Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

20200404. KỶ NIỆM 100 NGÀY MẤT TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH

ĐIỂM BÁO MẠNG
LỄ BÁCH NHẬT CỤ NGUYỄN TRỌNG VĨNH: GIÁ MÀ LÃNH ĐẠO BIẾT LẮNG NGHE...
ĐINH HOÀNG THẮNG/ BVN 3-4-2020

Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh với công cuộc chống Trung Quốc

Thấm thoắt 100 ngày Nhà ngoại giao - Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã đi xa. Di sản của Cụ hôm nay tuy chưa được chính thống nghiên cứu và tiếp thu, nhưng các giá trị lâu bền và định hướng tư tưởng của Cụ vẫn trường tồn với thời gian. Một khi đất nước bắt nhịp với thời đại, chắc chắn Cụ sẽ được “hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời”*. Cụ cũng sẽ được nhắc đến như một trong những người từng tiên phong chỉ lối ra khỏi khủng hoảng.
Nói cho công bằng, lịch sử Việt Nam đương đại có chuyển động, dù chậm chạp. Đà chuyển động ấy đáng được hoan nghênh, tuy còn khoảng cách với sự đón đợi. So với những Trần Xuân Bách, Trần Độ và các nhà hoạt động khác dấn thân cho tương lai dân chủ của đất nước, số phận tướng Nguyễn Trọng Vĩnh không đến mức bi kịch.

Niềm nuối tiếc nhức nhối

Không bi kịch nhưng Cụ vẫn luôn tự vấn và day dứt cho đến cuối cuộc đời vắt ngang hai thế kỷ. Nhớ mãi những lần đến thăm Cụ tại nhà riêng và bệnh viện. Lúc bấy giờ nói chuyện đã khó khăn, nhưng Cụ vẫn nắm chặt tay, ra hiệu với chúng tôi phải đấu tranh không khoan nhượng; vì an ninh quốc gia, không được để cho các tập đoàn “nước lạ” tham gia đấu thầu xa lộ Bắc Nam…
Thế rồi, cái buổi sáng ngày mồng hai tháng Giêng ấy, tất cả đều chỉnh tề hàng lối trước linh sàng Cụ. Chia sẻ những giá trị nào đó trong tư tưởng của Cụ, đa phần đã ngưỡng mộ và dành cho Cụ những tình cảm kính trọng và quý mến thực sự. Một con người mà Facebooker Lê Hồng Hạnh từng cảm thán, “là Tiên là Phật ở cõi nhân gian đầy nhiễu nhương này”.
Đọc các cuốn sổ tang hôm ấy, càng củng cố trong tôi một niềm nuối tiếc nhức nhối. Dẫu sao, trong những dòng lưu bút ấy đã có rất nhiều tình cảm trong sáng toát lên những khoảnh khắc của hoà hợp, song bên cạnh đấy vẫn không ít những dòng nặng về “diễn” bề ngoài hơn là phản ánh thực chất.
Và liệu qua đám tang hôm ấy, thực sự mọi người đã xích lại được gần nhau bao nhiêu? Ai đã làm cho những con người vốn dĩ là đồng bào của nhau mà có lúc phải đối mặt nhau, thậm chí một bên coi bên kia là thù địch, rồi ngoảnh lưng lại luôn cả với những giá trị mà trong thâm tâm, bản thân họ cũng đồng tình và chia sẻ, nhưng bề ngoài, buộc phải phản bác lấy lệ?
Không thể liệt kê hết danh tính những người tới phúng viếng! Đây là những Đoàn Văn Vươn (Hải Phòng), những Cấn Thị Thêu (Dương Nội), những Lê Trọng Hùng (Truyền hình CHTV)… Kia là Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Xuân Thắng, Uỷ viên Trung ương Đảng Bùi Thanh Sơn (Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao), Trung tướng Lê Hiền Vân (Tổng cục Chính trị), Thiếu tướng Lê Văn Huyên (Cục Tổ chức)…
Và biết bao nhân sỹ, trí thức, đại biểu các cơ quan đại diện trong và ngoài nước, các tổ chức xã hội dân sự, nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục, cựu chiến binh, đồng hương, họ hàng và bà con khối phố…

Giá như bắt được bước sóng

Trong một xã hội dân chủ, “cần ăng-ten” của các nhà lãnh đạo quốc gia lúc này phải bắt được những bước sóng nói trên! Những bước sóng ấy không đến từ “các lực lượng thù địch”. Dù là ai, ở cương vị nào trong xã hội, họ dường như đều có thể chia sẻ và cảm nhận được tấm lòng vì dân, tư tưởng vì Việt tộc của Cụ.
Với đám tang Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, cả Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và nhiều nhà lãnh đạo cao cấp khác đều gửi vòng hoa đến viếng! Điếu văn do Thứ trưởng Thường trực Bùi Thanh Sơn đọc hôm tang lễ đã xác nhận sự cống hiến của Cụ đối với sự nghiệp ngoại giao nói riêng cũng như đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung.
Vì lẽ trên, không hẳn là sự ra đi của các bậc lão thành trung chính, cương trực như Cụ Vĩnh lại khiến những người đang cầm quyền “thở phào nhẹ nhõm”. Do đó, giờ đây chúng ta đã có thể và cần phải nghĩ ra phương cách phù hợp để cùng khai thác di sản của các Cụ.
Từng đốm lửa các Cụ đã nhen nhóm lên trong mỗi góc thiện lương của con người, cớ sao không thổi bùng lên thành ngọn lửa thiêng của chủ nghĩa yêu nước, hun đúc nên trí tuệ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc? Cần biết bao ngọn lửa thiêng ấy đối với Tổ quốc trong những ngày tháng sóng gió hiện nay!
Phong toả toàn quốc đã bước sang ngày thứ hai. Cả nước đang gồng mình chống đại dịch thế kỷ. Con virus quái ác ấy từ đâu đến thì ai cũng biết. Người dân các tỉnh miền Tây đang oằn lưng chống hạn mặn lịch sử đồng bằng Sông Cửu Long, đe doạ mưu sinh của hơn 17 triệu ngư dân và các hộ nghề nông. Đại hoạ ấy do ai gây ra, thiết nghĩ cháu học sinh trung học cũng có thể trả lời rành rẽ.

Đại dịch vẫn “không tha” Biển Đông

Rồi biển đảo và các ngư trường truyền thống của người Việt không chỉ ở Hoàng Sa, Trường Sa mà trên toàn Biển Đông không phút nào thôi bị đe doạ, bị khủng bố, ngay trong những ngày Việt Nam và thế giới đang lo tập trung dập dịch. Trong lúc Covid-19 đang diễn biến phức tạp, Trung Quốc lại tập trận và triển khai nhiều hoạt động mới ở Biển Đông ngay khi ổ dịch Vũ Hán chưa hẳn đã được giải quyết xong.
Và bao câu chuyện đau đầu khác nữa liên quan đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong quan hệ đối ngoại, đối nội với một hàng xóm khổng lồ và hay bắt nạt. Cần lắm lúc này một lời hiệu triệu: “Quân xung phong, nước Nam đang chờ mong tay ngươi!”**
Cho dù ở đây, đức hy sinh là hết sức cần thiết nhưng vẫn chưa đủ! Thế giới “hậu Covid-19” sẽ sớm khởi động quá trình “tái cấu trúc” trật tự quốc tế mới. Nhiều tử huyệt của trật tự cũ lần lượt đang bị phơi bày. Nhiều quan niệm và chuẩn mực truyền thống sẽ bị đảo lộn hoàn toàn. Lúc này rất cần sự tỉnh táo và nhạy bén để tìm ra các giải pháp thông minh. Cái khó ló cái khôn.
Dân tộc này không thiếu các nguồn mạch tạo ra “sức mạnh mềm”. Vấn đề là phải biết tập hợp lực lượng trong hoàn cảnh mới, phải lắng nghe và biết khai mở, đặc biệt từ những công dân tiêu biểu như Nguyễn Trọng Vĩnh, một Lão tướng “còn hơi, còn sức, còn lên tiếng / là muốn quyền uy bớt lỗi lầm”.
Giá như độ tinh nhạy của các lãnh đạo Đảng / Nhà nước / Chính phủ suốt bao năm qua, đặc biệt là 15 năm trở lại đây (từ 2004 - 2019) bắt được làn sóng phát ra từ Cụ và từ biết bao các bậc nhân sỹ trí thức từ Bắc chí Nam thì đất nước đâu đến nỗi khốn khó và khủng hoảng như giờ đây.

Hiện tượng Nguyễn Trọng Vĩnh

Một trong những giá trị làm nên “hiện tượng Nguyễn Trọng Vĩnh” là sự tỉnh táo và sáng suốt bắt kịp những thăng trầm trong số phận của đất nước. Dù giác ngộ và theo Đảng từ năm 1937 nhưng một khi thế cuộc chuyển dịch, Cụ đã sớm nhận chân các xu hướng phổ quát của thời đại, khảng khái chỉ ra “những lỗi hệ thống, sai từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình” (Lời của cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An), và đề xuất phương hướng khắc phục.
Tính tiên phong trong viễn kiến của Cụ rõ ràng vượt qua giới hạn tuổi tác và tư duy quán tính. Có lần đại diện của Thành uỷ Hà Nội đến vấn an Cụ tại nhà riêng, với mục đích vận động Cụ rút tên khỏi Thư ngỏ 61 và khỏi Danh sách 127 nhân sỹ trí thức gửi kiến nghị tới các đại biểu dự Đại hội 12 của Đảng. Cụ không những không rút, mà còn thuyết phục những người cùng đối thoại về tính đúng đắn của các kế sách “chống giặc ngoại xâm và nội xâm” ấy.
Giá như các bậc “công bộc” giờ đây ngồi lại, với các nhà nghiên cứu, các tổ chức xã hội dân sự, cùng nhau rút ra những gì là “ích quốc lợi dân” từ trong hai tập sách của Tủ sách Gia đình: “Kể lại cuộc đời” và “Phải trái sự đời”. Mùa Covid-19 chưa làm được Hội thảo thì sẽ tập trung giới thiệu hai ấn phẩm như là những nén tâm hương nhân 100 ngày Cụ về Trời.
Những người quý mến, ngưỡng mộ Cụ đã lập ra Blog “Di sản Nguyễn Trọng Vĩnh” để có nơi trao đổi những cảm nghĩ và phân tích của mình về cuộc đời cũng như sự nghiệp vẻ vang của Cụ, về các bài viết mà con cháu Cụ đã sưu tầm và tuyển chọn nhân dịp mừng Cụ trăm tuổi, rồi cùng nhau online như một trang mạng xã hội thì hay biết chừng nào!
Cảm ơn nhà báo Tạ Đình Thính đã có mấy dòng cảm thán mộc mạc nhưng đầy ý nghĩa, phản ánh được các cung bậc tình cảm của nhiều người: “Một trăm linh bốn Xuân / Lão tướng chẳng cầu Nhàn / Khơi ngọn lửa Vĩnh Cửu / Để thắp sáng Nhân Gian”.
Cảm ơn nhà văn Phạm Xuân Nguyên đã phác hoạ chân dung Cụ thật tài tình: “Sứ thần tận Trung với nước / Tướng quân tận Hiếu với Dân / Trăm năm vững vàng quắc thước / Xứng danh Người ở cõi Trần”. Vâng, Cụ Vĩnh thật xứng danh và xứng đáng với chữ “Người” viết hoa.

Mềm nắn rắn buông

Là một nhà ngoại giao khoác áo lính và cũng là một người lính mặc áo ngoại giao, Cụ Vĩnh chắc chắn là vị đại sứ đặc mệnh toàn quyền duy nhất của Việt Nam cho đến nay có nhiệm kỳ dài nhất ở sở tại, suýt soát 13 năm. Cụ từng đúc kết một trong những bài học với Trung Quốc là “mềm nắn rắn buông”.
Cụ kể lại cho chúng tôi nhiều câu chuyện khi “nhu” khi “cương” với Tầu. Lúc họ hùng hùng hổ hổ, đập bàn đập ghế, vu cáo trắng trợn và đe doạ ta, Cụ đã phải vận hết nội công kiềm chế để không bị cuốn vào những trò “phi ngoại giao”, dùng những lý lẽ đích đáng “đập” lại họ, buộc họ phải thoái lui.
Nhưng khi cần “cương”, Cụ cũng dám có thái độ cứng rắn, đã “mời” một Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc ra khỏi Đại Sứ quán ta ở Bắc Kinh, khi vị Thứ trưởng ấy đã có thái độ bất lịch sự và những phát ngôn không đúng mực trong đàm phán.
Cuộc thoát trần của Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh giống như ngôi sao băng vừa vụt qua trên bầu trời ảm đạm. Có thể chia sẻ với suy tưởng của GS. Tương Lai: Ngôi sao băng ấy tuy đã tắt nhưng ánh sáng của nó sẽ còn soi rọi mãi tới nhiều thế hệ mai sau!
Tinh thần ấy đã được Giám đốc Trung tâm Minh Triết Nguyễn Khắc Mai tái khẳng định trong bức Trướng viếng hôm tang lễ. Tiếc là không rõ vì lý do gì, bức Trướng ấy không được các lực lượng an ninh cho phép đưa vào đặt trước linh sàng Cụ: “Trọng Độc Lập / Trọng Dân Quyền / Hiếu Trung Rạng Ngời Một Thuở / Vĩnh Biệt Này / Vĩnh Hằng Ấy / Nghĩa Tình Còn Mãi Ngàn Thu”.
*
Để di sản của Cụ sống mãi với thời gian, để các giá trị lâu bền và những định hướng nhất quán của Cụ được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, Blog https: / / disannguyentrongvinh.blogspot.com /  hy vọng nhận được ngày càng nhiều sự hưởng ứng từ khắp cả ba miền Bắc - Trung - Nam và từ những người Việt Nam khắp nơi trên thế giới.
Hãy đọc và cảm nhận hai cuốn sách nóng bỏng tính thời sự, chứa chan lòng yêu nước, thương dân của Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh!
Hãy lan toả những bài viết đầy trí tuệ sắc bén, chứa chan nhân cách sống giản dị và thanh cao, sống động và cuốn hút của Cụ vào xã hội hôm nay, đồng thời truyền cảm hứng ấy cho các thế hệ mai sau, dấn thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì dân chủ, hạnh phúc của Nhân dân./.
Đ.H.T.
_______p

Thêm một số tham khảo:

* và **: “Quân xung phong, nước Nam đang chờ mong tay ngươi, hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời”: Trích từ bài hát “Chiến sĩ Việt Nam”, nhạc và lời của Văn Cao: https://www.youtube.com/watch?v=M0q1d-mC8RA
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 2-4-2020

'VÌ SAO TÔI SỐNG ĐẾN 100 TUỔI MÀ VẪN MẠNH KHOẺ, MINH MẪN ?'

Sách Nguyễn Trọng Vĩnh 

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện xử lý văn bản và đăng mạng

Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết cuốn sách nhỏ: “Vì sao tôi sống đến 100 tuổi mà vẫn mạnh khỏe, minh mẫn” để lại cho con cháu.
Đang mùa dịch virus Tàu, các biện pháp dưỡng sinh và giữ gìn sức khỏe là rất quan trọng. Nhân lễ Bách nhật Cụ, tôi muốn gửi tặng anh chị em nội dung cuốn sách “Vì sao tôi sống đến 100 tuổi mà vẫn mạnh khỏe, minh mẫn” là tên cuốn sách nhỏ xíu, chỉ 24 trang, khổ chỉ bằng chiếc điện thoại.
Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh viết cuốn này khi cụ vừa tròn 97 tuổi, hàng năm cụ đều bổ sung và ghi tuổi cụ ra bìa sách rồi lại in cả ngàn bản để tặng cho con cháu, họ hàng, bạn bè.
Bí quyết cụ sống lâu trình bày trong 4 phần: Tập luyện, Ăn uống, Phòng chống bệnh tật và Sống lành mạnh trong sạch. Cụ giữ nghiêm ngặt giờ ăn: trưa là đúng 11h30; chiều là 18h00, chính xác đến phút. Khi ăn, cụ không nói chuyện. Cụ có thói quen đi bộ. Ở tuổi 90 - 98 vẫn đi bộ mỗi ngày 2 km quanh hồ Kim Liên. Mỗi tuần cụ có 3 buổi sáng đánh tổ tôm với các bạn già, với mục đích để luyện trí nhớ. Lịch này cũng không thay đổi. Cụ theo dõi hết các trận bóng C1, trừ những trận quá khuya.
Cụ đã Hạc thọ 104 tuổi và quy Tiên. Cụ để lại tuổi cho tất cả con cháu và những người quý mến cụ. Miễn là cứ làm theo Cụ chỉ dẫn trong sách, là sẽ được thọ như cụ.

FB Nguyễn Xuân Diện


LỜI TỰ SỰ

Nhà tôi rất nghèo. Từ lúc lọt lòng đến 20 tuổi đi làm được, đều thiếu dinh dưỡng, thời niên thiếu phải lao động cật lực. Đã chết đi sống lại hai lần và một lần ốm cũng suýt chết.
Tôi lọt lòng được 6 tháng thì mẹ tôi mất, tôi sống nhờ “bú mày”, “cơm mớm” cho đến hơn 1 tuổi thì đã chết một lần, sau lại sống lại (bố tôi bảo thế). Tôi lên 3 tuổi thì bố tôi lấy dì ruột tôi, làm mẹ kế nuôi hai anh em tôi. Dì tôi làm thuê cuốc mướn, vẫn nghèo, ăn uống kham khổ. Không có ruộng đất, khi tôi lên 8 tuổi, gia đình tôi đưa nhau ra Bắc kiếm sống (rời quê Thanh Hóa). Bố tôi đi dạy học chữ nho ở tận Kiến An, mẹ kế cùng hai anh em tôi được ở nhờ nhà một người quen ở Hà Nội, ba mẹ con đi xe đất bán cho nhà máy gạch ở đường Cổ Ngư (đường Thanh Niên hiện nay), ngày được hơn 1 hào, có lúc hai anh em tôi (anh Thọ 11 tuổi, tôi 8 tuổi) đi bán bánh mỳ dạo. Ba mẹ con bữa đói bữa no. Có lúc không kiếm được tiền phải đi kiếm các loại rau bờ bụi hoặc rau muối ở ruộng hoang về nấu ăn trừ bữa, có lúc phải lội xuống hồ hái “rau ngổ trâu” về luộc chấm muối ăn, đắng rất khó nuốt. Đến lúc hai anh em tôi đi làm công nhân được mà gia đình vẫn phải chia cơm mà ăn vì thóc cao gạo kém.
Riêng về tôi, lúc tôi lên 9 tuổi, do sưu thuế đốc thúc, bố tôi phải bán tôi làm con nuôi cho một gia đình ở làng Hữu Tiệp (cạnh đường Hoàng Hoa Thám bây giờ) được 6 đồng bạc Đông Dương để đem về làng nộp sưu (thuế thân). Thời gian từ đây đến 15 tuổi được ăn no, nhưng phải lao động cật lực. Vào lúc 9 - 10 tuổi làm các việc không tên trong nhà, khi 11 - 12 tuổi đi cắt hoa các làng xung quanh, đi cắt hàng rổ xảo lá cúc tần tận bên Vạn Bảo, đội về gần sái cổ, hoặc lên tận làng Bưởi, làng Trích Sài, Võng La kiếm hoa mò, hoa súng về cho chủ nhà đem đi bán, có lúc rét căm căm cũng phải lội xuống hồ mới lấy được hoa súng. Đến khi 13 -14 tuổi từ sáng tinh mơ, còn ngái ngủ, tôi đã phải cắp cái rổ đi bộ từ nhà qua đường Cổ Ngư lên các làng Yên Phụ, Nghi Tàm mua hoa hồng rồi vẫn đi bộ đem xuống bờ hồ Hoàn Kiếm để người “cô nuôi” bán và từ đó lại đi bộ về nhà bên đường Hoàng Hoa Thám, chả biết một ngày thằng bé 13 - 14 tuổi phải đi bộ bao nhiêu cây số. Về đến nhà, nghỉ ngơi được một lúc, lại phải giặt một rổ quần áo do cả nhà thay ra. Lúc 3 - 4 giờ chiều đi các làng Ngọc Hà, Đại Yên cắt hoa. Cắt hoa về là nấu nướng bữa cơm chiều, ăn xong là rửa bát. Tối đến làm hoa đến tận 10 giờ đêm mới được đi ngủ. Quãng đời thiếu niên lao động cực nhọc quá!

Khi tôi được 15 tuổi, bố tôi mới kiếm đủ tiền đến chuộc tôi đem về quê cho đi học. Thời gian đi học rất thiếu dinh dưỡng, toàn ăn cơm với muối rang hoặc váng cà, ngày nghỉ xuống sông Mã câu được dăm con cá bống thì cải thiện được vài bữa. Có lúc bố tôi chậm gửi tiền về, hết gạo, đi học về qua nhà dì xin được đấu gạo nấu cháo ăn được vài bữa. Thôi học ra, Hà Nội đi làm, vẫn có lúc phải ăn đói.
Năm 1940, tôi bị thực dân Pháp bắt đầy lên Đắc Tô (Kontum) lúc ấy còn là rừng già rậm rạp, là ổ muỗi Anophen. Tôi bị sốt rét ác tính, thiếu thuốc, bị hôn mê, mắt trực thị ba ngày đêm. Các bạn tù một mặt chăm sóc, mặt khác đã lấy lồ ô về đóng quan tài sắp đem chôn. May sao tôi lại tỉnh lại và sống. Sau tôi nói đùa với anh em là tôi đi đến nửa đường âm phủ, gặp quỷ sứ nó đuổi về.
Khi tôi làm Đại sứ nước ta ở Bắc Kinh, tôi bị ốm, nằm bệnh viện Trung Quốc một tháng, họ cũng làm mọi thứ, xét nghiệm máu, rửa ruột mấy lần, chụp chiếu đủ thứ mà không tìm ra nguyên nhân, cho uống cả thuốc Bắc và thuốc Tây mà không khỏi, vẫn chỉ kết luận là tim đập nhanh “đậu tính” (150 lần/1 phút) và sốt nhẹ. Sau một tháng tôi sút 10 kg, chân tay lẩy bẩy, gầy rộc, xanh xao. Các đồng chí ở Sứ quán đã bàn là nếu Đại sứ chết thì chôn ở Bắc Kinh hay đem thi hài về nước. Tôi nghĩ cứ nằm viện nữa thì suy sụp thêm, chắc chết nên xin về Sứ quán điều trị ngoại trú. Vì có đôi chút kiến thức Đông y, tôi cho rằng không phải mắc bệnh lao mà chiều nào cũng sốt 38 độ, chắc phải có viêm nhiễm ở đâu đó trong cơ thể, bèn nhờ đồng chí phiên dịch ra hiệu thuốc mua ba vỉ kháng sinh thực vật là bồ công anh, kim ngâu hoa, liên kiều bỏ thêm vào thang thuốc lấy ở bệnh viện về sắc uống. Quả nhiên ba ngày sau hết sốt. Tôi điện về nước xin cho kết thúc nhiệm kỳ về nước, nhỡ có chết đỡ phức tạp.
Về nhà, tôi uống hết hai hộp tam thất bột Vân Nam mà tôi mua đem về và ăn cơm gạo lứt hai tháng thì sức khỏe hồi phục, tôi lại làm việc được và sống đến nay 97 tuổi mà vẫn khỏe mạnh, minh mẫn. Bản thân tôi cũng không nghĩ tới.
Bạn bè hỏi tôi có “bí quyết” gì? Không biết có phải “bí quyết” hay không, tôi xin trình bày thực tế như sau:

I – TẬP LUYỆN

Tôi tập thể dục đều đặn tùy theo tuổi và vừa sức là đi bộ, hiện nay tôi vẫn đi bộ mỗi ngày một cây số, đồng thời tập thể dục cả bộ não (không tập thì não chóng lão hóa): đọc sách báo, vừa viết bài, làm thơ, một tuần vài ba lần mới các cụ đến chơi “tổ tôm” để bắt óc phải suy nghĩ. Thường xuyên uống thuốc tuần hoàn não, loại chiết xuất từ lá cây bạch quả như O.P.Can, hatacan, tanakan, cesbral, ginkobiloba… không phải “tuần hoàn não Thái Dương”, đắt mà ít hiệu quả.

II – ĂN UỐNG

Thông thường tôi ăn đúng giờ giấc (trưa 11h30, tối 18h00), điều độ không no hẳn; bữa nào cũng có đạm, có rau, không cầu kỳ, khi thịt, khi cá, khi đậu phụ, ăn cá nhiều hơn. Cuối bữa có hoa quả, thường là chuối. Quả chuối được gọi là “quả của cuộc sống” vì nó chứa kali, phốt pho, ma nhê, sắt, vitamin A, C và 8 acidamin thiết yếu.
Tôi ăn gạo lứt, vừng đen hơn mười năm nay. Gạo lứt chứa rất nhiều vitamin và có chất selen là chất có tác dụng hãm chậm lão hóa vì nó khử chất mà y học gọi là “gốc tự do” chất phá hoại tế bào. Nấu cơm gạo lứt phải cho nước nhiều gấp bội so với nấu gạo thường. Vừng đen có tác dụng dưỡng huyết, ích gan, nhuận trường, bổ não. Vừng đen rang giã nhỏ, trộn muối, bỏ vào lọ ăn dần. Cuối bữa ăn, để lại độ một miếng cơm trong bát, rưới vài ba giọt nước mắm vào, đổ một thìa đầy vừng đen vào, trộn đều, xúc ăn.
Đọc các báo và tạp chí nói về sức khỏe cho biết ăn uống có đủ các chất và thành phần sau đây là thuốc trường sinh, tôi cố gắng thực hiện:
Vitamin E tác dụng kéo dài đời sống hồng cầu, củng cố thành mạch, hạ huyết áp, chống tập kết tiểu cầu tốt cho bệnh tim, chống “gốc tự do” hãm chậm lão hóa, chậm phát triển lú lẫn… Vitamin E có trong: giá đỗ, hành tây, vừng, lòng đỏ trứng gà, thịt vịt, bí đỏ, rau diếp, lá hẹ.
Selen có tác dụng khử “gốc tự do”, hãm chậm lão hóa, kéo dài tuổi thọ. Selen có trong: lòng đỏ trứng gà, gạo lứt, củ cải trắng, tỏi ta, nghệ vàng, thịt nạc, tôm nước ngọt…
Beta-Caroten có tác dụng cung cấp dinh dưỡng và các chất khoáng, lycopen; khử “gốc tự do”, kéo dài tuổi thọ. Beta-Caroten có trong: cà rốt, gấc, bí đỏ, cà chua, đu đủ chín, rau ngót, mồng tơi, rau đay, rau dền, dưa hấu.
Vitamin C có tác dụng tăng cường sức đề kháng, chống nhiễm khuẩn, tốt cho răng lợi, chống chảy máu chân răng, củng cố thành mạch, chống oxy hóa. Vitamin C có trong rau ngót, rau thơm, chuối, chanh, cam, quýt, bưởi…
Canxi có tác dụng chống lão hóa xương, bền răng, có trong tôm, cua, nghêu, sò, ốc, hến…
Lycopen có tác dụng ngừa bệnh tim, giảm loãng xương, chống “gốc tự do” kéo dài tuổi thọ, giảm nguy cơ Parkison. Lycopen có trong cà chua…
Kẽm cũng rất cần thiết cho cơ thể, kẽm có trong giá đỗ, đậu hạt, đồ biển…
Chè xanh (phân biệt với chè đen và chè hồng) chè tươi càng tốt. Nhóm bác sĩ Nhật Bản phát biểu: “Uống chè có 10 điều tốt”. Người khó ngủ không nên uống chè vào buổi chiều và buổi tối. Sau này khoa học phân tích còn cho thấy thêm chè xanh chứa fluo, polyphenol, nhiều lượng kẽm, có hai chất EGC và EGCG nó hạn chế phân tử Aryl là chất gây ung thư. Chè xanh có chất anti oxidant kéo dài tuổi thọ, chè xanh có tác dụng tốt hưn vitamin C nhiều, toosst hơn vitamin E rất nhiều trong việc bảo vệ tế bào, chống viêm lợi, sâu răng, làm hơi thở không mùi, giải độc, giải rượu, giảm nhiễm xạ.
Đánh răng buổi tối rồi ngậm nước muối 1,6% trong 5 phút tốt cho răng lợi và không hôi miệng, nước muối 0,9% chỉ xúc miệng không đủ diệt khuẩn.

III – PHÒNG, CHỐNG BỆNH TẬT

Định kỳ đi khám bệnh toàn diện để nếu phát hiện bệnh thì chữa trị kịp thời.
Tự theo dõi cơ thể mình, vì người ta mỗi người một khác, thức ăn uống có thứ tốt với người này lại không tốt với người khác, thuốc men có người uống khỏi bệnh, có người uống không khỏi. Có thời gian tôi bị viêm đại tràng, bác sĩ bảo phải kiêng trứng, kiêng mỡ, kiêng các chất cay, nóng, nhưng tôi ăn trứng và thịt mỡ không thấy việc gì, ăn hạt tiêu thấy không làm sao, nhưng ăn ớt là đau, ăn pate, đồ hộp, uống rượu là đau. Thế là hai năm tôi kiêng tuyệt đối rượu, ớt, pate, đồ hộp và khỏi bệnh hẳn. Kết luật là cái gì không thích ứng với cơ thể mình thì thải ra. Chủ yếu là phải tuân theo thực tế của cơ thể mình. Có lần tôi bị loạn nhịp tim, 3 nhịp nghỉ 1 nhịp, 7 lần nghỉ 1 nhịp, 11, 15 nghỉ nhịp loạn xạ, rất mệt. Đi khám, giáo sư cho Vastarel, Cordaron, tôi uống hết liều không khỏi, tôi hỏi có thuốc gì đặc hiệu, đắt mấy tôi cũng xin mua, giáo sư nói hiện tại không có thuốc nào hơn.
Vốn có nghiên cứu Đông y, tôi tự kê cho mình đơn thuốc gồm: Tam thất 10g, Đan sâm 12g, Diên hồ sách 12g, Sơn tra 12g, Sài hồ 10g, Mộc nhĩ đen 5g, Đại táo 5 quả. Sắc uống 8 thang tôi khỏi hẳn, mạch tôi đều đặn cho đến bây giờ. Bình thường huyết áp tôi không cao (khoảng +- 130/70) nhưng có lần đang ngồi chơi bỗng thấy người nôn nao khó chịu, tôi nằm nghỉ đo huyết áp thấy tăng đột ngột 122/110, tôi lấy 1 viên Adalat trữ sẵn cắn ra nuốt đi ½ và nằm thở đều, 1 giờ sau thì bình thường lại. Từ đó, đầu gường tôi bao giờ cũng sẵn có Adalat và Nitroglycerin, đi đâu trong túi tôi cũng có 1 viên Adalat và 1 viên Nitroglycerin. Có lần đang đi ở phố Tràng Tiền, bỗng tôi lại có cảm giác như nói trên, tôi ngồi ngay xuống lấy ra 2 viên thuốc trong túi bỏ vào miệng 1 viên nuốt khan, 1 viên cắn vỡ nuốt một nửa. Ngồi nghỉ khoảng 30 phút, lại đứng dậy đi.
Hiện giờ hàng ngày tôi uống 1 viên Aspirin 0,81 phòng nhồi máu cơ tim.

IV – SỐNG LÀNH MẠNH VÀ TRONG SẠCH

Tôi đã chừa thuốc lá được hơn nửa thế kỷ đến nay. Không uống rượu trắng và rượu mạnh, khi có điều kiện thì uống rượu vang vì rượu vang tốt cho tim.
Có lúc cắt thuốc bổ ngâm rượu thì cũng uống mỗi bữa ăn một ly.
Nhà nước, Đảng điều động làm công tác nào là cầm quyết định đi, không nghĩ công tác khó khăn hay dễ, không so đo vị trí công tác mới lương cao hay thấp. Đương ở quân đội hệ số lương có thể cao lại có thâm niên được điều ra công tác ngoài quân đội lương sẽ thấp hơn, tôi cũng sẵn sàng.
Từ năm 1960 đến năm 1980, 20 năm không ai quản và xét, tôi vẫn đứng ở bậc lương cũ, tôi cũng không có ý kiến gì.
Đến khi làm Đại sứ ở Bắc Kinh, anh em ở Sứ quán phát hiện báo cáo về nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mới nâng cho tôi lên chuyên viên 9, ngang lương Bộ trưởng lúc bấy giờ.
Tính trung thực thẳng thắn, thấy việc gì tôi cho là không đúng, tôi cãi cả với đồng chí Lê Đức Thọ, phê bình cả Tổng bí thư. Suốt đời tôi chưa sai hẹn, thất hứa với ai bao giờ.
Trong quá trình công tác, tôi thường được giữ những vị trí chủ chốt không thấp, có quyền quyết định chi tiêu, nhưng không hề lạm dụng công quỹ cho việc riêng. Đọc báo biết ai khốn khó tôi đều gửi tiền chia sẻ, của ít lòng nhiều.
Sống đúng với lương tâm của mình, nên tôi cảm thấy rất thanh thản. Có lẽ đây cũng là một nguyên nhân khiến tôi sống lâu./.

Hết.


Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

20200403. BÀN VỀ GIẢI PHÁP CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

ĐIỂM BÁO MẠNG
CHUYỂN NƯỚC TỪ MIỀN ĐÔNG SANG MIỀN TÂY ĐỂ CỨU ĐBSCL ?
THÀNH LUÂN/ BVN 28-3-2020
Chuyen nuoc tu mien Dong sang mien Tay de cuu DBSCL?
Một con kênh ở ĐBSCL cạn khô do hạn hán, xâm mặn. Ảnh: Công an TP.HCM

ĐBSCL cần chương trình ngọt hóa đúng nghĩa. Phải tính đến chuyện chuyển nước từ miền Đông sang miền Tây bằng các đường dẫn nước...
ĐBSCL đang trải qua đợt hạn mặn được coi là gay gắt nhất trong lịch sử. Năm 2016, nước mặn lần đầu tiên tiến tới cảng Cái Cui (Cần Thơ) - cách cửa biển Trần Đề (Sóc Trăng) trên 100km, các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long nước mặn mới vào tới trung tâm tỉnh lỵ thì năm nay, tình hình trầm trọng hơn nhiều.
Hiện nước mặn đã ảnh hưởng đến 10/13 tỉnh ở khu vực ĐBSCL, nhiều tỉnh trong vùng đã phải công bố tình huống khẩn cấp do xâm nhập mặn trên địa bàn.
Theo dự báo của Bộ NN-PTNT, tình trạng hạn mặn năm 2020 sẽ khiến khoảng 130.000 ha cây ăn trái bị ảnh hưởng và khoảng 150.000 hộ dân bị thiếu nước sinh hoạt tại khu vực ĐBSCL.
Thiếu nước, cách người dân vượt qua tình cảnh khốn khó hiện tại là đợi chờ nước ngọt cứu trợ hoặc phải đi mua với giá cao.
Tuy nhiên, theo chuyên gia, những biện pháp này không thể giải quyết được tình hình khi độ mặn xâm nhập đã vượt mức kỷ lục năm 2016.
Theo GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi (nay là Bộ NN-PTNT), hiện vẫn chưa phải cao điểm của hạn năm nay, việc xây thêm cống ngăn mặn ở biển là biện pháp tốn kém nhưng không hiệu quả. Trong khi đó, lượng nước ngọt từ thượng nguồn về đến các nhánh sông Cửu Long bị đứt đoạn là do các nước phía trên thượng nguồn xây đập thủy điện gây tác động tới dòng chảy.

Điều này khiến cho nguồn nước ngọt tại khu vực ĐBSCL hiện chỉ có thể trông chờ vào lượng mưa tự nhiên. Hơn bao giờ hết, điều mà khu vực này cần là một chương trình ngọt hóa đúng nghĩa để người dân có nước sinh hoạt, hoa màu cây trái có nước tưới tiêu.

"Mỗi năm, cả nước cần tới hơn 500 tỷ m3 nước ngọt. Nguồn nước trong nước chỉ đáp ứng được 300 tỷ m3 tính theo lượng mưa và phân bổ trên tất cả các hồ, sông, suối của cả nước. Tuy nhiên, điểm khó khăn của khu vực ĐBSCL là nơi đây không có nhiều hồ chứa để dẫn nước về.
Vì thế, chiến lược ngọt hóa dài hạn cần phải tính đến chuyện chuyển nước từ miền Đông sang miền Tây bằng các đường dẫn nước, đồng thời phải xây dựng các hồ trữ nước ngọt đạt chuẩn. Như vậy mới là ngọt hóa đúng nghĩa", GS.TS Vũ Trọng Hồng nói.
Theo nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, chiến lược ngọt hóa đã có từ năm 1996 nhưng chưa được thực hiện do quan điểm cho rằng không cần ngọt hóa, cứ để nông dân làm, lấy nước ngầm lên tưới.
Tuy nhiên, do người dân trồng trái vụ, trái loại giống và trái đất nhiều quá: đem na, sầu riêng Thái Lan về trồng trái mùa, lúa đông xuân làm vụ muộn..., lại cứ khoét nước tưới nên cây bị hai tầng: tầng trên không có nước để tưới, tầng dưới thì hút mặn lên.
Bởi vậy, cả trăm nghìn ha cây ăn trái bị ảnh hưởng không phải hoàn toàn do thiếu nước mà bị mặn hút lên, cái mặn ấy sinh do người dân hút nước nhiều quá làm tầng nước ngọt bị mất đi. Điểm này, theo GS Hồng, có lỗi của cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi, thủy văn không thông báo, tuyên truyền đầy đủ cho người dân.
Mặt khác, theo quy luật sức hút giữa mặt trăng và trái đất, vào những thời kỳ khi mặt trăng gần trái đất, thủy triều sẽ dâng cao hơn, tiến sâu vào đất liền. Chúng ta phải trồng rừng ngập mặn là để cản dòng chảy tiến vào. Tuy nhiên, thời gian qua, rừng ngập mặn bị phá đi khiến nước mặn tiến sâu vào đất liền hơn.
Một điểm khác, theo GS Hồng, đây là sai lầm lớn về chiến lược thủy lợi khi bỏ đi chỗ chứa nước. Trước đây, khi có Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên chứa nước, nó đẩy nước mặn ra nên vào mùa nước mặn, ĐBSCL không gặp vấn đề gì.
Trước tình hình hạn mặn nghiêm trọng như hiện nay, GS.TS Vũ Trọng Hồng cho rằng không thể chần chừ chương trình ngọt hóa được nữa. Các nước tính ra mất cả trăm năm mới dẫn được nước, như Trung Quốc dẫn nước từ phía nam lên phía bắc, làm suốt mấy chục năm vẫn chưa xong.
"Hỗ trợ tiền, cứu trợ nước ngọt là không đủ. ĐBSCL có hàng loạt hệ thống thủy lợi lớn nhưng tỉnh nào biết tỉnh ấy, phải nối các kênh tưới nước từ tỉnh nọ sang tỉnh kia. Trong khi chờ đợi chiến lược ngọt hóa lâu dài thì phải nối bằng các công trình tạm, có thể là các đường ốp tôn để đưa nước ngọt tới cho người dân.
Muốn vậy, phải có cơ sở dữ liệu tính toán thủy văn, thổ nhưỡng chịu được mặn bao nhiêu, nguồn nước ngọt có bao nhiêu..., từ đó tính toán đường dẫn, nghiên cứu giống cây chịu mặn...
Phải có người tiên phong. Mỗi hệ thống phải có một công trình mẫu do một doanh nghiệp làm theo công nghệ 4.0 và có sự hỗ trợ của Chính phủ. Khi thử nghiệm mới có số liệu để đưa ra lời khuyên cho cả vùng đó dùng nước thế nào", GS.TS Vũ Trọng Hồng chỉ rõ.

T.L.


ĐÂU LÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TỐT NHẤT CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ?
NGUYỄN TRƯỜNG/ VN/ BVN 30-3-2020


Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 47% diện tích đất lúa của cả nước, không chỉ đảm bảo về an ninh lương thực mà còn đóng góp 90% lượng gạo xuất khẩu của nước ta, và cũng là nguồn chủ lực xuất khẩu thủy sản và trái cây của cả nước. Từ ngàn đời nay, hàng năm con sông Mekong vẫn cần mẫn chuyên chở khoảng 500 tỷ mét khối nước, mang theo hàng triệu tấn phù sa màu mỡ bồi đắp tạo nên đồng bằng trù phú này. Nhưng nay Đồng bằng sông Cửu Long đang bị hạn, kiệt, nước biển xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng, tác động lớn đến cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Nam bộ.
Báo Văn nghệ đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Tô Văn Trường, chuyên gia độc lập tài nguyên nước và môi trường, nguyên Viện trưởng Viện quy hoạch thủy lợi miền Nam xung quanh vấn đề nói trên.
* Ông đánh giá thế nào về tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay? So với những năm trước, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn năm nay có gì khác?
- Hạn, kiệt, mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thường xuất hiện vào các năm có cực đoan về khí hậu, thời tiết. Minh chứng, một số mùa khô có mức độ hạn, kiệt, mặn nặng nề ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống ĐBSCL như 1977-1978, 1997-1998, 2015-2016 và nay là 2019-2020 đều do cực đoan khí hậu, thời tiết gây ra. Phân tích chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn từ 1975 tới nay, cho thấy: thời gian, cường độ và tần suất hoạt động của các cực đoan khí hậu, thời tiết ở Việt Nam nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung (trong đó có lưu vực sông Mekong) có xu thế gia tăng rõ rệt. Bởi vậy, mức độ hạn, kiệt, mặn trên ĐBSCL cũng ngày càng gia tăng cả về thời gian, không gian, cường độ, tần suất cùng với những thiệt hại kinh tế môi trường kèm theo do chúng gây ra.
Nước mặn trên các sông năm nay cho đến hiện tại cơ bản tương tự và cao hơn chút ít so với năm 2016. Tuy nhiên thiệt hại (tính đến đầu tháng 3) cho thấy năm nay thấp hơn rất nhiều so với đợt hạn mặn năm 2015-2016. Ví dụ lúa mùa và đông xuân (2019-2020) bị thiệt hại trên 30% chỉ là 39.000 ha, chiếm 1,2% so với tổng diện tích gieo trồng và 9,6% so với diện tích thiệt hại năm 2015-2016; Số hộ dân thiếu nước sinh hoạt khoảng trên 95 ngàn hộ so với 210 ngàn hộ năm 2016. Kết quả này nhờ sự chủ động thích ứng của người dân Nam bộ, bên cạnh việc sử dụng hiệu quả một số công trình thủy lợi (kể cả đẩy mạnh hòan thành sớm tiến độ một số cống kiểm soát mặn) thì yếu tố quan trọng nhất là sự chỉ đạo sát sao của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn và các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long từ việc cung cấp thông tin cảnh báo sớm để điều chỉnh lịch gieo trồng, thậm chí hạn chế các diện tích lúa muộn để tránh mặn vv...
 Đồng ruộng tại Đồng bằng sông Cửu Long nứt nẻ trong hạn mặn

- Có thể nói nguyên nhân chính đủ sức gây ra hạn-kiệt-mặn ở ĐBSCL là vào các năm có cực đoan khí hậu, thời tiết; cường độ cực đoan càng mạnh, thời gian cực đoan càng kéo dài, không gian cực đoan càng mở rộng thì thiệt hại kinh tế - môi trường càng lớn. Ngoài nguyên nhân chính thống, còn có các nguyên khác phụ trợ khác tham gia tạo ra hạn, kiệt, mặn trên ĐBSCL như tác động của thượng nguồn, biến động môi trường mặt đệm lưu vực, mức độ gia tăng dùng nước trong sản xuất và đời sống…
* Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL hiện nay là gì thưa ông?
Như vậy: Có nhiều nguyên nhân, tuy nhiên các nguyên nhân chính bao gồm: 1/ Lượng nước vào ĐBSCL các tháng cuối mùa mưa năm 2019 và các tháng đầu năm 2020 thấp hơn bình quân nhiều năm; 2/ Lượng mưa các tháng cuối mùa mưa năm 2019 cũng thấp hơn trung bình nhiều năm làm cho thế cân bằng giữa nước mặn và nước ngọt có xu hướng dịch vào sâu trong đất liền (đó là quy luật tất yếu); và 3/ Nguyên nhân chủ quan vẫn là việc sản xuất nông nghiệp chưa chuyển đổi đáng kể cho nên lượng nước sử dụng vẫn còn lớn gây áp lực lên nguồn nước.

* Có phải Trung Quốc đã xây dựng 8 đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong, cùng với Lào, Thái Lan, và Campuchia cũng xây đập thủy điện là nguyên nhân đang làm cạn kiệt dòng nước và phù sa đổ về Đồng bằng sông Cửu Long? 
- Hệ thống đập thủy điện phía Trung Quốc cho dù có là mấy đập, tổng dung tích có là bao nhiêu đi nữa, thì dòng chảy năm nguyên trạng qua mặt cắt Chiang Sian trở lên đến thượng nguồn sông Mekong chỉ chiếm khoảng 18% dòng chảy năm nguyên trạng sông Mekong qua mặt cắt cửa đổ Kratie, song lượng phù sa sông Mekong qua mặt cắt Chiang Sian chiếm bao nhiêu so với lượng phù sa của sông Mekong qua mặt cắt đỉnh châu thổ sông Mekong (Kratie) thì không có chuỗi số liệu thống kê để phân tích đánh giá, kể cả lúc nguyên trạng lẫn sau khi đã lần lượt có các đập thủy điện phía Trung Quốc.
Phù sa sông Mekong được sản sinh nhiều nhất và tập trung nhất là trong hai đoạn sông tích lũ liên hợp lớn nhất của sông Mekong, đó là Vientiane-Pakse và Pakse-Kratie. Hai đoạn sông này nằm trọn vẹn trong trung tâm mưa sinh lũ của lưu vực sông Mekong, là khu vực mà tổng cả tả ngạn và hữu ngạn của hai đoạn sông này có tới 21 phụ lưu lớn được bao phủ bởi nhiều cánh rừng già rộng lớn, nhiều cao nguyên và thung lũng mênh mông, đây chính là quê hương của phù sa sông Mekong cung cấp nguồn phù sa chủ yếu nhất cho ĐBSCL.
Lũ xẩy ra lớn tại một trong hai đoạn sông này đều có khả năng gây ra lũ ĐBSCL, nếu cùng xẩy ra lũ lớn trên hai đoạn sông này thì lũ ĐBSCL cũng sẽ lớn, thậm chí là rất lớn. Do vậy, cần theo dõi quá trình Lào phát triển hệ thống đập thủy điện trên hệ thống sông nhánh và trên sông chính Mekong thuộc khu vực hai đoạn sông liên hợp vừa nêu, chúng sẽ chi phối nhiều hơn đến dòng chảy và phù sa sông Mekong về ĐBSCL. Đấy là chưa kể nguy cơ lớn nhất cho đồng bằng sông Cửu Long là Campuchia xây công trình kiểm soát nguồn nước ở Biển Hồ và đập thủy điện Sambo sát nách Việt Nam.
Số liệu thủy văn các trạm chính dọc sông Mekong nhất là các trạm chủ chốt (Chiangsian, Vientiane, Pakse, Kratie,..) chỉ có mực nước là khá đồng bộ, còn lưu lượng và phù sa thì quá lỗ chỗ, trạm có, trạm không, lúc có, lúc không, vì vậy phân tích tính toán chúng có hệ thống, có logic theo thời gian và không gian là vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là không thể. Vì vậy, hệ thống đập thủy điện đã có tại Trung Quốc và Lào giữ lại bao nhiêu phù sa, còn bao nhiêu phù sa chảy về ĐBSCL so với nguyên trạng là vấn đề khó khăn. Đó là chưa kể phù sa sông ngày càng giảm sút khi rừng bị khai thác kiệt quệ dần trên bề mặt lưu vực sông Mekong.
Chúng ta lo lắng hệ thống thủy điện thượng nguồn sông Mekong phát triển vượt quá sức chịu đựng của “hệ thông sinh thái sông ngòi” là rất có trách nhiệm. Song lo đến mức sông Cửu Long cạn kiệt  nước trong mùa khô, chỉ còn tí ít phù sa vào mùa lũ qua mặt ngang Tân Châu (sông Tiền) và Châu Đốc (sông Hậu) là cái lo thái quá, dẫn đến có tác giả viết với ngôn từ “căng như dây đàn” về vấn đề thủy điện thượng nguồn sông Mekong thì không có lợi cho ta làm việc một cách khoa học, chân lý, thuyết phục... các nước bạn trong lưu vực Mekong cùng có trách nhiệm chia sẽ quyền lợi về tài nguyên nước, phù sa và thủy sản để cùng nhau phát triển theo nguyên tắc quản lý lưu vực sông.

* Dự báo tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn thời gian tới ở ĐBSCL như thế nào? Theo ông, đâu là những giải pháp tốt nhất cho ĐBSCL?
- Hiện nay ngành khí tượng thủy văn và ngành thủy lợi có đủ cơ sở nhân lực, vật lực, trí lực (mạng lưới trạm quan trắc, máy móc quan trắc, đội ngũ cán bộ khoa học, hợp tác quốc tế, các phương pháp dự báo,..) đảm bảo làm tốt công tác dự báo lũ lụt, hạn, kiệt, mặn ở ĐBSCL. Quy luật khí hậu nhiệt đới gió mùa xứ sở châu Á đã ấn định quy luật mùa khô-kiệt trùng mùa gió Đông Bắc (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau), mùa mưa lũ trùng mùa gió Tây Nam (tháng 5 đến tháng 11) diễn ra trên ĐBSCL hàng năm. Trong mùa khô- kiệt, thường tổ hợp hạn, kiệt, mặn tác động mạnh nhất đến sản xuất và đời sống vào khoảng thời gian từ 15/2 đến cuối 15/4 (tùy từng năm). Vậy trong hơn hai tháng đó, ĐBSCL sẽ phòng chống hạn-kiệt-mặn căn cơ như thế nào khi có cực đoan thời tiết, khí hậu kết hợp với các tác động phụ khác xẩy ra?
Trước hết, phải làm thật tốt chuyền đổi một cách căn cơ lâu dài cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi theo phương châm tiết kiệm nước, ít dùng nước, thích hợp trên cả ba vùng ngọt, lợ, mặn của ĐBSCL. Phát động phong trào toàn dân tham gia chống hạn, kiệt, mặn ĐBSCL bằng phương pháp tích trữ nước hợp lý như bồn chứa, bể chứa, ao hồ và đầm lầy nhỏ gần nhà hoặc trong thôn xã. Các tỉnh trọng điểm mặn ĐBSCL có thể làm việc với Tổng công ty cấp nước Cần Thơ là đơn vị có thể cấp nước sạch với khối lượng lớn bằng đường ống dẫn đến các điểm trung tâm hạn, mặn, kiệt ở miền Tây. Từ các điểm trung tâm này, dùng các phương tiện xe bồn vận chuyển nước đến các cụm cộng đồng dân cư tiếp nhận. Về lâu dài, nếu thấy hiệu quả. Chính phủ cần hình thành dự án mang tính chiến lược mở rộng quy mô nói trên đủ khả năng tham gia phòng chống hạn, kiệt, mặn cực đoan ở một số tỉnh trọng điểm ĐBSCL.
Xây dựng hệ thống cống điều khiển dòng mặn, ngọt thích hợp cả đầu ra và đầu vào trên hệ thống kênh trục, sông nhánh phụ, sông cụt... biến lòng dẫn của chúng thành hệ thống hồ chứa nước hoạt động “lưu động theo thời gian và nhịp điệu của từng con triều” để bẫy triều, kiểm soát mặn, tích ngọt. Hệ thống này chỉ hoạt động trong thời gian cao điểm mùa khô nói trên, mùa mưa mở toang hết các cửa cống điều khiển cả đầu ra và đầu vào trở lại thông thương bình thường.
Không nên đào hồ tích nước quy mô lớn trên ĐBSCL, vì hồ miền Bắc và miền Trung xây đắp tích nước ở khu vực cao rồi làm kênh dẫn nước về vùng hạn-kiệt-mặn. ĐBSCL địa hình thấp, bằng phẳng, đất chua phèn, đào hồ siêu lớn có cao trình dưới – (3-4m) để tích nước sẽ bốc hơi, thấm dọc và thấm ngang theo quy luật rút dần đến kiệt của dòng chảy hệ thống sông kênh, vả lại quỹ đất ĐBSCL là không thể lãng phí thêm vì đã có hệ thống sông kênh dầy đặc, vì địa chất ĐBSCL là trầm tích dy nhiều lớp sẽ làm nước hồ nhiễm mặn, chua phèn và tích tụ chất độc của sản xuất và đời sống dồn vào.
Về dự báo cụ thể năm 2020, xu hướng ranh mặn/ ngọt dịch sâu hơn vào đất liền sẽ còn tiếp tục trong tháng 3 nhưng sang tháng 4 tình hình này có thể giảm. So sánh tình hình mặn năm 2016 và 2020 thì thấy các giải pháp “phi công trình” có hiệu quả đặc biệt, vì vậy cần một lần nữa nhìn nhận việc phát triển “dựa vào tự nhiên” theo tinh thần nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017 của Chính phủ là rất quan trọng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng với các tỉnh cần mạnh dạn rà soát quy hoạch các hệ thống thủy lợi để điều chỉnh theo hướng “tận dụng lợi thế của thiên nhiên” hơn là “chế ngự thiên nhiên”. Các dự án nào đúng trong quá khứ nhưng không còn phù hợp với tiếp cận mới cần phải điều chỉnh hoặc hủy bỏ nếu cần thiết. Cân đối diện tích lúa có nhu cầu sử dụng nước cao.
Cần theo dõi diễn biến nguồn nước cuối mùa mưa (từ tháng 9 và 10) hàng năm để có kể hoạch sản xuất và trữ nước ngọt. Lâu dài để phục vụ dân sinh nên có kế hoạch xây dựng hệ thống dẫn nước ngọt từ An Giang - Đồng Tháp về cung cấp cho các nhà máy nước ở vùng mặn.
Quản lý khai thác sử dụng nước ngầm hiện nay cần cải thiện. Nước mặn cần được thực sự là tài nguyên chứ không phải là nguy cơ và thuật ngữ “xâm nhập mặn” cũng cần sử dụng một cách cân nhắc như là sự ứng xử công bằng với nước mặn. Khái niệm kiểm soát mặn thay cho ngăn mặn cần phải biến thành hành động thực tế. Ngay cả nuôi tôm nước mặn, tùy theo thời kỳ sinh trưởng vẫn cần có ngước ngọt để  pha loãng đạt độ mặn thích hợp. Nước ngọt ngày càng khan hiếm, suy cho cùng vẫn là tài nguyên quý giá nhất cho cả sinh hoạt và sản xuất.
Các ngành kinh tế dựa trên nền nước mặn (hoặc mặn/ngọt luân phiên) đang tạo cho người dân nhiều cơ hội hơn. Nhà nước ưu tiên hỗ trợ người dân trước hết về nguồn nước phục vụ sinh hoạt đồng thời hỗ trợ phát triển sinh kế giúp cho người dân được tham gia vào chuỗi giá trị mộ cách công bằng và hiệu quả.
* Xin cảm ơn ông.
Nguồn Văn nghệ số 13/2020