Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

20150529. QUỐC HỘI BÀN VỀ TIỀN LƯƠNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
LƯƠNG BỘ TRƯỞNG THẤP HAY CAO ?
Bài của pv THẾ DŨNG/ NLĐ 27/5/2015
Lương và phụ cấp công vụ của bộ trưởng chỉ có 14,4 triệu đồng. Bộ trưởng còn được nhà nước lo phương tiện, xăng xe đi lại và một số chi phí khác nên tiền lương hiện nay chỉ là phản ánh một phần
Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình cho biết dù qua 3 lần điều chỉnh tăng lương nhưng mức lương tối thiểu chung (nay là mức lương cơ sở) đối với người hưởng lương từ ngân sách nhà nước còn rất thấp, chưa hợp lý, ngay cả lương bộ trưởng cũng thế.
Lương cơ sở thấp nên lương ngạch, bậc thấp theo
Theo Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình, từ ngày 1-5-2011, mức lương tối thiểu chung thêm 13,7%, từ 730.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng; từ ngày 1-5-2012 tăng thêm 26,5%, từ 830.000 đồng/tháng lên 1.050.000 đồng/tháng; từ ngày 1-7-2013 tăng thêm 9,5% (từ 1.050.000 đồng lên 1.150.000 đồng/tháng). Tính chung cả 3 lần điều chỉnh, mức lương cơ sở tăng thêm 57,5%. Riêng đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang có hệ số lương từ 2,34 trở xuống, từ ngày 1-1-2015 được tăng lương thêm 8% .
Cùng với điều chỉnh lương cơ sở là tăng chế độ phụ cấp công vụ áp dụng đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp xã với mức điều chỉnh tăng 10% từ ngày 1-5-2011 và từ 10% lên 25% từ ngày 1-5-2012. Bên cạnh đó, hệ số phụ cấp chức vụ đối với một số chức danh lãnh đạo như chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (trừ Hà Nội và TP HCM) cũng điều chỉnh tăng từ 1,25 lên 1,3...

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thăm bệnh nhân đang điều trị bệnh ung thư tại Bệnh viện Chợ Rẫy Ảnh: NGUYỄN THẠNH
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thăm bệnh nhân đang điều trị bệnh ung thư tại Bệnh viện Chợ Rẫy Ảnh: NGUYỄN THẠNH

Dù điều chỉnh tăng lương cùng các phụ cấp, chế độ nhưng theo Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình, thang bảng lương hiện nay còn nhiều hạn chế. Mức lương cơ sở hiện hành 1.150.000 đồng/tháng thực hiện từ ngày 1-7-2013 mới đạt 44,2% so với mức lương tối thiểu vùng bình quân năm 2015 của khu vực doanh nghiệp. “Do mức lương cơ sở thấp nên lương tính theo ngạch, bậc, chức vụ thấp theo. Tính cả 25% phụ cấp công vụ thì mức tiền lương của người vừa tốt nghiệp ĐH khoảng 3,58 triệu đồng/tháng, bộ trưởng cũng chỉ 14,4 triệu đồng/tháng. Với lương như vậy, đời sống của người hưởng lương từ ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn” - Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình nhận xét.
Vẫn sống được!
Ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng việc cải cách tiền lương đều phải tính tất cả các yếu tố và cả thang bảng lương từ người thấp nhất đến mức cao nhất, trong đó có bộ trưởng. “Nếu giả sử có bất cập về mức lương của bộ trưởng thì theo nguyên tắc cũng phải điều chỉnh toàn bộ thang bảng lương chứ không thể ưu tiên một nhóm nào” - ông Hiển nói.
Trong khi đó, PGS-TS Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội TP HCM, đánh giá: “Thang bảng lương hiện nay quá bất cập, méo mó ngay cả đối với mức lương của bộ trưởng. Mức lương 14,4 triệu đồng/tháng của bộ trưởng là thấp, chưa tương xứng với vị trí, trách nhiệm mà họ đang nắm giữ. Vấn đề là lương thấp nhưng vì sao người ta vẫn sống được?...”.
Theo ông Trần Hoàng Ngân, mức lương cần gắn với hiệu quả công việc và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng vị trí, kể cả bộ trưởng. Nếu mức lương thỏa đáng thì từng vị bộ trưởng sẽ yên tâm làm việc, có trách nhiệm hơn và đặc biệt thấy cống hiến của mình được ghi nhận. “Để mức lương của bộ trưởng hợp lý có thể áp theo mức bình quân GDP đầu người Việt Nam. Nếu GDP tăng thì lương lãnh đạo tăng, GDP giảm thì giảm. Không thể có chuyện người dân Thái Lan thu nhập bình quân 6.000 USD/năm mà Việt Nam chỉ hơn 2.000 USD/năm thì sao lương bộ trưởng mình bằng họ được” - ông Ngân hiến kế.
Chưa toàn diện
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, ông Bùi Sỹ Lợi, nhất trí thang bảng lương bộ trưởng hiện nay nói riêng và toàn bộ thang bảng lương đang có “vấn đề”, do vậy cần phải điều chỉnh trên cơ sở tính đúng, tính đủ mức thu nhập thực sự. “Vì bộ trưởng còn được nhà nước lo phương tiện, xăng xe đi lại và một số chi phí khác nên tiền lương hiện nay chỉ là phản ánh một phần mà chưa toàn diện. Nếu tiền tệ hóa toàn bộ chi phí này thì mức lương bộ trưởng sẽ nâng lên và đời sống các vị cũng đỡ và công bằng hơn” - ông Lợi phân tích.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình, hiện nay, do mức lương theo ngạch, bậc, chức vụ còn thấp nên các cơ quan có thẩm quyền đã mở rộng đối tượng áp dụng các chế độ phụ cấp đặc thù ngành nghề. Chính việc làm này dẫn đến phát sinh bất hợp lý giữa các ngành nghề.
Người đứng đầu ngành nội vụ cho biết sắp tới đây sẽ điều chỉnh mức lương tối thiểu khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo lộ trình tiến tới bảo đảm nhu cầu tối thiểu của người hưởng lương gắn với đổi mới hoạt động sự nghiệp công và phù hợp với khả năng nền kinh tế; điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp phù hợp tình hình sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tối thiểu của người lao động. Đặc biệt là nghiên cứu, từng bước mở rộng quan hệ lương thấp nhất - trung bình - tối đa cho phù hợp với quan hệ thị trường; trên cơ sở đó, hoàn thiện hệ thống thang, bậc lương và các chế độ phụ cấp…
Cải cách tiền lương giai đoạn 2016-2020
Bộ Tài chính đang xây dựng khung cân đối ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 để trình Chính phủ xem xét tổng hợp trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10. Trong đó, sẽ tính toán cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển, chi trả nợ và khả năng bố trí nguồn ngân sách nhà nước cho cải cách tiền lương giai đoạn 2016-2020.
Trong khi đó, Chính phủ giao Bộ Nội vụ tính toán cải cách toàn bộ thang bảng lương. Ủy ban Cải cách chính sách tiền lương nhà nước cũng đã họp và xem xét, nếu từ nay đến cuối năm, nguồn thu tăng trưởng đạt được tốc độ như quý I thì chắc chắn sẽ xem xét để điều chỉnh lộ trình tăng lương cơ sở. Lộ trình từ nay đến năm 2020, lương cơ sở phải đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của công chức, viên chức.
Thế Dũng

THU NHẬP BỘ TRƯỞNG KHÁC LƯƠNG 15 TRIỆU

Bài của pv THU HẰNG/ VNN 28/5/2015


lương, Nguyễn Thị Khá, bộ trưởng, thuế thu nhập
ĐB Nguyễn Thị Khá. Ảnh: Minh Thăng

- "Lương bộ trưởng chưa đến 15 triệu đồng/tháng là chưa phù hợp nhưng tổng thu nhập của bộ trưởng khác với lương, điều này không văn bản nào quy định" - ĐB Nguyễn Thị Khá, ủy viên thường trực UB Các vấn đề xã hội nói.
ĐB Nguyễn Thị Khá trao đổi với báo chí chuyện lương bổng của cán bộ, công chức, cũng như mức lương chưa tới 15 triệu đồng/tháng của các bộ trưởng.
Thuế lương thì thấp
Bà thấy lương Bộ trưởng hơn 14 triệu đồng/tháng có phù hợp?
Nếu nói phù hợp chưa cũng rất khó, vì phải tính trên cơ sở, tiêu chí trong điều kiện mức lương cán bộ, công chức nói chung. Còn phù hợp hay chưa thì chưa phù hợp. Không chỉ chưa phù hợp với riêng cá nhân bộ trưởng nào mà là chưa phù hợp với tổng thể khung lương chung hiện nay.
Nếu chưa phù hợp với người này thì cũng chưa phù hợp với người khác vì tất cả đều nằm trong mức khung chung cán bộ viên chức, công chức… Cho nên, nếu chưa cải cách, chỉ sửa một cách chắp vá thì còn nhiều bất cập.
Nói lương là thế nhưng tổng thu nhập của bộ trưởng khác với lương, cái này thì không văn bản nào quy định. Có thể họ có lĩnh vực khác đầu tư, hoặc sự viện trợ nào đó mình không tính được.
Chính vì thu nhập của lãnh đạo không rõ nên thuế thu nhập của chủ tịch tỉnh, bộ trưởng dựa vào lương thì rất thấp?
Thuế thu nhập cá nhân hiện chỉ tính trên mức lương chứ chưa tính trên thu nhập, nếu vượt phần thu nhập nào thì sẽ phải đóng thuế. 
Nếu nói tới tổng thu nhập thì không ai có thể biết hết được vì cái này dù có quy định kê khai nhưng giờ lại phụ thuộc vào tự giác là nhiều. 
Giám sát sự kê khai hiện nay rất khó, dù chúng ta có đặt ra vấn đề giám sát. Chỉ khi phát sinh trường hợp nghi ngờ mới giám sát chứ không phải tất cả.
Chưa có khả năng tăng lương
Thưa bà, ngân sách 2014 vượt thu 80.000 tỷ, tại sao Chính phủ vẫn chưa tính tới việc tăng lương cho công viên chức đã bị hoãn tăng lương 2 năm qua?
Chính phủ thấy nhu cầu bức xúc nhất của xã hội là gì thì trình QH bổ sung. Hiện nay vấn đề bức xúc nhất của xã hội là gì, liên quan tới nhiều người thì mới có thể tính toán dùng phần vượt thu ngân sách đó để cân nhắc chi. Còn chuyện bổ sung tăng lương hiện nay tôi nghĩ chưa có khả năng.
Nhưng thực tế hiện nay lương của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức quá thấp không đủ sống?
Đúng vậy. Việc tăng lương nhỏ giọt thời gian qua đúng là chưa đảm bảo sự yên tâm cho người lao động, người làm công ăn lương. Ví dụ, nâng lương cho người nghỉ hưu và lương thấp dưới 2,34 thêm 8% từ 1/1/2015 vừa rồi, tôi cũng thấy có điều chưa thỏa đáng.
Người về hưu không phải đối tượng nào cũng lĩnh lương hưu thấp, mà những người về hưu trước năm 1995 thì quả là thấp thật. Vì mỗi người có trường hợp khó khăn khác nhau, thu nhập của mỗi người theo mức lương cũng do quá trình đóng góp, cống hiến ở mức độ nào.
Lương hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu cuộc sống người lao động nên họ phải chạy vạy, làm thêm những việc khác nên cũng dễ nảy sinh tiêu cực.
Tốn bao năm đèn sách, lương vẫn thấp
Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh vừa chỉ đạo Bộ Nội vụ và các bộ liên quan nghiên cứu để có thể tăng lương cho viên chức, công chức thời gian tới. Vậy theo bà với điều kiện hiện nay, mức tăng thêm bao nhiêu sẽ là hợp lý?
Việc tăng bao nhiêu để đáp ứng cuộc sống tối thiểu phải dựa trên 2 yếu tố: chênh lệch giá ngoài thị trường, ngân sách có hay không. Nhu cầu hiện nay giá cả biến động, chênh lệch, việc tăng 10-20% cũng chỉ là mức tăng trước mắt, còn nói đáp ứng được cuộc sống hay chưa thì tôi cho rằng vẫn chưa.
Lâu dài vẫn phải là cải cách chế độ tiền lương, bằng khảo sát, đánh giá lại tổng thể thu nhập hiện nay, mức lương tối thiểu của người mới tham gia thị tường lao động, người mới tốt nghiệp ra trường. Hiện mức lương của người tốt nghiệp đại học, tốn bao năm đèn sách, rất thấp.
Tôi nghĩ, nhiều khi mình chưa tính toán khảo sát, đánh giá cho kỹ cách đóng góp, cống hiến của một người lương thế nào cho phù hợp chứ không phải ra trường là đồng loạt bằng nhau. Ví dụ sinh viên tốt nghiệp đại học 4,5 năm ra trường lĩnh lương khởi điểm cũng bằng người học 6,7 năm. Như thế không hợp lý, không công bằng.
Thu Hằng ghi
Lương, tiền, bộ máy...vòng luẩn quẩn gỡ được không?
Lương bộ trưởng chưa đến 15 triệu đồng
'Không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này'
Tổng bí thư: Bộ máy đúng là cồng kềnh
'Bộ máy cồng kềnh dân è cổ nuôi'
'CPI đang ổn, tăng lương quá đổ dầu vào lửa'
‘Lương thứ trưởng hơn chục triệu, chi xe công gấp ba’
Chưa thể trình Trung ương cải cách lương

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

20150528. TÌNH HÌNH FDI

ĐIỂM BÁO MẠNG
VỐN FDI VÀO BẤT ĐỘNG SẢN ĐẠT GẦN NỬA TỶ USD
Bài THU THỦY /VNEconomy 27/5/2015
Vốn FDI vào bất động sản đạt gần nửa tỷ USD
Riêng trong tháng 5, lĩnh vực kinh doanh bất động sản đã thu hút thêm hơn 130 triệu USD vốn FDI.

Tính đến 20/5, cả nước có 592 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ đầu năm, trên tất cả các lĩnh vực... Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa cho biết, tính đến ngày 20/5/2015, cả nước có 592 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ đầu năm trên tất cả các lĩnh vực, với tổng vốn đăng ký là 2,95 tỷ USD, bằng 80,6% so với cùng kỳ năm 2014. Có 210 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 1,34 tỷ USD, bằng 72,9% so với cùng kỳ năm 2014.

Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2015, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,29 tỷ USD, bằng 78% so với cùng kỳ năm 2014.

Cũng trong 5 tháng, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 4,95 tỷ USD, tăng 7,6% với cùng kỳ năm 2014.

Xét theo lĩnh vực đầu tư, trong 5 tháng, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 14 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 269 dự án đầu tư đăng ký mới và 142 lượt dự án tăng vốn, với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 3,15 tỷ USD, chiếm 73,4% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với 10 dự án đăng ký mới và 7 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 461,5 triệu USD, chiếm 10,7% tổng vốn đầu tư. Trong đó, riêng tháng 5, lĩnh vực này đã thu hút thêm hơn 130 triệu USD vốn FDI.

Cũng theo Cục Đầu tư nước ngoài, 47 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có dự án đầu tư tại Việt Nam. Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,1 tỷ USD, chiếm 25,7% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam.

British Virgin Islands đứng vị trí thứ 2 với số vốn là 663,24 triệu USD chiếm 15,4% tổng vốn đầu tư, Thổ Nhĩ Kỳ đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 660,2 triệu USD, chiếm 15,3% tổng vốn đầu tư;...

Xét theo địa bàn đầu tư, trong 5 tháng, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 40 tỉnh thành phố, trong đó Tp.HCM là địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 983,5 triệu USD, chiếm 22,9% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Đồng Nai đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 948,7 triệu USD, chiếm 21,1%.

Trong 5 tháng qua, một số dự án lớn được cấp phép, tuy nhiên chưa có dự án nào đạt quy mô vốn vượt 1 tỷ USD. Đứng đầu là dự án của Công ty TNHH Hyosung Đồng Nai tổng vốn đầu tư 660 triệu USD do nhà đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ đầu tư tại khu công nghiệp Đồng Nai với mục tiêu sản xuất và gia công các loại sợi.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

20150527. XOAY QUANH VIỆC TĂNG TỶ GIÁ CỦA NHNN

ĐIỂM BÁO MẠNG
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC: KHÔNG TĂNG TỶ GIÁ ĐẾN HẾT NĂM
Bài  ghi của THANH THANH LAN/ VNEx 26/5/2015
NgThiHong-5627-1432632021.jpg
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng khẳng định giữ nguyên "room" tỷ giá 2015 là 2%. Ảnh: Quý Đoàn.
Phó thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp thị trường và tái khẳng định cam kết tỷ giá tăng không quá 2% của Ngân hàng Nhà nước, bất kể "room" đến nay đã không còn.
- Từ cuối năm 2​011 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thường công bố biên độ dự kiến tăng tỷ giá ngay từ đầu năm và 2% là mức cam kết của năm 2015. Nhưng sau chưa đầy 5 tháng, "room" này đã cạn. Vậy kế hoạch điều hành từ nay đến cuối năm như thế nào?
- Sở dĩ NHNN định hướng trước biên độ vì trước đây, tỷ giá và thị trường ngoại hối thường xuyên biến động, không chỉ gây khó khăn cho điều hành mà còn làm chính sách tiền tệ có thời điểm bị động. Hệ lụy là có lúc nền kinh tế dư cung mà NHNN vẫn phải bán ngoại tệ để can thiệp, dẫn đến dự trữ ngoại hối suy giảm nghiêm trọng, gây bất ổn kinh tế vĩ mô.
Đến nay, qua phân tích, đánh giá nhiều khía cạnh tác động và đứng trên quan điểm tổng thể lợi ích của quốc gia, không hướng đến mục tiêu duy nhất nào, NHNN tiếp tục định hướng cả năm 2015 sẽ điều hành trong phạm vi 2% như đề ra từ đầu năm.
- Thứ nhất, việc phá giá VND ở mức cao sẽ mang lại lợi ích cho những nhà xuất khẩu nhưng với ngành sản xuất hàng xuất khẩu phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập từ nước ngoài thì lại bất lợi vì giá đầu vào tính bằng đồng nội tệ gia tăng. Ví dụ, với ngành dệt may, tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu năm 2013 là 82,5%; 70% đối với sản phẩm gỗ, 65% đối với sản phẩm may mặc, 50-60% đối với sản phẩm da giày.- Nhưng Ngân hàng Nhà nước tính toán sao với nhiệm vụ hỗ trợ xuất khẩu, đặc biệt khi diễn biến đồng đôla Mỹ trên thế giới còn nhiều ẩn số?
Tương tự, phá giá để có lợi ích cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản nhưng lại làm đông đảo bà con nông dân phải chịu giá cao khi mua phân bón, thuốc trừ sâu, các thiết bị, công cụ sản xuất nông nghiệp… Chưa kể đến một thực tế là hàng xuất khẩu của Việt Nam thường bán ở mức giá thấp hơn nhưng năng lực cạnh tranh lại ở mức thấp do giá trị sử dụng không vượt trội, chất lượng hàng hóa thấp, ít có cải tiến, nâng cao phẩm cấp, mẫu mã, chất lượng... Với thực trạng này, việc điều chỉnh tỷ giá để nâng cao năng lực cạnh tranh về giá có thể hỗ trợ xuất khẩu nhưng không nhiều.
Thứ hai, tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam hiện nay lên tới trên 80% GDP, phản ánh sản xuất phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. Như vậy, rõ ràng phá giá sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu.
- Ngoài lý do này, còn điều gì khiến Ngân hàng Nhà nước kiên quyết không nới "room" tỷ giá, dù áp lực được cho là sẽ rất lớn?
- Việc điều chỉnh tăng tỷ giá vượt biên độ định hướng đề ra sẽ làm gia tăng nghĩa vụ nợ nước ngoài của Chính phủ, ảnh hưởng tới việc kiểm soát nợ công khi đang ở sát ngưỡng 65% GDP. Ngoài ra, nghĩa vụ trả nợ với các khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp cũng tăng. Về lạm phát, dù mức hiện tại trong tầm kiểm soát nhưng không thể chủ quan khi giá dầu tăng trở lại. Chưa kể lạm phát còn chịu tác động trễ của chính sách tiền tệ, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua, cũng như xu hướng đang tăng trở lại của tín dụng đối với nền kinh tế.
Bên cạnh đó, tỷ giá được NHNN điều chỉnh tăng liên tục trong những năm qua (ngay cả thời gian đồng USD giảm giá, thì tỷ giá của VND/USD vẫn luôn được điều chỉnh tăng), mức điều chỉnh cao nhất là năm 2011 (tăng 9,3%), sau đó mỗi năm tăng từ 1-2% một năm. Bởi vậy VND không còn bị đánh giá quá cao như trước đây. Một nghiên cứu của nhóm chuyên gia IMF trong thời gian qua cũng cho thấy tỷ giá VND/USD hiện trong vùng phù hợp (aligment), chưa có dấu hiệu bị đánh giá sai (mis-aligment).
Từ đầu năm đến nay, hệ thống vẫn mua ròng ngoại tệ. Do đó, cách thức điều hành này sẽ tiếp tục khuyến khích các tổ chức và cá nhân bán ngoại tệ cho hệ thống các tổ chức tín dụng. Vì vậy, NHNN sẽ điều hành tỷ giá theo hướng ổn định, tiếp tục theo dõi sát thị trường, sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp để ổn định tỷ giá trong biên độ cam kết từ đầu năm.
- Bà có thể giải thích thêm về hai lần điều chỉnh tăng tỷ giá trong 5 tháng đầu năm vừa rồi của Ngân hàng Nhà nước?
- Lần điều chỉnh 1% ngày 7/1 diễn ra ngay sau khi Nghị quyết chính phủ được ban hành để giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu chủ động hoạt động sản xuất kinh doanh ngay từ đầu năm, phù hợp với diễn biến của thị trường tiền tệ trong và ngoài nước. Ngay sau khi điều chỉnh tỷ giá, tâm lý thị trường được giải tỏa, các tổ chức và cá nhân tăng cường bán ngoại tệ cho các ngân hàng. Nhờ vậy, Ngân hàng Nhà nước mua được một lượng khá lớn ngoại tệ, bù đắp phần đã can thiệp bán ra dịp cuối năm 2014.
Từ tháng 3, đồng USD tăng mạnh trên thị trường thế giới. Ngày 7/5, tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng nốt 1%. Quyết định này được đưa ra khi đồng USD thế giới quay đầu giảm giá sau khi Fed công bố thông tin về phiên họp chính sách tiền tệ nhằm chủ động, dẫn dắt thị trường, giúp các doanh nghiệp yên tâm khi điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của mình đến cuối năm 2015.
Thanh Thanh Lan (ghi)
TỶ GIÁ VÀ TÍN DỤNG LÀ 2 THÁCH THỨC LỚN
Bài của TRUNG CHÁNH/ TBKTSG 26/5/2015
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy Fulbright trình bày tại hội thảo chiều nay - Ảnh: Trung Chánh
(TBKTSG Online) - Tốc độ tăng trưởng kinh tế dù đã có sự cải thiện rõ nét hơn thời gian gần đây, nhưng vẫn đang tồn tại hai thách thức vĩ mô lớn, đó là chuyện biến động tỉ giá trong ngắn hạn từ nay đến cuối năm, và tín dụng cho sản xuất trong trung hạn, theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Thành.
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại TPHCM, đặc biệt nhấn mạnh hai thách thức này tại buổi tọa đàm “Giải pháp tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp và xây dựng tổ chức hội, phát triển phong trào doanh nhân trẻ khu vực phía Nam” được tổ chức tại Cần Thơ chiều nay (26-5).
Về chuyện tỷ giá, ông Thành cho biết, nếu tính từ thời điểm cuối năm 2012, thì so với đô la Mỹ hiện đồng yen Nhật mất giá khoảng 40%; đồng euro mất giá khoảng 20%; các loại tiền tệ khác trong khu vực ASEAN như đồng rupiah  Indonesia mất giá khoảng 35%, đồng đô la Singapore mất giá khoảng 12% và đồng baht của Thái Lan mất giá khoảng 6%. Trong khi đó, tiền đồng của Việt Nam hầu như không mất giá so với đô la Mỹ; nghĩa là đồng tiền Việt Nam "tăng giá" so với các đồng tiền kể trên.
“Trong năm 2015, Ngân hàng Nhà nước cam kết chỉ điều chỉnh tỷ giá tối đa 2% và cho đến thời điểm này đã điều chỉnh hết 2%, trong khi sức ép mất giá của các loại tiền khác so với đô la Mỹ vẫn diễn ra. Do đó, sức ép của tỷ giá sẽ vẫn còn tồn tại từ nay cho đến cuối năm,” ông Thành nói.
Còn trong trung hạn, vấn đề tín dụng cho doanh nghiệp sẽ là một thách thức, có ảnh hưởng lớn đến sự phục hồi của nền kinh tế.
Theo ông Thành, trong quá khứ tín dụng tăng ở mức 20-30% hàng năm, nhưng lạm phát cũng dao động từ 15-18%, cho nên tính theo giá trị thực, mức tăng tín dụng này không phải là mạnh. Còn trong năm 2014, tín dụng tăng 15%, nhưng lạm phát ở mức khoảng 2%, cho nên rõ ràng tín dụng cho nền kinh tế tăng cao, chứ không phải là thấp, ông Thành nhận xét.
Tuy nhiên, theo ông Thành, vấn đề đáng quan tâm hơn nằm ở đằng sau con số tăng trưởng tín dụng này.
Thứ nhất, thị phần tín dụng dành trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh đã giảm xuống. Cụ thể, nhiều năm trước đây, tỷ lệ tín dụng phục vụ trực tiếp cho sản xuất kinh doanh chiếm khoảng 90% so với tổng mức tín dụng; đến thời điểm bùng nổ chứng khoán và bất động sản cách nay 5-6 năm, tỉ lệ này đã giảm xuống chỉ còn khoảng 65%; và thời gian gần đây, dù tín dụng tăng nhưng vốn dành trực tiếp cho sản xuất kinh doanh chỉ chiếm 66%.
“Có nghĩa là cứ 100 đồng tín dụng được đưa ra thì có 34 đồng phục vụ cho các hoạt động phi sản xuất và 66 đồng trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh so với con số 90 đồng trước đây,” ông Thành cho biết.
Một vấn đề khác nằm đằng sau con số tăng trưởng tín dụng là nguồn vốn mà ngân hàng đầu tư vào trái phiếu Chính phủ. Theo ông Thành, trong tình hình ngân sách eo hẹp, từ năm 2012 các chương trình phát hành trái phiếu Chính phủ có quy mô rất lớn, riêng năm 2014 là trên 15 tỉ đô la Mỹ và kế hoạch trong năm 2015 này mặc dù có giảm nhưng cũng khoảng 11,5 tỉ đô la Mỹ. Một số ngân hàng thương mại lớn có mức độ đầu tư vào trái phiếu rất lớn, thậm chí cao hơn so với tín dụng cho doanh nghiệp vay để sản xuất kinh doanh. “Đây là thách thức trong trung hạn trong vấn đề tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp sản xuất, khôi phục nền kinh tế,” ông nói.
Xem thêm: