Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

200231004. NGHĨ VỀ NGƯỜI CỘNG SẢN NGÀY XƯA

   ĐIỂM BÁO MẠNG


"NGƯỜI CỘNG SẢN NGÀY XƯA'

MẠC VĂN TRANG/FB 3-10-2023


Sáng qua tôi đang ngồi gõ bài “Mấy suy nghĩ về giáo dục phổ thông” thì con gái Mai Phương bảo, bố đang viết à? Mẹ gọi bố đi tập khí công.
- Bố đang viết bài quan trọng đây. Nhưng thôi đi tập đã. Mẹ rất nguyên tắc, đã đề ra cái gì là quyết thực hiện bằng được. Rất ý chí…
- Kiểu người cộng sản ngày xưa thế đó bố ạ.
Câu nhận xét thoáng qua của con gái nhưng gợi ra một đề tài thú vị. Tự nhiên muốn viết đôi điều.
“Người cộng sản ngày xưa” (NCSNX) không biết xác định thời gian nào là thuộc về “ngày xưa”? Trước 1945? Trước 1975? Trước 1986?... Khó!
Nhưng có một điều thấy rõ, là những đảng viên cầm quyền ngày nay khác hẳn với những NCSNX. Cho nên có người nói, có lẽ ông Nguyễn Phú Trọng là người cộng sản cuối cùng còn sót lại (?).
Nói về NCSNX và so với những người “cộng sản ngày nay”(?) đang cầm quyền hay đã về “làm người tử tế” sống trong những “cung vua”, “phủ chúa” sẽ là một đề tài lớn và rất thú vị đấy.
Trong giới hạn bài viết này tôi chỉ muốn nói đến một số đặc điểm của NCSNX mà tôi trực tiếp cảm nhận được từ những người thân, bạn bè, người quen biết, vốn là những NCSNX. Những người này nay đều trên 70 - 80 - 90 tuổi vốn là những NCSNX có hiểu biết, có chức quyền nhất định, nay không còn chức quyền gì nữa, nhưng “chất NCSNX” vẫn còn “ngấm vào máu” của họ.
Những NCSNX giờ phân hoá thành nhiều nhóm: Có những người “bảo hoàng hơn vua”; có người “mũ ni che tai” an hưởng tuổi già; có nhiều người vẫn trăn trở với thời cuộc và tìm cách “góp ý” ôn hoà; có những người “phản biện” khá mạnh mẽ, dai dẳng, bị Đảng coi là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “suy thoái”...
Tôi muốn nói về NCSNX trong nhóm “suy thoái” này, như kiểu con gái nhận xét về Mẹ Kim Chi. Những người này, dù họ còn ở trong Đảng hay thoái Đảng với nhiều cách khác nhau, theo tôi những NCSNX có hiểu biết (giác ngộ), thường có một số đặc điểm chung chủ yếu sau đây.
1. Những NCSNX có lý tưởng.
Lý tưởng đó là đánh đuổi đế quốc, giành độc lập cho Tổ quốc; đánh đổ giai cấp bóc lột, giải phóng người dân khỏi bị áp bức, bóc lột, bất công… Tiến tới xây dựng chủ nghĩa cộng sản không còn người bóc lột người; con người được tự do, bình đẳng, người với người là bạn; tiến tới làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu… Liên Xô được tuyên truyền là hình mẫu ước mơ…
Lớp lớp trí thức, thanh niên học sinh đi theo lý tưởng đó rất hăm hở, chân thành, Họ đã sáng tác bao nhiêu bài thơ, bài hát ca ngợi lý tưởng đó một cách say sưa… Đó là cảm hứng thật, chứ không phải “diễn” hay nịnh bợ.
Ngày nay những NCSNX tôi quen biết, đều nhận thấy lý tưởng xây dựng CNXH rồi tiến lên Chủ nghĩa cộng sản “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”... là hoang đường, của một thời u mê hoang tưởng…
Nhưng “chất lý tưởng” giành độc lập cho nước, hạnh phúc cho dân, chống bất công, xây dựng xã hội văn minh… vẫn âm ỉ cháy trong tâm trí họ, nên nhiều người góp ý, phản biện, lên án những việc làm của chính quyền đương thời có hại cho dân, cho nước… Vì họ có “chất lý tưởng” nên họ rất quyết tâm, kiên trì bền bỉ theo đuổi ý kiến/quan điểm của mình…
2. Những NCSNX có niềm tin vào chủ thuyết.
Họ được giáo dục, tin tưởng tuyệt đối vào cơ sở lý luận chủ nghĩa Marx- Lenin, coi đó là chủ nghĩa “vô địch”, “bách chiến, bách thắng muôn năm”! Dẫu phần lớn đảng viên CS Việt Nam chỉ được nghe trích dẫn, bình luận những câu trong “kinh điển” như Kinh thánh, nhưng đầy lòng sùng kính, tin tưởng, chẳng dám nghĩ, dám nói khác đi…
Nay thì họ nhận ra Chủ nghĩa Marx - Lenin là sai lầm. Họ “chia tay ý thức hệ”, đi tìm những cơ sở lý luận để định hướng cho công cuộc “tái thiết”, phát triển xã hội theo những chuẩn mực tiến bộ. Có người dựa vào cốt lõi Tư tưởng Hồ Chí Minh; có người đề cao Tư tưởng Phan Châu Trinh; Có người kết hợp cả hai Tư tưởng… Nhưng nhìn chung họ có tầm nhìn, hướng đến lựa chọn những giá trị phổ quát của nhân loại đã được thử thách, chứng minh trong thực tế. Do vậy, họ đấu tranh có lý lẽ, có trách nhiệm với dân, với nước, chứ không bốc đồng, làm bậy, nói bừa…
3. Những NCSNX rất có ý chí.
Họ từng được giáo dục noi theo những tấm gương đảng viên “tiền bối” kiên cường; họ có quyết tâm phấn đấu cho lý tưởng; họ được rèn luyện thực tế bằng việc thực hiện các nhiệm vụ đề ra (hay trên giao) để đạt mục tiêu đã xác định. Nhiều người từng qua thử thách trong những điều kiện ác liệt của chiến tranh, tù đày; từng phải quên mình quyết tâm thực hiện ”Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”...
“Chất ý chí” đó đã được ngấm vào máu thịt, nên ngày nay dù tuổi cao, sức yếu nhưng họ không ngại khó, ngại khổ; họ bền bỉ, kiên trì thực hiện những gì đã mong muốn. Họ vẫn giữ được phẩm chất kiên cường, bình tĩnh, vững vàng trước những khó khăn, thử thách của cuộc sống…Đừng coi thường ý chí của họ.
4. Những NCSNX có ý thức tu dưỡng đạo đức
Họ đã từng cố gắng tu dưỡng đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”; sống gắn bó với nhân dân; không muốn sống xa lạ với cuộc sống của nhân dân lao động; lối sống “Tiểu tư sản” đã bị phê phán, còn lối sống như tư sản, quan lại, vua chúa bị coi là sa đọa…
Nay, NCSNX đã thoát ra khỏi những định kiến đạo đức - lối sống cực đoan, ấu trĩ, nhưng chất “đạo đức cách mạng” vẫn còn trong nhân cách họ, nên họ thường sống giản dị, gần dân, thương dân, không đua đòi sống xa hoa, lãng phí, xa cách với đời sống của dân. Họ mong muốn làm sao cho dân bớt khổ, bớt phải chịu bất công, oan ức; họ đau nỗi đau của dân, thấu hiểu nỗi niềm của dân, nên họ sẵn sàng lên tiếng bênh vực, giúp đỡ người dân bất hạnh, nhất là những dân oan.
5. Thay cho kết luận
Có thể nêu thêm vài đặc điểm nữa của những NCSNX.
Nhưng với nhóm NCSNX là người thân, bạn bè, người quen biết tôi đã từng trò chuyện, như: Nguyễn trọng Vĩnh, Nguyễn Trung, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khắc Mai, Chu Hảo, Nguyễn Đình Cống, Nguyễn Đăng Quang, Hoàng Quốc Hải, Tương Lai, Nguyễn Hữu Vinh, Phạm Chi Lan, Nguyên Bình, Nguyễn Đình Bin, Trần Nhương, Tư Thân, Phan Đắc Lữ, Võ Văn Thôn, Phạm Đình Trọng, Phạm Nguyên Trường, Kha lương Ngãi, Nguyễn Thị Kim Chi … thì họ đều có những đặc điểm như đã nêu trên.
Nói chung đời sống vật chất của họ khá đầy đủ. Họ có nhà cửa, lương hưu; họ ưa lối sống giản dị, gần dân, không có nhu cầu xe hơi, nhà lầu, lâu đài, biệt phủ…
Những NCSNX tôi quen biết đã nêu trên, giờ đây luôn “đi giữa mấy làn đạn”: Đảng CS thì lên án họ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “suy thoái”, “bất hảo”; dư luận viên, lực lượng “cuồng cộng” thì được “bảo kê”, tha hồ vu khống, bịa đặt, bôi nhọ, chửi rủa họ là “phản động”; an ninh thì theo dõi, răn đe, cản trở họ; người thân, bạn bè nhiều khi rầy la, nhắc nhở, khuyên răn; lực lượng “cuồng chống cộng” thì nhiếc móc họ, đã là cộng sản thì đều là những kẻ xấu xa gian ác, “đừng nghe cộng sản nói”...
Nhưng họ chả chấp những lời thị phi. Họ tự tin là những người yêu nước, thương dân, có trách nhiệm xã hội khao khát đóng góp cho đất nước phát triển lành mạnh. Họ chả có mưu đồ “chống phá” để làm gì, vì họ không có nhu cầu tranh giành chức quyền; không ham tiền bạc, danh vọng.
Họ vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân ít hay nhiều của những gì đã trải qua; nhưng khi đã tỉnh ngộ, thoát khỏi “vòng kim cô”, tự do suy nghĩ, tự do biểu đạt và với những trải nghiệm quý giá, những ý kiến của họ rất đáng được trân trọng.
Họ chỉ có động cơ như cụ Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Còn hơi còn sức còn lên tiếng/ Là muốn quyền uy bớt lỗi lầm”…
Những người cầm quyền tử tế nên coi họ là vốn quý để khai thác những gì có ích. Chỉ những kẻ ngu muội mới coi họ là thế lực thù địch.
01/10/2023



Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

20231003. BÀN VỀ CÁC THUẬT NGỮ LUẬN ÁN

  ĐIỂM BÁO MẠNG


BÀN VỀ CÁC THUẬT NGỮ LUẬN ÁN

NGÔ THẾ BÍNH/ngothebinh's blog 1-10-2020


Trong các luận án tiến sĩ hay luận văn thạc sĩ (gọi chung là luận án), có các thuật ngữ liên quan đến hình thức trình bày, chưa được ‘chuẩn hóa’ trong các quy định của cơ sở đào tạo. Kết quả là sử dụng không thống nhất hoặc sai lẫn. Ví dụ: đề tài, vấn đề, nhan đề, đề mục, tiêu đề, nhập đề v.v… Đó là những thuật ngữ Hán-Việt mặc dù tác giả, người hướng dẫn, bộ phận quản lý tại các cơ sở đào tạo có chỉnh sửa theo hướng Việt hóa nhưng tôi cho rằng chưa hoàn toàn hợp lý. Ưu điểm chung của sử dụng các thuật ngữ Hán-Việt là ngắn gọn, nếu hiểu đúng nghĩa và dùng quen (không lẫn lộn) thì giao tiếp cũng ngắn gọn, dễ hiểu. Dưới đây là một số phân tích:
Trước hết là ĐỀ [題] trong các thuật ngữ. Theo từ điển Hán Việt* [題] là có chức năng loại từ được dịch là ‘câu’, ‘bài’, ‘lời’, ‘tên’… tùy các từ đứng trước hoặc sau nó.
VẤN ĐỀ [問 題]: câu hỏi nghiên cứu, đặt vấn đề; question
NHAN ĐỀ [顏 題]: tên chuyên đề nghiên cứu (chuyên đề ); tiêu đề; title
ĐỀ TÀI [題 材]: lĩnh vực, chuyên ngành nghiên cứu; subject, topic, theme
ĐỀ MỤC [題目]: mã số và tên từng phần/ chương/ mục…; heading.
TỰ ĐỀ [自題]: lời nói đầu, mở đầu, tựa đề, nhập đề; Proface, Invistation
Từ các phân tích trên, cho thấy:
- Cần có quy định thống nhất giữa các cơ sở đào tạo về các thuật ngữ thường dùng trong luận án. Các thuật ngữ có thể ‘Việt hóa’ hoặc giữ nguyên Hán-Việt như trên, đồng thời tham chiếu những thuật ngữ tiếng Anh sao cho bảo đảm chính xác, ngắn gọn.
- Vấn đề lớn nhất hiện nay trong thực tế là còn thiếu rạch ròi phân biệt giữa NHAN ĐỀ và ĐỀ TÀI ngay trong cách trình bày quyển luận án hay ‘phông’ lễ bảo vệ. Đó là 2 thuật ngữ liên quan mật thiết đến: tính phù hợp về chuyên ngành đào tạo, tính không trùng lặp của chuyên đề nghiên cứu với các luận án đã công bố.
NTB
*)Tài liệu tham khảo: Từ Điển Hán Việt Trích Dẫn 漢越辭典摘引

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2023

20231002. SUY NGHĨ VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

   ĐIỂM BÁO MẠNG


MẤY SUY NGHĨ VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

MẠC VĂN TRANG/ FB/TD 1-10-2023


Tôi nghĩ giáo dục đang gặp khủng hoảng nghiêm trọng, đang gây hoang mang cho giáo viên (GV), học sinh (HS), cha mẹ học sinh (CMHS) và dư luận xã hội. Những bất cập của giáo dục đã tích tụ từ lâu, nhiều ý kiến đã nêu rõ vấn đề, nhưng không được giải quyết, nay bùng phát ra (1). Những vấn đề cơ bản và cấp bách là gì?
1. Về học sinh
HS phổ thông ngay từ lớp 1 đến lớp 12 sao phải học nhiều thế, mang ba lô sách còng lưng, đã học 2 buổi/ ngày, lại còn phải học thêm triền miên. HS yếu đuối, cận thị, mụ mị, bị tước đoạt tuổi thơ, khiến các em phát triển không bình thường…
- Giải pháp đó là: HS đã học 2 buổi ngày, nhà trường, GV tuyệt đối không tổ chức dạy thêm thu tiền đối với HS lớp mình, trường mình. Dạy theo Chương trình đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt là quá đủ rồi. GV có quyền tham khảo các loại sách để dạy cho tốt, nhưng không bắt HS mua thêm sách, ngoài sách giáo khoa.
Không bắt HS học nhiều, nhớ nhiều, thuộc nhiều, làm nhiều bài tập theo bài mẫu.
Phương pháp dạy chủ yếu là hướng dẫn HS biết tự học, tự đọc sách, tự làm việc, biết tìm kiếm thông tin, tri thức trên mạng và trong các tài liệu; biết cách tổng hợp, phân tích, hệ thống hoá, khái hoá tài liệu thành sản phẩm trí tuệ của mình. Biết hướng dẫn thì HS lớp Ba, lớp Bốn đã làm được kiểu bài tập như vậy và trình bày tự tin rành mạch…
Học cũng như ăn, thức ăn phải bổ dưỡng, nhưng cũng chỉ ăn vừa đủ, còn thòm thèm càng tốt. Nếu nhồi nhét cho trẻ ăn quá mức thành bội thực, sinh bệnh… Học nhồi nhét sinh bệnh tâm lý, tinh thần càng nguy hại hơn cho HS.
Nếu có những HS yếu kém hay có vấn đề thì GV phải quan tâm cùng nhà Tâm lý học đường (nếu có) kèm cặp thêm, chẩn trị giúp HS đó khá lên. Không thể để HS đến lớp 5 vẫn chưa biết đọc, biết viết.
Nhà trường cần tổ chức dạy “phụ đạo HS kém” mỗi tuần một buổi cho HS cùng khối lớp, mà không được lấy tiền. Thế mới là giáo dục.
Làm sao cho HS đến trường được sống trong bầu không khí vui vẻ, thân thiện; học tập thích thú, tự chủ; không bị áp lực, lo hãi, căng thẳng… Học để trở thành chính mình, để làm Người đàng hoàng, chứ có phải thành người máy hay những con cừu?
Mục đích của giáo dục là tổ chức sự phát triển của thế hệ trẻ để các em trở nên những người trưởng thành, thích ứng với xã hội các em sống. Đó phải là những thanh niên khoẻ mạnh về thể chất, minh mẫn về tinh thần; biết cách chủ động tự học hỏi để có nghề nghiệp/ công việc phù hợp, biết phát triển bản thân, biết sống lành mạnh với gia đình và xã hội…
HS học để khôn lớn, sống cuộc đời của chính nó, chứ bắt nó phải phấn đấu theo mẫu người nào đó thì là cực hình! Vả lại ở thời đại 4-0 chỉ có tự mỗi người chủ động học hỏi để thích ứng, phát triển bản thân, chứ chẳng ai dạy được mọi điều.
2. Về Cha mẹ HS
Quý vị đừng bao giờ mong đào tạo con mình thành ông nọ, bà kia rồi tự gây áp lực cho mình và cho con trẻ. Các vị nên nhớ, đứa trẻ được đi du học bên Mỹ hay được học trong trường đặc biệt đóng học phí 20 triệu, 50 triệu một tháng cũng không chắc gì sẽ trở thành người như quý vị kỳ vọng đâu; chưa chắc gì nó sẽ đem lại cho quý vị niềm vui, hạnh phúc lúc tuổi già.
Các vị thấy đấy: Cậu bé Trần Đại Quang học đèn đom đóm mà sau trở thành Đại tướng, giáo sư, tiến sỹ, Chủ tịch nước; cậu bé Vương Đình Huệ cũng ăn khoai, học đèn đom đóm rồi trở thành giáo sư, tiến sỹ, Chủ tịch Quốc hội; cậu thanh niên Nguyễn Phú Trọng, con nông dân, học lớp 10B cũng bình thường, không có học thêm, sau này trở thành giáo sư, tiến sĩ, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước, uy quyền hơn Vua, lẫy lừng thế giới…
Hãy để con mình sống cuộc đời của nó. Học ở trường vừa đủ, trung bình là tốt rồi; nhưng nó được vui chơi, biết bơi, biết một môn thể thao, biết chút âm nhạc, hội hoạ, thích đọc sách, biết nấu ăn, thích tự mày mò làm cái gì đó thú vị. Hãy dạy con biết làm mọi việc trong gia đình; biết trò chuyện với bố mẹ, vui đùa với anh em; biết quan tâm thăm hỏi ông bà, cô, bác…
Tóm lại, trẻ phải trở thành thành viên yêu quý, sống trung thực và có trách nhiệm với gia đình. Đó mới quan trọng hơn là giỏi tiếng Anh, Toán, Lý, Hoá… Có phải ai giỏi tiếng Anh rồi cũng thành tài đâu? Chục triệu người Mỹ biết tiếng Anh vẫn sống nghèo khổ đấy.
Chỉ mong con mình học hành để hiểu biết, trở thành một thanh niên tử tế, biết quý trọng, chăm sóc bản thân, hiếu thảo, có một nghề nghiệp/ công việc phù hợp. Còn sau đó nó trở thành cái gì là do số phận chứ không phải cứ học nhồi nhét mà thành.
Quý vị phải đoàn kết, đấu tranh bảo vệ những giá trị đạo đức, môi trường giáo dục, sao cho con mình được phát triển lành mạnh; không thể giao con mình cho nhà trường, cho GV rồi cam chịu mọi ép buộc vô lý, coi con mình như thể là con tin…
Quý vị giáo dục thế nào để con tự chủ, tự lập, đến 20 tuổi có thể nói rằng: Con muốn học nghề gì thì học, muốn yêu ai thì yêu, muốn theo xu hướng lối sống nào thì tùy; hỏi thì bố mẹ tư vấn, chứ không can thiệp. Như vậy mà thấy yên tâm, không sợ con hư hỏng, thì đó là giáo dục thành công.
3. Về Giáo viên
Chỉ những HS điểm kém mới vào học sư phạm bất đắc dĩ; HS giỏi nhất chen nhau vào trường Công an. Thế đủ biết nền giáo dục quốc gia hỏng rồi. Hỏng từ lâu rồi! Hai năm qua hơn 40.000 giáo viên bỏ nghề, mà trong đó nhiều GV tốt ra đi. Mấy nhà quản lý giáo dục bảo, “một người ra, ba người vào, có gì mà lo”. Càng thấy hiện tình hỏng quá rồi.
Người GV lương thấp lại khát khao muốn vươn lên có mức sống loại cao trong xã hội, nên cũng đua theo phong trào “Làm nghề gì ăn nghề ấy”. Các công chức, công an, phòng thuế … “ăn” vào Dân; quan chức cùng đại gia “ăn đất”, “ăn dự án”, bác sĩ “ăn bệnh nhân”, Sư “ăn phật tử”... Vậy là GV cũng đua nhau “ăn HS”!
“Làm nghề gì ăn nghề ấy” là do thể chế này đẻ ra và ngày càng tác oai, tác quái, mất kiểm soát, làm tha hoá hết bản chất đạo đức của mọi nghề nghiệp hiện hành. Vì vậy, nhiều người có lương tri đã bỏ nghề: Mấy vạn GV, mấy vạn bác sĩ, công chức đã bỏ nghề trong thời gian gần đây.
Thưa các Nhà giáo, các bạn đồng nghiệp yêu quý. Cứu nguy giáo dục chính là trông cậy vào đội ngũ GV. Tôn sư trọng đạo là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Nên gìn giữ truyền thống đó, vì khi vứt bỏ đi rồi mới thấy nó cao quý, mà muốn khôi phục cũng không được nữa. Nghề Thầy giáo dù ở nước nào cũng là nghề thanh bạch, có cuộc sống tâm hồn phong phú, thiện lành, ổn định, yêu thích giao tiếp, làm việc giáo dục trẻ em; hạnh phúc là cảm nhận thấy những trẻ em phát triển, trưởng thành từ sự giáo dục của mình; cảm nhận được sự yêu mến, kính trọng từ HS … và bằng lòng với cuộc sống mức thường thường trong xã hội.
Nghề GV còn là nghề có điều kiện tốt nhất để phát triển và hoàn thiện bản thân. Đó là đạo đức, lối sống của nghề giáo viên. Người GV dạy giỏi mà sống lương thiện, an bình, thanh bạch HS càng kính trọng, yêu quý. Đó là hạnh phúc của Nhà giáo.
Nếu những ai muốn mình có quyền uy, dùng quyền uy để kiếm nhiều tiền, khao khát cuộc sống giàu sang như các quan chức, đại gia… thì đừng làm GV nữa, đừng ở ngành giáo dục nữa.
Lương GV phổ thông không đủ sống là lỗi của Nhà nước. Tôi là một nhà giáo, cũng đã từng uất ức khi thấy con mình nằm bệnh viện, ăn cơm với mấy ngọn rau muống luộc và mấy hạt lạc; trong khi thằng bé nằm giường bên, nó ném miếng giò nạc đi, bảo ăn mãi chán lắm… Tôi từng cảm thấy nhục nhã, khi chiều về lại đèo thùng nước gạo từ trường về nhà để nuôi lợn…
Tôi thấu hiểu nỗi niềm của các GV khi thấy mình nghèo quá. Nghèo thường làm cho người ta dễ hèn đi! Nhưng chúng ta phải đoàn kết cùng nhau đấu tranh với chính quyền để tìm cách cải thiện đời sống GV, chứ không thể “ăn vào HS” được! Đó là nguyên tắc Đạo đức của Nhà giáo.
Mình túng thiếu có thể làm thêm nhiều việc để kiếm thêm tiền, nhưng không thể bắt HS nộp tiền cho mình dưới bất cứ hình thức nào. Hiệp hội GV Mỹ cũng đưa ra 50 việc để GV làm thêm kiếm tiền: trông trẻ ngoài giờ, bán hàng, phục vụ hàng ăn/uống buổi tối, chủ nhật; dạy kèm các môn cho HS không phải của lớp mình/ trường mình; dạy ở các Trung tâm học tập cộng đồng; tư vấn tâm lý, giáo dục; thiết kế thời trang, làm vườn, v. v…(2).
Ở ta nhiều GV nói với tôi, GV nghèo lương thấp nhưng “tỷ phú” về thời gian để chăm sóc gia đình, để có thể làm nhiều việc ra tiền. Thực ra những trải nghiệm “làm thêm” lành mạnh của GV cũng rất có ích cho việc giáo dục HS.
4. Về cán bộ quản lý giáo dục
Thời đại 4.0 rồi, Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT giảm bớt biên chế đi. Bỏ Phòng GD đi. Càng lắm người quản lý càng bày ra lắm trò thi đua, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá, gây rối cho bên dưới, làm khổ GV. Tất cả các cấp quản lý GD từ Bộ trưởng đến Hiệu trưởng, cố hết sức rũ bỏ hết những cái gì quấy rầy GV, làm khổ GV, để họ tập trung vào chuyên môn và còn thời gian nghỉ ngơi, chăm sóc gia đình, làm thêm kiếm sống.
Chính quyền, các cấp quản lý, xã hội càng đòi hỏi ở GV nhiều bao nhiêu thì càng phải tôn trọng họ bấy nhiêu. Để người GV lương không đủ sống, bị xã hội coi thường, đó là nỗi nhục của chế độ, của Đảng và Nhà nước này.
Tôi còn nhớ vào đầu những năm 1960s cán bộ quản lý GD được tập huấn về Mục đích, Mục tiêu, Nguyên lý, Phương châm … GD XHCN để về tổ chức tập huấn cho GV trong kỳ nghỉ hè. Nghe ông Tố Hữu nói thì căng lắm. Có anh phát biểu rồi đọc thơ: “Ngang lưng thì thắt phương châm/ đầu đội nguyên lý, tay cầm mục tiêu/ nghỉ Hè mà thấy liêu xiêu …"
Bộ trưởng GD Nguyễn Văn Huyên bảo, học gì thì học, nhưng phải để GV được nghỉ hè ít nhất hai tháng. Các anh chị biết không, người GV yêu nghề sư phạm là vì đó là nghề TỰ DO và được nghỉ BA THÁNG HÈ..
Người quản lý GD hiểu như vậy, tôn trọng nghề GV như vậy thì dù khó khăn đến mấy, họ vẫn “Tất cả vì học sinh thân yêu”! (Khẩu hiệu của GV vào những năm 1960 - 1980).
Phải nghiên cứu tìm ra cơ chế bầu những GV giỏi, tốt làm Hiệu trưởng và trả phụ cấp xứng đáng. Hiệu trưởng là linh hồn của nhà trường; Hiệu trưởng tốt thì nhà trường tốt, Hiệu trưởng hỏng thì nhà trưởng hỏng. Hiệu trưởng ngu dốt nhưng chạy chọt bằng nhiều tiền để có chức quyền, rồi dùng quyền uy đó để kiếm tiền, thì giáo dục hỏng không gì cứu vãn được.
Mới đây chuyện động trời xảy ra, đó là khi Hiệu trưởng trường THPT Chu Văn Thịnh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phải chuyển đi làm Hiệu phó trường khác, thì vợ ông ta phụ trách bếp ăn của trường này, đã bỏ chất độc vào thức ăn của hơn 400 HS ăn bán trú (3). Chắc hẳn vợ chồng chị ta bị mất nhiều quyền lợi to lắm. Món tiền quá lớn đã che lấp hết lương tri để chị ta hành động mù quáng vậy đó. Khi động cơ kiếm tiền bằng bất cứ cách nào thì tất yếu dẫn đến hành động vô minh tăm tối.
5. Về Đảng và Nhà nước
Nói thật, không trông mong gì ở cái Quốc hội ăn hại này! Luật Giáo dục, Luật Phổ cập giáo dục đã ban hành từ lâu, mà không có giám sát thi hành; bao nhiêu chuyện quốc gia đại sự mà Quốc hội cứ như không biết gì, toàn đi bàn chuyện lăng nhăng.
Bây giờ chỉ có Tổng bí thư và Thủ tướng lắng nghe, thấu hiểu, thấy giáo dục nguy cấp lắm rồi và có quyết tâm cứu nguy rồi chấn hưng giáo dục thì may ra mới có chuyển biến.
________
Chú thích: