Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

20171028. QUANH TIN ĐỒN: VIỆT NAM BỊ MẤT 15.000 KM2 TỪ 1999 ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
GÓP Ý VỀ THÔNG TIN ' VIỆT NAM MẤT 15 NGÀN KM2 DIỆN TÍCH'

BP/ BVN 26-10-2017
Kết quả hình ảnh cho bản đồ việt nam
Đọc bài “CHOÁNG: Diện tích của Việt Nam sau 1999 biến mất 15 ngàn km2, không biết đi đâu?”, tôi cũng thật sự choáng, đi tìm hiểu vì đâu và sau đây là bảng thông tin. Tôi cố gắng tìm tường tận nhiều nguồn, với lo lắng là không biết đã tới tận cùng của sự thật chưa? Tuy nhiên, có mấy điểm đáng chú ý là:
Thứ nhất, thông tin mất 15 ngàn km2 đến từ Worlbank và cũng trên trang web này có ghi là từ FAO. Tôi đi tìm ở FAO thì không ra thông tin này nhưng lại kiếm ra cũng từ FAO thì diện tích của VN là 332,000km2. Trước đây mấy tháng, trên mạng cũng đã có một số người nêu lên con số làm choáng này, choáng cho bất cứ ai là người Việt Nam. Tôi đã tìm hiểu và email lẫn viết thư gửi cho World Bank xin giải thích. Họ không trả lời. Chịu thua vì mình chỉ là con kiến. Việc này lẽ ra Chính phủ Việt Nam phải hỏi lại World Bank, chứ không để chuyện “mất đất” không rõ ràng sinh ngờ.
Thứ hai, các websites có con số khác nhau, trừ World Bank, nhưng nhỏ, vì lý do nào thì không rõ và nhất là năm cập nhật thông tin là năm nào cũng không rõ.
Thứ ba, tùy tin tưởng của từng người đối với từng websites sau đây mà có nhận định riêng.
Cám ơn
BP
Nguồn
Diện tích Việt Nam
Hậu quả
Ghi chú thêm
Theo Worldbank [1]
(1961) 325,490 km2 (2016) 310,070 km2
Mất hơn 15 ngàn km2
Dựa theo “Food and Agriculture Organization” (FAO)
FAO [2]
332,000 km2
CIA [3]
331,210 km2
Chính Phủ Viêt Nam [4]
331,698 km2
Wikipedia [5]
331,210 km2
Nation Encyclopedia[6]
329,569 km2
Tác giả gửi BVN

'LÃNH THỔ VIỆT NAM HAO HỤT THẾ NÀO TỪ  1999', CÂU HẢI ÂM Ỉ VÀ ĐẦU MỐI CỦA NHIỀU TIN ĐỒN

P.Q.T; HÀ DƯƠNG TRƯỜNG/ BVN 28-10-2017

1. Góp ý thêm về diện tích lãnh thổ Việt Nam bị thu hẹp

P.Q.T.
Về bài viết trên boxit.vn.net "CHOÁNG: Diện tích của Việt Nam sau 1999 biến mất 15 ngàn km2, không biết đi đâu?", tôi xin bổ sung mấy thông tin, ý kiến sau:
1) trang boxit.vn đã đưa tin này ngày 27.10.2016:
https://boxitvn.blogspot.ch/2016/10/hon-15000km2-at-cua-viet-nam-mat-vao.html#more. Chứng tỏ đây là vấn đề rất được quý vị trí thức trong nước quan tâm, mà quan tâm là rất đúng, vì đấy là lãnh thổ muôn đời của Tổ quốc.
2) trên trang Fb – cũng đúng vào ngày 27/10/2016 – của một người mang tên Anh Pham (Gau), hình như là thông dịch viên cho ông Obama lúc ông ấy sang VN hay tiếp lãnh đạo VN ở Hoa Kỳ, có 1 status (xin xem ở đây) như sau:
«Mấy hôm nay trên FB có tin đồn, dựa trên số liệu từ trang thống kê của Ngân hàng Thế giới, là trong năm 1999 Việt Nam đã bị mất 15 ngàn km vuông lãnh thổ. Chiều nay có bạn ở đài Tiếng nói Hoa Kỳ hỏi mình là mình nghĩ sao về điều này. Mình xin trả lời như sau.
Từng làm việc hai năm trong văn phòng của Chief Credit Officer của WB với số liệu hàng ngày, mình rất quen thuộc với các câu chuyện về số liệu và hệ cơ sở dữ liệu của WB. Mình cũng đã kiểm tra và thấy đúng là vào năm 1999, chỉ tiêu diện tích đất (Land area - km2) của Việt Nam có sự thay đổi lớn từ 325 nghìn km2 xuống 310 nghìn km2, tức khoảng hơn 5% diện tích đất đã bị mất. Đây là điều rất bất thường đặc biệt khi để ý là 15 ngàn km2 đấy là tương đương diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, kém Nghệ An chừng 1.5 ngàn km2. Rõ ràng con bò to thế không thể mất toi đi mà không ai để ý. Vậy lời giải thích là gì?
Lời giải thích là thế này. Vào các năm 1998 - 2001 đã có sự thay đổi về định nghĩa về chỉ số thống kê diện tích đất ở WB, Tổ chức Lương nông, CIA, hay một nguồn nào khác. Được biết những số liệu dạng này thường được thu thập từ cơ quan thống kê quốc gia tuy nhiên CIA, trong niên giám World Factbook thường niên, cũng sử dụng các số liệu họ tự tính toán. Các nguồn chính thống đều ghi diện tích lãnh thổ Việt Nam là khoảng 331.600 km2. Được biết con số này bao gồm chừng 5000 km2 là vùng nội thủy, tức là vùng biển nằm trong đường cơ sở, ta có thể thấy là số liệu của WB trước 1999 là 325 nghìn km2 đã không bao gồm vùng biển nội thủy này. Phần 15.000 km2 bị thụt xuống sau 1999 được ghi chép rõ ràng trong CIA World Factbook từ năm 2010 trở đi chính là tổng diện tích nước mặt nội địa (hồ ao sông ngòi đầm phá v.v.). Trước 2010, CIA cũng ghi chép như WB, trước 1999 diện tích đất là 325 ngàn km2 nhưng sau năm đó họ ghi rõ thực chất diện tích đất chỉ có 310 ngàn km2 còn lại là 15 ngàn km2 diện tích nước mặt và 5000 km2 diện tích biển trong vùng nội thủy.
Như thế tính ra diện tích lãnh thổ Việt Nam không có thay đổi nào mà chỉ là cách phân loại và định nghĩa chỉ tiêu thống kê có thay đổi ở một trong các cơ quan thu thập và công bố số liệu. Lý do nhân dân FB giận điên lên là vì 1999 là năm có sự thay đổi về số liệu trong hệ cơ sở dữ liệu của WB cũng là năm Hiệp định biên giới với Trung Quốc được ký. Năm 2001 ở Bắc Kinh mình có được theo dõi quá trình đàm phán phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ. Mình hiểu là khó có việc nhường nhau vài trăm km2 nữa là 15000 km2.
Xin gửi tới các bạn giải thích của mình để các bạn yên tâm» (Anh Pham)
3) Ngoài ra xin có thêm vài nhận xét:
Xem lại http://data.worldbank.org/indicator/AG.SRF.TOTL.K2?view=chart trong đó phần "Overview per country" lần theo các nước qua mũi tên màu xanh bên cạnh năm 2015 thì thấy:
1/ Gần như toàn bộ là mũi tên thẳng – không thay đổi (click vào tên nước để xem chi tiết) trừ một ít nước có mũi tên cong lên hay cong xuống, chỉ có VN là nước có mũi tên uốn éo
2/ Trung Quốc bị mất 39 km2
3/ Bhutan mất tới 9086 km2 trên 47,000 km2 năm 1961 (năm 1994 từ 47,000 còn 40,077 đến 2004 còn 38394 km2)
4) Austria có thêm 9 km. Dù bao vây bởi các nước xung quanh, Đức, Thụy Sĩ, Czech, Hungary, Slovenia, Italy đều có diện tích không thay đổi trừ Slovakia tăng 6 km2 – Vậy thì 9 km2 kia Áo lấy đâu ra?
5/ Việt Nam là nước mà diện tích thay đổi lên xuống lia chia suốt từ 1961 đến nay.
Ý niệm đường nội thủy có thể giải thích sự thay đổi diện tích nhưng theo website này, năm 1978 VN mất đến 2120 km2, đến năm 1980 thì lên lại gần như trước khi bị mất – đến 1987 lại bị mất 1340 km2, rồi lại lên lại xuống, đến 2015 chốt lại là 330,972 km2 mất 718 km2 so với 1961.
Không có gì ngăn cấm sẽ lại có sự thay đổi trong các năm tới vì ý niệm đường nội thủy luôn luôn co giãn, nhất là có chuyện biến đổi khí hậu, nước lên.
Definition: Surface area is a country's total area, including areas under inland bodies of water and some coastal waterways [Định nghĩa: Diện tích bề mặt lãnh thổ là tổng diện tích của cả nước, bao gồm các khu vực nằm trong nội địa và một số tuyến đường thủy ven biển].
Xin mạo muội đưa thông tin và góp ý kiến nhỏ trong việc làm rõ chủ đề này.
P.Q.T.
VK Thụy Sĩ
Tác giả gửi BVN

2. Về vụ «mất» 15.000km2

Hà Dương Tường

Ngày 26.10.2016, trang Ba Sàm đăng một bài viết nhan đề Hơn 15.000 km2 đất của Việt Nam mất vào tay ai?. Đây là một bài tác giả («Tèo Ngu Khìn», dưới đây viết tắt là TNK) đăng trên FB của anh ta nhưng nhiều người chỉ biết tới sau khi Ba Sàm đăng lại, trong đó có một người bạn tôi. Dưới đây là phần chính phản hồi của tôi khi anh bạn chuyển cho tôi đọc bài đó.

(…)
15.000 km2 là gì, anh biết không ? Là hơn diện tích của hai tỉnh biên giới Hà Giang và Lào Cai cộng lại. Hay là một dải đất rộng hơn 10km dọc suốt theo chiều dài biên giới khoảng 1400 km. Làm sao một diện tích đất lớn như vậy có thể biến mất mà không ai biết?
Vậy, việc đầu tiên khi đọc cái tin động trời trong bài mà anh dẫn đó, là phải kiểm tra thực hư thế nào, thay vì mù quáng tin vào nó chứ. Tôi sẽ chứng minh dưới đây sự nhầm lẫn của tác giả bài viết.
Chỉ cần vài click là anh tìm thấy dễ dàng trang dữ liệu của WB (http://databank.worldbank.org/data/reports.aspx?source=statistical-capacity-indicators)
Từ đó, anh có thể chọn thông tin muốn xem: quốc gia (country), các tiêu chí (indicators), thời gian. 
Anh sẽ thấy, không khó khăn gì, cái trang cho số liệu về «land area» của Việt Nam mà bài viết của TNK dẫn ra. Anh có thể làm hơn thế, bằng cách chọn một số năm để so sánh. Nó đây, với sự khác biệt giữa hai con số năm 1999 và 2000, đúng như bài báo nói :clip_image002

Nhưng, con số lớn khó tin, phải có gì cắt nghĩa chứ? Phải tìm hiểu thêm.
Ở dòng cuối của bảng này, có câu «click on a metadata icon… », anh bấm vào «land area» sẽ được kết quả như sau:
clip_image004
Đến đây thì có vấn đề rồi. Vậy diện tích đất (land area) KHÔNG phải là diện tích lãnh thổ của một quốc gia, mà là diện tích lãnh thổ đó trừ đi diện tích mặt nước (sông, hồ…) trong phạm vi lãnh thổ. Và chắc là phải có chỗ mà database của WB đưa số liệu về diện tích lãnh thổ đó chứ. Tìm thêm một chút, trong các indicators (bấm vào chỗ « add series »), anh sẽ tìm thấy dòng «surface area». Tôi gộp lại hai thông tin về «land area» và «surface area» vào một bảng, chụp lại đây (thêm vào năm 1961 là năm đầu tiên có trong cơ sở dữ liệu này, và vài năm sau):
clip_image006
Ở một chỗ khác trên trang này của WB, anh sẽ thấy họ ghi là số liệu từ FAO (Tổ chức Lương Nông của Liên hiệp quốc). Sang trang của FAO (http://www.fao.org/countryprofiles/index/en/?iso3=VNM), các thống kê không được tổ chức tốt như trên trang của WB, nhưng cũng dễ tìm thấy mấy thông in sau:
clip_image007
Vậy là «surface area» của WB chính là «Country Area» trên dữ liệu của FAO!
Và ta thấy gì trên chuỗi số «surface area» mà WB đưa từ năm 1961 tới nay, mà tôi đã trích ra vài năm như trên? Nó hầu như không thay đổi, chung quanh 331.000 km2, những biến động hàng năm rất ít, lúc lên, lúc xuống (nhìn sơ vài nước khác thì cũng vậy), lấy đâu ra sự «mất 15.000 km2 đất» đã «dâng cho Tàu»?
Mà nếu dâng thì diện tích của Tàu phải đột ngột tăng lên 15.000 km2 cùng thời chứ? Đây là những số liệu tương ứng cho China trên cùng trang WB :clip_image009
Giữa năm 1999 với năm 2000, Tàu có tăng 15.000 km2 đất không (xem cả hai dòng, đất và lãnh thổ)? Hay là nó được VN dâng 15.000 km2 đất rồi mang cho Nga, Mỹ?
Còn lại một câu hỏi, thế tại sao có sự giảm đi 15.000km2 trên diện tích đất của VN từ năm 1999 sang 2000? Tôi không tìm thấy câu trả lời trên trang của WB, hỏi một anh bạn đã từng có 10 năm làm số liệu cho WB ở Washington thì nhận được câu trả lời sau: năm ấy (1999), VN đã tính toán diện tích mặt nước trên đất liền của mình, và đưa con số mới tính ấy cho WB, trước đó thì diện tích đất (những năm trước 1999) bao gồm cả đất và nước trên đất liền (khác biệt giữa diện tích lãnh thổ 331.000 km2 và diện tích đất 325.000 km2 từ năm 1961 cho tới năm 1999, khoảng 6.000km2, là diện tích «nội thuỷ» (vùng nước biển nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, tối cao và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền, vì thế được tính vào diện tích lãnh thổ).
Tôi không đủ thông tin để khẳng định tính chính xác của câu trả lời đó (có nghĩa là diện tích mặt nước sông hồ của VN lên tới 15. 000 km2) (1), nhưng đó là chuyện khác. Chuyện ở đây là, thông tin của TNK là sai hoàn toàn khi anh ta nhầm giữa diện tích đất và diện tích lãnh thổ, rồi từ đó vẽ thêm ra hàng chục chuyện khác để tố chính quyền (tôi cũng căm ghét cái chính thể này, và không mong gì hơn ngày nó sụp đổ, nhưng rất sợ rằng cách hành xử ấy chỉ nuôi thêm sự sống cho cái chính quyền đó).
(…)
H.D.T.
Chú thích:
(1) Theo dữ liệu trên the world factbook của CIA (https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/vm.html) thì diện tích của VN là: total: 331,210 sq km ; land: 310,070 sq km; water: 21,140 sq km. Các con số này trùng hợp (cách biệt không đáng kể) với con số của WB.
Tác giả gửi BVN

Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

20171027. TĂNG TRƯỞNG CÓ BỀN VỮNG ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
SỨC KHỎE NỀN KINH TẾ VIỆT NAM NHÌN TỪ TRƯỜNG 
HỢP SAMSUNG

LAN NHI/ TBKTSG 24-10-2017

Samsung Display tăng vốn đầu tư thêm 2,5 tỉ đô la Mỹ và xuất khẩu sản phẩm trị giá 10 tỉ đô la Mỹ trong năm 2017, ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ảnh:TL
(TBKTSG Online) - Các đại biểu Quốc hội đều ghi nhận những nỗ lực của Chính phủ và các thành phần kinh tế đã đưa tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm nay lên mức ngoạn mục. Tuy nhiên, nhiều đại biểu tỏ ra thận trọng khi thấy rằng mức tăng trưởng đột biến này dựa nhiều vào “sức khỏe” của một số doanh nghiệp FDI lớn, trong đó có Samsung.
Samsung, Ford, Formosa ảnh hưởng đến công nghiệp như thế nào?
“Tăng trưởng quí 3 năm nay phải có một số yếu tố đột biến mới có thể đạt được mức 7,46%. Như tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu điện tử lên mức 34% do Samsung có sản phẩm mới xuất xưởng là Samsung S8”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh tại cuộc thảo luận tổ về tình hình kinh tế-xã hội 2017 (kỳ họp Quốc hội thứ 4, khóa XIV) diễn ra tại Hà Nội hôm 24-10.
Theo Chủ tịch Quốc hội, không thể tin được trong điều kiện khó khăn, tăng trưởng GDP 3 tháng đầu năm không bằng cùng kỳ năm trước mà đến 9 tháng đã có khả năng đạt và vượt chỉ tiêu; và vượt cả 13/13 chỉ tiêu kế hoạch kinh tế vĩ mô. Với mức tăng trưởng quí 3, theo người đứng đầu Quốc hội, thì trong quí 4 cũng không nên chủ quan vì để đạt được mức tăng trưởng cả năm 6,7% thì trong quí cuối cùng phải có mức tăng trưởng 7,31%. “Nếu cho rằng 9 tháng qua đã đạt tăng trưởng 6,41% thì đến cuối năm “chắc ăn” 6,7% là không có”, Chủ tịch Quốc hội nói.
Vẫn theo bà Ngân, vấn đề là trong diễn biến tăng trưởng quí 3 có một số yếu tố đột biến mới có thể đạt được 6,7% như mức hồi phục, tăng trưởng mạnh của công nghiệp chủ yếu “rơi” vào sản phẩm điện tử tại hãng Samsung (tăng 34%, giá trị xuất khẩu ước đạt 10 tỉ đô la Mỹ), do Samsung có sản phẩm mới là Samsung S8; hoặc sản xuất thép tăng gần 25% do nhà máy của Formosa đi vào hoạt động, dự kiến sản lượng năm nay đạt khoảng 1,5 triệu tấn thép thô.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị không phân biệt doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước. Song cần phân tích, đánh giá để biết nội tại nền kinh tế đang khỏe chỗ nào, chỗ nào chưa khỏe và chỗ nào thật sự yếu.
Một ví dụ được bà Ngân dẫn ra là hồi trước, nguồn thu chủ yếu của tỉnh Hải Dương dựa vào nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô Ford (Mỹ). Khi Ford “hắt hơi, sổ mũi” là ngân sách tỉnh có vấn đề do dựa vào một doanh nghiệp, một sản phẩm chủ yếu. “Tất nhiên địa phương nào cũng phải có một sản phẩm chủ yếu nhưng chúng ta phải đa dạng hóa, đừng lệ thuộc vào một sản phẩm”, bà Ngân nhắc. Và bổ sung rằng năm trước Samsung bị lỗi sản phẩm Samsung Note 7 là ảnh hưởng ngay tới chỉ tiêu xuất khẩu và nguồn thu ngân sách của tỉnh Bắc Ninh cũng như ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước nói chung.
Phân tích như vậy để thấy được một số sản phẩm nhất định đều có tính thời điểm và khó bền vững trong khi những ngành hướng tới thị trường nội địa tăng trưởng chậm.
Vẫn liên quan đến vấn đề của Samsung và tình hình xuất khẩu, theo nhận định của Chủ tịch Quốc hội là tăng trưởng xuất khẩu cao nhưng phụ thuộc lớn vào doanh nghiệp FDI. Khối doanh nghiệp này nhập nguyên vật liệu từ các nước, chủ yếu là từ chính quốc khiến cho tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam với các quốc gia đó tăng đột biến. Trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn chưa tham gia được đáng kể vào chuỗi cung ứng nguyên liệu cho các tập đoàn.
Cũng liên quan đến vấn đề này, theo đại biểu Phạm Phú Quốc (TPHCM), Samsung xuất khẩu rất lớn nhưng 70% nguyên liệu là phải nhập khẩu chứng tỏ sức khỏe của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào doanh nghiệp FDI, trong khi chưa thấy được sự gắn kết của doanh nghiệp FDI với các nhà sản xuất trong nước và cũng chưa thấy chính sách nào có thể gắn kết khối FDI với doanh nghiệp tại chỗ.
Có tiền mà tiêu không hết
Cũng tại cuộc thảo luận tổ, liên quan đến vấn đề chi tiêu ngân sách và giải ngân vốn đầu tư công, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, người có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong ngành tài chính đặt câu hỏi xung quanh tốc độ giải ngân vốn đầu tư trong 9 tháng đầu năm nay mới đạt 50% kế hoạch, vốn trái phiếu Chính phủ giải ngân được 34%; trong khi vay về phải trả lãi ngay mà chưa bố trí được nguồn vốn vào nền kinh tế là vì lý do gì? Nhiều dự án trọng điểm lớn của các địa phương đang thiếu vốn, nhiều dự án chưa có tiền giải ngân trong khi dòng vốn đang “tắc”, ảnh hưởng đến sự phát triển chung.
Về vấn đề này, tại một tổ khác (đoàn đại biểu Quốc hội Ninh Bình), Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng nói rằng năm 2017 có tổng vốn trái phiếu Chính phủ cần giải ngân là 67 ngàn tỉ đồng nhưng đến nay mới giao được 35 ngàn tỉ đồng. “Chúng ta có tiền mà tiêu không hết, vẫn kêu thiếu động lực tăng trưởng, trong khi số tiền này chính là động lực tăng trưởng vì một đồng vốn đầu tư kéo theo 2-3 đồng vốn từ xã hội”, theo ông Dũng.
Người đứng đầu ngành tài chính nói với các đại biểu rằng năm nay tính trái phiếu Chính phủ vào bội chi ngân sách, trong khi năm trước trái phiếu Chính phủ không nằm trong bội chi. Năm nay, Quốc hội duyệt kế hoạch bội chi bằng 178,3 ngàn tỉ đồng (3,5% GDP), trong đó huy động trái phiếu Chính phủ 50 ngàn tỉ đồng, vay vốn ODA 60 ngàn tỉ đồng. Với tốc độ giải ngân như hiện nay thì việc quản lý bội chi ngân sách, cả con số tuyệt đối và tương đối đều nằm trong tầm kiểm soát sau 10 năm liên tục vượt. Tuy nhiên, đó cũng chưa hẳn là tín hiệu đáng mừng.

TĂNG TRƯỞNG CÓ BỀN VỮNG KHI KHÔNG DỰA VÀO NỘI LỰC ?

VÕ ĐÌNH TRÍ/ TBKTSG 26-10-2017

Thị trường tiêu dùng với gần 100 triệu người là một lợi thế cho sự phát triển của Việt Nam. Ảnh: THÀNH HOA
(TBKTSG) - Thông tin về việc tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Công ty Samsung có lẽ gây ngạc nhiên và lo lắng cho nhiều người. Việc dựa vào doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để phát triển kinh tế là phù hợp, nhưng “để trứng cùng một giỏ” hay thổi phồng vai trò của FDI chắc chắn hàm chứa nhiều rủi ro. Hơn thế nữa, cơ cấu kinh tế của Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển dựa trên nội lực.
Samsung có thực sự là nhân tố chính?
Theo Tổng cục Thống kê (TCTK), cơ cấu kinh tế chín tháng đầu năm 2017 của Việt Nam như sau: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,66%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,5%, khu vực dịch vụ chiếm 42,67%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,17%. Như vậy, khu vực công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm khoảng một phần ba quy mô nền kinh tế. Về tốc độ tăng trưởng, đóng góp của khu vực này vào mức tăng 6,41% của chín tháng đầu năm là 2,45 điểm phần trăm, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 2,15 điểm phần trăm, tương đương 33,5% mức tăng chung.
Nhưng số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, đến hết tháng 6-2017, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã thu hút 12.075 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký 180,68 tỉ đô la Mỹ. Đến tháng 4-2017, vốn đầu tư cam kết của Samsung khoảng 15 tỉ đô la Mỹ, như vậy chỉ chiếm khoảng 8%. Không những thế, nếu nhìn vào giá trị doanh thu và xuất khẩu của Samsung, thì có lẽ đóng góp của Samsung vào tăng trưởng không nhiều đến thế. Cụ thể, doanh thu của Samsung năm 2016 là 46,3 tỉ đô la Mỹ thì xuất khẩu là 40 tỉ đô la Mỹ. Ước tính năm 2017 doanh thu 60 tỉ đô la Mỹ thì xuất khẩu khoảng 50 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, trung bình có khoảng 10 tỉ đô la Mỹ là doanh thu từ thị trường nội địa.
Với thị trường dân số gần 100 triệu người, tỷ trọng ngành dịch vụ (gồm bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ lưu trú ăn uống) khoảng 40%, thì chú trọng phát triển thị trường nội địa là hướng đi để đảm bảo tăng trưởng chất lượng và bền vững, tránh phụ thuộc nhiều vào các yếu tố hay cú sốc bên ngoài.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút nhiều FDI ngoài lý do chi phí lao động thấp, nhiều ưu đãi về thuế, môi trường, thì còn có một lý do khác không kém phần quan trọng: nước nhận FDI là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp này. Nhiều nghiên cứu thực chứng đã chỉ ra rằng, mối quan hệ FDI - tăng trưởng không chỉ một chiều (FDI giúp tăng trưởng), mà còn có tác động qua lại (causality) khi tăng trưởng của một nước thu hút tăng FDI vào nước đó.
Đã vậy, phương pháp tính GDP của Việt Nam là theo phương pháp sản xuất (từ phía cung), nên giá trị xuất khẩu lớn của Samsung không có nhiều ý nghĩa. Với tỷ trọng vốn đầu tư và doanh thu nội địa không thật sự lớn, đóng góp của Samsung vào giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp dịch vụ nói riêng và GDP nói chung dường như đang được thổi phồng. Khi chỉ nhìn vào giá trị xuất khẩu lớn mà cho rằng bị lệ thuộc vào Samsung thì sẽ phải nhượng bộ nhiều trong đàm phán. Thực tế là doanh nghiệp này đã tiếp tục đòi cơ chế ưu đãi, từ cơ chế công nghệ cao sang cơ chế quy mô lớn (ưu đãi như cũ), kể cả với các khoản đầu tư mới.
Điều này cũng đúng với khu vực FDI, khi chênh lệch xuất, nhập khẩu không nhiều, xuất khẩu chỉ nhỉnh hơn nhập khẩu một chút (năm 2016, xuất khẩu là 123 tỉ đô la Mỹ, nhập khẩu là 102 tỉ đô la Mỹ; năm 2015 xuất khẩu là 110 tỉ đô la Mỹ, nhập khẩu 97 tỉ đô la Mỹ).
Nội lực chưa được phát huy
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2016, Việt Nam nhập khẩu 174,8 tỉ đô la Mỹ. Trong số này, các doanh nghiệp FDI nhập khẩu 102,44 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, thị trường trong nước nhập khẩu khoảng 72,4 tỉ đô la Mỹ. Với quy mô nền kinh tế khoảng 200 tỉ đô la Mỹ vào năm 2016 và dự kiến 225 tỉ đô la Mỹ vào năm 2017, Việt Nam là một trong số ít quốc gia có kim ngạch xuất, nhập khẩu lớn hơn GDP, và nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Ngoài một số mặt hàng nhập khẩu hầu như cho thị trường trong nước có giá trị lớn như xăng dầu ( 5,08 tỉ đô la Mỹ), dược phẩm (2,56 tỉ đô la Mỹ), linh kiện phụ tùng ô tô (3,57 tỉ đô la Mỹ), nhiều mặt hàng khác giá trị nhập khẩu cũng khá lớn (xem bảng số liệu). Trong số này, đặc biệt là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác nhập khẩu cho thị trường trong nước lên đến 13,03 tỉ đô la Mỹ, kế đó là mặt hàng vải và chất dẻo (nhựa). Nếu nền sản xuất trong nước có thể thay thế dần hàng nhập khẩu thì quy mô nền kinh tế sẽ rất khác, và không phải lệ thuộc nhiều vào FDI. Tiếc rằng, các doanh nghiệp lớn, kể cả của Nhà nước và tư nhân, đã và đang bỏ lơ các mảng thị trường này, dồn nguồn lực cho bất động sản và ngân hàng.
Để tăng trưởng là thực chất và bền vững
Dù biết rằng tăng trưởng GDP là một chỉ số kinh tế quan trọng, nhưng cần tính đủ các “chi phí” như môi trường, chất lượng cuộc sống của người dân để tăng trưởng là thực chất. Cách tính GDP theo phương pháp sản xuất cần được đối chiếu với hai phương pháp còn lại để tránh GDP bị ước tính sai (ước tính tăng). Không nên vì con số tăng trưởng (danh nghĩa) liên tục mà bám theo mãi mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu.
Với thị trường dân số gần 100 triệu người, tỷ trọng ngành dịch vụ (gồm bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ lưu trú ăn uống) khoảng 40%, thì chú trọng phát triển thị trường nội địa là hướng đi để đảm bảo tăng trưởng chất lượng và bền vững, tránh phụ thuộc nhiều vào các yếu tố hay cú sốc bên ngoài. Vì trong điều kiện lý tưởng thay thế hoàn toàn nhập khẩu, sản xuất trong nước sẽ tăng lên khoảng 40-42 tỉ đô la Mỹ.
(*) Đại học Kinh tế TPHCM và IPAG Business School Paris, Hội các nhà chuyên gia và khoa học Việt Nam (AVSE).

Phía sau bức tranh tăng trưởng
Báo cáo của Chính phủ gửi tới Quốc hội dự báo, tăng trưởng kinh tế sẽ đạt 6,7% trong năm nay sau khi đã đạt mức 6,41% trong chín tháng. Bên cạnh đó, toàn bộ 13 chỉ tiêu cũng sẽ đạt và vượt kế hoạch. Tuy nhiên, phía sau bức tranh tăng trưởng vẫn còn không ít điều đáng lưu tâm.
Điều đầu tiên, là thu ngân sách nhà nước (NSNN) không còn tăng cao so với dự toán như nhiều năm trước đây. Cả năm nay, dự kiến tổng thu NSNN chỉ tăng 2,3% so với dự toán. Đây là mức tăng thấp nhất trong vài năm gần đây so với mức tăng 9,6% trong các năm 2014 và 2015, và 8,6% năm 2016.
Bên cạnh đó, trong chín tháng đầu năm, thu NSNN mới đạt 69,5% dự toán, đạt thấp cả về tiến độ dự toán và tăng trưởng so với cùng kỳ ba năm gần đây; trong đó một số khoản thu rất thấp như thu bán vốn đạt 16,7% và nhất là thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong khi đó, nhiều khoản chi tiêu từ ngân sách vẫn phải duy trì. Và, theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm gửi Quốc hội, thực trạng tài chính của một số ngân hàng thương mại sau thời gian được xử lý vẫn không được cải thiện, hoạt động kinh doanh tiếp tục thua lỗ lớn, việc âm vốn chủ sở hữu ngày càng tăng, và nếu không có biện pháp xử lý hữu hiệu thì sẽ tiếp tục lỗ.
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, trong báo cáo thẩm tra báo cáo nói trên của Chính phủ cho rằng, với tình hình tăng trưởng kinh tế khả quan, chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát và các cân đối vĩ mô cơ bản ổn định, cần xem xét, điều chỉnh lại các giải pháp, chính sách đã đề ra. Đây là cơ hội để đẩy mạnh thực hiện các chính sách với tầm nhìn trung và dài hạn như chương trình cơ cấu lại nền kinh tế, tạo nền tảng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ các ngành có giá trị gia tăng thấp sang ngành có giá trị gia tăng cao hơn, tiếp tục tạo ra thay đổi tích cực về thể chế, môi trường kinh doanh, chủ động điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý.
Bên cạnh đó, cần quan tâm đánh giá kỹ lưỡng các giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn như phấn đấu tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 21% so với chỉ tiêu khoảng 18% từ đầu năm, đẩy mạnh thoái vốn nhà nước, thúc đẩy tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, yêu cầu giảm mặt bằng lãi suất trong bối cảnh nợ xấu còn cao. Ngoài ra, trong điều hành nền kinh tế cần hạn chế việc ban hành quyết định mang tính hành chính, áp đặt, can thiệp không phù hợp quy luật thị trường.
Những giải pháp đó mới mang lại tăng trưởng bền vững.
Tư Hoàng

BAO NHIÊU NHIỆM KỲ NỮA THÌ ĐẾN MẠT KỲ ?

TRÂN VĂN/ VOA/BVN 27-10-2017

Đúng một tháng sau khi Tổng cục Thống kê của Chính phủ Việt Nam “hồ hởi, phấn khởi” loan báo, tăng trưởng GDP của quý ba tăng 7,46%, giúp GDP trong chín tháng đầu năm nay tăng 6.41% so với cùng kỳ năm ngoái, ông Nguyễn Bích Lâm – Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê hoan hỉ khẳng định, kinh tế đang… “khởi sắc”, có nhiều… “điểm sáng”, tạo ra những “kết quả ấn tượng”…, lúc tham dự kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa 14 (đã khai mạc hôm 23 tháng 10 và dự trù sẽ kéo dài đến 25 tháng 11), nhiều viên chức hữu trách thú thật, Việt Nam đang trên miệng vực!
Ngày 24 tháng 10, khi thảo luận về tình hình kinh tế, xã hội và ngân sách năm nay tại Tổ Đại biểu Quốc hội của mình, ông Đinh Tiến Dũng – một Đại biểu Quốc hội đang đảm nhận vai trò Bộ trưởng Tài chính – cho biết, các thống kê chỉ công bố số doanh nghiệp mới thành lập, trong thực tế, cứ có thêm bốn doanh nghiệp mới thì có ba doanh nghiệp đã thành lập trước đó ngưng hoạt động, xin giải thể hoặc phá sản. Ông Dũng than là các doanh nghiệp tại Việt Nam đang thiếu tới 73.900 tỉ tiền thuế, trong số này có tới 28.221 tỉ thuộc loại không có khả năng truy thu, thành ra ông mong Quốc hội xóa khối nợ khó đòi ấy cho Bộ Tài chính đỡ nhức đầu.
Cũng ngày 24 tháng 10, tại cuộc thảo luận với một Tổ Đại biểu Quốc hội khác, ông Hồ Đức Phớc – Tổng Kiểm toán Nhà nước – bảo rằng, kinh tế Việt Nam đang “tiềm ẩn nhiều rủi ro” vì “sức mạnh nội sinh” yếu (tăng trưởng GDP trong quý 3 có đột biến là nhờ đầu tư của Samsung và… Formosa), nợ xấu (nợ có khả năng mất cả vốn lẫn lãi) cao, nợ nần (cả ngoại quốc lẫn trong nước) cũng như các khoản phải trả do nợ đến hạn thanh toán tiếp tục tăng (mỗi năm phải dành 98.000 tỉ trả nợ gốc và lãi, đồng thời phải vay 160.000 tỉ để đảo nợ – dùng nợ mới trả nợ cũ) bởi ngân sách liên tục thất thu.
Giống như nhiều viên chức lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam, ông Vương Đình Huệ – một trong các Phó Thủ tướng – vẫn tỏ ra hết sức lạc quan. Khi tham gia thảo luận tại Tổ Đại biểu Quốc hội của mình, ông Huệ thừa nhận không thể trông vào dầu thô để “cân đối ngân sách” vì giá dầu trên thị trường thế giới tiếp tục giảm, chi phí khai thác cao hơn do cả trữ lượng lẫn chất lượng dầu thô cùng giảm, khai trường xa hơn… nhưng ông Huệ tin rằng vẫn có thể đạt “chỉ tiêu tăng trưởng” nhờ khoản thu từ việc… bán các doanh nghiệp nhà nước! Ông Huệ và nhiều ông khác không bận tâm như ông Phớc: Bán hết rồi thì nhiệm kỳ sau lấy gì để chi tiêu (?)!
***
Cho đến giờ, điều duy nhất khiến các viên chức lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam bận tâm chỉ là làm sao tạo ra những “dấu ấn” trong “nhiệm kỳ” của mình. Đó là nguyên nhân dẫn tới việc xiển dương các ý tưởng kiểu như “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, hút toàn bộ nguồn lực quốc gia bơm cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nhằm biến khối doanh nghiệp này trở thành “anh cả” của nền kinh tế. Đó cũng là nguyên nhân hình thành các “chủ trương, giải pháp” bất kể hậu họa, miễn là trước mắt giúp tỉ lệ tăng trưởng trên giấy, “vị thế” trở thành “điểm sáng”, tạo ra “ấn tượng” tốt đẹp về sự “tài tình, sáng suốt”.
Cho dù hơn hẳn ông Huệ về viễn kiến và ý thức trách nhiệm nhưng ông Phớc cũng chỉ mới nhìn đến “nhiệm kỳ sau”. Không ai bận tâm đến vận mệnh quốc gia, tương lai lâu dài của cả dân tộc khi nợ nần ngập đầu, doanh giới teo tóp cả về số lượng lẫn qui mô, kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào đầu tư trực tiếp của ngoại quốc, thất nghiệp tràn lan. Đó cũng là lý do vừa qua, giới lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ không nhận trách nhiệm về 12 dự án của ngành Công Thương (sau khi ngốn của quốc gia khoảng 64.000 tỉ, không những không sinh lợi mà còn tạo ra khoản nợ khoảng 47.000 tỉ) và sắp tới, chắc chắn cũng sẽ không có bất kỳ cá nhân nào trong giới lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ nhận trách nhiệm khi con số dự án yếu kém, thua lỗ vừa được thông báo là đã lên tới 40!
Bao nhiêu “nhiệm kỳ” nữa thì Việt Nam trở thành một Venezuela ở châu Á? Dưới sự dẫn dắt của Hugo Chávez, Venezuela trở thành quốc gia đi tiên phong trong việc phát triển “chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21” ở Nam Mỹ. Sau 14 năm dựa vào dầu thô, vay mượn để đầu tư cho những dự án vô bổ, thiếu căn cơ, băm bổ lao theo quốc hữu hóa, kinh tế Venezuela sụp đổ khi giá dầu trên thị trường thế giới liên tục sụt giảm, không còn khả năng trả nợ. Ba năm nay Venezuela luôn luôn dẫn đầu thế giới về lạm phát, dân chúng Venezuela chết dần, chết mòn vì thiếu thực phẩm, thuốc men. Riêng năm 2016, có 11.000 trẻ sơ sinh uổng mạng vì thiếu thuốc và suy dinh dưỡng. Kết quả một cuộc khảo sát khác cho biết, ¾ người lớn xác nhận trọng lượng của họ giảm 9 ký/năm. Cướp bóc xảy ra khắp nơi nhưng Nicolás Maduro – người được Hugo Chávez chỉ định làm người kế nhiệm để tiếp tục phát triển “chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21” tại Nam Mỹ – chỉ quan tâm tới việc đàn áp đối lập để duy trì sự lãnh đạo “toàn diện, tuyệt đối” của mình.
T.V.

Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

20171026. GS NGUYỄN ĐÌNH CỐNG BÀN VỀ NỀN TẢNG CỦA MACXIT

ĐIỂM BÁO MẠNG
CHẤT ĐẤT SÉT CỦA ĐÁ TẢNG MACXIT

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 25-10-2017

Kết quả hình ảnh cho chủ nghĩa mác là gì

Phần lớn, nếu không phải tất cả, các lý thuyết, các học thuyết được xây dựng dựa vào một số tiên đề hoặc giả thiết khoa học (GT). Học thuyết Macxít cũng như vậy, nó được bắt đầu bằng một số GT. Các GT đó được Karl Marx (Mác) nghiên cứu, được trình bày như các chân lý, được một số người suy tôn thành các hòn đá tảng với ý nghĩa chúng vững chắc đời đời, làm nền móng cho việc xây dựng lâu đài học thuyết. Một số hòn đá tảng đó như: Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội; Vật chất có trước và quyết định ý thức; Tư bản bóc lột công nhân bằng giá trị thặng dư, v.v…
Tuy rằng Mác được một số đông người công nhận là khá thông minh, có người còn tôn sùng là thiên tài, nhưng vì sự hạn chế về nhận thức, sự thiên lệch về tình cảm, sự thiếu sót về phương pháp mà đã có một số nhầm lẫn tai hại. Tôi, tuy không chuyên nghiên cứu về triết học, cũng thấy được một số thiếu sót hoặc sai lầm trong các GT của học thuyết Macxit, tạm gọi đó là chất đất sét, để đối lại với đá tảng. Chủ nghĩa Mác được dựa trên những GT thiếu chính xác, không đáng tin cậy. Thế nhưng có một số người quá tôn sùng , cho rằng nó là cơ sở cho mọi nghiên cứu về tự nhiên, xã hội và con người, là kim chỉ nam cho mọi hành động. Nếu họ chỉ là nhà khoa học thì tác hại còn vừa phải, nhưng khi họ trở thành nhà chính trị và nắm chính quyền thì nguy hiểm vô cùng. Tôi viết một số bài về tính chất đất sét này. Rất mong nhận được sự phê phán của các học giả và những người quan tâm.
BÀI 1- VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI
Nhiều nghiên cứu về triết học, xã hội và nhân văn thường bắt đầu bằng việc đánh giá, phân tích con người. Thuyết Tiến hóa cho rằng loài người từ vượn biến thành. Mác và nhiều người tin vào điều đó, nhưng có một số người khác, trong đó có tôi, không tin. Một số tôn giáo cho rằng con người do Thượng đế sáng tạo ra. Đạo Phật quan niệm con người trải qua nhiều kiếp luân hồi. Theo nhà khoa học người Nga là Munđasep thì loài người hiện nay là thế hệ thứ 5 trên Quả Đất. Mỗi thế hệ kéo dài vài chục triệu năm. Bốn thế hệ trước đã lần lượt xuất hiện và bị tiêu diệt. Nhưng họ không bị hủy diệt hoàn toàn mà còn sót lại nòi giống, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tuy vậy đối với sự tồn tại và phát triển thì câu hỏi về nguồn gốc không quan trọng bằng các vấn đề khác như bản chất, mục đích, động lực, quyền của con người.
Về bản chất con người, đã có nhiều công trình nghiên cứu, kể từ xưa cho đến tận bây giờ. Ở Hy Lạp cổ đại Socrat cho rằng “Con người không hề muốn hung ác tàn bạo”, Platon ghi nhận “Con người bị chi phối bởi lòng tham”. Ở Trung Quốc cổ đại, phái Nho gia cho rằng “Nhân chi sơ tính bổn thiiện”, ngược lại, phái Tuân Tử lại chủ trương “Nhân tính bổn ác”. Đạo Phật cho rằng trong mỗi con người đều có “Phật tánh”. Triết học Phương Đông nhận định “Nhân sinh tiểu vũ trụ”. Gần đây Edgar Morin, nhà triết học và nhân học của Pháp viết sách “Bản sắc nhân loại (L’ identité humaine)“, chủ yếu trình bày sự tạo dựng phức hợp của con người.
Tìm hiểu quan điểm NHÂN SINH TIỂU VŨ TRỤ tôi nhận thức rằng cả Vũ trụ và Con người tạo thành từ 2 phần là Vật chất và Tâm linh. Hai phần đó kết hợp chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất. Với con người, vật chất tạo nên thể xác, là đối tượng nghiên cứu của khoa học. Tâm linh thuộc đối tượng nghiên cứu của Tôn giáo và một số môn huyền bí. Nhà khoa học thiên văn Trịnh Xuân Thuận nhận định: “Để phát triển, khoa học không cần đến tâm linh, cũng như tâm linh không cần đến khoa học. Nhưng với con người, để phát triển toàn diện cần hiểu biết cả hai”. Như vậy bàn về bản chất con người mà bỏ qua phần tâm linh là chưa toàn diện. Phần tâm linh bao gồm thông tin và năng lượng.
Tôi nghĩ rằng bản chất con người hình thành từ 2 nguồn: Tiên thiên và Hậu thiên. Tiên thiên là phần con người tiếp nhận trước khi sinh ra, nó được di truyền từ bố mẹ, giòng giống và từ nguồn tâm linh qua các thế hệ. Hậu thiên là phần tiếp thu được và hình thành trong cuộc đời, gồm một số thứ, trong đó có các quan hệ. Riêng về quan hệ (QH), tôi cho là có 4. Đó là 1- QH giữa người với tự nhiên; 2- QH giữa con người với nhau; 3- QH tự trong bản thân mỗi con người; 4- QH giữa con người và thế giới tâm linh.
Mác cho rằng “Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Quan niệm như vậy quá phiến diện, nó chỉ phản ảnh một phần nhỏ và hời hợt. Mác đưa ra kết luận vừa rồi trên cơ sở nghiên cứu xã hội và đặc biệt chịu ảnh hưởng của Thuyết tiến hóa. Nếu hiểu QH xã hội trong phạm vi hẹp thì Mác đã bỏ qua rất nhiều tính chất quan trọng thuộc bản chất con người. Có một số người mở rộng QH xã hội bao trùm lên cả QH với tự nhiên và QH với bản thân. Lại có người cho rằng QH xã hội bao gồm cả những vấn đề thuộc sinh học của con người. Dù cho cố tình mở rộng khái niệm QH xã hội để vớt vát thì vẫn không giúp Mác thoát khỏi tầm nhìn hạn hẹp.
Về sinh vật (trong đó có con người), bất kỳ một cái gì thuộc về chúng thì đó là kết quả sự kết hợp giữa 2 thứ là giống và môi trường, trong đó giống là quyết định và môi trường rất quan trọng. Thế nhưng Thuyết tiến hóa quá đề cao vai trò của môi trường mà hơi nhẹ về giống (Gène). Mác chịu ảnh hưởng này và có cái nhìn thiển cận về con người, ông tưởng rằng QH xã hội là môi trường chủ yếu, quyết định bản chất của con người.
Sự đánh giá, tuy không sai, nhưng quá thiển cận về bản chất con người đã dẫn Mác đến những nhầm lẫn về đánh giá giai cấp vô sản và tư bản. Mác đề cao quá mức vai trò của vô sản trong sự phát triển của xã hội sau thời kỳ tư bản. Những người Macxit lại quá sai khi cho rằng giai cấp công nhân là đại diện cho nền sản xuất tiên tiến và nâng lên thành giai cấp lãnh đạo.
Cách nhìn thiển cận về bản chất làm cho những người theo Mác coi trọng tập thể mà coi nhẹ cá nhân. Nó kết hợp với một số nhận định sai lầm khác về đấu tranh giai cấp (bài 3), về vai trò của lao động (bài 6) làm cho các đảng cộng sản cầm quyền để ra và thực hiện nhiều chủ trương đường lối sai lầm trong quản lý xã hội và phát triển kinh tế cũng như đường lối giáo dục và đời sống văn hóa.
Thế bản chất của con người là gì? Tuy có để tâm nghiên cứu nhưng tôi chưa đủ năng lực rút ra kết luận, xin nhường cho các học giả có trình độ cao về triết học. Tôi chỉ biết có nhận định rằng tính cách cơ bản nhất của con người là Tính tư hữu, con người luôn coi trọng, đề cao “Cái của tôi”. Trong bản chất của con người có cả hạt giống thiện và ác, một phần từ Tiên thiên, phần khác được gieo vào từ Hậu thiên. Thiện hay ác, nhân tố nào bị kìm nén, nhân tố nào phát triển là do chúng nhận được điều kiện từ môi trường. Trong xã hội Việt Nam hiện giờ môi trường chủ yếu là sự lãnh đạo toàn diện của ĐCS.
BÀI 2-  VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Chủ nghĩa Mac Lênin (CNML) cho rằng vật chất và ý thức là 2 phạm trù cơ bản của triết học duy vật. Vật chất có trước và ý thức là phản ảnh năng động, sáng tạo của vật chất vào bộ não con người. Nhưng Mác, Ăngghen và cả Lênin đều đã phạm thiếu sót và nhầm. Những người theo CNML đã vận dụng điều trên vào thực tế, mang lại nhiều tác hại.
Trong bài 1 (Bản chất con người) tôi có viết về quan điểm Nhân sinh tiểu vũ trụ. Cả Vũ trụ và Con người được cấu tạo từ Vật chất và Tâm linh. Bản chất con người hình thành từ Tiên thiên và Hậu thiên. Với con người, vật chất tạo thành cơ thể. Hoạt động (HĐ) của cơ thể có 2 dạng: hữu thức và vô thức. HĐ hữu thức do chỉ huy của não, chúng quyết định sự khôn dại/thảnh bại của con người. HĐ vô thức không chịu sự chi phối của não, đó là hoạt động của nội tạng và các hệ sinh học, nó quyết định sức khỏe và sinh mệnh. Giữa hai dạng HĐ ấy có cầu nối là hô hấp. Thở là HĐ cả ở vô thức và hữu thức. Có thể dùng hữu thức để tập thở nhằm điều hòa một số HĐ vô thức, từ đó nâng cao sức khỏe, chữa bệnh tật.
Phần tâm linh của con người, nó được cấu tạo và hoạt động như thế nào còn khá bí ẩn, kể cả với khoa học hiện đại. Nhưng cũng đã có nhiều người cảm nhận được, nó gồm năng lượng và thông tin. Theo sách Bàn tay ánh sáng thì thông tin và năng lượng đó được chứa trong 7 tầng hào quang, bao bọc xung quanh và thâm nhập vào cơ thể. (Sách Bàn tay ánh sáng - Hand of ligth - do Lê Trọng Bổng dịch, NXB Văn hóa Thông tin phát hành năm 1996, tác giả là Barbara, một nhà khoa học người Mỹ, làm việc tại cơ quan nghiên cứu vũ trụ NASA).
Toàn bộ thông tin của con người, tạm gọi là Tâm Thức, gồm 2 phần: Ý thức và Tiềm thức. Ý thức thuộc hoạt động của não với sự tiếp nhận thông tin của 5 giác quan. Tiềm thức thuộc tâm linh, một phần có được từ tiên thiên, phần khác được tiếp nhận thông qua các trường hào quang. Duy thức luận của Phật giáo cho rằng tiềm thức được lưu giữ trong bộ phận gọi là Tàng thức. Giữa hoạt động của não và tiềm thức có sự trao đổi thông tin qua lại, trong đó sự chuyển từ não vào tiềm thức là chủ động, còn sự chuyển từ tiềm thức vào não là tự động (sự chuyển này tạo ra linh tính). Nhiều người nghiên cứu về Tâm thức cho rằng, nó như tảng băng trôi mà ý thức là phần nổi trên mặt nước, chỉ chiếm phần rất nhỏ bé, còn tiềm thức là phần chìm trong nước, gồm phần lớn của tảng băng. Tôi nghĩ rằng ý thức, ngoài các chức năng thông thường đã được biết thì còn làm cầu nối giữa thể xác và tâm linh, giống như hô hấp là cầu nối giữa HĐ hữu thức và vô thức. Duy thức luận cho rằng não chủ yếu là cơ quan điều hành, còn phần lớn những quyết định quan trọng của con người được hình thảnh từ Tâm thức.
Thiếu sót của CNML là dựa vào thành tựu của khoa học tự nhiên ở thế kỷ 19 nên chỉ mới biết ý thức có được từ 2 nguồn : tự nhiên và xã hội mà chưa biết đến tiềm thức của con người. Như thế là mới chỉ biết phần nổi của tảng băng, trong khi đó đã bỏ qua phần chìm rất lớn. Chỉ vì mới thấy được Ý thức, nó là một phần nhỏ của Tâm thức, là phần rất nhỏ của Tâm linh, rồi kết luận “Bản chất của thế giới là vật chất” là vội vàng. Khi xem xét vũ trụ cũng như con người được cấu thành từ vật chất và tâm linh thì không cần đặt câu hỏi cái nào có trước.
Từ kết luận vật chất có trước và quyết định ý thức dẫn tới nhiều sai lầm trong hành động. Đành rằng Lênin cho vật chất nói ở đây là phạm trù triết học, khác với vật chất thông thường, nhưng trong thực tế ít người để ý đến việc đó. Trong đấu tranh giai cấp điều người ta quan tâm trước tiên là quyền lợi vật chất. Trong phát triển xã hội người ta chú ý trước tiên đến lợi ích vật chất trước mắt. Người ta tôn sùng vật chất và bài bác tôn giáo, phủ nhận tâm linh, điều này gián tiếp làm đạo đức xuống cấp. Khi đạo đức xuống cấp thì xã hội bị hư hỏng từ gốc rễ. Đúng là CNML mang đến cho nhân loại lợi ít, hại nhiều.

BÀI 3- ĐẤU TRANH GIAI CẤP


Tuyên ngôn cộng sản năm 1848 viết rằng : “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp” (ĐTGC). Trong nhiều sách kinh điển của CNML viết : “ Trong xã hội có giai cấp, ĐTGC là động lực phát triển”. ĐTGC trở thành hòn đá tảng cơ bản của CNML.Trong thế kỷ 20 ĐTGC thực chất là cuộc đấu tranh do các thế lực cộng sản đề xướng và lãnh đạo quần chúng cần lao, chống lại những người giàu có và thống trị, nhằm tranh đoạt lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị. Cuộc đấu tranh này chủ yếu dùng bạo lực với phương châm một còn một mất nên rất quyết liệt và thảm khốc. Tạm thời ĐTGC có đem đến một chút quyền lợi và tinh thần cho cần lao, nhưng tác hại nó mang lại cho nhân loại là to lớn và toàn diện: về đạo đức, văn hóa, kinh tế, nhân mạng.
ĐTGC luôn đặt câu hỏi và tìm kiếm kẻ thù giai cấp trong thực tế và trong tư tưởng. Tìm cho ra để tiêu diệt cho hết. Mà phải dùng bạo lực để tiêu diệt theo phương châm “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Ở Việt Nam, trong những năm mà ĐTGC được đề cao, tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, văn nghệ sĩ rất hoảng sợ khi được cật vấn về lập trường giai cấp, ý thức giai cấp. Trong các nước do cộng sản thống trị, hàng chục triệu người đã bị giết một cách oan ức vì ĐTGC. Ở VN hiện nay, sự xuống cấp rất trầm trọng của đạo đức, sự hủy diệt tầng lớp tinh hoa, sự chia rẽ dân tộc chính là do ĐTGC mang lại. Trong CCRĐ và cải tạo tư sản không hiếm trường hợp con cháu chống lại ông bà cha mẹ chỉ vì để thế hiện tinh thần ĐTGC, thể hiện sự trung thành với ĐCS. Bài thơ của Tố Hữu kêu gọi “Giết, giết nữa…” và “đạp đầu lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp” thì rõ rồi. Gần đây tôi đọc thấy một bài báo không thể tin nổi, làm lạnh cá sống lưng. Bài báo viết rằng trong CCRĐ nhà thơ Xuân Diệu gọi cha mẹ mình là “ vợ chồng thằng Thu”. Không biết tcó đúng như thế không, không thể tin được. May sao đã có lời phản bác xác đáng của các nhà nghiên cứu (Xin xem bài Cần bác bỏ thông tin bịa đặt). Thở phào. Nhưng điều đó cũng cho thấy ĐTGC đã để lại một vết sẹo không lành trong tâm lý dân tộc.
Từ khi ra đời, đường lối ĐTGC tuy được một số đảng cộng sản (ĐCS) hưởng ứng, nhưng bị số đông nhân loại phản đối. Tuyên ngôn cộng sản công nhận điều đó bằng lời như sau: “Tất cả thế lực của Châu Âu cũ: Giáo Hoàng và Nga Hoàng , Mét-téc-ních và Ghi-dô, bọn cấp tiến Pháp và bọn cảnh sát Đức, đều đã liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử bóng ma đó” . Bóng ma ở đây là phong trào cộng sản với chủ thuyết ĐTGC. Tất cả các thế lực liên hiệp lại để chống đối, để trừ khử nó, nhưng chưa trừ được mà nó vẫn phát triển. Nó phát triển được không phải vì đúng, vì tốt mà vì nó tạm thời có sức sống – căn bản là nó kích thích tham vọng bẩn thỉu bên trong con người trỗi dậy –, tạm thời còn che đậy được các độc hại, phô ra được những điều tuyên truyền tốt đẹp về tương lai, tạm thời lừa dối được, lôi kéo được một số người ủng hộ. Ở Châu Âu, Châu Mỹ sự phản đối ĐTGC vào cuối thế kỷ 19, đầu TK 20 là khá rõ ràng. Ở châu Á, năm 1922, Tôn Trung Sơn cho rằng, xem ĐTGC như động lực phát triển xã hội là một sai lầm lớn của Mác. Có thể Mác đã nhầm khi kết luận “Mâu thuẩn chủ yếu của xã hội là mâu thuẩn giai cấp”, từ đó mới đề ra ĐTGC. Tôi nghĩ hơi khác, rằng: “Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội là giữa tầng lớp thống trị và quần chúng bị trị”. Cuộc đấu tranh quan trọng nhất của nhân loại là “chống áp bức”. Chiến tranh là một dạng hung bạo của áp bức.
CNML có nói đến chống áp bức và bóc lột, Trong Tuyên ngôn CS có viết: “những kẻ áp bức và những người bị áp bức, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng”. Tuy vậy trong lúc tiến hành ĐTGC lại đề quá cao việc chống bóc lột, trong lúc đó chống áp bức quan trọng hơn. Chính vì không thấy rõ việc này nên chính quyền cộng sản đã thay sự áp bức này bằng sự áp bức khác.
Những người lãnh đạo ĐCS nói rằng ĐTGC nhằm mang chính quyền về cho giai cấp vô sản, nhưng thực tế không phải vậy. ĐCS nhờ giỏi tuyên truyền mà thu nhận được một số người có trình độ hiểu biết. Những người này có 2 loại: trung thực và cơ hội. Sau khi ĐCS giành được chính quyền, những độc hại của CNML dần dần lộ ra. Mọi người đều thấy, nhưng bọn cơ hội lợi dụng để mưu đồ lợi ích cho bản thân và phe nhóm, còn người trung thực tìm cách chống lại. Vì trung thực nên ít biết dùng thủ đoạn, vì thế chính quyền dần dần rơi vào tay bọn cơ hội. Bọn này thiếu trí tuệ nhưng có nhiều mưu mẹo, có nhiều thủ đoạn gian dối trong đấu tranh. Chúng tìm cách triệt hạ hoặc hạn chế những người không cùng quan điểm mà chủ yếu là những trí thức tinh hoa và trung thực, chúng tìm cách loại bỏ những người không cùng phe cánh, có xung đột quyền lợi. Chính quyền như vậy mà bảo rằng là của vô sản thì quá hài hước.

Như vậy ĐTGC ở VN cuối cùng mang lại lợi ích cho một nhóm nhỏ bọn cơ hội còn giai cấp công nhân vẫn tiếp tục bị áp bức và bóc lột, nông dân vẫn là những người bị thiệt thòi. Đất nước, nhân dân oằn mình gánh chịu thiên tai và nhân tai. Phần lơn nhân tai là kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp của ĐTGC.

BÀI 4- GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

Những người tôn sùng CNML cho rằng “Giá trị thặng dư” ( GTTD) là một phát hiện vĩ đại của Mác, là hòn đá tảng vững chắc trong học thuyết Kinh tế chính trị của CNML. Theo đó tư bản (TB) đã bóc lột công nhân (CN) bằng GTTD. Tóm lược về GTTD bằng công thức sau: M = GT – ( C + V )… (1) Trong đó M là giá trị thặng dư; GT là giá thành của hàng hóa; C là tư bản bất biến, gồm khấu hao công nghệ và chi phí cho nguyên vật liệu, năng lượng; V là tiền công trả cho CN để mua sức lao động. Mác cho rằng toàn bộ M là do lao động của CN tạo ra, bị TB chiếm
Thời trẻ, được học như trên, tôi thấy là đúng, nhưng rồi nhờ tiếp xúc được với các quan điểm khác nhau, nhờ chiêm nghiệm thực tế và đặc biệt nhờ việc dám tự suy nghĩ để phản biện mà phát hiện ra vấn đề sau: Trong toàn bộ bài được học, trong tất cả những tài liệu gốc của CNML đã đọc, tôi không thấy chỗ nào đề cập đến lao động của TB trong quá trình sản xuất. Khi nói về TB chỉ thấy các hành động bóc lột, cách làm tăng GTTD bằng kéo dài thời gian lao động của CN, rút ngắn thời gian lao động cần thiết, giảm giá trị của tư bản bất biến C. Không thấy chỗ nào TB trả công cho mình.
Khi công nhận công thức tính M ở trên là đúng thì toàn bộ M không phải chỉ do CN làm ra, nó gồm nhiều phần hợp lại. M = m1 +m2 +m3+… +mi. Trong đó m1 là công của nhà tư bản đóng góp vào quá trình sản xuất mà phần lớn là lao động trí óc, là lao động quản trị; m2 trả cho các công việc gián tiếp; m3 là phần do công nhân làm ra, bị tư bản chiếm đoạt, bị bóc lột. Như vậy không chỉ có công nhân làm ra M để bị bóc lột mà nhà tư bản, các nhà khoa học, nhà tổ chức và quản lý đều tham gia vào đó.
Gần đây tôi đọc được tài liệu của một vài tác giả đương đại về GTTD, với giải thich: M = m1 + m2 +… +m10+ m11+… (2). Trong đó các m như là : thuế, lạm phát, GTTD của lao động quá khứ, công và ý tưởng xây dựng công ty, chi phí mạo hiểm, công quản lý, công các lao động đặc biệt, trả tiền ăn học, trả công tạo việc làm, bóc lột CN. Kể ra lắm thứ như vậy, phải chăng tác giả tự nghĩ ra, để bù đắp sự thiếu sót của Mác (tôi không tán thành một số thứ trong đó).
Một cách hiểu khác, khi cho rằng M trong công thức (1) là GTTD mà TB bóc lột CN thì C và V cần được tăng lên bằng cách kể thêm một số mục trong công thức (2). Còn nếu khẳng định công thức (1) với mọi thuyết minh của Mác là hoàn toàn đúng thì rất khó để giải thích sự giàu có của những người kiểu như Bil Gate hoặc Nguyễn Thị Hòe.
Thực ra ở đây Mác đã có nhầm lẫn lớn. Mác nhầm vì bị hạn chế trong suy nghĩ, bị thiên lệch trong đánh giá. Mác quá yêu thương giai cấp CN và thành kiến với TB. Hình như Mác chưa từng làm kinh doanh, chưa hiểu hết công việc của nhà TB. Mác chỉ quan sát hiện tượng rồi suy luận hiện tượng người lao động làm thuê bị bóc lột là tương đối rõ. Bản chất của bóc lột gắn với bị áp bức. Những người Macxit cho rằng Mác đã vạch trần bản chất của bóc lột là GTTD. Đó chỉ là lời phụ họa một chiều vì quá tôn sùng, không dám nghi ngờ Mác.
Những người Macxit cho rằng giàu có là nhờ bóc lột, họ ra sức chống bóc lột, rất sợ mang tiếng bóc lột người khác, đến nỗi có thời kỳ dài các đảng viên ĐCSVN bị cấm thuê mướn nhân công.
Trong bài 3 (Đấu tranh giai cấp) tôi cho rằng chống bóc lột là cần, nhưng chống áp bức cần hơn, quan trọng hơn. Mà áp bức gắn với quyền lực, với sức mạnh. Mác nhìn thấy bất công của xã hội (rất nhiều người thấy chứ riêng gì Mác), nhưng vì bị thiên lệch như đã nêu nên suy luận nhầm. Mác cho rằng nguyên nhân chủ yếu của bất công nằm ở việc chiếm hữu tư liệu sản xuất, nằm ở mâu thuẩn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nhìn đúng sự thật của xã hội Việt Nam bây giờ mới thấy rõ không phải như thế.
Riêng khái niệm chiếm hữu tư liệu sản xuất. Tôi chưa có điều kiện để tìm xem gốc gác của khái niệm chiếm hữu ở đây như thế nào. Trong tiếng Việt, khái niệm “chiếm” một cái gì thì cái ấy đã có, Như vậy những thứ quan trong thuộc tư liệu sản xuất như nhà máy, công nghệ thì TB không chiếm của ai cả mà phải tạo ra, phải trao đổi để có, họ không dùng sức mạnh để chiếm như kiểu chiếm thuộc địa.

Học thuyết GTTD do Mác tạo ra, được những người Macxit tôn sùng hàng trăm năm nay, tỏ ra đã bị nhầm. Xin đừng đem những thứ như thế để nhồi sọ những người nhẹ dạ cả tin / bị lệ thuộc vào thế lực cộng sản.


CHỦ NGHĨA MÁC CÒN LẠI NHỮNG GÌ ?

ĐẶNG XUÂN CANH/ BVN 4-11-2017

Chủ nghĩa Marx còn lại những gì? (Phần 1)


Giáo sư Nguyễn Đình Cống đã cho đăng một loạt 4 bài (Bản chất con người; Vật chất và ý thức; Đấu tranh giai cấp; Giá trị thặng dư) để chứng minh tính chất đất sét trong đá tảng của chủ nghĩa Marx-Lenin. Tôi xin bổ sung tiếp một bài “Chủ nghĩa Marx còn lại những gì?” để góp phần vào một khẳng định: “ Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu xuất phát từ bản chất của học thuyết Marx”.
Bài có 3 phần, gồm:
1- Chủ nghĩa Marx là một hệ tư tưởng sai ngay từ đầu.
2- Tiên tri của Marx về xã hội cộng sản dựa vào một học thuyết giả khoa học.
3- Chủ nghĩa Marx còn lại những gì?
Đặng Xuân Canh
***
Phần 1
Chủ nghĩa Marx là một hệ tư tưởng sai ngay từ đầu
Để giải thích vì sao Đảng cộng sản Việt Nam kiên định Chủ nghĩa Marx – Lenin, ngày 29-12-2009, ICT News đã viết và đăng trên http://baomoi.com: Sau sự kiện chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, CNXH thế giới lâm vào thoái trào, trong nước ta có một số người hoài nghi về sự đúng đắn của chủ nghĩa Marx-Lenin. Có thể nói chưa bao giờ chủ nghĩa Marx-Lênin lại đứng trước những thử thách nghiêm trọng như hiện nay. Nhưng sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình CNXH trong quá trình đi tới mục tiêu xây dựng XHCN. Nó không đồng nhất với sự cáo chung của CNXH với tư cách một lý tưởng, một mục tiêu, một chế độ xã hội kiểu mới thuộc về hình thái kinh tế xã hội Cộng sản chủ nghĩa.
Viện Triết học thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, ngày 09-01-2016, đã viết bài “Giá trị thời đại của triết học Marx“ đăng trên http://philosophy.vass.gov.vn: Chúng ta không cố tình biện hộ cho những thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, cũng không lảng tránh trách nhiệm trước lịch sử. Nhưng những sai lầm đó không xuất phát từ bản chất của học thuyết Marx về chủ nghĩa xã hội mà bắt nguồn từ sự vi phạm những nguyên tắc biện chứng của chủ nghĩa Marx trong quá trình xây dựng và ứng dụng mô hình hiện thực của chủ nghĩa xã hội.
Để chứng minh thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu và sự thoái trào của CNXH thế giới không phải chỉ là sự sụp đổ của một mô hình mà xuất phát từ chỗ chủ nghĩa Marx là một hệ tưởng sai ngay từ đầu, nhà nghiên cứu Richard Pipes, trong bài “Chủ nghĩa Marx là một giấc mộng hão huyền vĩ đại nhất thế kỷ 20“ đã phân tích như sau (*):
Từ năm 1917, sau khi những người Bolshevik cướp được chính quyền ở nước Nga, đã mưu toan xây dựng xã hội theo các nguyên tắc cộng sản trên khắp thế giới. Nhưng rồi tất cả các cuộc thí nghiệm đó đều đã thất bại. Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ ngay tại nước Nga. Còn hôm nay nó chỉ tồn tại trong vài nước: Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam, Cuba. Ở những nước này, nó đang trong quá trình phân rã. Các đảng cộng sản cầm quyền đã phải nhượng bộ rất nhiều nguyên tắc cộng sản để giữ chính quyền khỏi sụp đổ. Tại sao vậy?
Trước hết, hãy tìm nguyên nhân về sự tan rã của Liên Xô là nhà nước cộng sản đầu tiên và cũng là động cơ chủ yếu của toàn bộ phong trào cộng sản quốc tế, từ các tiền đề và cương lĩnh cộng sản của nó.
Các kết quả nghiên cứu được công bố sau năm 1991 đã đưa ra hàng loạt nguyên nhân: do kinh tế trì trệ, do công dân Liên Xô đã có điều kiện tiếp xúc với nguồn thông tin nước ngoài, do thất bại ở Afghanistan, do không đủ sức theo đuổi cuộc chạy đua vũ trang, do chính quyền bất lực trước phong trào bất đồng chính kiến trong nước, do phong trào Đoàn Kết ở Ba Lan làm suy sụp tinh thần của ban lãnh đạo Liên Xô, v.v. Tất cả các nguyên nhân đó đều có thật, nhưng chúng chỉ có thể tác động mạnh đối với một cơ thể ốm yếu chứ không thể làm sụp đổ một đế chế Liên Xô lúc ấy còn nhiều tiềm lực. Vậy thì tại sao? Đó là vì chủ nghĩa Marx, cơ sở lý luận của chủ nghĩa cộng sản đã mang sẵn trong mình hạt giống của sự tự hủy: Chủ nghĩa Marx hình thành trên một triết lý sai lầm về lịch sử và một học thuyết tâm lý phi thực tế. Có thể kể ra như sau:
1. Luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Marx về sở hữu tư nhân là hoàn toàn sai. Luận điểm của Marx cho rằng sở hữu tư nhân là một hiện tượng nhất thời, chỉ tồn tại trong giai đoạn chuyển tiếp giữa chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy và giai đoạn sau chót của nó. Nhưng các chứng cứ hiện có lại chứng tỏ đất đai là nguồn gốc chủ yếu của tài sản vào thời tiền sử, đều nằm trong tay các Vua, Chúa hoặc nằm trong tay các bộ lạc, các gia đình hoặc cá nhân. Gia súc, thương mại, vốn liếng có ở khắp nơi và luôn luôn trong tay tư nhân. Từ đó có thể kết luận rằng sở hữu tư nhân không phải là hiện tượng nhất thời mà là một thành tố thường trực của xã hội và chủ nghĩa Marx cố gắng bãi bỏ, tiêu diệt nó là sai lầm.
2. Quan điểm của chủ nghĩa Marx về khả năng cải tạo bản chất của con người để phù hợp với chủ nghĩa cộng sản cũng là một sai lầm và đã thất bại. Quan điểm của Marx cho rằng dùng cưỡng ép giáo dục có thể tạo ra những con người mà trước Marx, Platon đã từng mong muốn là tạo ra “con người mà riêng tư và tư hữu bị loại bỏ ra khỏi đời sống“,trở thành con người không còn ước mơ sáng tạo, con người sẵn sàng tan biến vào xã hội. Giả sử các chế độ cộng sản có cố gắng làm được điều đó thì họ cũng không duy trì được kết quả. Các chuyên gia luyện thú đều thấy rằng sau một thời gian luyện tập, các con thú có thể làm được một số trò nhưng để chúng trở lại môi trường tự do thì chúng sẽ trở lại các hành vi tự nhiên. Mặt khác các đức tính có được do cưỡng ép giáo dục không có tính di truyền. Thế hệ kế tiếp sẽ bước vào thế giới với những ước mơ không phải là cộng sản. Vì thế các đảng cộng sản (trong đó có Đảng cộng sản Việt Nam) đã nhiều năm chủ trương đào tạo “con người mới xã hội chủ nghĩa“ mà không làm được. Cuối cùng chủ nghĩa cộng sản đã thất bại vì nó không thể làm thay đổi bản chất con người để phù hợp với nó.
3. Tính chất của thế giới hiện thực buộc các chế độ cộng sản phải coi bạo lực là biện pháp quản lý thường trực. Muốn bắt người ta từ bỏ cái người ta được sở hữu và hy sinh quyền lợi của mình cho quyền lợi của nhà nước cộng sản thì phải trao cho các cơ quan quản lý các quyền lực tuyệt đối. Lênin cũng hiểu như vậy nên ông nói:
“Chuyên chính vô sản là một chính quyền dựa trực tiếp vào bạo lực, không bị hạn chế bởi bất cứ luật lệ nào, không bị gò bó bởi bất cứ nguyên tắc nào“.
Điều 4 Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam chính là các sản phẩm chuyên chính vô sản đã được Việt Nam hóa. Sau khi Liên Xô sụp đổ, một số chính quyền cộng sản dựa vào bạo lực đã kéo dài được sự tồn tại với cái giá phải trả là sự đau khổ kéo dài của nhân dân, đồng thời đã làm tiêu ma mục đích mà Marx mong muốn là đem lại sự bình đẳng cho mọi người dân.
Chuyên chính vô sản dựa vào bạo lực đã tự tạo ra một giai cấp mới, đó là “các đảng viên có chức quyền ở các cấp của đảng cộng sản“, và đảng bây giờ trở thành giá trị tự thân và mục đích tự thân.
Lúc này, “Đảng tức Nhà nước“ không còn cách nào khác là phải nuông chiều “giai cấp mới“ vì nó là lực lượng bảo vệ quyền lực cho đảng. Tầng lớp quan liêu phát triển nhanh chóng. Lý do là tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có kinh tế, đều do nhà nước quản lý. Để làm được việc quản lý phải có đội ngũ quan chức quan liêu đông đảo làm những “con dê tế thần“. Các chính quyền cộng sản cung cấp cho họ những khoản ưu đãi đặc biệt và từ tầng lớp này đã hình thành một giai tầng đặc quyền đặc lợi thế tập. Từ đây, lý tưởng bình đẳng của Marx đã chấm dứt, vì muốn mọi người đều bình đẳng về sở hữu nhưng lại tạo ra bất bình đẳng về quyền lợi. Mâu thuẫn giữa mục đích và phương tiện như thế đã bén rễ ngay trong lòng chủ nghĩa cộng sản và trong đời sống ở các quốc gia do đảng cộng sản độc quyền cai trị và làm ruỗng nát cơ thể của đảng.
4. Khẩu hiệu “Vô sản các nước liên hiệp lại“ đã được Marx và Engels kêu gọi trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, nhưng sự thống nhất của giai cấp vô sản không thể nào đặt cao hơn tình quê hương và giống nòi. Với bất kỳ nước nào, hễ bị nước ngoài đe dọa thôn tính thì tất cả các giai cấp trong nước lập tức đoàn kết lại.
Những khiếm khuyết kể trên vốn thuộc về bản chất của chủ nghĩa cộng sản và đó là lý do đã xuất hiện “chủ nghĩa xét lại“ chủ nghĩa Marx.
5. Chế độ cộng sản ở các nước đều làm theo thiết kế của Lênin, xây dựng bộ máy quản lý theo mô hình quân đội,tất cả đều chịu sự chỉ huy từ trung ương. Cơ cấu tổ chức như vậy có thể thích hợp với thời chiến nhưng kém hiệu quả trong xây dựng ở thời bình. Nó trở thành xơ cứng, tự tạo ra mối đe dọa nội tại là sự bàng quan và tính thụ động của quần chúng, dẫn đến sự tụt hậu liên tục về kinh tế và khoa học kỹ thuật.
Muốn khắc phục tình trạng này phải nới lỏng các biện pháp quản lý. Nhưng một khi nới lỏng quản lý thì toàn bộ chế độ sẽ lung lay vì nó vốn là một hệ thống hoàn chỉnh. Do vậy, khi Gorbachev cải cách, nới lỏng một chút, lập tức chế độ Xô Viết bị rạn nứt rồi sụp đổ. Các nhà lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam vu cho Gorbachev làm sụp đổ Liên Xô là sự vu cáo thiếu biện chứng, thiếu trí tuệ. Sự thật chế độ cộng sản là một chế độ không có khả năng thích nghi với những điều kiện đã thay đổi. Nó là một chế độ không thể cải tạo. Chính sự thiếu năng động, vốn thuộc bản chất của chủ nghĩa cộng sản, cuối cùng đã dẫn nó đến sụp đổ.
Đến đây có một câu hỏi: Vì sao chủ nghĩa Marx có nhiều khiếm khuyết về bản chất như thế lại có thể chi phối gần một nửa thế giới trong gần một thế kỷ vừa qua?
Ở đây phải kể đến vai trò của hệ tư tưởng điều khiển, dẫn dắt các phong trào cộng sản. Đó là học thuyết do Marx đề xướng ở thế kỷ thứ 19, khi chủ nghĩa tư bản ở thời kỳ hoang dã, tích lũy tư bản nguyên thủy. Học thuyết này tạo ra một huyền thoại về thiên đường dưới trần gian và chiến lược đưa thiên đường đó về trái đất, được Lênin áp dụng lần đầu vào cuộc sống. Hệ tư tưởng đó đã được một số trí thức hưởng ứng và truyền bá rộng trong số những người mong muốn có sự thay đổi cuộc sống nhưng thiếu kiến thức để thực hiện. Một cuộc khảo sát ở Liên Xô vào năm 1922, sau khi đảng Bolshevik cầm quyền cho thấy chỉ có 0,6% đảng viên đã qua bậc đại học, 6,4% đã qua bậc trung học, 92,7 % đảng viên không đủ kiến thức để hiểu chủ nghĩa Marx và các nhiệm vụ của họ phải làm, 4,7% đảng viên hoàn toàn mù chữ. Trong buổi đầu chưa cướp được chính quyền, các đảng cộng sản thường ít đảng viên. Họ luôn luôn bị săn đuổi. Họ chịu nhiều nguy hiểm chứ chưa có quyền lợi gì. Nhưng sau khi đảng đã chiếm được chính quyền thì khác. Khi đảng có quyền phân chia quyền lợi đã chiếm được và quyết định các hình thức thưởng, phạt thì các đảng có vô số cảm tình viên ủng hộ hệ tư tưởng cộng sản thống trị xã hội, vào đảng để kiếm chác địa vị và tiền. Đối với họ, hệ tư tưởng chỉ là tấm vải khoác ngoài nhằm che đậy bản chất thật của chế độ. Quyền lực và sự tồn vong của đảng mới là mục đích chính. Vì thế đối với họ, chỉnh huấn tư tưởng, phê bình, tự phê bình chỉ là những việc làm vô tích sự. Tư tưởng cơ hội này đã bộc lộ rõ khi Liên Xô tan rã vào năm 1991. Những kẻ thuộc giai tầng đặc quyền đặc lợi của Liên Xô lập tức từ bỏ hệ tư tưởng Mác xít, lợi dụng “tư hữu hóa“ để thu vén cá nhân, biến tất cả tài nguyên và các phương tiện sản xuất của đất nước thành tài sản riêng của họ.
Các cuộc thí nghiệm xã hội cộng sản không tưởng đã đưa đến cái chết cho khoảng 85 đến 100 triệu người, nhiều gấp 1,5 lần số người chết trong cả 2 cuộc thế chiến. Vậy mà, sau khi gây ra những cuộc chém giết đẫm máu vẫn chưa thấy thiên đường, những kẻ cuồng tín cộng sản vẫn còn trâng tráo biện hộ cho Marx “nếu không có các cuộc thử nghiệm cách mạng như thế, làm sao biết được mô hình xã hội của Marx là đúng hay sai“! Những người còn sống không chịu ở yên dưới ách cai trị độc tài của cộng sản thì bị đàn áp, bị bị tù đày. Họ thường là những người có năng lực và tháo vát nhất. Kết quả đã diễn ra cuộc tiến hóa giật lùi: những người tháo vát, trung thực thì bị hại. Những kẻ chỉ biết gọi dạ bảo vâng thì có xác suất tồn tại cao nhất. Xã hội cộng sản vì thế tự đánh mất những người con ưu tú, nên cứ lún sâu mãi trong cảnh đói nghèo.
Mong muốn có sở hữu thuộc về bản năng con người, còn muốn có sự tôn trọng tài sản của người khác thì phải được giáo dục. Nếu một ai đó phát hiện ra rằng quyền sở hữu của anh ta không được tôn trọng thì anh ta rất có thể trở thành người truyền bá những bản năng tham tàn nhất. Điều này đã xảy ra sau khi chế độ cộng sản ở Liên Xô sụp đổ. Ở những nơi đó, nó đã cản trở quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường thực thụ, một nền kinh tế dựa trên sự tôn trọng quyền tư hữu.
(*) “Tổng kết chủ nghĩa cộng sản“ của Richard Pipes, Talawas tháng 9-2007

Phần 2
Tiên tri của Marx về xã hội cộng sản dựa vào một học thuyết giả khoa học
Khi Karl Marx còn sống, học thuyết về quy luật tiến hóa sinh vật của Darwin đã gây nguồn cảm hứng sâu sắc đối với Marx, để từ đó Marx suy đoán quy luật tiến hóa xã hội loài người, sẽ từ cộng sản nguyên thủy tiến hóa dần đến một xã hội cộng sản mà ở đó không còn giai cấp, không còn người bóc lột người, không còn nhà nước, bình đẳng tuyệt đối giữa người và người, của cải dồi dào đến mức mọi người làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Có lẽ vì vậy, trước mộ của Marx ở nghĩa trang Highgate - London, Engels đọc điếu văn, đã ví Marx là “Darwin của khoa học xã hội“.
Không may cho Marx, học thuyết tiến hóa sinh vật của Darwin mà Marx dựa vào, đã và đang bị nhiều nhà khoa học trong giới khoa học sinh vật, sinh hóa, cổ sinh học phê phán là một học thuyết giả khoa học.
Trang New Scientist, chuyên đề “Cuộc khủng hoảng mang tên thuyết tiến hóa“ đã đăng bài “Darwin sai ít nhất ở 9 luận điểm chính” sau đây:
1- Thuyết Darwin sai với Quy luật tạo sinh
Louis Pasteur, nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực vi sinh vật học đã tuyên bố:” Sự sống phải bắt nguồn từ sự sống“, theo đó, hiểu đơn giản thì con cái phải do cha mẹ sinh ra. Một sinh vật có ý thức, dù là một tế bào đơn giản nhất cũng không thể được tạo ra từ sự kết hợp ngẫu nhiên của những nguyên tử hóa học vô thức (do Darwin tưởng tượng). Đó là một định luật đã được Pasteur chứng minh bằng thực nghiệm, có tên là Định luật tạo sinh (The law of biogenesis).
2- Darwin đã để “một khoảng trống hoàn toàn“ trong thuyết tiến hóa của ông
Tế bào nhân sơ (do Darwin tưởng tượng) không tiến hóa lên tế bào nhân chuẩn qua đột biến mà qua dị hợp cộng sinh (symbiosis). Sự kiện các vi khuẩn đơn bào tiến hóa thành những tế bào lớn hơn và phức tạp hơn chúng gấp trăm lần là một khoảng bị bỏ trống trong thuyết tiến hóa của Darwin. Nhà sinh vật học Jonatthan và nhà toán học William Dembski kết luận: Không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy có những dạng sống đơn giản hơn mà từ nó nhân sơ tiến hóa thành.
3- Tưởng tượng của Darwin hoàn toàn ngược với những lưu trữ hóa thạch về sự bùng nổ sự sống trong kỷ Cambri
Cách đây khoảng 530 triệu năm đã xuất hiện đột ngột hầu hết các nhánh động vật chính mà các lưu trữ hóa thạch đã chứng minh. Trước đó hầu hết các sinh vật chỉ là những cá thể đơn giản. Chỉ trong vòng 70 đến 80 triệu năm, sự tiến hóa gia tăng với một tốc độ ngạc nhiên và bí ẩn. Darwin đã từng ghi trong cuốn sách Nguồn gốc các loài của ông rằng sự hóa thạch trong kỷ Cambri đã đặt ra một mâu thuẫn đối với thuyết tiến hóa của ông vì thuyết tiến hóa của Darwin nói ngược lại rằng sự tiến hóa diễn ra từ từ từng tí một và trải qua một quãng thời gian vô cùng dài.
4- Thuyết tiến hóa của Darwin không có các mắt xích kết nối trung gian
Chính Darwin nói: Số lượng các hình thái trung gian phải đã từng tồn tại trên trái đất với số lượng rất lớn. Tại sao không thể tìm thấy chúng trong các lớp địa tầng? Giáo sư Stephen J. Gould của đại học Harvard cho biết: Mọi nhà cổ sinh vật học đều biết rằng các lưu trữ hóa thạch chứa đựng rất ít các dạng sinh vật trung gian. Quá trình chuyển đổi giữa các nhóm chỉ có thể nói là xảy ra một cách đột ngột.
5- Thuyết Darwin ngược với tính cố định, không thay đổi của sinh vật
Tính cố định (stasis) của hầu hết các giống loài hóa thạch xuyên suốt quá trình tồn tại lâu dài của nó như được thấy trong địa chất đã được tất cả các nhà cổ sinh vật học công nhận một cách hiển nhiên. Điều này trái với thuyết Darwin, nhưng chưa được nghiên cứu chi tiết.
6- Không như tưởng tượng của Darwin, chưa có bằng chứng nào cho thấy thông tin có thể tiến hóa thông qua đột biến.
Norbert Weiner, giáo sư Toán học của đại học MIT, được coi là cha đẻ của ngành điều khiển học (cybernetics) khẳng định: Thông tin trong DNA là thông tin. Thông tin không phải là vật chất hay năng lượng. Chủ nghĩa vật chất nào thất bại trong việc nhận thức điều này sẽ không thể sống sót nổi một ngày. Thông tin không phải là vật chất nhưng nó có thể được chuyển tải thông tin thông qua vật chất. Chưa có bằng chứng nào cho thấy thông tin có thể tiến hóa hay cải tiến thông qua đột biến. Do đó không thể nào tin rằng có thể xảy ra sự tiến hóa ngẫu nhiên và mù quáng.
7 – Đấu tranh sinh tồn không phải là động lực chính cho tiến hóa sinh vật như Darwin nghĩ
Các nhà khoa học tại đại học Bristol cho rằng “không gian sinh sống“ mới là động lực chính cho tiến hóa sinh vật. Các nghiên cứu đã nêu ra rằng những thay đổi lớn trong tiến hóa đã xảy ra khi động vật di chuyển đến một không gian sinh sống mới, chưa bị chiếm cứ bởi những động vật khác.
8- “Cây sự sống“ của Darwin không diễn tả đúng thực tế
Eric Bapteste, nhà sinh vật học của đại học Pierre & Marie Curie của Pháp cho rằng “Chúng ta không có bằng chứng nào chứng minh cái cây sự sống của Darwin là một hiện thực“. Những thí nghiệm di truyền trên vi khuẩn, cây cối và động vật ngày càng tiết lộ rằng các loài khác nhau lai hợp nhiều hơn chúng ta từng nghĩ. Điều này có nghĩa là thay vì các giống loài chỉ đơn giản truyền thừa xuống giống nòi riêng rẽ của nó, nó còn trao đổi, lai tạp với những nhánh tiến hóa khác. Kết quả là một bụi rậm sự sống phức tạp hơn nhiều so với cái gọi là “cây sự sống“ của Darwin.
9 - Người không tiến hóa từ vượn như Darwin tưởng tượng ra
Các kết quả nghiên cứu hiện đại cho biết quan niệm cho rằng DNA của vượn giống DNA của người đến 99% không còn đúng nữa, hiện nay con số này chỉ là 93%. Có những khác biệt lớn xảy ra ở cấu trúc cơ thể, não bộ, trí khôn, hành vi giữa người và vượn.
Căn cứ vào đâu để nói thuyết tiến hóa của Darwin là giả khoa học?
Trong cuốn “Sự tiến hóa của sinh vật“, do NXB sách báo hàn lâm ở New York xuất bản năm 1977, Pierre Paul Grassé, nguyên Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Pháp, nguyên Chủ nhiệm khoa Sinh học tiến hóa của đại học Sorbonne – Paris (*)là người trong nghề đã cho rằng thuyết tiến hóa của Darwin là giả khoa học vì nó không phản ánh lý thuyết khoa học và đã có những căn cứ thực tế sau đây:
- Thuyết tiến hóa của Darwin là một lý thuyết hoàn toàn vô bằng chứng, thậm chí có nhiều bằng chứng giả mạonhưng lại đóng vai trò một khoa học chính thống.
- Trong thuyết tiến hóa, những tiên đề ẩn giấu trong những phép ngoại suy tùy tiện, thường là thiếu căn cứ, tạo ra một thứ giả khoa học. Nó làm cho nhiều nhà sinh hóa và sinh học tin rằng sự đúng đắn của các khái niệm nền tảng đã được chứng minh rồi, làm cho họ lầm đường khi họ tin vào những giả định của thuyết tiến hóa nhự một tiên đề. Ví dụ một giả định có trong thuyết tiến hóa là: “sự đột biến làm cho sinh vật biến đổi dần dần từng tí một, sau một thời gian tích tụ thành một biến đổi lớn, biến loài này thành loài khác, tức là tiến hóa“. Các nhà tiến hóa coi giả định đó của Darwin là một tiên đề, một sự thật hiển nhiên không cần bàn cãi. Từ tiên đề ấy, họ đưa ra những suy diễn tưởng tượng và những từ ngữ hàn lâm làm cho nhiều người tưởng lầm là một khoa học. Kèm theo những suy diễn đó còn là những hình vẽ tưởng tượng, những bằng chứng giả mạo, trở thành một thứ giả khoa học.
Pierre Paul Grassé khuyến khích mọi người, nhất là những người đang tin vào thuyết tiến hóa của Darwin, nên biết một sự thật là hầu hết những bằng chứng mà thuyết tiến hóa đưa ra trong hơn 150 năm qua đã bị chứng minh là sai, có nhiều bằng chứng là giả mạo.
Pierre Paul Grassé giải thích: Bất kể số lượng đột biến có thể nhiều đến đâu chúng cũng không tạo ra một dạng tiến hóa nào. Đó là vì chúng bị xóa bỏ bởi chọn lọc tự nhiên. Như vậy có nghĩa là chính chọn lọc tự nhiên (thuyết của Darwin) sẽ loại bỏ những đột biến, vì hầu hết đột biến gây bất lợi cho sinh vật. Đây là điều hoàn toàn phù hợp với thực tế và chính vì vậy đột biến không dẫn đến tiến hóa. Ngày nay khoa học đã có nhiều khám phá mới, sự thật ngày càng được sáng tỏ, số lượng các nhà khoa học phản đối thuyết tiến hóa của Darwin ngày càng nhiều.
Trong cuốn “Bác bỏ chuyện hoang đường của học thuyết Darwin“ (Darwinism: the Refutation of a Myth) xuất bản năm 1987 tại Beckingham - Kent, nhà sinh học Đan Mạch nổi tiếng Soren Lovtrup đã chỉ ra: Thuyết tiến hóa nói bò sát biến thành chim. Nếu đúng vậy phải có sinh vật trung gian là bò-sát-chim, một loại bò sát mọc cánh để tiến tới bay. Nhưng cánh của bò-sát-chim (hay chim-bò-sát) mới nhú ra đã trở thành vật cản, một bộ phận vướng víu, một thứ vô dụng đối với con vật, làm khổ con vật. Chọn lọc tự nhiên sẽ phải hủy bỏ cái cánh vô dụng đó, thay vì thúc đẩy nó phát triển. Hóa ra chọn lọc tự nhiên lại chống lại sự “tiến hóa“ mà Darwin tưởng tượng. Nói cách khác, chính lý thuyết của Darwin chống lại Darwin.
Adam Sedgwick, cha đẻ của địa chất học hiện đại, người đầu tiên khám phá ra những hóa thạch của “kỷ Cambri“ chỉ rõ: Bằng chứng hóa thạch của kỷ Cambri cho thấy hầu hết các sinh vật ta thấy ngày nay đều ra đời gần như đồng thời cùng một lúc. Đó là bằng chứng mạnh mẽ bác bỏ học thuyết Darwin.
Quá trình tiến hóa chỉ được tiết lộ thông qua những sinh vật hóa thạch. Vì vậy kiến thức về cổ sinh học là điều kiện tiên quyết. Chỉ cổ sinh học mới có thể cung cấp những hóa thạch đó như là bằng chứng và tiết lộ cho chúng ta biết quá trình hoặc cơ chế của tiến hóa. Trong thuyết tiến hóa, Darwin đã biến những phỏng đoán, những giả định của ông thành những nguyên lý tổng quát mà không có bằng chứng thực tế nào đủ tin cậy để từ đó quy nạp thành những kết luận mang tính định luật.
Tại sao một học thuyết đã bị nhiều nhà khoa học phản bác như thế vẫn còn hiện diện ở nhiều trường đại học và trong giáo trình về chủ nghĩa Marx-Lenin ở Việt Nam?
Học thuyết Marx ra đời vào cuối những năm 40 của thế kỷ 19. Thuyết tiến hóa sinh vật theo con đường chọn lọc tự nhiên của Darwin (và Alfred Wallace) ra đời vào năm 1859. Ở thời điểm đó, thuyết tiến hóa của Darwin được nhiều nhà khoa học chấp nhận, đưa vào giảng dạy trong nhiều trường đại học. Chỉ đến cuối thế kỷ 20, khoa học mới có nhiều phát minh mới, có thể bác bỏ thuyết tiến hóa của ông. Vì giả thuyết của Darwin đang thịnh hành nên việc sửa đổi nó không thể một sớm một chiều.
Đối với các bạn đọc không phải là những nhà cổ sinh học, nói về thuyết Darwin có thể giúp gì cho bạn?
Bài này không nhằm mục đích giới thiệu với các bạn về học thuyết Darwin mà nhằm hỗ trợ tài liệu để các bạn tự xét học thuyết Marx được xây dựng dựa vào một học thuyết giả khoa học như thế có đáng tin cậy không.
(*) Pierre Paul Crassé còn là tiến sĩ danh dự của đại học Brussels và đại học Ghent (Bỉ), đại học Basel (Thụy Sĩ), đại học Bonn (Đức), đại học Madrid, đại học Barcelona (Tây Ban Nha), đại học São Paulo (Brazil), là Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học New York, Viện sĩ Viện hàn lâm Hoàng gia về khoa học và nghệ thuật của Bỉ.

Phần 3: Chủ nghĩa Marx còn lại những gì?
Tư bản (Das Kapital) của Marx là tác phẩm nền tảng của chủ nghĩa cộng sản. Đó là một tác phẩm kinh điển đỉnh cao của Marx, xuất bản tại Đức năm 1867. Trong cuốn sách này Marx đã vạch ra mô hình về sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và giải pháp của Marx. Marx coi đó là cuốn kinh thánh của giai cấp công nhân. Ông hy vọng cuốn sách đó sẽ giáng một đòn lý thuyết chí mạng vào giai cấp tư sản khiến nó không thể sống được.
Mô hình của Marx vạch ra rằng chủ nghĩa tư bản luôn luôn có xu hướng khủng hoảng nên chắc chắn nó sẽ tự diệt vong và đem lại niềm tin rằng chế độ tư bản chủ nghĩa phải bị lật đổ và thay thế nó bằng chủ nghĩa cộng sản. Nói đến chủ nghĩa Marx không thể bỏ qua cuốn Tư bản. Nội dung cơ bản của mô hình Marx là:
1- Thuyết giá trị lao động
Marx đã phát hiện ra hệ thống Ricardo phù hợp với mô hình của ông diễn tả sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Trong hệ thống của Ricardo, lao động đóng vai trò then chốt trong việc xác định giá trị. Giá trị của hàng hóa phải tương ứng với số giờ lao động bình quân được dùng để làm ra hàng hóa đó.
2- Học thuyết giá trị thặng dư
Marx gọi lợi nhuận và lợi tức là giá trị thặng dư. Đó là một bước logic ngắn gọn để kết tội các nhà tư sản là kẻ bóc lột lao động. Marx đã đưa ra một công thức toán học cho học thuyết giá trị thặng dư của ông là: Tỷ lệ lợi nhuận “p“ (hay tỷ lệ bóc lột lao động) bằng giá trị thặng dư (s) chia cho giá trị sản phẩm cuối cùng (r).
Công thức toán học đó được viết là: p = s / r (công thức a).
Ví dụ: nhà sản xuất thuê công nhân sản xuất váy rồi bán váy với giá 100 USD / mỗi sản phẩm. Lao động chỉ có giá 70 USD / mỗi sản phẩm. Ở ví dụ này, tỷ lệ bóc lột là: p = 30 / 100 = 0,3 = 30%.
Marx chia giá trị sản phẩm cuối cùng thành hai dạng tư bản là tư bản bất biến (C) và tư bản khả biến (V) . Tư bản bất biến đại diện cho nhà xưởng và máy móc thiết bị sản xuất. Tư bản khả biến là chi phí nhân công. Từ đó Marx đưa ra phương trình toán về tỷ lệ lợi nhuận của nhà tư sản thu được là: p = s / [ V + C ] (công thức b).
Marx cho rằng lợi nhuận và sự bóc lột của nhà tư sản được tăng thêm bằng cách kéo dài ngày lao động. Marx còn cho rằng nhà tư sản đưa máy móc và công nghệ tiên tiến vào sản xuất chỉ đem lại lợi ích cho nhà tư sản chứ không có lợi gì cho công nhân. Kết quả là để nhà tư sản bóc lột nhiều hơn.
Marx lập luận rằng tiền lương trả cho công nhân phải chiếm toàn bộ tiền thu được từ sản xuất và dùng lập luận đó để chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản là thủ phạm gây ra “cuộc đấu tranh giai cấp“ giữa công nhân và nhà tư sản.
3- Lợi nhuận giảm dần và sự tích lũy tư bản
Sự tích lũy tư bản không ngừng tăng lên nhằm đáp ứng yêu cầu cải tiến hàng hóa để cạnh tranh và làm chi phí nhân công giảm xuống. Muốn cải tiến hàng hóa phải tăng thêm chi phí về máy móc và công nghệ, khiến tăng tư bản bất biến (C), do đó giảm lợi nhuận (xem công thức b), đưa đến một cuộc khủng hoảng trong chủ nghĩa tư bản do “quy luật lợi suất giảm dần“. Các doanh nghiệp lớn sản xuất được sản phẩm rẻ hơn để thắng lợi trong cạnh tranh, các công ty lớn trở nên tập trung hơn, dẫn đến sự phá sản của nhiều nhà tư bản nhỏ, công nhân thất nghiệp gia tăng.
4- Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản
Chi phí sản xuất hạ, lợi nhuận của nhà tư bản giảm, sức mạnh độc quyền, mức tiêu dùng của xã hội giảm, công nhân thất nghiệp là những điều kiện dẫn tới những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hơn và rộng hơn, đưa đến sự suy thoái của chế độ tư bản chủ nghĩa. Tất cả bắt nguồn từ thuyết giá trị về lao động. Đó là kết luận của Marx và Engels (sách của Marx và Engels, 1848). Khi đưa ra kết luận này Marx đã bỏ qua định luật về thị trường của nhà kinh tế Say nói rằng thị trường có xu hướng hướng tới trạng thái cân bằng và toàn dụng lao động.
5- Chủ nghĩa đế quốc của chủ nghĩa tư bản tiền tệ
Các nhà tư bản có năng lực trong việc tích lũy vốn và tạo ra các thị trường mới ở trong nước và nước ngoài đã gây ấn tượng mạnh đối với Marx. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản của Marx và Engels năm 1848 đã viết về hiện tượng này: ”Trong suốt thời kỳ thống trị hiếm hoi một trăm năm của mình, giai cấp tư sản đã tạo ra lực lượng sản xuất đồ sộ và khổng lồ hơn tất cả các thời kỳ trước gộp lại“. Marx, Engels và sau đó, các nhà Macxit luôn luôn mô tả chủ nghĩa tư bản và các công ty lớn là “những tên đế quốc cố hữu“ bóc lột công nhân nước ngoài và khai thác cạn tài nguyên của các nước đó.
6- Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Marx chịu ảnh hưởng của hai triết gia là Hegel và Feuerbach.
Hegel đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Marx trong sự phát triển tiến trình quyết định luận kinh tế của Marx. Chính đề cơ bản của Hegel là “mâu thuẫn“ (về bản chất), là gốc rễ của mọi sự vận động và sự sống. Hegel đã mô tả mâu thuẫn này theo phép biện chứng, rằng các lực lượng chống đối nhau cuối cùng sẽ tạo ra một lực lượng mới. Một “chính đề“ được hình thành sẽ tạo ra một “phản đề“ phát triển theo hướng ngược lại, và đến lượt nó sẽ tạo ra một “hợp đề“ mới. Hợp đề mới đó lại trở thành một “chính đề“, và quá trình cứ lặp lại theo sự tiến bộ của văn minh. Marx đã áp dụng phép biện chứng đó của Hegel vào quan điểm quyết định luận về lịch sử của Marx. Tiến trình lịch sử của Marx được mô tả bằng cách sử dụng khái niệm của Hegel, rằng từ chế độ chiếm hữu nô lệ là chính đề trong thời kỳ Hy Lạp cổ có phản đề của nó là chế độ phong kiến trong thời kỳ Trung cổ, tạo thành hợp đề là chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản là chính đề mới xuất hiện sau thời kỳ khai sáng. Phản đề của nó là chủ nghĩa xã hội, rồi dẫn tới đỉnh cao là chủ nghĩa cộng sản.
Xã hội cộng sản này không phải là chỗ dung nạp mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội hiện hữu. Thông qua chuyên chính vô sản, các giai cấp, các thành phần không phải là vô sản, trong đó kể cả các trí thức như kỹ sư, kiến trúc sư, bác sĩ, luật gia là những nhân tố sáng tạo trong lực lượng sản xuất, thì trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản, Marx gộp vào tầng lớp trung đẳng (tức tiểu tư sản) cùng với các nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương nghiệp, thợ thủ công, trung nông, là lớp người không nhiệt tình với cách mạng vô sản, bảo thủ thậm chí là phản động, sẽ biến mất, chỉ còn lại giai cấp vô sản thuần nhất, khi đó xã hội cộng sản không còn phân chia giai cấp, không xung đột giai cấp, hoàn toàn bình đẳng giữa người và người.
7- Giải pháp của Marx là Chủ nghĩa xã hội cách mạng
Với cách lập luận như trên, Marx tin rằng quá trình lịch sử tất yếu sẽ hướng tới hình thái xã hội cao hơn cả là xã hội cộng sản và Marx thấy rằng để đạt được nó cần thiết phải có cách mạng. Marx (cùng Engels) là người đầu tiên đề xuất dùng bạo lực để lật đổ chính quyền tư sản, thiết lập chủ nghĩa xã hội cách mạng. Điều này thể hiện trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản năm 1848, tại Quốc tế thứ nhất năm 1860 và tại Công xã Paris năm 1871. Marx tán thành “nền chuyên chính độc tài“, ủng hộ việc xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân vì cho rằng sở hữu tư nhân là nguyên nhân của xung đột giai cấp. Marx (và sau này cả Engel) cũng đồng tình với Proudhon rằng đã xóa sở hữu tư nhân thì không cần đến trao đổi hàng hóa, do đó không có mua bán, không cần đến tiền tệ (sau này Pôn Pốt đã thực hiện đúng như vậy).
Nhưng tất cả những điều tiên đoán này của Marx đã không xảy ra. Sau này Leszek Kalakowski, cựu lãnh đạo của Đảng cộng sản Ba Lan đã tuyên bố: ”Tất cả những lời tiên tri quan trọng của Marx hóa ra đều sai lầm“. Trên thực tế nhiều vấn đề đã ngược lại với tiên đoán của Marx:
- Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, tỉ lệ lợi nhuận không giảm.
- Giai cấp lao động không rơi vào cảnh ngày càng bần cùng. Tại các nước công nghiệp mức sống trung bình của công nhân đã tăng. Tầng lớp trung lưu không biến mất như Marx dự đoán, trái lại đã tăng.
- Sau các cuộc suy thoái, chủ nghĩa tư bản vẫn phát triển, năng động.
- Ở các nước tư bản, không nảy sinh các xã hội xã hội chủ nghĩa không tưởng mà Marx hình dung.
Tại sao Marx sai lầm?
- Trước tiên phải nói đến những sai lầm về kiến thức của Marx trong thuyết về giá trị lao động. Marx đã sai khi bác bỏ quy luật thị trường của Say và phủ nhận thuyết giá trị của Say nói rằng giá trị của hàng hóa và dịch vụ sẽ được xác định bằng lợi ích. Theo Say, nếu các cá nhân không có nhu cầu về một thứ hàng hóa nào đó thì họ không cần biết có bao nhiêu lao động được đặt vào đó và với họ, thứ hàng đó vẫn không có giá trị. Ngược lại ví dụ ngọc trai được con người lặn tìm nó vì nó có giá trị chứ không phải nó có giá trị bởi vì con người mất công lặn tìm nó. Còn có nhiều thứ hàng liên tục tăng giá trị ngay cả khi những thứ hàng đó cần rất ít lao động chẳng hạn nghệ thuật và đất đai.
Marx cũng đã bế tắc không giải quyết được “vấn đề chuyển đổi“, vấn đề về tỷ suất lợi nhuận và giá trị. Trong tập 1 của bộ Tư bản, Marx khẳng định giá biến động hoàn toàn theo thời gian lao động, do đó Marx kết luận rằng các ngành cần nhiều vốn sẽ ít khả năng sinh lời hơn các ngành cần nhiều lao động. Nhưng khả năng sinh lời tương đương nhau ở tất cả các ngành trong dài hạn, do vốn và các khoản đầu tư có thể di chuyển từ các ngành có khả năng sinh lời thấp tới các ngành có khả năng sinh lời cao hơn.
- Thứ hai là Marx sai lầm khi đánh giá thấp kiến thức và công việc vạch chiến lược kinh doanh, quản lý, điều hành của các nhà tư bản và các nhà doanh nghiệp, phủ nhận công lao to lớn của họ trong việc chấp nhận đầu tư mạo hiểm, cung cấp vốn để doanh nghiệp có khả năng sinh lời.
- Sau khi Marx qua đời, có sự thay đổi vị trí trong các giai cấp kinh tế trong xã hội tư bản. Ngày càng nhiều công nhân có cổ phần, trở thành cổ đông trong các công ty cổ phần, làm chủ sở hữu một phần các công ty nơi họ làm việc.
- Marx có quan điểm rất ngoan cố và bảo thủ đối với vai trò của máy móc thiết bị sản xuất tiên tiến trong sản xuất hàng hóa. Marx không thừa nhận máy móc và công nghệ đã giúp công nhân vận hành công việc sản xuất đỡ nặng nhọc hơn, xóa bỏ bớt sự “tách ly người lao động“ (alienation) mà Marx đã từng buộc tội rằng máy móc chỉ giúp nhà tư bản bóc lột công nhân nhiều hơn. Marx không thừa nhận rằng máy móc còn tạo thêm các việc làm mới, đưa đến tăng năng xuất lao động trên mỗi đơn vị giờ công lao động, dẫn tới mức lương công nhân cao hơn.
Phải chăng Marx là nhà phản kinh tế?
Marx được đào tạo ban đầu từ môi trường triết học. Từ lĩnh vực này Marx chuyển hướng nghiên cứu về kinh tế chính trị học. Michael Harrington cho rằng Marx không hiểu thấu đáo về vai trò của vốn, về thị trường, giá cả và tiền tệ trong việc thúc đẩy sự dư thừa vật chất của loài người. Harrington cũng cho rằng chính chủ nghĩa tư bản chứ không phải chủ nghĩa Marx, đã giải phóng người lao động khỏi xiềng xích của sự nghèo khổ, độc quyền và áp bức, đem đến nhiều thành tựu hơn cả sự ảo tưởng của Marx về hy vọng, về hòa bình, về sự dư thừa và thể hiện nghệ thuật của loài người “hoàn thiện“. Harrington kết luận Marx đã ngây thơ khi cho rằng chủ nghĩa xã hội không tưởng của ông có thể đạt được sự tăng trưởng cao về mức sống cho người lao động. Chủ nghĩa lý tưởng của Marx đã đưa chúng ta trở về thời kỳ nguyên thủy, nếu không nói là man rợ với lối sống bộ lạc. Vì những lẽ đó Harrington cho rằng Marx là một nhà phản kinh tế (anti-economist).
Chủ nghĩa Marx còn lại những gì?
Marx có tính khí mạnh mẽ. Từ khi học ở bậc trung học, Marx đã bộc lộ năng lực suy nghĩ độc lập và năng lực phản biện, Marx đã viết trong một bài luận văn: ”Lịch sử coi những người đấu tranh cho hạnh phúc của mọi người là vĩ nhân“ và sau này Marx đã hành động theo ý tưởng nhân văn đó. Khi học ở đại học, Marx sở hữu một khả năng tư duy trừu tượng rất nhạy bén và sắc sảo mà thiếu cái đó thì không thể trở thành nhà triết học. Marx vì thế được nhiều người đánh giá là thiên tài. Thế nhưng nhiều học thuyết và dự báo kinh tế của Marx đã được chứng minh là không chính xác. Tuy vậy trong bộ Tư bản của Marx vẫn còn những yếu tố có giá trị và đáng được quan tâm:
1- Vấn đề quyết định luận kinh tế
Trong quy luật về chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx, Marx đoan chắc rằng các lực lượng kinh tế hoặc vật chất của xã hội sẽ xác định “kiến trúc thượng tầng” về pháp lý, chính trị, tôn giáo, thương mại của nền văn hóa quốc gia. Ngày nay hầu hết các nhà xã hội học đều công nhận vai trò quan trọng của lực lượng kinh tế trong xã hội.
2- Vấn đề về các giai cấp trong xã hội
Học thuyết của Marx về ý thức giai cấp và xung đột giai cấp đã thu hút sự quan tâm của các nhà sử học và xã hội học. Họ đã đưa ra những câu hỏi sau đây xem ra có vẻ là mâu thuẫn nhau:
- Giai cấp cầm quyền đã bảo vệ và thúc đẩy lợi ích của họ thông qua các quá trình chính trị đến mức nào?
- Phải chăng bộ phận làm chủ và kiểm soát của cải và phương tiện sản xuất áp đảo xã hội?
- Có phải “luật pháp và chính trị“ là trợ thủ của tư bản công nghiệp?
- Vì sao các công đoàn lại được cho phép tồn tại?
- Vì sao các trường đại học có khoa Nghệ thuật và khoa Kỹ thuật lại được giảng dạy về chủ nghĩa Marx?
- Vì sao không phải lúc nào các công ty đa quốc gia cũng thắng trong các vụ kiện tụng?
- Nếu nhà nước bị khống chế bởi lợi ích của chủ nghĩa tư bản thì tại sao cuộc Đại suy thoái vẫn xảy ra gây thiệt hại nghiêm trọng cho họ?
Karl Popper cho rằng những tờ báo Mácxit mang thành kiến giai cấp không bao giờ có thể giải đáp được đúng những câu hỏi này.
3- Mối quan hệ tiền tệ
Marx đã bình luận về vai trò tiến hóa của chủ nghĩa tư bản như cách nghiên cứu của một nhà kinh tế tài chính.
Trong chương 3 bộ Tư bản, Marx dùng cách phân tích hệ thống trao đổi hàng hóa của hai hàng hóa C và C’, cho thấy sự trao đổi diễn ra là: C – C’.
Khi đưa tiền (M) vào trao đổi, mối quan hệ trở thành: C – M – C’.
Lúc này tiền là đại diện trung gian trao đổi của hai hàng hóa. Thông thường, trong quá trình sản xuất từ hàng hóa thô tới sản phẩm cuối cùng, tiền được dùng vào trao đổi một số lần.
Trọng tâm của chế độ tư bản là sự sản xuất hàng hóa và dịch vụ hữu dụng. Tiền đơn giản chỉ là trung gian của sự trao đổi, một phương tiện dẫn đến mục tiêu.
Marx chỉ ra rằng nhà tư bản tiền tệ rất dễ nhìn thế giới khác đi và tiến gần đến khái niệm “kiếm tiền“ hơn là làm ra hàng hóa và dịch vụ hữu ích. Marx mô tả cách thức kinh doanh mới này là: M – C – M’.
Diễn giải theo cách khác, nhà doanh nghiệp sử dụng tiền (vốn) của anh ta để sản xuất một hàng hóa, đến lượt nó sẽ được bán lấy nhiều tiền hơn (M’ > M). Bằng cách tập trung vào tiền như là sự bắt đầu và kết thúc của các hoạt động, các nhà tư bản rất dễ có cái nhìn sai về mục đích cuối của hoạt động kinh tế – sản xuất và trao đổi hàng hóa. Mục tiêu không còn là C (hàng) mà là M (tiền). Cuối cùng thì cơ chế thị trường tiến thêm một bước nữa, tới điểm mà tại đó các hàng hóa và dịch vụ không tham gia nữa.
Quá trình trao đổi trở thành: M – M‘. Giai đoạn cuối này phản ánh thị trường vốn hoặc thị trường tài chính, như là các thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu). Đến lúc này mọi thứ trở nên dễ dàng hơn để chủ nghĩa tư bản hàng hóa trở thành chủ nghĩa tư bản tài chính thuần túy, rời bỏ xa hơn cái gốc sản xuất hàng hóa của nó. Trong môi trường này, các nhà doanh nghiệp thường quên đi mục tiêu tổng thể của hệ thống kinh tế - sản xuất hàng hóa và dịch vụ hữu ích - chỉ chú trọng vào việc “kiếm tiền“, dù là thông qua kỹ thuật giao dịch ngắn hạn, hay đơn giản là kiếm tiền từ một tài khoản ngân hàng hay từ tín phiếu kho bạc. Rốt cuộc mục tiêu kiếm tiền đạt được tối đa bằng cách cung cấp các hàng hóa và dịch vụ hữu ích. Đó là một bài học cần phải học đi học lại nhiều lần trong thế giới thương mại. Ở đây, ta có thể thấy văn hóa tư bản có thể dẫn tới sự đánh mất về cả mục tiêu cuối và ý thức cộng đồng. Khuynh hướng rời bỏ mục tiêu của hoạt động kinh tế chân chính luôn luôn thách thức, nhắc nhở các nhà kinh tế, các nhà đầu tư và các công dân trở về với nền tảng ban đầu.
Tóm lại học thuyết kinh tế của Marx có thiếu sót. Chủ nghĩa xã hội cách mạng của Marx là ảo tưởng. Có thể Marx đã nóng vội. Nhưng học thuyết Marx không bị chối bỏ hoàn toàn. Những phân tích triết học về chủ nghĩa tư bản thị trường như trên vẫn là những yếu tố có giá trị và đáng quan tâm đến tận ngày nay.
Chỉ vài năm sau khi bộ Tư bản của Marx được xuất bản, một thế hệ các nhà kinh tế Châu Âu mới đã xuất hiện. Họ đã sửa chữa sai sót của Marx và của các nhà kinh tế học cổ điển và mang lại một cuộc cách mạng thường trực về kinh tế. Họ là Keynes, Samuelson, Hayek, Milton Friedman và nhiều người khác nữa.
Nguồn tư liệu: Mark Skousen (2007): ”The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, John Maynard Keynes“, và “Karl Marx dẫn đầu cuộc nổi dậy chống chủ nghĩa tư bản“ - NCQT tháng 5-2014.
Đ.X.C.
Tác giả gửi BVN