Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

20170329. QUANH CHỦ TRƯƠNG 'NỚI HẠN ĐIỀN'

ĐIỂM BÁO MẠNG
GS ĐẶNG HÙNG VÕ: 'CẦN MỞ RỘNG HOẶC THẬM CHÍ XÓA BỎ HẠN ĐIỀN'
Diễn đàn VNF / 27-3-2017
GS Đặng Hùng Võ: 'Cần mở rộng hoặc thậm chí xóa bỏ hạn điền'
GS Đặng Hùng Võ

Chuyên gia giàu kinh nghiệm về đất đai nói so với thực tế hiện nay, các mức hạn điền như gấp 10 lần hạn mức đất nông nghiệp, vẫn là không đủ.

Tại phiên họp thường kỳ tháng 2 của Chính phủ, Thủ tướng đã nêu rõ chủ trương phải tạo thuận lợi cho tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn điền cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn.
Thủ tướng cũng giao các bộ gồm Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp phải nghiên cứu chính sách, hoàn thành ngay trong quý III tới.
Phát biểu tại bàn tròn: "Mở rộng hạn điền: Cuộc cách mạng mới của nông nghiệp Việt Nam" mới đây, GS Đặng Hùng Võ đã nêu quan điểm ủng hộ xu hướng này nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế.
GS Đặng Hùng Võ nói:
"Chúng ta đều biết rằng, nông nghiệp Việt Nam chính là một điểm đầu tiên để quyết định Đổi mới. Bởi ở giai đoạn đó, nguồn lương thực, thực phẩm cung cấp cho đời sống không đủ, chúng ra đã rơi vào tình trạng thiếu ăn.
Tôi cho rằng, thời điểm đó, chúng ta đã quyết định một chính sách mà đến bây giờ nhìn lại, đó là một quyết định hoàn toàn chính xác. Đó là việc giao đất của Hợp tác xã cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài (Luật Đất đai 1993 và Nghị định 64 của Chính phủ ngày 27/9/1993). Bản chất của chính sách này chính là việc chúng ta đã giải phóng lực lượng sản xuất.
Đến bây giờ, chắc chắn cách thức này (giải phóng lực lượng sản xuất bằng việc thể chế hoá giao đất của HTX cho hộ dân - PV) hết động lực rồi, không còn động lực để chúng ta phát triển tiếp.
Vậy, lúc này, chúng ta phải nghĩ đến chuyện tiếp tục giải phóng tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất ở đây chính là đất đai. Một trong những bước cản lại đất đai là hạn điền, tức là làm cho mỗi người chỉ được một diện tích đất nhất định, nhận chuyển nhượng cũng được một diện tích đất nhất định.
Tuy nhiên theo tôi, sự thật là chúng ta cũng đã cơi nới hạn điền rồi chứ không phải là đến nay hạn điền vẫn như cũ. Chỉ có điều, so với thực tế hiện nay, các mức hạn điền như gấp 10 lần hạn mức đất nông nghiệp, vẫn là không đủ (Luật Đất đai 2013 cho phép các hộ gia đình được tích tụ đất đai không quá 10 lần hạn mức đất nông nghiệp (3ha)- PV).
Trên thực tế, chúng ta cũng đã biết một ví dụ rất điển hình là trường hợp ông Năm Chuối ở Long An. Ông ấy đã sử dụng tới 1.000 ha. Nhưng theo quy định, hộ dân chỉ được tích tụ đất đai gấp 10 lần hạn mức 3ha đất nông nghiệp cho trồng cây hàng năm tại Đồng bằng sông Cửu Long, nghĩa là, cũng chỉ được 30 ha thôi. So với 1.000ha kia thì thực tế, hạn điền đã vượt quá rất nhiều.
Chính vì vậy, tôi cho rằng chúng ta dùng từ “mở rộng nữa hạn điền” cũng được. Hoặc cao hơn nữa chúng ta nên xem xét có nên bỏ hạn điền đó hay không?
Bởi vì, hạn điền là gì? Hạn điền thứ nhất là cách thức để chúng ta quản lý đảm bảo công bằng giữa mọi nông dân với nhau, thứ hai là để không được hình thành "địa chủ mới", tức những người nhiều ruộng đất chỉ thực hiện việc phát canh thu tô, không trực tiếp lao động mà chỉ dùng đất để thu lợi.
Trước đây, chúng ta ngăn hiện tượng này bằng hạn điền. Nhưng nếu chúng ta không nới rộng nữa hoặc bỏ hạn điền thì chúng ta cần phải thay bằng một chính sách khác.
Trên thực tế, hiện nay chúng ta có quản lý được hạn điền đâu! Bởi vì khi phân cấp quản lý, mỗi một tỉnh là riêng nhau. Thế thì, có lúc nào chúng ta khớp cộng lại rằng, ông Nguyễn Văn A ở tỉnh này có bao nhiêu đất, ở tỉnh kia có bao nhiêu đất đâu?
Chúng ta không thể làm được việc đó. Thành ra việc quản lý đất đai làm sao không cho hình thành "địa chủ mới" và tạo sự công bằng giữa các hộ gia đình với nhau thì phải thay bằng một chính sách khác. Thắt chặt sự quản lý, thay chính sách hạn điền bằng chính sách khác, tôi cho đó là điều quan trọng nhất lúc này".
NÂNG HẠN ĐIỀN CÓ PHẢI LÀ CHÌA KHÓA VẠN NĂNG ?
THÙY DUNG / KTSG 29-3-2017
(TBKTSG Online) – Nhiều chuyên gia nông nghiệp cho rằng, việc nâng hạn điền, tích tụ ruộng đất phải làm rất thận trọng, nếu không sẽ khiến nông dân rơi vào cảnh bần cùng hóa.
Đây là thông tin được đưa ra tại Diễn đàn Nông nghiệp mùa Xuân 2017 được tổ chức ngày hôm nay, 28-3 tại Hà Nội.
Bà Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản, thành viên Liên minh Nông nghiệp, cho hay gần đây các hội thảo nói nhiều về nới hạn điền và cho rằng với hạn điền này không thể tích tụ ruộng đất, không thể có cánh đồng lớn; thậm chí có những địa phương, chính quyền đi cùng doanh nghiệp thỏa thuận đất với nông dân…
Thực tế, theo bà Minh, có hạn điền nhưng vẫn có thể tích tụ được ruộng đất. Ví dụ như ở Bình Phước có doanh nghiệp có tới 250 héc ta đất trồng điều; ở Bình Thuận, mỗi hộ sản xuất có vài chục héc ta trồng thanh long là bình thường. Hay tập đoàn Minh Phú còn thuê 1.000 héc ta đất để nuôi tôm và cá rô phi. Hội nuôi tôm Mỹ Thanh, xã viên của hợp tác xã đều là các đại gia nuôi tôm và có vài chục héc ta.
“Có phải hạn điền là mấu chốt để tích tụ ruộng đất không? Nếu không phải thì nó là gì?”, bà Minh băn khoăn và lo ngại việc lấy đất có thể gây tới việc bần cùng hóa nông dân.
Cũng tại hội thảo, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho hay, các nhà làm luật cần chú ý đến quyền bảo vệ tài sản của nông dân trong quá trình tích tụ ruộng đất.
“Chúng tôi đến ĐBSCL thấy có người có 10 công đất, hai con đi học ở thành phố về xin chuyển 4 công đất để khởi nghiệp thành doanh nghiệp. Như vậy gia đình này phải thực hiện thủ tục chuyển đổi đất, khi đó, đất mà gia đình canh tác bao lâu nay giờ lại biến thành đất nhà nước và phải ký thuê lại đất với hạn mức là 20 năm”, ông Doanh lấy ví dụ và cho hay: “Nếu không xử lý tốt thì quyền tài sản của nông dân sẽ mai một. Tích tụ ruộng đất phải bảo vệ quyền và lợi ích cho người nông dân”.
Theo ông Doanh, kinh nghiệm ở Đài Loan cho thấy, người nông dân tham gia góp đất thì họ trở thành đồng sở hữu của công ty, họ là cổ đông và quyền tài sản đất đai được bảo đảm lâu dài. Do đó, cần tránh việc tích tụ ruộng đất thành việc biến đất nông nghiệp vào tay một số doanh nghiệp lớn và điều này sẽ dẫn tới mất ổn định về xã hội.
Ông Lê Đức Thịnh, Phó cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho hay hiện nay có một số địa phương xé rào, đứng ra đàm phán với nông dân để thu hồi đất và cho doanh nghiệp thuê lại. Điều này, theo ông Thịnh, nếu chính quyền tốt thì không sao nhưng nếu chính quyền không tốt thì có thể người chịu thiệt hại chính là nông dân. Theo đó, nên quan niệm đất là tài sản của người dân, đối xử về quyền đó như là một tài sản bình thường, được chuyển nhượng và theo cơ chế thị trường, để thị trường quyết định.
Nếu coi quyền sử dụng đất là một loại hàng hóa thì nó phải được phản ánh giá trị thực, khi đó người dân dùng dất, vay vốn ngân hàng thì đất đó sẽ được vốn hóa. Vốn đó được tham gia vào sản xuất tạo hiệu quả kinh doanh. “Đây là cách lý giải cho bài toán chung về cơ chế thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp. Nếu không chúng ta sẽ loay hoay với việc làm thế nào đưa cơ chế thị trường vào phát triển nông nghiệp”, ông Thịnh nói.
Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp, Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương lấy ví dụ về cách làm của Công ty Bảo vệ thực vật An Giang. Công ty này đã liên kết khoảng 60.000 héc ta đất của hộ nông dân để sản xuất các loại giống lúa chất lượng cao, có những loại có giá tới 14 đô la Mỹ/kg. Đây mới là vấn đề của ngành nông nghiệp, tức phải tập trung đất đai và kết nối với nông dân để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị gia tăng cao.
Mời đọc thêm:
NHIỀU CƠ CHẾ ĐẤT ĐAI ĐANG CẢN TRỞ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
KHÁNH LINH/ VnE 28-3-2017
Phát biểu tại Diễn đàn Nông nghiệp mùa xuân 2017 hôm 28/3, TS. Lê Đức Thịnh, Phó cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), đánh giá, nhiều cơ chế về đất đai đang cản trở quá trình phát triển của nền nông nghiệp.

Hạn điền không phải vấn đề quan trọng nhất

Hiện nay nguồn lực vốn từ đất đang bị ứng xử không đúng, không vốn hóa được. 1ha lúa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có giá trị thực từ 1-2 tỷ đồng, nhưng khi định giá tín dụng, người nông dân chỉ có thể thế chấp vay được 200 - 300 triệu đồng. Bởi giá đất nông nghiệp đang được quy định hành chính từ UBND tỉnh, chỉ bằng 1/10 giá trị thực tế.

“Lãng phí hàng trăm tỷ USD mỗi năm khi hàng triệu hecta đất không thể vốn hóa hoặc không được tính đủ giá…”, ông Thịnh cho hay. 

Bên cạnh đó, theo ông Thịnh, đất nông nghiệp chưa được công nhận là tài sản của nông dân cũng là một trong những hạn chế khiến nông nghiệp khó phát triển. Hiện nay, Nhà nước hỗ trợ thị trường nhưng can thiệp quá sâu dẫn đến thực trạng cơ quan đi vận động người dân cho thuê đất làm tăng nguy cơ cưỡng chế.

Đồng quan điểm, TS. Đặng Quang Vinh, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, nhận định, cản trở lớn đối với nông nghiệp là quyền tài sản đất đai vẫn còn hạn chế. Việt Nam không coi đất nông nghiệp là tài sản, đất nông nghiệp chỉ là đất nhà nước cho người nông dân mượn để làm ăn.

“Hạn điền không phải vấn đề quan trọng nhất, hiện nay, rất nhiều hộ nông dân đã đạt tới giá trị của hạn điền với hàng nghìn hecta sản xuất tuy nhiên sản xuất vẫn gặp khó khăn khi người dân không có quyền tự quyết với đất đai”, TS. Vinh chia sẻ.

Cũng nói về vấn đề hạn điền và tích tụ ruộng đất, TS. Nguyễn Thị Hồng Minh - Chủ tịch danh dự VASEP, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản, cho rằng, chính sách hạn điền không ảnh hưởng đến quá trình tích tụ ruộng đất, hình thành các cánh đồng mẫu lớn. Bởi thực tế, tại Đồng bằng sông Cửu Long, việc một người dân sở hữu hàng chục hecta đất để trồng thanh long, hồ nuôi tôm là chuyện không hiếm. Điều cần làm là làm sao định hướng để người nông dân biết làm gì, nuôi gì, như thế nào…

“Việc hỗ trợ vốn cần đặc biệt lưu tâm. Nếu không sử dụng hợp lý có thể sẽ đẩy người nông dân khó càng thêm khó. Bài học là nhiều người nông dân sau khi vay tiền làm ăn thua lỗ và phải gánh nợ”, TS. Minh chia sẻ.

TS. Andrew Wells Dang, Chuyên gia cao cấp, tổ chức Oxfam Việt Nam nói: “Đôi khi làm lớn chưa chắc đã tốt hơn làm nhỏ. Bởi nông nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu đi lên từ hộ gia đình, căn cơ nền sản xuất của Việt Nam là sản xuất nhỏ. Tích tụ ruộng đất ở mức thích hợp cho sản xuất nhưng không phải làm bằng mọi giá”.

Phát triển nông nghiệp phải từ nông dân 

Theo các chuyên gia, tích tụ ruộng đất là quá trình tất yếu. Tuy nhiên, để thay đổi ngành nông nghiệp chỉ dựa vào tích tụ ruộng đất, thay đổi chính sách hạn điền chưa đủ mà còn phải bắt đầu từ người nông dân.

Giáo sư Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp hàng đầu Việt Nam, cho hay, xưa nay chúng ta vẫn nghĩ nông dân tài giỏi nhưng không phải vậy. Sau 40 năm nông dân còn nghèo, hơn 50% là do người nông dân trình độ quá thấp. 

“Đất đai ngày càng manh mún, năng suất không cao, người nông dân trình độ học vấn thấp trong khi đó ở nước ngoài người nông dân không có học không cho phép làm ruộng”, Giáo sư Xuân nói.

Lấy ví dụ cho việc trình độ người nông dân còn thấp, Giáo sư cho hay, việc người dân lạm dụng phân bón u rê khiến chất lượng canh tác kém, gây nhiều hệ luỵ, giá thành cuối cùng cao. Chẳng hạn như, chi phí cho lúa tiêu tốn từ 3,8 - 4 nghìn đồng/kg. Trong khi nếu áp dụng đúng, chi phí chỉ khoảng 1,8-2 nghìn đồng/kg. Tình trạng này xảy ra tương tự với các loại cây khác.

Theo lý giải của Giáo sư, một trong những nguyên nhân là do sự định hướng của cơ quan quản lý chưa tốt. Nhiều người nông dân muốn học hỏi từ sách báo, các chương trình… nhưng chưa dám tin vì chưa có sự định hướng từ cơ quan Nhà nước. 

Vì vậy, theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, cần phải có một thể chế kiện toàn để nâng cao năng lực của người nông dân. “Chúng ta không kỳ vọng sẽ đuổi kịp các nước phát triển nhưng cần phải làm để người nông dân làm đúng, từ đó cải thiện chất lượng và thông qua doanh nghiệp tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước”, ông nói.

Cùng góc nhìn, TS Nguyễn Thị Hồng Minh cũng cho rằng người nông dân đang yếu vì “bảo thủ” nhưng vẫn có thể thay đổi được…

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

20170328. QUANH ĐỀ TÀI "NHẤT THỂ HÓA"

ĐIỂM BÁO MẠNG
'CHÚNG TÔI MÊ MÔ HÌNH NHẤT TỂ HÓA CỦA QUẢNG NINH'
THU HẰNG/ VNN 27-3-2017
nhất thể hóa, nhất thể hóa cấp ủy với chính quyền, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, tinh giản biên chế, cải cách bộ máy hành chính
Đoàn giám sát của QH làm việc với tỉnh Quảng Ninh
Giám sát cải cách bộ máy hành chính tại tỉnh Quảng Ninh hôm nay (27/3), nhiều thành viên của đoàn giám sát QH tỏ ra rất “mê” mô hình nhất thể hóa của Quảng Ninh và đề nghị tỉnh tiếp tục thực hiện mô hình này
Bày tỏ “chúng tôi rất mê mô hình nhất thể hóa tỉnh”, ĐB Nguyễn Tiến Sinh đặt câu hỏi: “Những khó khăn nhất mà tỉnh phải đổi mặt khi thực hiện chủ trương này là gì? Chẳng hạn việc hợp nhất giữa UB kiểm tra với cơ quan thanh tra thì việc xử lý mối quan hệ thế nào để hai chức danh này không bị nghiêng về bên này, nhẹ bên kia”.
ĐB Nguyễn Thị Kim Thúy, Uỷ viên Thường trực UB về các vấn đề xã hội cho rằng, Quảng Ninh là địa phương đi tiên phong trong thực hiện nhất thể hóa một số chức danh cấp ủy và chính quyền nhưng cần thiết phải đánh giá về ưu điểm, hạn chế khi kiêm nhiệm thế nào?
“Ví dụ nhất thể hóa bí thư kiêm chủ tịch HĐND sẽ thuận, nhưng khi bí thư kiêm chủ tịch UBND thì hiệu quả ra sao? Khi thực hiện nhất thể hóa như vậy, Quảng Ninh gặp những bất cập hạn chế gì và cần đề xuất giải pháp, cơ chế tháo gỡ khó khăn ra sao để thực hiện tốt hơn?”, Bà Thúy hỏi.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Thị Thu Thủy cho biết, trong thời gian qua tỉnh đã thực hiện nhất thể hóa một số chức danh cấp ủy với chính quyền. Cụ thể là bí thư cấp ủy kiêm chủ tịch HĐND cấp huyện tại 7/14 nơi, đạt 50%; Bí thư cấp ủy kiêm chủ tịch UBND cấp huyện tại 2/14 nơi, chiếm 14,35.
Đối với cấp xã có 75/186 xã thực hiện nhất thể hóa bí thư kiêm chủ tịch HĐND, đạt 40,3% và 76/186 xã thực hiện bí thư kiêm chủ tịch UBND, chiếm 40,9%.
Ngoài ra, tỉnh cũng thực hiện Bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn, bản, khu phố hoặc kiêm trưởng ban công tác mặt trận 621/1.566 cấp thôn chiếm 39,7%.
Cùng với đó tỉnh thực hiện trưởng ban dân vận kiêm chủ tịch MTTQ tại 11/14 huyện chiếm 78,6%. Trưởng (phó) ban Tuyên giáo kiêm giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị tại 13/14 nơi. Chủ nhiệm UB Kiểm tra kiêm Chánh thanh tra. Trưởng ban tổ chức kiêm trưởng phòng nội vụ được thực hiện tại 8/14 nơi, đạt 57%.
“Việc thực hiện nhất thể hóa chức danh đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện nghiêm quy chế, cơ chế kiểm soát quyền lực và kỷ luật kỷ cương”, bà Thủy khẳng định.
Vượt cấp phó để...chờ về hưu
Phó Chủ nhiệm UB Pháp luật Trần Thị Dung cho rằng, Quảng Ninh là tỉnh tiên phong trong cải cách hành chính, nhưng số lượng cấp phó tại nhiều cơ quan chuyên môn còn cao.
Cụ thể như Văn phòng UBND tỉnh; Sở NN&PTNT, Sở LĐTB&XH, Sở Nội vụ có nơi có 5 cấp phó. Ông đề nghị tỉnh Quảng Ninh làm rõ thêm thực trạng này.
ĐB Nguyễn Văn Tuyết chia sẻ với những khó khăn chung của tỉnh vì đụng đến con người, đến tổ chức. “Nếu thêm người sẽ phấn khởi, còn giảm đi dù chỉ một người cũng đầy tâm tư”, ông Tuyết nói.
Theo ông Tuyết, cần có sự đánh giá cụ thể để rút kinh nghiệm. Chẳng hạn như mô hình cảnh sát du lịch, Quảng Ninh cần đánh giá tác động như thế nào, cách thức như thế có phù hợp và hiệu quả không?

nhất thể hóa, nhất thể hóa cấp ủy với chính quyền, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, tinh giản biên chế, cải cách bộ máy hành chính
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Đức Long 
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Đức Long cho biết, mục tiêu của tỉnh không phải giảm nhiều hay ít mà quan trọng là hiệu quả.
 Về nhất thể hóa các chức danh, ông Long cho biết, mục tiêu đề án đưa ra là nhất thể hóa ở cấp huyện, xã. Hiện nay có 2 huyện nhất thể hóa, bí thư đồng thời là chủ tịch UBND huyện.
Ông cho biêt, tiến tới Quảng Ninh sẽ thực hiện thí điểm nhất thể hóa chức danh Đảng với chính quyền như ở huyện đảo Cô Tô, Văn phòng Uỷ ban với Văn phòng HĐND, UB Kiểm tra với cơ quan thanh tra sẽ coi như một.
Lúc đó chủ nhiệm UB Kiểm tra sẽ kiêm chánh thanh tra huyện. Đối với cấp xã, Quảng Ninh sẽ tiến tới mục tiêu 75% bí thư sẽ đồng thời là chủ tịch UBND.
Về số lượng cấp phó nhiều, ông Long lý giải, hiện Quảng Ninh có 5 phó chủ tịch UBND tỉnh. “Theo quy định Quảng Ninh được 4 phó, còn một phó luân chuyển nên tổng cộng thành 5 cấp phó. Hay Sở KH&ĐT có 5 phó, tới đây sẽ có hai người nghỉ hưu trong năm nay, như vậy chỉ còn lại 3 phó theo quy định”, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh giải thích.
Ông Long cũng cho hay, các sở ngành khác cũng đều có những lý do riêng, nhưng trong năm nay sẽ giảm và sẽ đảm bảo đúng số lượng cấp phó theo quy định.
Riêng về lãnh đạo cấp phòng, ông Long cho biết, vấn đề này tỉnh đang rà soát lại với thái độ cương quyết giảm theo đúng quy định.
Về việc tổ chức thi tuyển các chức danh lãnh đạo, ông Long cho biết Quảng Ninh đã thực hiện từ rất sớm, gần như tiến hành thi tuyển hết trên tinh thần bổ nhiệm có cạnh tranh, có hội đồng thẩm định đánh giá, bỏ phiếu tín nhiệm tại cơ quan đơn vị.
Hiện Quảng Ninh đang chờ hướng dẫn từ TƯ xem có được triển khai tiếp nữa không.
Khoán lãnh đạo
Chủ nhiệm UB Pháp luật Nguyễn Khắc Định, Trưởng đoàn giám sát đánh giá Quảng Ninh là địa phương đi đầu trong cải cách bộ máy hành chính.
nhất thể hóa, nhất thể hóa cấp ủy với chính quyền, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, tinh giản biên chế, cải cách bộ máy hành chính
Chủ nhiệm UB Pháp luật Nguyễn Khắc Định, Trưởng đoàn giám sát
Ông Định cũng bày tỏ ủng hộ tỉnh thành lập mới sở Du lịch và một số sở khác. “Không nhất thiết bộ máy của địa phương trùng với TƯ”, ông Định cho hay đó là chủ trương đã được đề cập trong đề án của TƯ.
Trường đoàn giám sát cũng hoan nghênh 10 mô hình tổ chức mới của tỉnh, nếu tính cả việc thi tuyển chức danh lãnh đạo là 11 mô hình. Trong đó ông tâm huyết nhất là sáng kiến thành lập Ban xúc tiến đầu tư thương mại, Trung tâm hành chính công tỉnh và 14 huyện, nhất thể hóa một số chức danh cấp ủy và chính quyền.
Ông cũng ủng hộ Quảng Ninh đã đi đầu trong việc tinh giảm biên chế những cán bộ năng lực yếu. “Đây là việc rất khó nhưng các đồng chí làm “êm”, người ta vui vẻ nghỉ mà không có khiếu kiện gì”, ông Định nói và chia sẻ với Quảng Ninh về tình trạng vượt cấp phó là do lịch sử để lại.
Ông Định khuyến khích Quảng Ninh tiếp tục thực hiện đề án 25 giai đoạn 2, thực hiện tinh giản bộ máy, nhất thể hóa…Vì thực tế kiểm nghiệm cho thấy thành công, cán bộ đã có kinh nghiệm, phương tiện vật chất tốt hơn, trong khi TƯ đang nghiên cứu đề án tương tự.
Trưởng đoàn giám sát gợi ý Quảng Ninh thực hiện khoán kinh phí, khoán biên chê, khoán lãnh đạo. “Ví dụ giao cho 15 hay 20 giám đốc sở tỉnh muốn tổ chức bao nhiêu sở nằm trong số lãnh đạo này tùy theo tình hình của tỉnh”, ông Định nói và cũng lưu ý tỉnh thực hiện bổ nhiệm công chức có thời hạn.
Thu Hằng
NHẤT THỂ HÓA HAY CHUYỂN HÓA THỂ CHẾ ?
BÙI QUANG VƠM/ DLB/ BVN 27-3-2017
Có thể nói, gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) bắt đầu tính đến chuyện tự chuyển hóa để tự biến mình thành một thể chế hợp thức với các lọai hình thể chế chính trị phổ biến đang tồn tại trên thế giới. Điều này, mặc dù không phải là một phát kiến mới mà đã là chuyện được đặt ra từ rất lâu trong nội bộ Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản. Nhưng trước đó, việc đồng nhất hóa thể chế với hệ thống chính trị toàn cầu chưa phải là áp lực thúc ép khách quan, mà nó ẩn chứa những mục đích khác.
Thể chế chính trị không tương thích với hệ thống các thể chế chính trị phổ biến trên thế giới gây bất cập lớn cho các mối quan hệ quốc tế. Ở một phía, việc không có các định chế tương ứng gây khó khăn trong các nghi lễ đối ngoại, đặc biệt các nghi lễ đã trở thành tập quán quốc tế. Ở phía khác, sự khác biệt, không đồng nhất trong các khái niệm triết học, chính trị và luật học, tạo ra những khập khiễng trong hệ thống pháp luật, gây khó khăn trong việc áp dụng các bộ luật quốc tế vào các hoạt động quốc gia cũng như các vận dụng luật pháp quốc gia đối chiếu với luật pháp quốc tế, gây trì trệ cho hoạt động quản trị cả kinh tế lẫn hành chính.
Sự khác biệt giữa kết cấu các định chế của thể chế so sánh với hệ thống các định chế phổ cập quốc tế bộc lộ những khuyết tật và đặt câu hỏi cho tính chính danh của chế độ. Trong một sân chơi được thừa nhận bởi tất cả, cái riêng biệt phản ánh cái chính đạo, bất chính danh.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một chính sách lớn, tận dụng tiềm lực vốn, trình độ công nghệ, tri thức và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới để tạo động lực cho tăng trưởng, cơ sở cho sự ổn định của chế độ. Sự tương thích với hệ thống chính trị̣ thế giới là một yêu cầu có tính bức thiết.
Một trong những chính sách đối ngoại quan trọng của Đảng CSVN là tìm kiếm sự thừa nhận quốc tế, đặc biệt là của các quốc gia có vai trò quyết định trong sinh hoạt quốc tế như Mỹ, Liên hiệp châu Âu, các nền dân chủ lớn. Thể chế đảng lãnh đạo quốc gia, đứng trên Nhà nước, đứng trên Quốc hội và đứng trên Chính phủ, Tổng Bí thư Đảng đứng trên Nguyên thủ Quốc gia, đứng trên Thủ tướng Chính phủ là loại hình không có kết cấu tương ứng trong hệ thống các thể chế phổ cập quốc tế.
Chuyến đi Mỹ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 7/2015 phải mất hơn một năm chuẩn bị, hàng trăm các cuộc bàn thảo giữa các bộ môn của hai quốc gia, và phải cần cả một chuyến tập dượt trước bằng một chuyến thăm Mỹ “vô tiền khoáng hậu” trong tập quán ngoại giao thế giới của Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị.
Và một trong những nội dung quan trọng nhất được đề cập trong tuyên bố chung của chuyến viếng thăm là “tôn trọng sự bình đẳng về chủ quyền cũng như thể chế chính trị của nhau”.
Nhưng nếu điều đó phần nào đã được Chính phủ của Tổng thống Obama lập lờ nhân nhượng, thì tính hợp thức và tính chính danh mù mờ đó đang phải chờ đợi một thử thách mới vô cùng khó khăn với Chính phủ mới của Tổng thống Donald Trump. Không thể có một Tổng Bí thư Đảng lại sang thăm Mỹ với tư cách người cao nhất của quốc gia một lần nữa. Với tính cách cứng rắn, dứt khoát và không nhân nhượng, tính chất mập mờ của thể chế Đảng đứng trên Nhà nước của chế độ CSVN, đến Mỹ sẽ không có ai tiếp. Cũng có nghĩa là quan hệ sẽ không thể là chiến lược.
Tương lai quan hệ Việt Mỹ sẽ vô cùng khó khăn. Nền kinh tế với một cơ cấu Kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng gần 70% tổng tài sản quốc gia sẽ không thể được xem là nền kinh tế thị trường. Một thể chế Đảng chính trị đứng trên cả Quốc hội lập pháp, trên Nguyên thủ quốc gia, và trên Thủ tướng Chính phủ, sẽ không thể được chấp nhận bởi hệ thống chính trị Hoa Kỳ, thiết lập trên nền Tam quyền Phân Lập, đặc biệt dưới quyền tổng thống với tính cách Donald Trump.
Một trong những lối thóat phải tính đến là Nhất thể hóa chế độ Đảng trị, khoác chiếc áo pháp quyền - rule of law ra ngoài bộ mặt của Đảng. Tổng Bí thư Đảng sẽ đồng thời là Nguyên thủ Quốc gia. Vẫn dưới sự thống trị của Đảng CSVN và hệ thống “Đảng cử dân bầu”, chế độ Đảng trị sẽ được thay thế bằng một thể chế bao gồm một Nguyên thủ Quốc gia được bầu bởi toàn thể quốc dân qua phổ thông đầu phiếu và một Thủ tướng Chính phủ do Nguyên thủ đề cử nhưng do Quốc hội bầu.
Bộ máy tuyên truyền đang khởi động tăng tốc, sẽ là trọng tâm của Hội nghị Trung ương 6 đại hội XII, tổ chức vào quý III năm nay. Đinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư đã giao cho đề tài...
Tuy nhiên, chủ trương nhất thể hóa hệ thống không chỉ có mục đích duy nhất là đồng nhất hóa thể chế chính trị Việt Nam với hệ thống thể chế phổ cập thế giới, mà còn nhằm tới nhiều mục tiêu khác.
Việc nhất thể hóa giữa hai bộ máy Đảng và bộ máy Nhà nước, sẽ trước hết giải thoát cho cuộc khủng hoảng tài chính ngân sách. Cùng một lúc, ngân sách phải chi cho cả hai bộ máy quan liêu, một bộ máy công chức hành chính và dịch vụ công vụ của Chính phủ từ Trung ương xuống địa phương, một bộ máy Đảng với đầy đủ các cơ quan, các bộ phận có cùng một chức năng như vậy, cộng thêm các tổ chức thuộc hệ thống chính trị nối dài như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh.
Hệ thống này bao gồm 2,7 triệu công chức, viên chức; 56.000 đơn vị sự nghiệp công, tiêu tốn 400.000 tỉ đồng (20 tỷ USD) chiếm 67% tổng chi thường xuyên của ngân sách.
Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng tại kỳ họp giữa tháng Ba năm 2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa phải thanh minh về việc không thể giảm nợ công, vì “Năm 2016 dự báo giá trị thực tế GDP là 5,1 triệu tỷ đồng nhưng thực hiện chỉ được 4,6 triệu tỷ đồng”. “...nguồn thu ra sao không biết, nhưng phần chi lương cho đội ngũ bị phản ánh có đến 30% công chức không làm gì cả vẫn phải giữ nguyên” và ông kết luận “Chi tiêu như thế thì chỉ có chết”.
Hệ thống các Tập đoàn và Doanh nghiệp Nhà nước chính là các cơ quan kinh tài cho bộ máy của Đảng, vì các tổ chức này, bề ngoài là tổ chức kinh doanh, nhưng là các tổ chức của Đảng và chiụ sự chỉ đạo của Đảng. Lãnh đạo của doanh nghiêp là các cán Bộ Chính trị do Đảng bổ nhiệm. Các chỉ tiêu giao nộp ngân sách đối với các doanh nghiệp quốc doanh được giao thông qua nghị quyết Đảng như một nghĩa vụ và trách nhiệm đảng viên. Các chỉ tiêu này mặc dù có vỏ bọc là thuế lợi nhuận, nhưng thực chất là các nghĩa vụ được phân chia gánh vác, trở thành tiêu chí để đánh giá phẩm chất, năng lực cán bộ và tiêu chuẩn để quy hoạch phát triển cán bộ.
Nhưng quy luật thị trường không biết tới phẩm chất chính trị của cán bộ lãnh đạo, mà đòi hỏi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong khi các doanh nghiệp quốc doanh, do trình độ và bản chất quản trị thấp kém, năng suất lạo động lạc hậu, dẫn đến kết quả kinh doanh luôn luôn thua lỗ, chỉ tiêu giao nộp ngân sách luôn là một áp lực giữa mục tiêu chính trị và sự tồn tại như một tổ chức kinh doanh.
Nhất thể hóa chức danh hai bộ máy Đảng và chính quyền nếu giải quyết triệt để sẽ giảm ít nhất 1/2 số lượng công viên chức, giảm một nửa chi phí, giành thêm được 10 tỷ USD hàng năm cho đầu tư công hoặc trả nợ vay.
Bằng chủ trương nhất thể hóa, trên danh nghĩa tinh giản biên chế, tăng cường hiệu lực tổ chức và hiệu xuất quản lý, tiết kiệm ngân sách v.v... công việc sắp xếp lại tổ chức, nhất thể từng chức danh, từng vị trí, từ Trung ương tới địa phương, thực chất sẽ là một chiến dịch thanh trừng nội bộ và củng cố vây cánh. Trong chiến dịch này, dự kiến sẽ được bàn thảo tại Hội nghị TW 6 vào quý ba năm nay, những công cụ quyết định sẽ nằm trong tay ba nhân vật, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh và Trưởng ban Tổ chức TƯ Phạm Minh Chính. Bằng cách làm này, Ban Bí thư vô hiệu hóa hoàn toàn các thiết chế quyền lực khác như Quốc hội và Chính phủ.
Vào tháng 9/2016, Nhị Lê, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, đã khởi động “nhất thể hóa” bằng bài trả lời phỏng vấn khá dài cho trang VietTimes với nhan đề “Nhất thể hóa chức danh, nhất nguyên chế tổ chức bộ máy là bước đi tất yếu”.
“Giải thể các bộ máy chồng chéo, sáp nhập các bộ máy dù của Đảng hay của Nhà nước làm chung một việc theo hướng thống nhất và đa năng, giảm mạnh số các đầu mối bộ máy và tổ chức, bảo đảm sự chuyên nghiệp và liên thông- nhất nguyên chế. Nói cách khác, từ nhất thể hóa chức danh tới nhất nguyên chế về tổ chức bộ máy là bước đi tất yếu. Chẳng hạn, một vài cơ quan có nhiều chức năng, nhiệm vụ giống nhau, nên chăng tính toán nhất nguyên hóa tối thiểu ở 3 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố; quận, huyện, thị, theo phương châm: đa năng hóa bộ máy hay bộ máy đa năng”.
Hội nghị toàn quốc ngành Tổ chức xây dựng Đảng năm 2017 vào ngày 4/3, do Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh đã trực tiếp “phát biểu chỉ đạo”.
Như vậy sau hơn một năm kể từ thời sóng gió ngay trước Đại hội 12, “nhất thể hóa” đã trở thành một đề nghị chính thức.
Giảm một nửa bộ máy quan liêu, giảm một nửa nhu cầu cán bộ trên toàn hệ thống và đặc biệt trên thượng tầng trung ương, Đảng Cộng sản đang rơi vào khủng hoảng thiếu trầm trọng các cán bộ cốt cán gọi là cán bộ nguồn. Như chính những đảng viên có chức vụ cũng không giấu diếm rằng “có đến 90% đảng viên có chức quyền tham nhũng”. Nhất là sau các chiến dịch chống tham nhũng do chính Nguyễn Phú Trọng khởi động, từ nay tới cuối năm, sẽ có sự ra đi của cả những Uỷ viên Bộ Chính trị cộm cán.
Nhưng vấn đề sẽ được đặt ra là khi nhất thể hóa hai chức năng chính trị và kỹ thuật vào làm một, thì yếu tố kỹ thuật bắt buộc phải giữ vai trò quyết định. Một cán bộ chuyên trách công tác Đảng không thể đảm nhận chức năng điều hành sản xuất của một tư lệnh hay giám đốc. Cho đến hiện tại, giám đốc điều hành sản xuất thông thường là người thuộc ngành kỹ thuật và giữ chức phó bí thư. Bí thư Đảng chỉ làm công tác chính trị thuần tuý, không có chức danh bên chính quyền. Nếu nhất thể hóa chức danh Đảng và chính quyền sẽ xảy ra một điều là phía chính quyền, bên kỹ thuật sẽ lấn sang chiếm chỗ của bên Đảng chứ không có chiều ngược lại, như vậy là tạo ra mâu thuẫn ngay trong lòng tổ chức. Vì các cơ quan nắm quyền tổ chức, quyền xây dựng Đảng, cụ thể là Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh và Phạm Minh Chính là những người chịu trách nhiệm tổ chức cải tổ lại chỉ là những cán bộ chuyên trách Đảng, không có nghiệp vụ kỹ thuật và chưa hề kinh qua quản trị sản xuất, không có kinh nghiệm về mặt chính quyền. Sẽ đặt ra một xu hướng là thủ tướng sẽ kiêm nhiệm chức Tổng Bí thư Đảng, chứ không phải là Tổng Bí thư Đảng kiêm làm Thủ tướng.
Nếu Ban Bí thư phát động nhất thể hóa, có khác gì tự tiêu diệt. Ban Bí thư chỉ gồm những nhà lý luận chuyên nghiệp, những chuyên trách Đảng nhà nghề, không được đào tạo kỹ trị và không kinh qua các chức vụ quản trị sản xuất.
Như vậy, nhất thể hóa không thể được thực hiện nếu chỉ nhằm mục tiêu tập quyền.
Phạm Minh Chính, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, người chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện Nhất thể hóa, nguyên là Bí thư Quảng Ninh, nơi được giao khởi thuỷ các thí điểm nhất thể hóa cấp tỉnh, theo Nghị quyết Đại hội XI. Việc ông Chính trúng Uỷ viên Bộ Chính trị tại Đại hội XII và giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, chính là phản ánh quyết tâm của Bộ Chính trị và của Nguyễn Phú Trọng và Ban Bí thư.
Những hình thái trái ngược quy luật phát sinh từ cơ chế Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, đẩy Đảng đứng trên hiến pháp và đứng ngoài hệ thống quản trị quốc gia, đã tạo ra những mâu thuẫn không thể khắc phục.
Biến hình như thế nào để Đảng không đứng trên và đứng ngoài hệ thống mà vẫn giữ nguyên chế độ, giữ nguyên quyền lãnh đạo quốc gia? Có nghĩa là làm thế nào để hợp thức hóa chế độ bằng con đường cải cách thể chế? Câu hỏi đang chưa có đáp án.
Ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản đã nhìn thấy trước sự vênh váo khập khiễng của thể chế Đảng cai trị, nên từ nhiều năm, đã che giấu bằng cơ chế Tổng Bí thư Đảng đồng thời là Chủ tịch nước. Nhưng từ Đại hội 18, Tập Cận Bình đã khởi động một cuộc cải cách tiếp tục. Với giấc mơ Trung Hoa trở thành siêu cường thủ lĩnh khu vực, chia thế giới với Mỹ, Tập Cận Bình biết rất rõ Trung Quốc không thể được chấp nhận vai trò dẫn dắt khu vực mà không phải là một quốc gia dân chủ.
Tập Cận Bình đã tỏ ra bối rối khi Ngoại trưởng Australie Julie Bishop nói tuần trước,15/03/2017, tại Singapore rằng, “Trung Quốc không thể dẫn dắt khu vực vì nước này phi dân chủ”.
Và Tập Cận Bình lựa chọn giải pháp thông qua Quốc Hội.
Ông Ngô Tổ Lai, học giả Trung Quốc đang sinh sống tại Mỹ, ông nhận định, “Tập Cận Bình có khả năng đang cân nhắc việc sau khi hết hai nhiệm kỳ giữ chức Tổng Bí thư sẽ chuyển sang giữ chức Chủ tịch Ủy ban Thường vụ của Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc, đồng thời sẽ đem quân quyền giao cho Đại hội Đại biểu Nhân dân. Nếu làm như vậy thì quân đội và quốc gia sẽ thực sự thuộc về nhân dân, và có khả năng giải tán ĐCSTQ một cách hợp pháp”.
Dân chủ hóa Trung Quốc để trở thành thủ lĩnh khu vực, được tuyên truyền bởi Bắc Kinh là giấc mơ Trung Hoa, đồng thời là giấc mơ của Tập Cận Bình, khi ông ta không che giấu tham vọng đưa cái tên của ông vượt qua Đặng Tiểu Bình để xếp ngang hàng với Mao Trạch Đông.
Ở Việt Nam, trí khôn của cái tinh hoa cộng sản chưa từng vượt qua cái tinh hoa ở Trung Nam Hải. Những gì Trung Quốc làm, mười năm sau mới đến được Việt Nam. Cứ theo lôgíc này, thì dẫu có nhất thể hóa vào cuối năm nay, Đinh Thế Huynh cũng sẽ phải đợi Tập Cận Bình làm xong cái gọi là dân chủ tại Trung Quốc. Nếu Tập Cận Bình tiến hành huỷ bỏ chế độ Ban thường vụ, bắt đầu tiến trình giải tán Đảng Cộng sản Trung Quốc vào cuối nhiệm kỳ Đại hội 19, thì ít ra cũng phải mất 10 năm nữa, khi ấy, chắc Đinh Thế Huynh đã phải về hưu. Người ta sẽ phải nhìn vào Võ Văn Thưởng, trừ phi Đinh Thế Huynh có ý định vượt qua Trung Quốc, để chứng tỏ văn hóa Hoa Hạ là văn hóa kế thừa nền văn hóa Lạc Việt, chứ không phải ngược lại.
Ngạn ngữ Việt có câu “theo voi ăn bã mía”, không biết xuất hiện từ đời nào, nhưng chắc chắn là nhằm vào đội ngũ những cái đầu trong Bộ Chính trị thời nay tại chế độ độc Đảng Cộng sản. Cứ đi sau con voi Tàu Cộng, thì chỉ còn “bã”.
25.03.2017
B.Q.V.