Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

20190905. NĂM HỌC MỚI VÀ NHỮNG NỖI LO

ĐIỂM BÁO MẠNG

MẢNH ĐẤT GIÁO DỤC ĐANG RẤT... MÀU MỠ

THANH AN/ GDVN  3-9-2019

Hiện cả nước có tới hơn 20 triệu học sinh, sinh viên và hơn 1 triệu giáo viên đang học tập và giảng dạy trong các nhà trường.
Việc học tập không chỉ đối với học sinh, sinh viên mà cán bộ, giáo viên trong các nhà trường cũng liên tục phải đi học nâng cao, học bồi dưỡng, học để bổ sung chứng chỉ, bằng cấp theo quy định.
Chính vì nhu cầu học tập để vào đời, học tập để để đảm bảo công việc thành ra nhiều trường, nhiều trung tâm đào tạo cũng mọc ra để đáp ứng nhu cầu học tập của nhiều đối tượng học tập.
Nhu cầu về bằng cấp, chứng chỉ không chỉ với học sinh, sinh viên mà cả với giáo viên  (Ảnh minh hoạ: binhlieu.quangninh.gov.vn)
Người học thì đương nhiên phải đóng tiền, những nhà cung cấp dịch vụ thì đương nhiên sẽ thu lợi. Những giá trị cốt lõi không được chú trọng, những hư danh, bằng cấp cứ mãi ám ảnh nhiều người.
Khi còn đi học phổ thông, ngoài giờ học trên lớp thì học sinh mải mê học thêm ở nhà thầy cô, ở các trung tâm gia sư và trung tâm ngoại ngữ. Không học thì không bằng bạn bè, không thi thố được.
Ngoài việc dạy thêm “chính đáng” ở nhà trường thì hàng loạt trung tâm gia sư, trung tâm ngoại ngữ mọc lên khắp các thành phố.
Không mấy trung tâm lấy tên tiếng Việt bởi đa phần đều gắn mác với vài chữ tiếng Anh để tạo sự trang trọng cho trung tâm của mình và đương nhiên cũng để tạo sự hấp dẫn đối với phụ huynh, với học sinh.
Tất nhiên, khi đến với các trung tâm này thì mức học phí rất cao, mỗi buổi học vài chục nghìn đồng, thậm chí các lớp ôn thi cuối cấp và các trung tâm ngoại ngữ thì mỗi ca học 90 phút của học sinh được tính bằng tiền trăm.
Không chỉ các trung tâm gia sư, ngoại ngữ mà nhiều trường quốc tế cũng được thành lập với mức học phí lên đến hàng trăm triệu đồng, thậm chí hơn nửa tỉ đồng/ năm.
Có những trường quốc tế được đào tạo bài bản nhưng cũng có rất nhiều trường chỉ yếu là đưa nhãn mác vào để đánh lừa phụ huynh.
Sau sự việc học sinh bị tử vong trên xe ô tô của trường quốc tế Gateway thì đến nay hàng loạt trường quốc tế đã âm thầm tháo đi chữ “quốc tế” để trở về với bản chất thật của nó.
Người học không biết thu nạp được bao nhiêu kiến thức nhưng rõ ràng các trung tâm này thu bộn tiền và chắc chắn một điều là họ có lãi cao.
Chính vì lãi cao nên nhiều người không chỉ mở một trung tâm mà họ mở rộng ra nhiều trung ở các địa bàn khác nhau để phát triển mạng lưới của mình.
Hết học phổ thông lên đến đại học thì ngoài chuyện học ở giảng đường, 100% sinh viên phải đến với các trung tâm ngoại ngữ và trung tâm tin học để học chứng chỉ theo quy định.
Ai là người dạy ở các trung tâm này, cũng chính các thầy cô đang dạy mình ở trên trường được các trung tâm thuê dạy. Thành ra, vẫn là “quân ta” cả nhưng lại vô tình làm giàu cho các cá nhân đứng ra mở trung tâm.
Tại sao các trường đại học đều dạy tiếng Anh với số lượng học phần (tín chỉ) nhiều nhất mà lại không được công nhận đã hoàn thiện chương trình học? Sao phải có chứng chỉ ngoại ngữ, tin học theo quy định mới được cấp bằng đại học? 
Nếu được công nhận đã hoàn thiện chương trình ngoại ngữ trong trường đại học thì có phải là đỡ tốn kém cho sinh viên hay không? Sau khi ra trường, ai có nhu cầu học, ai muốn được tuyển dụng vào các ngành cần chuyên sâu về ngoại ngữ thì để họ tự nguyện học tập.
Những giáo viên ra trường trước đây, đã đi dạy hàng chục năm trời vẫn phải miệt mài đi học chứng chỉ.
Nhiều người có chứng chỉ ngoại ngữ, tin học A, B rồi nhưng vì sợ mất việc nên lại đua nhau đi học A2, B1; tin học cơ bản để hoàn thiện bằng cấp bởi văn bản Bộ Nội vụ đã ban hành, các trường học đã triển khai đến giáo viên.
Nhất là mấy năm nay cứ đến hè thì các trường đại học sư phạm lại gửi thông báo chiêu sinh các lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp.
Bây giờ, người ta không thông báo tại các trường đại học và cao đẳng sư phạm mà toàn gửi qua email của các nhà trường phổ thông.
Tất nhiên, khi đã được cấp trên thông qua, gửi thông báo đến nhà trường thì giáo viên đành phải miễn cưỡng đi học.
Nhiều nơi còn bắt buộc tất cả giáo viên phải đi học để lấy chứng chỉ, người không đi thì bị dọa tới năm 2021 sẽ tinh giảm biên chế. Vì thế, nhiều giáo viên phải lo “đón đầu” kẻo ảnh hưởng đến công việc trong tương lai…
Trong kinh doanh, có lẽ kinh doanh trong giáo dục là an toàn và lời nhất. Lĩnh vực này ít xảy ra rủi ro, đầu tư cũng không nhiều nhưng lãi thì cứ thu đều đều.
Các lớp học thêm có thể mở ở trường, có thể mở ở nhà giáo viên hoặc thuê một cái nhà rộng là có thể thể thành một trung tâm gia sư.
Các trường đại học, các trung tâm ngoại ngữ, tin học có thể mở lớp tại trường, có thể liên kết mở lớp ở các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, thậm chí mượn nhà Trưởng phòng Giáo dục làm nơi thi học phần…cũng xong.
Bộ càng quy định giáo viên phải có thêm chứng chỉ, văn bằng thì nhiều tổ chức, cá nhân càng chớp thời cơ để nắm bắt cơ hội mở lớp.
Một bên phải hoàn thiện bằng cấp, chứng chỉ, một bên chỉ cần lợi nhuận nên đa phần khi học viên đăng ký học là bên chiêu sinh đã cam kết “bao đậu” thì chất lượng làm gì được chú trọng.
"Mảnh đất" giáo dục vì thế mà trở nên trù phú, màu mỡ hơn bao giờ hết!
THANH AN
'THẠC SĨ KHÔNG ĐẦU' VÀ NỖI BUỒN TRÍ THỨC
THẠCH HOÀI LAM/ GDVN 3-9-2019
Trước đây, mỗi khi nghe nói đến chuyện thi đầu vào Cao học là chúng tôi sợ xanh mặt. Vì thi đầu vào của Trường đại học Cần Thơ có tiếng là rất khó, rất khắt khe nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo.
May mắn nhờ ôn thi tích cực, chúng tôi trúng tuyển vào khóa Văn học Việt Nam đầu tiên của Khoa sư phạm với vỏn vẹn 14 người…
Ba năm học, chúng tôi nghiên cứu, tìm tòi tài liệu; đi thành phố Hồ Chí Minh đến các thư viện của Cần Thơ vì có những tư liệu ở Cần Thơ không có.
Khi bảo vệ xong luận văn tốt nghiệp, người nào cũng sụt mất mấy ký vì học khá vất vả, “trầy vi tróc vảy” mới có tấm bằng Cao học, chứng nhận trình độ của bản thân.
Một lớp học thạc sĩ (Ảnh minh họa: A.N).
Sau đó, “phong trào” học Cao học bỗng trở nên sôi nổi khắp nơi. Có những khóa có đầu vào, có những khóa vì lý do nào đó, không có đầu vào (chúng tôi gọi vui là “Thạc sĩ không đầu”). Những khóa “không đầu” này sẽ trả nợ “đầu vào” sau.
Phải nói là học Cao học thời gian gần đây “dễ thở” hơn so với thời kỳ “trứng nước” như chúng tôi.
Nắm được “nhu cầu” học nên đủ các loại hình đào tạo, liên kết ra đời. Các trung tâm giáo dục, các trường cao đẳng được dịp bung ra, “làm ăn” cũng khấm khá nhờ các màn “liên kết đào tạo cao học” với các trường đại học.
Nhờ các “lò ấp” này mà hàng loạt thạc sĩ “ra lò”, bổ sung cho các trường, góp phần phấn đấu cho trường đạt chuẩn quốc gia, quốc tế…
Thạc sĩ trong các cấp chính quyền giờ cũng không hiếm. Các phòng ban cấp tỉnh thì Thạc sĩ chiếm đa số. Các trường học thì không thể đếm hết vì đi ra đường, đi đến trường là gặp Thạc sĩ.
Trưởng phòng Nông nghiệp huyện là Thạc sĩ kinh tế hoặc Thạc sĩ ngành trồng trọt… là chuyện bình thường. Có thể nay mai, theo đà này thì Chủ tịch xã, Trưởng ban nhân dân ấp, xóm cũng có bằng Thạc sĩ chuyên ngành.
Nhưng thói đời “nhân nào quá nấy” vì đào tạo ồ ạt như thế thì tất nhiên chất lượng không cao là điều không tránh khỏi. Không thể tin được khi có những thạc sĩ ngành Ngữ văn mà còn viết sai chính tả.
Có nhiều thạc sĩ không viết nổi một dòng tin phản ánh các hoạt động của trường cho báo chí… Cũng nhiều người có bằng thạc sĩ nhưng viết một bài khảo cứu, một bản “sáng kiến kinh nghiệm” đều phải “copy” trên mạng rồi “chắp nhặt dông dài” thành của mình.
Trong giảng dạy, người có bằng thạc sĩ cũng không hơn gì mấy người chưa có. Riêng môn Ngữ văn vẫn giảng bài thiếu lửa, lời giảng chưa xuất phát từ trái tim mà mới dừng ở mức xuất phát ra từ cổ họng (còn khoảng một gang tay nữa mới tới tim).
Với tình trạng “trăm hoa đua nở, trăm trường liên kết đào tạo thạc sĩ” thế này thì chẳng bao lâu nữa, ngành giáo dục sẽ hoàn thành chỉ tiêu “phổ cập” thạc sĩ.
Cũng chưa bao giờ danh xưng của tên gọi “Thạc sĩ” mất giá như bây giờ vì học dễ quá, bảo vệ luận văn cũng dễ quá.
THẠCH HOÀI LAM
'THẤY KẾT QUẢ XẾP HẠNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM TÔI CŨNG HẾT HỒN'
VIỆT DŨNG/ GDVN 4-9-2019
Phó Giáo sư Lê Quang Minh – Nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu nhận định như vậy tại Hội nghị tham vấn chuyên gia về thi hành chính sách, pháp luật về đảm bảo kiểm định chất lượng giáo dục đại học.
Hội nghị này do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trong ngày 3/9/2019.
Nhiều ý kiến của các chuyên gia trình bày tại hội nghị này cho thấy, cách kiểm định và xếp hạng đại học như hiện nay tại Việt Nam sẽ có thể khiến cho dư luận hiểu sai về chất lượng của các trường đại học.
Tạm ngừng đào tạo kiểm định viên
Phó Giáo sư Lê Quang Minh nêu ý kiến: Không nên mở thêm các Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục nữa, tạm ngưng đào tạo các kiểm định viên.
Đã đến lúc thành lậpTrung tâm kiểm định các tổ chức kiểm định. Quốc hội là cơ quan thành lập trung tâm này.
Phó Giáo sư Lê Quang Minh lý giải: Hiện nay, số trường đại học, cao đẳng tại Việt Nam đã được kiểm định đã đạt mức khoảng 50%, số trường đạt chuẩn lên đến hơn 96% là không ổn.
Hội nghị về đảm bảo kiểm định chất lượng giáo dục đại học tổ chức ngày 3/9/2019 (ảnh: P.L)
Vị Phó Giáo sư này cho rằng, kết quả kiểm định như vậy giống như sai phạm trong kỳ thi trung học phổ thông ở Hà Giang trước đây. Tiếp tục làm như vậy nữa sẽ gây mất niềm tin trong xã hội về kiểm định chất lượng giáo dục.
Nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói tiếp: Chúng ta đang làm xếp hạng đại học như hiện nay là theo kiểu nóng vội.
“Thấy kết quả xếp hạng các trường đại học ở Việt Nam, tôi cũng hết hồn. Với kết quả xếp hạng như vậy, kiểm định như đang làm hiện nay thì coi chừng chúng ta đang hướng dư luận, hướng học sinh vào những trường không đúng như kết quả được công bố. ”- Phó Giáo sư Lê Quang Minh chia sẻ.
Ông Lê Quang Minh nhấn mạnh: Như vậy sẽ rất tội nghiệp cho các trường có chất lượng thật, thiệt thà. Nếu cứ như vậy sẽ hướng các trường thiệt thà bớt thiệt thà lại. Cần phải coi lại hết mấy trường này.
Minh bạch và công khai thông tin ở các trường
Trình bày quan điểm của mình tại hội nghị, nhiều chuyên gia bày tỏ sự nghi ngờ về tính độc lập của các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục tại Việt Nam.
Chủ tịch Hội đồng trường – Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Ngô Văn Thuyên nói, cần xác định rõ tính độc lập tuyệt đối của các tổ chức kiểm định.
Bởi lẽ, hiện nay, ông Ngô Văn Thuyên nói có tình trạng các trường chia sẻ chọn trung tâm kiểm định nào dễ để được công nhận kết quả kiểm định cao.
Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh phát biểu tại hội nghị ngày 3/9 (ảnh: P.L)
Đồng quan điểm này, Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh – Giám đốc đảm bảo chất lượng,Tập đoàn giáo dục Nguyễn Hoàng chia sẻ: Dù trên danh nghĩa, hệ thống kiểm định của Việt Nam được cho là theo mô hình kiểm định của Mỹ, nhưng thực sự hệ thống kiểm định hiện nay gần như là do Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm soát tuyệt đối.
Theo Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, từ tiêu chuẩn kiểm định, phương pháp thực hiện, nội dung đào tạo, thẩm quyền cấp thẻ kiểm định viên…đều nằm trong tay của Bộ này.
Hệ thống kiểm định thiếu tính độc lập tác động tiêu cực đến tiến độ, hiệu quả của việc triển khai kiểm định trong hệ thống giáo dục đại học.
Sau đánh giá, chính sách khen thưởng và xử phạt chưa đủ mạnh, chưa có trường nào bị đóng cửa, khiến cho tác động của việc kiểm định chất lượng còn nhiều hạn chế.
Cuối cùng, Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh nêu lên 3 kiến nghị: Phải đảm bảo sự độc lập hoàn toàn với các quyết định chuyên môn, mạnh dạn chọn mô hình tập trung nhưng tạo điều kiện tham gia của toàn xã hội bằng các kênh thông tin minh bạch, con người thực hiện đảm bảo chất lượng là quan trọng nhất.
Còn theo Tiến sĩ Phạm Thị Ly – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cần tăng cường tính minh bạch, công khai thông tin ở các trường.
“Khi nhà trường bị bắt buộc phải công khai thông tin với toàn xã hội, thì họ mới có thể giám sát nhà trường thuận lợi hơn” – Tiến sĩ Phạm Thị Ly kết luận.
Việt Dũng

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

20190904. BÀN VỀ THUYẾT 'TAM QUYỀN PHÂN LẬP'

ĐIỂM BÁO MẠNG
NHẬP KHẨU THUYẾT 'TAM QUYỀN PHÂN LẬP' HAY LÁ BÀI CỔ XUÝ BẤT ỔN CHÍNH TRỊ, XUNG ĐỘT QUYỀN LỰC

TRẦN HẬU THÀNH/ TCCS 23-8-2019


Quyền lực nhà nước thống nhất và tập trung vào Quốc hội nhưng được phân công cụ thể, rành mạch, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, được phân công thực hiện quyền lập pháp. Ảnh: TTXVN

Thực tiễn chỉ ra rằng, việc phân định rõ ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là cách thức quan trọng để phát huy vai trò của nhà nước, đồng thời là cơ sở để kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Chúng ta đã tiếp thu mặt tiến bộ trong kỹ thuật tổ chức các thiết chế nhà nước trên thế giới, trong đó việc “phân công” và “phối hợp” giữa 3 nhánh quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để tổ chức bộ máy nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thể hiện rõ ở các bản hiến pháp Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013.
Tuy vậy, trong thời gian gần đây vẫn còn một số cá nhân lợi dụng việc chậm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp, tình trạng tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và việc hoạt động chưa thật sự hiệu quả của một số thiết chế trong bộ máy nhà nước... để phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước và tung hô, cường điệu hóa, lý tưởng hóa học thuyết “tam quyền phân lập”, coi nó là “phương thuốc vạn năng” cho kiểm soát quyền lực nhà nước và ngăn ngừa tham nhũng. Có thể khẳng định ngay rằng, đó là luận điệu sai trái, cực đoan và cơ hội chính trị. Học thuyết “tam quyền phân lập” được áp dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức và một số nước phương Tây mặc dù có mang lại một số mặt tích cực, cần được nghiên cứu, tham khảo, nhưng không nên vì thế mà cường điệu hóa, lý tưởng hóa và xem nó như là chìa khóa vạn năng của “dân chủ - pháp quyền”, với mấy lý do sau đây: 
Một là, về phương diện lý luận, “tam quyền phân lập” là một học thuyết phức tạp, đa chiều, còn có nhiều ý kiến khác nhau. C.  Mác và Ph. Ăng-ghen khi nêu ra mặt tiến bộ của học thuyết về tam quyền phân lập đã nhấn mạnh rằng, sự phân chia quyền lực, thực chất, không phải là cái gì khác ngoài sự phân công lao động thực tế cơ cấu nhà nước nhằm làm đơn giản hóa và dễ kiểm soát. Ph. Ăng-ghen viết: “Sự phân quyền... trên thực tế chỉ là một sự phân công lao động tầm thường trong công nghiệp, được vận dụng vào bộ máy nhà nước nhằm mục đích đơn giản hóa và kiểm soát”(1). Dựa trên quan điểm của C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen về sự cần thiết của việc phân công quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong hiến pháp, nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng đã có chung quan điểm: Sự phân chia quyền lực là hệ thống các chế định pháp luật  - nhà nước hướng tới bảo đảm các phương tiện pháp lý có sự độc lập tương đối của các cơ quan nhà nước với nhau(2). Còn G.V.Ph.  Hê-ghen khẳng định rằng, phân chia quyền lực chỉ nên dừng lại ở khái niệm; nếu sự phân chia quyền lực vượt giới hạn của khái niệm và trở thành hiện thực thì quyền lực sẽ không thể nào còn thống nhất lại được nữa. Các nhánh quyền lực tách rời nhau tới mức phân liệt, kiềm chế  - đối trọng, đối lập và chống lại nhau. Lúc đó, muốn có được quyền lực nhà nước thống nhất lại phải dùng đến đại bác. Thực tiễn xung đột chính trị ở Liên bang Nga sau khi Liên Xô sụp đổ đã chứng tỏ lời cảnh báo của G.V.Ph.  Hê-ghen hoàn toàn có cơ sở khoa học. Khi đó, việc áp dụng máy móc thuyết “tam quyền phân lập” của phương Tây đã đẩy Liên bang Nga vào tình trạng đối đầu, xung đột, không thể thỏa hiệp giữa hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp. Rốt cuộc, vào tháng 10-1993, Tổng thống Liên bang Nga B.  En-xin đã ra lệnh cho xe tăng bắn vào Tòa nhà Quốc hội, sử dụng bạo lực để giải tán Quốc hội Nga do dân bầu lên, chấm dứt xung đột, đối đầu giữa hai phe lập pháp và hành pháp. Nói cách khác, khi quyền lực đã phân chia, đối trọng không thể thống nhất lại được nữa bằng giải pháp chính trị thì B.  En-xin đã sử dụng đại bác để thống nhất quyền lực. Cũng từ bài học thực tiễn về việc để mất sự kiểm soát của chính quyền trung ương đối với chính quyền các địa phương do áp dụng “phân quyền” cực đoan dưới thời Tổng thống Nga B.  En-xin, ngày 1-9-2000, cùng với việc ký sắc lệnh thành lập Nhà nước Liên bang Nga với 89 chủ thể - chia thành 7 khu vực Liên bang, Tổng thống Nga V. Pu-tin đã phê chuẩn Quy chế Hội đồng nhà nước, bao gồm: Tổng thống và tất cả những người đứng đầu chủ thể Liên bang. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước là Tổng thống; Thư ký Hội đồng Nhà nước do Tổng thống bổ nhiệm. Cùng với việc ban hành Hiến pháp mới - thay thế cơ chế phân quyền bằng phân công và phối hợp quyền lực, Quy chế Hội đồng Nhà nước là thiết chế ngăn ngừa có hiệu quả sự phân tán quyền lực vô hạn độ, vô tổ chức lúc bấy giờ ở Nga.
Phân quyền là một tư tưởng phức tạp, đa chiều nên được hiểu rất khác nhau. Mỹ, Anh và các nước châu Âu chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp (xét xử); cùng với đó là ba cơ quan thực hành từng loại quyền lực này một cách độc lập theo cơ chế kiềm chế và đối trọng (kiểm tra và chế ước lẫn nhau). Một số nhà lập pháp Mỹ La-tinh chia quyền lực nhà nước thành bốn loại quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp (xét xử) và quyền bầu cử (thuộc về tổ chức bầu cử  - hội đồng bầu cử). Hiến pháp Ni-ca-ra-goa năm 1986 do Đảng Xã hội - Thiên chúa giáo đối lập đưa ra tới năm loại quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp (xét xử), quyền bầu cử và quyền kiểm tra. Hiến pháp năm 1976 của An-giê-ri quy định sáu loại quyền, gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, quyền chính trị, quyền kiểm tra và quyền tổ chức.... 
Phân quyền ngoài được hiểu theo chiều ngang (giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương: lập pháp, hành pháp, tư pháp), còn được hiểu theo chiều dọc (giữa các lực lượng chính trị khác nhau, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với các cơ quan nhà nước ở địa phương, giữa nhà nước liên bang với các bang thành viên và giữa các cơ quan nhà nước ở địa phương).
Hai là, về phương diện thực tiễn, do những hạn chế của học thuyết “tam quyền phân lập” mà mức độ, tính chất và đặc điểm của sự thể hiện và áp dụng nó trong thực tế có sự khác nhau ở mỗi kiểu nhà nước, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như trình độ dân chủ, truyền thống dân tộc, cũng như tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước. Sự áp dụng học thuyết này trong nhà nước theo chính thể cộng hòa tổng thống khác với chính thể cộng hòa đại nghị hoặc chính thể cộng hòa hỗn hợp...; trong hình thức cấu trúc nhà nước liên bang khác với hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất. 
Trong chính thể cộng hòa tổng thống, điển hình là nhà nước Mỹ, tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực tuyệt đối “cứng rắn”, tách biệt triệt để ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thay cho cơ chế chịu trách nhiệm lẫn nhau giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp là cơ chế “kiềm chế và đối trọng”. Theo đó, có sự độc lập hoàn toàn của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thực thi quyền lực nhà nước; sự phân quyền giữa nhà nước liên bang với nhà nước tiểu bang. Trên thực tế, việc áp dụng nguyên tắc phân quyền vào tổ chức quyền lực nhà nước ở Mỹ bộc lộ những hạn chế, yếu kém như sau:
1- Chế độ cộng hòa tổng thống với việc áp dụng tư tưởng phân quyền tuyệt đối trên thực tế có nhiều nét tương đồng với chế độ quân chủ hạn chế, hay nói cách khác, hai chế độ đó được đem lồng vào một nền cộng hòa. Sự khác biệt ở đây chỉ đơn giản là vua được thay bằng tổng thống. 
2- Theo hiến định, Quốc hội Mỹ mang tính dân chủ đại diện, nhưng trên thực tế, tính đại diện luôn được biểu hiện dưới hình thức đặc quyền. Thực chất, Quốc hội là một thiết chế của những người có đặc quyền: Nghị sĩ được bầu là những người thuộc về một tầng lớp bề trên, có trình độ học vấn và khả năng tài chính lớn, không đúng với quy định của Hiến pháp Mỹ về sự bình đẳng của mọi công dân trong bầu cử và ứng cử. 
3- Sự bành trướng ghê gớm của bộ máy hành pháp cả về quy mô lẫn chất lượng. Quyền lực đang chuyển từ các lĩnh vực kinh tế và chính trị sang các cơ quan hành chính. Bộ máy hành pháp thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội... Ngân sách nhà nước phải chi phí một khoản quá lớn để duy trì và nuôi bộ máy hành pháp khổng lồ; kéo theo chi phí đắt đỏ cho đời sống xã hội, cùng với đó là những khó khăn về nhà ở, y tế không đáp ứng kịp yêu cầu xã hội.
4- Kết quả hoạt động (độc lập và chỉ tuân theo pháp luật) của hệ thống tư pháp Mỹ vẫn là phụ thuộc vào nhân tố con người - các vị luật sư, công tố viên, thẩm phán và bồi thẩm. Và với tuyên bố “Tòa án đứng độc lập, đối trọng với các nhánh quyền lực khác được xem là thành trì bảo vệ cuối cùng trong pháo đài nhà nước nhằm chống lại mọi sự đe dọa đối với các nguyên tắc, các giá trị nền tảng của xã hội Mỹ”, có thể thấy rõ rằng, quá trình tư pháp Mỹ vẫn là biểu hiện của quá trình chính trị.
Trong chính thể cộng hòa đại nghị, như ở Anh, Đức, hay chính thể cộng hòa hỗn hợp như ở Pháp, sự phân chia quyền lực không cứng nhắc, biệt lập, mà với các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mỗi cơ quan đảm nhiệm một quyền và sự đảm nhiệm đó đan xen vào nhau, lệ thuộc và chịu sự giám sát lẫn nhau, đồng thời có sự phối hợp với nhau. Tuy nhiên, điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khi được vận dụng ở các nước khác nhau. Theo đó, cách thức tổ chức thực thi quyền lực này thường bị biến dạng, làm cho sự phân chia và phối hợp thực thi quyền lực mang tính hình thức và tượng trưng. Trên thực tế, mọi quyền lực được tập trung vào một nơi: hoặc vào hành pháp (như ở Pháp), hoặc vào lập pháp (như ở Anh). 
Ba là, về bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước là thống nhất; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Khi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, thì về nguyên tắc, quyền lực nhà nước không thể phân chia (chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác); các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền.
Tư tưởng phân quyền, về bản chất, đối lập với tư tưởng thống nhất quyền lực. G.G. Rút-xô phủ nhận sự phân chia quyền lực về mặt chính trị - xã hội và cho rằng, quyền lực cần phải bắt nguồn từ nhân dân. Nói đúng hơn, đó không phải là sự phân chia quyền lực, mà là sự phân công chức năng giữa các cơ quan quyền lực nhà nước thống nhất(3). 
Nhận biết những hạn chế lịch sử của học thuyết “tam quyền phân lập” và nhược điểm của “cơ chế phân quyền”, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở Nga được hiến định theo “nguyên tắc phân công quyền lực”. Theo hiến định, ở Nga, các cơ quan quyền lực nhà nước là những thiết chế độc lập với nhau trong thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Song quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia một cách cứng nhắc và biệt lập, mà có sự phân công quyền lực hợp lý giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nguyên tắc phân công quyền lực được xây dựng trên cơ sở nguyên lý và thực tiễn quyền lực nhà nước là thống nhất, mọi quyền lực thuộc về nhân dân nhiều dân tộc Nga (khoản 1, Điều 3 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993). Phân công quyền lực đồng thời phải có sự phối hợp hoạt động của các nhánh quyền lực trong thực thi quyền lực thống nhất. Nhân dân thực hiện quyền lực thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước và các cơ quan tự quản ở địa phương (khoản 1 và 2, Điều 3). Phân công và phối hợp quyền lực (khoản 3, Điều 5, Điều 10 và Điều 80)... để tránh tình trạng các cơ quan quyền lực nhà nước độc lập, không phụ thuộc, có nguy cơ dẫn tới biệt lập, tách rời và đối lập nhau; Nhà nước cần phải xây dựng cơ chế phối hợp (kiểm tra và chế ước) hoạt động của ba nhánh quyền lực. Vì tầm quan trọng của cơ chế này cho nên, về cơ bản, nó được Hiến pháp Nga quy định hết sức chặt chẽ và được phê chuẩn bằng Pháp lệnh số 549, ngày 13-4-1996, của Tổng thống Nga, “Về trình tự phối hợp của Tổng thống Liên bang Nga với các viện của Quốc hội Liên bang Nga trong quá trình lập pháp”.
Cơ chế phối hợp hoạt động của các nhánh quyền lực nhà nước ở Nga được thực hiện có hiệu quả thông qua những quy định của Hiến pháp về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng của Tổng thống Nga. Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 ghi rõ: Tổng thống Liên bang Nga có quyền áp dụng mọi biện pháp để bảo vệ chủ quyền của Liên bang Nga, sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn của quốc gia, bảo đảm phối hợp hoạt động và liên hệ chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước (khoản 2, Điều 80). Tổng thống Nga, xét trên nhiều phương diện, có vị trí đặc biệt và giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự phối hợp thống nhất giữa các nhánh quyền lực nhà nước. Chúng ta có thể hình dung vị trí của Tổng thống Nga như là mắt xích liên hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, là người trọng tài cao nhất của Nhà nước. Hoạt động phối hợp quyền lực của Tổng thống Nga thể hiện chủ yếu trên những bình diện: Trong lĩnh vực nhân sự cao cấp của bộ máy nhà nước Liên bang (Điều 83); trong lĩnh vực lập pháp (Điều 104 và Điều 105); trong lĩnh vực tư pháp (khoản 3, Điều 93; khoản 1, Điều 111; khoản 4, Điều 117). 
Sự phối hợp hoạt động của Tổng thống Nga còn được thể hiện ở một số mặt hoạt động khác của Tổng thống với tư cách là người đứng đầu Nhà nước. Tổng thống có trách nhiệm cao ở cả lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trách nhiệm của Tổng thống là phải phát huy cao độ vai trò của các nhánh quyền lực nhà nước trong quản lý, điều hành xã hội; xác định phương hướng cơ bản trong chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Để giải quyết xung đột giữa các cơ quan quyền lực nhà nước Liên bang Nga và giữa các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể trong Liên bang Nga với nhau, Hiến pháp trao cho Tổng thống quyền sử dụng các giải pháp thỏa hiệp và trong trường hợp không đạt được sự thỏa hiệp, Tổng thống có thể đặt vấn đề cần giải quyết ra trước một tòa án tương xứng (khoản 1, Điều 85). Hiến pháp cũng trao cho Tổng thống quyền chấm dứt hiệu lực những văn bản của các cơ quan hành pháp thuộc các chủ thể trong Liên bang Nga, nếu như những văn bản đó trái với Hiến pháp và các luật của Nga, trái với các chuẩn mực quốc tế mà Nga thừa nhận, hoặc vi phạm quyền và tự do của con người, của công dân trước khi vấn đề đó được giải quyết bằng một tòa án tương xứng. Ngoài ra, Hiến pháp còn quy định: Mặc dù Tổng thống Nga là Tổng Tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang Nga nhưng pháp lệnh của Tổng thống về tình trạng chiến tranh, về tình hình đặc biệt chỉ có hiệu lực pháp lý khi được Hội đồng Liên bang phê chuẩn. Đồng thời, Hội đồng Liên bang cũng quyết định vấn đề về khả năng sử dụng các lực lượng vũ trang ở ngoài lãnh thổ Nga (khoản 1, Điều 87 và các điểm b , c , d, khoản 1, Điều 102).
Từ lý luận và những thực tiễn nêu trên, có thể thấy, việc nghiên cứu, tham khảo tư tưởng “tam quyền phân lập” trong xây dựng, tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam phải trên tinh thần: Không tiếp thu một cách rập khuôn, máy móc tư tưởng “tam quyền phân lập”, mà phải biết gạn lọc những yếu tố kỹ thuật hợp lý của nó cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Bởi, một học thuyết hay một mô hình... dù đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn của một nước cũng không thể được coi là chân lý để có thể vận dụng vào bất kỳ nước nào. 
Khác với nhà nước tư sản, Việt Nam tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, không phân lập, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bản chất của sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là: phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan nhà nước, nhờ đó hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước được nâng cao; tránh sự trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ của cả bộ máy nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước thống nhất. Nội dung của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thể hiện trước hết ở chỗ, quyền lực nhà nước luôn thuộc về nhân dân; nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. 
Chúng ta đã tiếp thu những nhân tố hợp lý trong cách thức tổ chức nhà nước theo học thuyết “tam quyền phân lập”, thể hiện rõ ở các bản hiến pháp Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013. Cụ thể là:
Theo quy định của Hiến pháp năm 1946, Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do công dân Việt Nam bầu ra, có “quyền đặt ra các pháp luật”; Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất của toàn quốc, được hiểu là cơ quan hành pháp cao nhất, bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Nội các; cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm có Tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp, là cơ quan độc lập với Nghị viện nhân dân và Chính phủ, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật trong khi xét xử, các cơ quan khác không được can thiệp. So với Hiến pháp năm 1946, mức độ thể hiện sự phân định quyền lực ở Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 có thay đổi, nhưng về cơ bản, Quốc hội vẫn là cơ quan lập pháp, Hội đồng Chính phủ (theo Hiến pháp năm 1959) hay Hội đồng Bộ trưởng (theo Hiến pháp năm 1980) vẫn là cơ quan hành pháp và tòa án, viện kiểm sát thực hiện chức năng của cơ quan tư pháp
Cụ thể hóa đường lối đổi mới, Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trên tinh thần giữ vững bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vận dụng những nhân tố hợp lý của các học thuyết tổ chức quyền lực nhà nước tiến bộ và đề ra nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ mới: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2 Hiến pháp năm 2013). Khác với nguyên tắc “tam quyền phân lập”, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân.
Quyền lực nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ nhân dân, nhưng thống nhất và tập trung vào Quốc hội. Quyền lực nhà nước thống nhất và tập trung vào Quốc hội nhưng được phân công cụ thể, rành mạch, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, được phân công thực hiện quyền lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp; tòa án nhân dân cùng với viện kiểm sát nhân dân được phân công thực hiện quyền tư pháp. Về các cơ quan nhà nước ở địa phương, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp đặt dưới sự chỉ đạo của các cơ quan chính quyền cấp trên, phải phục tùng mọi quyết định của chính quyền trung ương. Trong phạm vi quyền hạn được pháp luật quy định, các cơ quan nhà nước ở địa phương có quyền chủ động phát huy sáng kiến, đề ra các biện pháp để thi hành pháp luật, quyết định, chỉ thị của cấp trên nhưng tuyệt đối không được đặt ra những quy định trái với văn bản pháp luật và các văn bản khác của chính quyền cấp trên. Sự phân công chặt chẽ, rõ ràng đó chỉ có thể đạt được trên thực tế nếu có sự giám sát nhau. Giám sát là rất cần thiết, nhưng giám sát không phải là đối trọng, đối lập nhau. Sự giám sát thể hiện ở chỗ, Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội về những hoạt động của mình; Quốc hội chất vấn và ra những nghị quyết về công tác của Chính phủ; Quốc hội có thể tín nhiệm hay không tín nhiệm Chính phủ hoặc cá nhân bộ trưởng./.
--------------------------------------------
(1) C. Mác và Ph. Ăg-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t. 5, tr. 242
(2) Xem: Trần Hậu Thành: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr. 126
(3) Xem: Trần Hậu Thành: Sđd, tr. 126
Trần Hậu Thành TS, Ban Tổ chức Trung ương