĩ về cội nguồn, Hoa Kỳ đào tạo thế hệ trẻ nghĩ đến toàn cầu.
Dù đi khắp bốn phương nhưng du học sinh Trung Quốc luôn nghĩ về quê cũ, đó là điểm mạnh và cũng là điểm yếu. Nhưng du sinh một số nước phát triển như Mỹ thường bay trên không trung thấy “điểm đen” ở đâu cần giúp đỡ là họ tới. Sống thế mới có chuyện Bill Gates bỏ cả nửa tỷ đô la giúp trẻ em châu Phi được tiêm chủng miễn phí.

Nếu muốn tạo ra Alibaba, Weibo, Việt Nam phải vươn ra toàn cầu
Để sử dụng hiệu quả công nghệ mới, nhất là nghĩ về 4.0, cần tư duy quản lý mới.
Trung Quốc với 1,4 tỷ dân thì cánh IT của họ chỉ cần làm ra sản phẩm cho dân đủ dùng sẽ giàu như Bill Gates hay Steve Jobs. Thị trường Hoa Kỳ hơn 300 triệu dân dù là nơi tiêu thụ lớn nhưng không thể so với Trung Quốc và Ấn Độ.
Các tên tuổi như Baidu, Weibo, Alibaba kể cả China-Internet đóng cửa với thế giới vẫn sống ngon vì quốc gia này ngang tầm một châu lục.
Nếu Việt Nam muốn tạo ra Alibaba hay Weibo thì phải vươn ra toàn cầu.
Nhìn những con số thống kê như Trung Quốc là một trong những nhà đầu tư và áp dụng công nghệ kỹ thuật số lớn nhất thế giới, và là quê hương của 1/3 số công ty khởi nghiệp kỳ lân trên thế giới, thì bạn đừng choáng. Họ không làm được mới là điều đáng bàn.
Có một điều nên học họ, đó là xã hội cần số hóa, cần có những hệ sinh thái nền tảng như bộ ba Baidu, Alibaba và Tencent, hay còn gọi là BAT, mà Trung Quốc đang sở hữu.
Trung Quốc tư duy theo “châu lục” Trung Quốc và thêm chút khu vực, Mỹ theo toàn cầu. Thế thì Việt Nam ở đâu? Ở ngay xứ mình và thêm chút ASEAN là ăn đủ.
Mạng Viettel đã lan tỏa Đông Dương vươn sang Myanamar, tại sao các dịch vụ khác đi theo chưa lan tới được các quốc gia này như Shopee của nước khác đang làm mưa làm gió ở Hà Nội và Tp HCM dựa trên Viettel hay FPT. Chỉ là đặt cáp, bán mobile và thu tiền thì chưa đủ. Ứng dụng chạy trên đó giúp cho ứng dụng thương mại điện tử nhanh hơn, tiện hơn, thì chắc chắn kết quả sẽ khác.
Ta không thiếu nguồn nhân lực, ta không dốt tiếng Anh, ta không thiếu người giỏi IT và toán học, nhưng cần tạo dựng môi trường để họ phát triển bền vững và lành mạnh. Môi trường chưa tốt thì chưa thể hệ sinh thái IT tốt đẹp.
Để sử dụng hiệu quả công nghệ mới, nhất là nghĩ về 4.0, cần tư duy quản lý mới. Để áp dụng 4.0 hay IoT trong thế kỷ 21 thì các nhà chiến lược và quản lý phải nghĩ khác. Để áp dụng công nghệ động cơ điện thì các ông giám đốc nhà máy phải nghĩ đến đường dẫn điện, hệ thống sản xuất bằng năng lượng điện. 
Và hôm nay cũng thế. Để cho công nghệ số trở thành cần câu cơm thì ngoài chuyện cần công nghệ và các tài năng, xã hội cần cách suy nghĩ khác với tư duy thế kỷ 20.
Một ví dụ trong thành công sản xuất phần mềm trong kỷ nguyên số là phương pháp Agile khá đơn giản, có tới 71% các tổ chức áp dụng. Đó là phát triển trên nền tảng liên kết chặt chẽ với người dùng, tìm hiểu nhu cầu của họ và dựa vào đó phát triển phần mềm mà khách hàng cần.
Điều đó trái ngược với các ông IT cuối thế kỷ 20 mải mê lập trình, rồi mang đi bán mà không biết khách hàng có nhu cầu hay không.
Sự sáng tạo và tư duy kiểu Agile cần một tầm nhìn. Nhưng thống kê toàn cầu cho hay khi khảo sát hơn 800 nhà quản lý cao cấp, thì có tới 50% nói rằng các lãnh đạo của họ không có tầm nhìn và đam mê để cho sáng tạo công nghệ mới nhất được áp dụng.
Muốn sớm có hệ sinh thái điện tử, hãy bắt đầu từ cách nghĩ của thời 4.0.
Hiệu Minh
TIN BÀI LIÊN QUAN:

20180827. QUANH SỰ KIỆN JOHN McCAIN QUA ĐỜI

ĐIỂM BÁO MẠNG
THƯỢNG NGHỊ SỸ JOHN McCAIN QUA ĐỜI

HỒNG THỦY/ GDVN 26-8-2018

Cố Thượng nghị sĩ John McCain, ảnh: Reuters.





(GDVN) - Nhiều người Việt Nam bày tỏ lòng thương tiếc trước tin ông John McCain qua đời. Sinh thời, ông là người thúc đẩy mạnh mẽ bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ.

Fox News ngày 25/8 đưa tin, Thượng nghị sĩ John McCain vừa qua đời ở tuổi 81 vì căn bệnh ung thư não vào ngày thứ Bảy 25/8 (ngày Chủ nhật 26/8 giờ Việt Nam).
Với 36 năm giữ vai trò thành viên Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ, Thượng nghị sĩ John McCain đã cống hiến cả đời mình để bảo vệ an ninh và an toàn của nước Mỹ.
Fox News đánh giá, ông là một chuyên gia thực sự am hiểu những thách thức mà Hoa Kỳ phải đối mặt, cũng như cách ứng phó với những thách thức đó bằng một quân đội mạnh mẽ, được bảo đảm vững chắc để bảo vệ lợi ích quốc gia.
Sinh thời, Thượng nghị sĩ John McCain đã đưa ra nhiều dự đoán an ninh quốc gia quan trọng mà lịch sử cho thấy là chính xác. 
Với châu Á, John McCain là người sớm ủng hộ và thúc đẩy chính sách đối ngoại của Mỹ tại khu vực này sớm trở thành trọng tâm chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ.
Ông đặc biệt quan tâm đến sự tích tụ quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông, dự đoán chính xác những nguy hiểm ở phía trước. [1]
Ngày 30/5 năm ngoái, Thượng nghị sĩ John McCain phát biểu tại Sydney, Australia trước thềm cuộc Đối thoại An ninh Shangri-la:
"Tôi nghĩ rằng, rõ ràng người Trung Quốc đã bồi lấp các đảo nhân tạo và quân sự hóa chúng, bằng cách đó họ đang vi phạm luật pháp quốc tế."
Ông khẳng định Trung Quốc hành xử như một kẻ bắt nạt trong khu vực. [2]
The Washington Post ngày 26/8 đăng lời chia buồn, ca ngợi và đánh giá về cố Thượng nghị sĩ John McCain từ các chính khách khắp nơi trên thế giới, từ đồng minh, đối tác cho đến đối thủ của Hoa Kỳ.
Tờ báo gọi cố Thượng nghị sĩ là một nhà bảo vệ tuyệt vời của tự do, nếu bất kỳ ai từng nghi ngờ tầm vóc toàn cầu của ông, thì những lời chia buồn từ khắp nơi trên thế giới gửi về Hoa Kỳ hôm Chủ nhật sẽ dễ dàng thuyết phục họ.
Với Việt Nam, Thượng nghị sĩ John McCain được biết đến như một người nỗ lực không mệt mỏi thúc đẩy bình thường hóa quan hệ giữa 2 nước, và thúc đẩy hợp tác Việt - Mỹ phát triển.
Từng là tù binh trong Chiến tranh Việt Nam, một  thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, năm 1985 ông đã quay trở lại Việt Nam trên cương vị một Thượng nghị sĩ trẻ.
Từ đó trở đi, ông định kỳ thăm lại Việt Nam nhiều lần, gần đây nhất là năm ngoái để gặp gỡ các đối tác Việt Nam về việc đàm phán kết thúc lệnh cấm vận vũ khí đã được dỡ bỏ một phần năm 2016.
Nhiều người dân Việt Nam đã bày tỏ lòng thương tiếc khi nghe tin Thượng nghị sĩ John McCain qua đời. [4]
Tân Hoa Xã khi đưa tin Thượng nghị sĩ John McCain từ trần, đã ghi nhận, Tổng thống Donald Trump đã gửi lời chia buồn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc trên mạng xã hội Twitter.
Sinh thời, ông John McCain là người phê bình chủ yếu của Tổng thống Donald Trump trong Đảng Cộng hòa. Hai người từng nhiều lần chỉ trích nhau kịch liệt.
Thượng nghị sĩ John McCain sinh năm 1936, xuất thân trong gia đình danh gia vọng tộc có ông nội và cha đẻ đều là Thượng tướng quân đội Mỹ.
Sau khi tốt nghiệp trường quân sự, ông trở thành phi công hải quân và tham gia Chiến tranh Việt Nam, bị bắt làm tù binh 5 năm sau khi chiếc máy bay do ông lái bị bắn rơi trên hồ Trúc Bạch.
Về nước, John McCain tham gia chính trường, năm 1982 trở thành Hạ nghị sĩ, 1986 trở thành Thượng nghị sĩ. Ông có 2 lần tranh cử Tổng thống năm 2000 và 2008, nhưng đều thất bại. [5]
Nguồn:
[1]http://www.foxnews.com/opinion/2018/08/25/farewell-to-john-mccain-devoted-his-life-to-protecting-safety-and-security-america.html
[2]https://www.reuters.com/article/us-australia-usa-mccain/china-is-behaving-like-a-bully-in-south-china-sea-mccain-idUSKBN18Q0WZ
[3]https://www.washingtonpost.com/world/2018/08/26/a-great-defender-liberty-world-leaders-mourn-sen-john-mccain/?utm_term=.559679e863dd
[4]https://www.dailysabah.com/asia/2018/08/26/many-in-vietnam-mourn-former-war-prisoner-mccains-death-recall-reconciliation-efforts
Hồng Thủy

 'McCAIN ĐÃ HỌC TỪ NGƯỜI VIỆT NAM VỀ LÒNG VỊ THA'

GS. Tom Patterson /TVN 27-8-2018

GS. Tom Patterson: 'McCain đã học từ người Việt Nam về lòng vị tha'
Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, Joe Lieberman và John McCain nói chuyện tại Washington năm 2008. Ảnh: Reuters.

tvn- John McCain là hiện thân của những gì người ta hy vọng ở một chính trị gia, nhưng hiếm có. Ông là người đã đặt nguyên tắc lên trên lòng trung thành với đảng phái, và đặt lợi ích công lên trên lợi ích cá nhân.
Năm ngoái, John McCain đã được nhận Huân chương Tự do của Trung tâm Hiến pháp Quốc gia vì cam kết với các ý tưởng cao cả. Trước ông, chỉ có hai người được nhận Huân chương này là Nelson Mandela và Đạt lai Lạt ma. Những gì McCain từng nói là chỉ dẫn về con người ông và phẩm cách lãnh đạo của ông.
GS. Tom Patterson: 'McCain đã học từ người Việt Nam về lòng vị tha'
Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, Joe Lieberman và John McCain nói chuyện tại Washington năm 2008. Ảnh: Reuters.
McCain nói rằng những người “từ bỏ các lý tưởng của mình” và đặt chúng ta chống lại người khác “là không yêu nước”. “Chúng ta là những người trông coi các ý tưởng đó”. Ông kết luận: “Tôi đã được truyền cảm hứng bởi việc phục vụ những người yêu nước giỏi hơn tôi. Tôi đã thấy nhiều người Mỹ hy sinh cho đất nước mình và các sự nghiệp của đất nước, cho những người có còn xa lạ với họ nhưng vì nhân loại chung, những sự hy sinh còn khó khăn hơn là sự phục vụ mà tôi được yêu cầu. Tôi đã thấy việc tốt mà họ làm, những tính mạng mà họ giải phóng khỏi sự độc tài và bất công, niềm hy vọng mà họ thắp nên, và những giấc mơ mà họ đã biến thành hiện thực”.
Nói theo một cách nào đó, McCain không hẳn là một người bảo vệ nhân loại thông thường. Ông là con trai của một đô đốc Hải quân Mỹ và máy bay của ông bị bắn hạ khi đang thực hiện đánh bom trên bầu trời Hà Nội.Sau đó ông đã bị giam giữ một vài năm.
Sự việc khiến ta hiểu sâu hơn về con người này bắt đầu khi Việt Nam đồng ý trả tự do cho ông nhờ vị thế của cha. McCain đã nói rằng ông sẽ vẫn ở lại nếu các phi công người Mỹ khác cùng tham chiến vẫn chưa được thả.
Khi chiến tranh kết thúc, ông được trả về Mỹ, McCain đã không dùng sự cay đắng để đáp trả thời gian bị cầm tù, mà đáp lại bằng một quyết tâm giải quyết nguyên nhân chia rẽ giữa Việt Nam và Mỹ dẫn tới chiến tranh. Cùng với người bạn thượng nghị sĩ và cũng là một cựu binh trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam John Kerry, McCain đã làm nhiều hơn bất kỳ người Mỹ nào có thể làm để thúc đẩy bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
GS. Tom Patterson: 'McCain đã học từ người Việt Nam về lòng vị tha'

GS. Tom Patterson: 'McCain đã học từ người Việt Nam về lòng vị tha'
Năm 1996, McCain (thứ ba từ trái sang) đến Việt Nam và gặp lại ông Mai Văn Ổn, một trong những người đã cứu ông từ hồ Trúc Bạch khi McCain phải nhảy dù xuống đây năm 1967. Ảnh: AP.

McCain không mắc nhiều lỗi trong sự nghiệp của mình, nhưng ông đã nhận trách nhiệm về các lỗi mình gây ra. Ông trở lại để chứng kiến và nói rằng cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam là sai lầm. Và ông công khai thể hiện sự hối tiếc vì đã bỏ phiếu cho cuộc xâm lược của Mỹ tại Iraq vào năm 2003. Một trong những ví dụ rõ nhất về việc ông tuân thủ nguyên tắc là trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008. Ông đối đầu với ứng cử viên Barack Obama, người mà rất nhiều người trong đảng của ông cho là có âm mưu Hồi giáo nhằm hủy hoại nước Mỹ từ bên trong. Khi được hỏi một câu về tác động đó trong chiến dịch tranh cử, McCain đã ngay lập tức phản đối, và khẳng định rằng Obama là một người Mỹ nghiêm túc và tận tâm.
McCain là một người Cộng hòa và hầu hết các quan điểm chính trị của ông đều phù hợp với quan điểm của đảng Cộng hòa. Nhưng ông nhất quyết không để cho lòng trung thành với đảng phái đó ảnh hưởng tới quyết định của mình về cách chính trực nhất để làm chính trị.
Trong đảng, ông là người chỉ trích công khai nhất Tổng thống Donald Trump về thái độ không thèm đếm xỉa đến truyền thống và thiếu tôn trọng các thể chế và luật pháp. McCain không ngừng chỉ trích Tổng thống Trump vì đã không đi đầu thế giới trong sự nghiệp tự do. McCain nói: “Từ bỏ các lý tưởng mà chúng ta đã thúc đẩy trên khắp địa cầu, từ bỏ các nghĩa vụ của một người lãnh đạo thế giới và nghĩa vụ của chúng ta phải duy trì ‘niềm hy vọng tốt nhất cuối cùng của trái đất’ chỉ vì chủ nghĩa dân tộc giả mạo và nửa vời… là không yêu nước, giống như gắn với bất kỳ giáo điều nào khác trong quá khứ”.
John McCain ra đi, nước Mỹ đã mất đi một người lãnh đạo vĩ đạo, và Việt Nam mất đi một người bạn thực sự. McCain đã học từ người Việt Nam về lòng vị tha, về nhân loại của chúng ta, về thảm kịch có thể xảy ra khi các nước mạnh tìm cách dọa nạt những nước nhỏ hơn. Các chuyến thăm lại Việt Nam của ông là một sự chuộc tội vì ông đã giúp kéo hai nước cựu thù xích lại gần nhau hơn. Ông nói: “Không gì trong cuộc sống làm cho mình tự do hơn là chiến đấu vì một sự nghiệp lớn hơn chính mình, cái vây quanh bạn, nhưng không được quyết định bởi mỗi sự tồn tại của bạn”.
*Tom Patterson, GS Chính phủ và báo chí trường ĐH Harvard, thành viên Hội đồng quản trị Viện Michael Dukakis


VIỆT NAM: DẤU MỐC QUAN TRỌNG TRONG CUỘC ĐỜI  McCAIN

BBC /BVN 27-8-2018
clip_image010
Ảnh: GETTY IMAGES - John McCain nhiều lần quay trở lại Việt Nam, đây là lúc ông trở lại vào năm 1992

clip_image008
Thượng nghị sĩ John McCain trong một chuyến thăm tới Hà Nội. Ảnh: VOA
Chào đời vào ngay đêm trước khi nổ ra Đệ nhị Thế chiến, John McCain sinh ra vào thời kỳ Hoa Kỳ bắt đầu trở thành một siêu cường.
Vị cựu chiến binh Cuộc chiến Việt Nam, thượng nghị sỹ Cộng hòa suốt sáu nhiệm kỳ, vừa qua đời hôm 25/8/2018, thọ 81 tuổi.
Cuộc đời ông kéo dài một vòng cung trải qua những gì Henry Luce từng dự đoán sẽ là kỷ nguyên của nước Mỹ - thời điểm mà sức mạnh chính trị, quân sự và văn hóa Hoa Kỳ trở nên vô song trên toàn cầu.
Ông đã từng chiến đấu ở Việt Nam và chịu tù đày khổ ải sau khi bị bắt giữ.
Ông trở thành ngôi sao sáng trên chính trường Mỹ, suýt nữa thì không chống nổi sự cám dỗ, sức mạnh tiền bạc và sự ảnh hưởng trong nền dân chủ Hoa Kỳ.
Ông từng hai lần được đề cử làm ứng viên tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ, hồi 2000 chạy đua với ứng viên cùng Đảng Cộng hòa George Bush, và 2008, khi ông đối đầu và phải nhường bước trước ứng viên Dân chủ Barack Obama.
Trong những ngày cuối đời, McCain đã ủng hộ mạnh mẽ cho ý tưởng về chủ nghĩa quốc tế, theo đó nước Mỹ có thể giữ vai trò dẫn dắt, bảo vệ bạn bè khỏi kẻ thù, và công kích Donald Trump, người vận động chống lại quan điểm toàn cầu này.
McCain rời khỏi chính trường ở thời điểm có lẽ là hoàng hôn của kỷ nguyên Mỹ, khi mà quốc gia này tập trung vào chính sách dân túy, lo ngại về những nguy cơ tiềm ẩn của làn sóng nhập cư, những trở ngại của chủ nghĩa đa phương và những thách thức của nền kinh tế toàn cầu.

clip_image012
Ảnh: ALAMY - McCain cùng các đồng đội được trả tự do khỏi nhà tù chiến tranh Việt Nam
BBC giới thiệu một trong những giai đoạn được coi là quan trọng nhất, ảnh hưởng nhiều nhất tới sự nghiệp của McCain: thời gian ông bị bắt giam tại Việt Nam.
Thoát khỏi nhà tù chiến tranh
Ngày 14 tháng 3 năm 1973
Một hình ảnh vô cùng ấn tượng. Một McCain gầy gò, 36 tuổi, mặc bộ quần áo dân sự nhàu nát, bước đi cùng với các tù nhân chiến tranh Mỹ tới một chiếc máy bay vận tải quân sự Hoa Kỳ. Họ được trả tự do.
Toàn bộ tính cách của John McCain đã được thử thách tại Bắc Việt, và ông ấy đã vượt qua mọi thứ thách một cách xuất sắc - Frank Gamboa
Hơn 5 năm bị giam giữ trong nhà tù ở Việt Nam khiến ông già đi. Mái tóc sẫm màu khi máy bay của ông bị tên lửa đối không của Hà Nội bắn hạ nay đã đốm bạc.
Ông bước đi khập khiễng - vết thương có từ khi nhảy văng ra khỏi chiếc máy bay rơi, và do sự tra tấn của nhà tù Việt Nam. Một tháng sau, tại phòng lễ tân Nhà Trắng cùng với Tổng thống Richard Nixon, McCain chống nạng bước đi.
Ông không bao giờ có thể bình phục chấn thương hoàn toàn. Ông gần như không còn bước đi khập khiễng, nhưng ông không thể giơ tay qua đầu trong suốt phần đời còn lại.

clip_image014
Ảnh: GETTY IMAGES - McCain bắt tay Tổng thống Mỹ Richard Nixon
Cố vấn chính trị Mark McKinnon, người đã tư vấn cho John McCain trong chiến dịch tranh cử Tổng thống năm 2008, đã mô tả việc chải tóc giúp vị ứng viên Tổng thống trong khi họ đứng đợi phía sau một chiếc xe tải nhỏ trước một sự kiện công chúng ở New Hampshire.
"Đó là khoảnh khắc dễ bị tổn thương của người lính đáng tự hào này", ông nói. "Tôi đã chải tóc cho ông ấy, và ông đi ra trước đám đông. Tôi đã quay đi và khóc".
Mặc dù McCain còn ở trong quân ngũ 8 năm sau khi trở về Mỹ, nhưng ngày ông được trả tự do ở Việt Nam đánh dấu thời điểm làm xoay chuyển nghiệp binh dường như đã được định sẵn từ khi ông sinh ra.
Cả cha và ông của ông đều là Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ, và ông nội đã chỉ huy một đội tàu hàng không mẫu hạm chống lại Nhật Bản trong Thế chiến thứ Hai.
McCain tiếp bước cha ông, theo học tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ, nơi bạn bè cho biết đôi khi ông gặp khó khăn với truyền thống quân đội mà ông được trông đợi là sẽ theo đuổi.
"Ông ấy cảm thấy như thể ông không có lựa chọn", Frank Gamboa, một trong những bạn cùng phòng của McCain khi hai người còn là Chuẩn úy tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ, cho biết. "Một trong những gánh nặng của di sản gia đình là bạn không thể là chính mình".
Trong suốt thời gian ở học viện, McCain nổi loạn. Ông được đặt biệt danh là "John Wayne" McCain vì cách ứng xử của ông với phái nữ cũng như sự yêu mến họ dành cho ông. Ông gây ra tiếng xấu giống như người ta sưu tập tem vậy. Ông mấp mé bên bờ phải bỏ học, và tốt nghiệp gần đứng cuối lớp.

clip_image016
Ảnh: GETTY IMAGES - McCain được người dân cứu khỏi hồ Trúc Bạch khi máy bay của ông bị quân đội Bắc Việt bắn hạ
McCain thỉnh thoảng sử dụng vỏ bọc gia đình để bảo vệ mình. Gamboa miêu tả một ví dụ khi McCain trách mắng một bạn học lớn tuổi hơn vì đã sỉ nhục một người phục vụ Philippines trong bữa tối - một chút bất tuân mà có thể khiến ông bị báo cáo và chịu kỷ luật.
Khi người đàn ông hỏi tên, McCain trả lời: "John S McCain III. Còn anh tên gì?" Khi nghe tên đó, theo Gamboa, người đàn ông đã lẩn đi.
Là một tù nhân chiến tranh, McCain có cơ hội sử dụng danh tiếng gia đình để tránh rắc rối - nhưng ông đã từ chối.
Khi những người bắt giữ ông biết được ông là con của một Đô đốc, ông được đề nghị trả tự do sớm. McCain đã từ chối - nhấn mạnh rằng những người đã bị bắt trước ông phải được trả tự do trước.
"Người thẩm vấn nói với McCain rằng tình hình chắc chắn sẽ rất tệ đối với ông", Gamboa nói. "Và họ bắt đầu tra tấn ông. Việc từ chối tự do vì lợi ích của các tù nhân chiến tranh khác, những đồng đội của ông, là một quyết định quan trọng và can đảm".
McCain bị biệt giam nhiều năm, bị tra tấn trong nhà tù Việt Nam. Cuối cùng ông cũng chịu xuống thang và ký nhận bản "thú tội" rằng ông đã phạm tội ác chiến tranh.
Ông không bao giờ dựa vào thân thế gia đình để tìm cách được hưởng những đối xử đặc biệt, hoặc chấp nhận cách đối xử đó cho cá nhân mình, tuy nhiên, khi rời Việt Nam ông đã làm như vậy cho các tù binh, đồng đội của mình.

JOHN McCAIN VÀ DẤU NỐI GIỮA HAI QUỐC GIA

Khanh Nguyen/ BVN 27-8-2018

Thượng nghị sĩ John McCain vừa qua đời ở tuổi 81, sau những ngày đau đớn bởi căn bệnh ung thư não.
Ông là một nhân vật rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam, kể cả trong chiến tranh VN cũng như sau chiến tranh.
John McCain được báo chí phương Tây nhận định là một anh hùng chiến tranh, một kẻ hoạt động chính trị đầy tư duy độc lập trước các chính sách, và đoạn cuối đời, ông là một trong những nhà phê bình mạnh nhất các chính sách của Tổng thống Trump, dù ông là một đảng viên Đảng Cộng Hòa.
Trong chiến tranh Việt Nam, ông là “giặc lái” - nói theo kiểu miền Bắc Việt Nam, khi nhận lệnh đánh bom, để đáp trả các cuộc xâm lược của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) vào nước Việt Nam Cộng hòa, khi VNDCCH phá vỡ các nghị ước hòa bình, đem quân vượt qua vĩ tuyến 17 vào miền Nam.
Cuối năm 1967, John McCain bị bắn hạ ở Việt Nam, và sau đó trải qua 5 năm tù ở miền Bắc. Vì là một trong những người thuộc gia đình có truyền thống tham gia quân đội, John McCain luôn nằm trong danh sách ưu tiên để trao đổi tù binh, nhưng ông từ chối đặc quyền này để nhường cho những tù binh Mỹ khác đang cần được chăm sóc. Và do vậy, kinh nghiệm ở tù của những người cộng sản của ông cũng dầy thêm, bao gồm 2 năm biệt giam và nhiều lần bị tra tấn.
John McCain cũng nhiều lần nhắc lại ký ức này nhưng thay vì đó là hận thù, ông đã dành nhiều thời gian của mình khi trở thành một chính trị gia, là vận động cho nhân quyền của người Việt Nam, nơi mà ông có nhiều kinh nghiệm hơn cả những chính trị gia Mỹ khác cùng thời.
Trong một lần xung đột quan điểm về chính trị, Tổng thống Donald Trump nói ông không phải là anh hùng, mà chỉ là một phi công thất bại. Nhưng với nhiều người Việt đã kinh qua chiến tranh, anh hùng là tính cách chứ không phải là sự kiện.
Nước Mỹ có đến 58.000 quân nhân thất bại trong chiến tranh Việt Nam, nhưng chắc chắn nước Mỹ coi đó là những anh hùng.
Lịch sử Việt Nam cũng tràn ngập các danh sĩ, danh tướng thất bại trong sự nghiệp của mình như Hai Bà Trưng, Trần Bình Trọng, Lê Lai, Nguyễn Thái Học… Nhưng chắc chắn đó cũng là những anh hùng.
John McCain từng bị chính quyền VNDCCH tổ chức cho hàng dài hội phụ nữ, đoàn viên… đứng phun nước bọt vào đầu, chửi mắng và lăng mạ khi bị bắn rớt máy bay và giải đi qua phố. Nhưng khi là một chính trị gia quyền lực, điều ông nghĩ đến là ủng hộ để làm sao thay đổi nhân quyền, luật pháp và chính thể ở VN, thì mới giúp được con người VN. Ông đổi nước bọt và sự sỉ nhục, tra tấn… bằng suy nghĩ giúp đổi thay Việt Nam, chỉ như vậy thôi, ông đã là một anh hùng.
Những ngày tháng cuối cùng của John McCain, còn là những hoạt động không ngừng để bảo trợ và mang nhạc sĩ Việt Khang đến Mỹ, định cư với cuộc đời khác.
81 tuổi, ông ra đi với nhiều điều đáng nhớ, cho cả hai quốc gia Mỹ và Việt Nam.
Nguồn: FB Khanh Nguyen

JOHN McCAIN VÀ 3 ĐIỀU VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ MUỐN NÓI TỚI

TRỊNH HỮU LONG/ FB BVN 27-8-2018

Trong hình ảnh có thể có: 7 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng, bộ vét và trong nhà
Ảnh: Thượng nghị sĩ John McCain gặp gỡ một số nhà hoạt động Việt Nam năm 2015. 
Hơn bất kỳ ai khác trên chính trường Mỹ hiện nay, John McCain có một mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam.Ông được chính quyền Việt Nam coi như một người bạn lớn, người có công thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ, là cầu nối giữa hai đất nước. Việc ông từng là “giặc lái Mỹ” bị bắt sống và bị giam giữ như một tù nhân chiến tranh từ năm 1967 đến năm 1973 cũng là một chi tiết thường xuyên xuất hiện trên báo chí chính thống.
Tuy nhiên, có ít nhất ba điều chính quyền và báo chí chính thống nước ta sẽ không muốn nói tới.
1. John McCain cáo buộc chính quyền Việt Nam tra tấn ông trong trại giam

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi và trong nhà
Tù binh John McCain được bác sĩ Việt Nam chữa bệnh trong thời gian ông bị giam giữ ở Hà Nội. Ảnh: Getty Images.
Trong hồi ký của mình, John McCain mô tả chi tiết quá trình ông bị bắt giữ và tra tấn như thế nào ở Hà Nội trong 5 năm rưỡi ở nhà tù Hoả Lò, Hà Nội. Thời gian thực tế ông bị tra tấn nằm trong khoảng hai năm đầu tiên.
Khi được người dân Hà Nội vớt lên từ hồ Trúc Bạch, hai tay và một chân của ông đã bị gãy hoặc chấn thương nặng. Cán bộ giam giữ không cho ông chạy chữa trong nhiều ngày do ông kiên quyết từ chối hợp tác. “Ông sẽ không được điều trị y tế cho đến khi ông chịu nói”, một cán bộ nhắc đi nhắc lại với ông.

John McCain chỉ được đi điều trị sau khi một cán bộ cho biết: “Bố ông là một tướng to, giờ chúng tôi sẽ đưa ông đi bệnh viện”.
Có những giai đoạn, suốt bốn ngày liền, ông bị cán bộ đánh đập mỗi hai hay ba giờ, khiến tay trái của ông và xương sườn bị gãy.
“Họ muốn tôi xin lỗi vì những tội ác tôi đã gây ra với người dân Bắc Việt và rằng tôi biết ơn họ đã điều trị cho tôi”, McCain viết.
Ông sau cùng quyết định viết tuyên bố nhận tội.
“Tôi cảm thấy thật kinh khủng về điều đó. Tôi tự nói với bản thân rằng, ‘Chúa ơi, tôi thực sự không có lựa chọn nào’. Tôi đã học được một điều mà tất cả chúng tôi đều học được ở đó: Ai cũng có một ngưỡng chịu đựng của mình. Tôi đã chạm tới cái ngưỡng của tôi”.
Trường hợp của John McCain có thể được coi là một ví dụ cho thấy, khi bị tra tấn đến một mức độ nào đó, con người sẵn sàng nhận những tội mà họ cho rằng họ không hề phạm phải.
Sau khi nhận tội, McCain day dứt vì ý nghĩ cho rằng mình đã phản bội nước Mỹ. Ông tự tử không thành do cán bộ quản giáo phát hiện và chạy chữa kịp thời.
Chính quyền Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận họ tra tấn John McCain. Cho đến nay, tất cả những gì người ta biết là qua lời kể của ông. Điều đáng nói là những lời kể này chưa bao giờ xuất hiện trên báo chí Việt Nam và quan chức Việt Nam cũng chưa bao giờ bị báo chí chất vấn về nghi án tra tấn tù binh này.
2. John McCain bảo trợ cho một chương trình tị nạn cho người Việt Nam
Thượng nghị sĩ John McCain gặp gỡ với nhạc sĩ Trúc Hồ và một nhóm đại diện của người Việt Nam tị nạn định cư tại Mỹ. Ảnh: SBTN.
Cái tên John McCain gắn liền với một đạo luật quan trọng đối với cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ: McCain Amendment.
Đạo luật này cho phép con cái đã trưởng thành của những cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hoà bị đi học tập cải tạo sau năm 1975 được đi định cư ở Mỹ.
Để hiểu rõ đạo luật này ta cần quay về với một chương trình tái định cư nổi tiếng có tên “Ra đi có trật tự” (Orderly Departure Program), một chương trình quốc tế do Cao uỷ Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn điều phối, ra đời năm 1979 và kéo dài tới năm 1997. Đây là một phản ứng của cộng đồng quốc tế trước làn sóng vượt biên ồ ạt của người Việt Nam sau năm 1975 nhằm trốn tránh sự đàn áp của “bên thắng cuộc”. Chương trình này đã đưa hơn 600 nghìn người Việt Nam đi định cư ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có đến hơn 450 nghìn người tới Mỹ.
Theo chương trình ODP, con cái chưa kết hôn của các cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hoà đã từng bị đi học tập cải tạo đều được đi định cư Mỹ theo diện tị nạn phụ thuộc. Điều kiện là họ phải được cha mẹ đã đi tị nạn bảo lãnh hoặc đi cùng cha mẹ là người tị nạn. Tuy nhiên, kể từ tháng 4/1995, Bộ Ngoại giao Mỹ thay đổi chính sách và từ chối đơn của những người thuộc diện này.
Năm 1997, John McCain đã đề xuất một dự luật phục hồi quy chế tị nạn phụ thuộc cho những người thuộc diện này mà đã trên 21 tuổi và chưa kết hôn tại thời điểm hồ sơ tị nạn của cha mẹ họ được chấp thuận. Dự luật này được Quốc hội Mỹ thông qua và được Tổng thống Bill Clinton ký ban hành ngày 1/5/1998, có hiệu lực đến 30/9/1999. Nó tiếp tục được Tổng thống kế nhiệm George W. Bush gia hạn hiệu lực từ 30/5/2002 đến 30/9/2003.
McCain Amendement đã là cánh cửa mở ra vào lúc con cái của nhiều cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hoà đã hết hy vọng được đi định cư ở Mỹ.
Bản chất của đạo luật này, cũng như các chương trình tái định cư cho người tị nạn Việt Nam nói chung, là mở ra một lối thoát cho những người bị chính quyền Việt Nam trả thù sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Hoạt động trả thù đó diễn ra dưới nhiều hình thức: đưa đi học tập cải tạo (một hình thức giam giữ không có án) trong nhiều năm, tịch thu tài sản, đưa đi các vùng kinh tế mới, phân biệt đối xử một cách có hệ thống, v.v. Kết quả là hàng triệu người đã vượt biên ra đi, hàng trăm nghìn đã chết trên biển trong hai mươi năm sau chiến tranh.
Những điều này, dĩ nhiên, cũng không có cơ hội xuất hiện trên mặt báo chính thống Việt Nam.
3. John McCain thường xuyên gặp các nhà hoạt động dân chủ Việt Nam
Trong hình ảnh có thể có: 8 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và bộ vét
Thượng nghị sĩ John McCain gặp gỡ với các nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Văn Đài, Phạm Hồng Sơn và Lê Quốc Quân trong một chuyến thăm tới Việt Nam. Ảnh: FB Lê Quốc Quân.
Năm 1985, John McCain trở lại Việt Nam lần đầu tiên sau khi được trả tự do. Lúc này, ông đang là dân biểu của Hạ viện Hoa Kỳ.
Kể từ đó, ông là vị khách thường xuyên của Việt Nam. Các chuyến thăm của ông bao gồm nhiều cuộc tiếp xúc với chính giới, cộng đồng doanh nghiệp, và… các nhà hoạt động dân chủ.
Là một người nhiệt thành ủng hộ các giá trị tự do, McCain luôn có thái độ cứng rắn với các chế độ độc tài. Đối với Việt Nam, thái độ cứng rắn đó của ông không thường xuyên được thể hiện rõ bằng lời nói, mà bằng các cuộc gặp gỡ với giới bất đồng chính kiến, vốn luôn nằm trong tầm ngắm của chính quyền.
Các cuộc gặp gỡ này không được nhắc đến trên báo chí chính thống Việt Nam như các hoạt động khác của ông. Thường diễn ra ở Đại sứ quán, Lãnh sự quán Mỹ hoặc một khách sạn nào đó, ông lắng nghe các nhà hoạt động nói về tình hình nhân quyền Việt Nam và những gì mà họ muốn ông giúp.
Nhân ngày John McCain qua đời, luật sư Lê Quốc Quân, một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng, viết trên Facebook: “Lần cuối gặp ông là năm tháng 6 năm ngoái (2017) khi ông sang Việt Nam. Lần này tôi quyết định đến gặp ông dù được chính quyền khuyến cáo là không được gặp. Tuy nhiên, tôi đã để lại một tin nhắn cho các nhân viên an ninh rằng: ‘Ông ấy là một người bạn trung nghĩa, của tôi và của Việt nam, dù các ông có ngăn cản thì tôi vẫn cứ đi’”.
Chính McCain là người đã ký vào thư gửi Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đề nghị trả tự do cho luật sư Lê Quốc Quân khi ông bị bắt giữ vào năm 2007. Luật sư Quân được trả tự do sau vài tháng giam giữ mà không có bản án nào.
Danh sách những người mà John McCain gặp gỡ còn có nhà báo Phạm Đoan Trang, luật sư Nguyễn Văn Đài, các nhà hoạt động Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Chí Tuyến, Vũ Quốc Ngữ, và nhiều người khác.
Chính quyền Việt Nam có mọi lý do để không hài lòng về những cuộc gặp gỡ này và không cho phép báo chí chính thống nhắc tới.
Với tất cả những điều cấm kị đó, người Việt Nam không có được một bức tranh đầy đủ hơn về mối quan hệ đặc biệt giữa đất nước mình với John McCain.
https://www.luatkhoa.org/…/john-mccain-va-3-dieu-viet-nam-…/