Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

20181203. BÀN VỀ 'NHÂN VĂN'

ĐIỂM BÁO MẠNG

NHÂN VĂN VỚI AI, THƯA BÁC CẢ TRỌNG ?

LƯU TRỌNG VĂN/ BVN 2-11-2018


Kết quả hình ảnh cho nguyễn phú trọng

Vừa rồi khi tiếp xúc cử tri, bác cả Trọng cho rằng: “Việc lấy phiếu có tính răn đe, ngăn ngừa, giáo dục, cảnh tỉnh là chính. Đương nhiên, ai thấp dưới 50% là phải xử lý. Vừa rồi may là không xảy ra. Ta chẳng mong gì phải thay cán bộ. Sai rồi phải sửa, thấy rồi thì rút kinh nghiệm. Thế mới là nhân văn, là tốt… Giả sử độ một nửa cán bộ phải thay thì lấy ai làm, có thay kịp không?...”
Bác cả hỏi cử tri, hê, cái gì thì cái chứ gã cũng có cái quyền cử tri thỉnh thoảng có đi bỏ phiếu, gã xin trả nhời bằng hai câu hỏi lại bác cả:
1. Với một bộ máy lãnh đạo đụng đâu cũng tham nhũng, hết tham nhũng quyền lực, tiền bạc đến tham nhũng luật lệ, chính sách mà bác cả quá rành khi chính bác khởi động đốt lò, thì việc QH lấy phiếu tín nhiệm lãnh đạo không ai uy tín thấp dưới 50% là may hay không may cho đất nước?
2. Sai rồi sửa, nhưng sai chính sách, đường lối, cấp càng cao - một ly càng đi hàng dặm là "nhân văn" với quan nhưng khốn khổ dân, vậy khi bác từng nói "lãnh đạo phải lấy lợi ích dân là tối thượng” thì chọn "nhân văn với dân" hay "nhân văn với quan"?
Còn một câu hỏi của bác cả, gã xin trả nhời thẳng. Bác lo ngại "độ một nửa cán bộ phải thay thì lấy ai làm", gã nghĩ phải thay cả 100% vẫn có người làm ngay và giỏi hơn, tốt hơn nếu bác chiêu hiền đãi sĩ trong 90 triệu dân và để 90 triệu dân tiến cử người hiền tài.
Vâng, quả thực loay hoay chọn lãnh đạo chỉ trong tổ chức đảng, trong tầm mắt quanh mình của bộ máy tổ chức lâu nay với các cuộc đua lợi ích nhóm thì xuất hiện nhung nhúc những sâu mọt như Đinh La Thăng, Tất Thành Cang, Lê Thanh Hải, Trịnh Xuân Thanh, Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hoá... mà chính bác vất vả đã và chuẩn bị cho vào lò là chuyện đương nhiên.
Vậy, bác không nghĩ rằng đã đến lúc việc làm quan trọng nhất lúc này, quan trọng hơn cả việc đốt lò đó là phải thay đổi cách thức chọn lãnh đạo đất nước rồi à?
L.T.V.
Nguồn: FB Lưu Trọng Văn


VÌ SAO NGUYỄN PHÚ TRỌNG KHÔNG CÒN 'CHỐNG THAM NHŨNG CẦN NHÂN VĂN?'

PHẠM CHÍ DŨNG/ BVN 4-12-2018

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgsQ3Wso0jUCbwbEbq-IYu93l2iGfm7gs5Ljnby1AUeaCrS3hYPm4KCMyNcqMLRSIDw2irYGNHn4dq2qTmHHVSSsbbervJrRB2cHgUOIzSTnuwe6njo8A6hAOF-DqmJUxp1dT2Y19p-yw/s640/Vo-Kim-Cu.jpg
Võ Kim Cự (phải), nhân vật bị coi là mang Formosa vào Việt Nam, và là tay chân của Nguyễn Phú Trọng đã “hạ cánh an toàn.” (Hình: Getty Images)
Từ sau Đại Hội 12, khi phát động chiến dịch “chống tham nhũng” với khẩu lệnh “việc cần làm ngay” vào Tháng Sáu, năm 2016 và đặc biệt từ sau vụ chỉ đạo bắt Ủy Viên Bộ Chính Trị Đinh La Thăng vào Tháng Mười Hai, năm 2017, dù đằng sau cái tên Nguyễn Phú Trọng đã dần mất đi biệt danh “lú” nhưng cách nói năng của ông ta vẫn hầu như giữ nguyên phong cách chân phương dân dã. Nó bao gồm cả lối nói vo, mà đã tạo nên một vệt logic nếu muốn phân tích và dự báo về chuỗi hành động chính trị tiếp nối của nhân vật này.
Từ quá khứ đến hiện tại
Đã có một sự thay đổi đáng chú ý, nếu không muốn nói là thay đổi lớn, trong phát ngôn về “chống tham nhũng” của Nguyễn Phú Trọng trong thời gian cuối năm 2018, đặc biệt sau cái chết bất ngờ và đầy nghi vấn của Trần Đại Quang vào Tháng Chín, năm 2018, có thể được xem là mốc khởi xướng “giai đoạn 3 đốt lò” của “Tổng chủ” Nguyễn Phú Trọng.
“Thực tế những vụ vừa qua ai cãi được không và tại sao được dân đồng tình như thế. Đây là bài học rút ra để làm tiếp. Các cử tri cứ yên tâm không bao giờ chùn lại, chùng xuống hay mệt mỏi. Ai nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm” – đại biểu Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng “báo bài” trong một cuộc tiếp xúc cử tri tại hai quận Tây Hồ và Ba Đình thành phố Hà Nội vào ngày 24 Tháng Mười Một, 2018.
Một lần nữa trong khá nhiều lần, ông Trọng “lên gân” về tương lai công cuộc “đốt lò” của ông ta.
Nhưng đã hoàn toàn biến mất hai khái niệm “chống tham nhũng cần phải nhân văn” và “mở đường cho người ta tiến” trong phát ngôn trên của Nguyễn Phú Trọng, nếu so sánh với những phát ngôn về cùng chủ đề của chính ông ta trước đó.
“Ai đã trót nhúng chàm thì sớm tự giác gột rửa” và “mở đường cho người ta tiến” là những phát ngôn đượm nét xuôi xị của Tổng Bí Thư Trọng trong một cuộc tiếp xúc với cử tri Hà Nội sau Hội Nghị Trung Ương 7 vào Tháng Năm, 2018, cho dù ông Trọng vẫn không quên dùng bổ túc từ “lò đã nóng rực.”
Tại Hội Nghị Trung Ương 7 đã không có bất kỳ xử lý một quan chức nào, thậm chí kết quả này còn tệ hơn cả Hội Nghị Trung Ương 6 vào Tháng Mười, năm 2017, khi hội nghị này còn kỷ luật và loại khỏi Ban Chấp Hành Trung Ương, nhân vật bí thư của Đà Nẵng là Nguyễn Xuân Anh.
“Mở đường cho người ta tiến” là một cách nói của ông Trọng vào năm 2017, trước thời điểm khởi tố bắt giam Đinh La Thăng. Khi đó, ông Trọng còn đang vướng vụ “bắt cóc Trịnh Xuân Thanh” và không biết do chủ ý hay bởi lực bất tòng tâm, ông ta đã không xử lý cựu ủy viên trung ương, cựu bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng – tác giả của 2/3 trong số 12 dự án đầu tư ngàn tỷ đồng bị đắp chiếu gây lãng phí tại Bộ Công Thương, mà chỉ có thể thốt lên “bị kỷ luật như thế đã đủ đau chưa!” – như một cách nói đượm tâm thế bất lực của “bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo”.
“Nhân văn” cũng là một từ được “Người đốt lò vĩ đại” – một tụng danh mà Đài Tiếng Nói Việt Nam của Ủy Viên Trung Ương Đảng Nguyễn Thế Kỷ đặc cách dành để tôn cao Nguyễn Phú Trọng – lặp lại một cách đầy chủ ý kể từ lúc được phát ra lần đầu tiên vào trước Tết Nguyên Đán năm 2018. Đó là lần đầu tiên ông Trọng dùng đến khái niệm “chống tham nhũng cần nhân văn” – một biểu hiện cho thấy ông ta thỏa mãn quá sớm với bản thành tích chống tham nhũng còn quá ít ỏi của mình, trong khi tương lai trở thành “bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo” và “lưu danh sử xanh” của ông ta còn xa mới đạt tới.
Sau khi xuất hiện “chủ nghĩa nhân văn Nguyễn Phú Trọng,” đã có một luồng dư luận cho rằng thực ra ông Trọng là người thiếu kiên quyết trong chống tham nhũng và phần đa chỉ là giơ cao đánh khẽ, chủ đích nhằm răn đe để giữ đảng, thu hồi tài sản tham nhũng và lấy tiếng “sĩ phu Bắc Hà” hay “minh quân” cho cá nhân mình.
Những bằng chứng rõ nhất cho dư luận trên là cho tới nay và bất chấp quá nhiều bức xúc của cán bộ lãnh thành và nhiều cử tri Hà Nội, vụ biệt phủ của Phạm Sỹ Quý – em ruột bí thư Tỉnh Ủy Yên Bái Phạm Thanh Trà và vào năm 2017 còn là giám đốc Sở Tài Nguyên Môi Trường Yên Bái – vẫn chưa hề được xử lý rốt ráo. Không những không bị “thu hồi tài sản tham nhũng” như một chủ trương lớn của chính ông Trọng, Phạm Sỹ Quý còn được điều chuyển công tác trong cùng tỉnh về một chỗ đảm bảo “an toàn” và quả thực đã an toàn từ đó đến giờ mà không còn bị báo chí nắm tóc dựng dậy.
Từ sau Hội Nghị Trung Ương 6 vào Tháng Mười, năm 2017 và cho đến tận bây giờ, nhiều dư luận xã hội đã đặt một dấu hỏi lớn về liệu đã có một “thỏa thuận ngầm” nào đó giữa người đứng đầu đảng cầm quyền với một thế lực chính trị và nhóm lợi ích nào đó, để những vụ tày trời như Võ Kim Cự – cựu bí thư Hà Tĩnh và bị xem là một trong những thủ phạm gây ra nạn xả thải của nhà máy Formosa làm ô nhiểm biển 4 tỉnh miền Trung, Nguyễn Thị Kim Tiến – đương kim bộ trưởng Bộ Y Tế và là nhân vật phải chịu trách nhiệm về vụ công ty Pharma nhập thuốc ung thư giả gây phẫn uất trong dư luận, biệt phủ gây phẫn nộ dư luận của Phạm Sỹ Quý… được cho “chìm xuồng”…
Thậm chí Võ Kim Cự còn đang ung dung sang Canada xin định cư như một cách tránh thoát số phận tội đồ của y và đòn trả thù của nhân dân.
Rất tương đồng với những kẻ trên, Trương Minh Tuấn – Bộ trưởng Thông Tin Truyền Thông với dấu hiệu cố ý làm trái và tham nhũng trong vụ AVG – đã được ông Trọng “ẵm” từ chỗ chắc chắn phải tra tay vào còng như Phạm Đình Trọng, Lê Nam Trà… sang cái ghế phó trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương để ông Tuấn có điều kiện tiếp tục lên lớp báo giới về “đạo đức cách mạng sáng ngời”…
Đến giờ, ông Trọng đã khiến cho một bộ phận không nhỏ cán bộ lão thành, công chức và người dân vốn còn nặng tâm lý “theo đảng, tin đảng” một lần nữa vỡ tim vì thất vọng: ông ta chỉ thích đốt “củi rừng” mà không hề muốn chạm đến “củi nhà”.
Cuộc chiến được xem là “chống tham nhũng” của Nguyễn Phú Trọng cũng bởi thế đậm chất thiên vị và một chiều chứ không thể khách quan và công bằng.
Lối trấn an “phòng chống tham nhũng không bao giờ chùn lại” của ông Trọng cũng bởi thế chỉ mang sắc màu “chống tham nhũng một bên”.
Sài Gòn sẽ không còn “nhân văn” và “mở đường cho người ta tiến”?
Logic “chống tham nhũng một bên” và “chỉ đốt củi rừng” đang tiếp tục cái mạch xuyên suốt của nó và phát tiển vào thời “Hậu Quang”.
Ngay sau Đại Hội 12, đã xuất hiện một giả thiết về tương lai lục đục chính trị giữa tân Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang và người đang có ý đồ “nhất thể hóa” là Nguyễn Phú Trọng. Đến năm 2017, đà “chống tham nhũng,” mà chủ yếu là thế tiến công vào “cánh Ba X,” của ông Trọng bị khựng lại với một trong những nguyên do mang tính giả thiết là “lực cản Trần Đại Quang.” Khi đó, đã xuất hiện những thông tin không chính thức về một mối quan hệ gần gũi nào đó giữa Trần Đại Quang và Nguyễn Tấn Dũng. Rồi đến khi nổ ra vụ Vũ “Nhôm” – kẻ được đồn đoán mang họ tên Trần Đại Vũ mà chẳng thấy Bộ Công An cải chính, những giả thiết trên xem ra đã có tính thực tế chứ không đến nỗi hoang đường.
Còn giờ đây, “lực cản” – nếu có thể gọi như thế, đã cùng với Trần Đại Quang ra đi mãi mãi. Chính trường Việt Nam cũng đã biến mất thế lực đối trọng đáng kể cuối cùng trong cuộc chơi với Nguyễn Phú Trọng.
Sau hai chiến dịch “thay máu” Đà Nẵng và Bộ Công An, từ quý hai năm 2018 đến nay đã xuất hiện ngày càng nhiều những dấu hiệu và biểu hiện cho thấy ông Trọng chọn Sài Gòn như một mục tiêu tiến công tiếp theo – mục tiêu chiến lược nằm trên sơ đồ tổng thể Nam Bộ, đặc biệt là khu vực các tỉnh thành ở miền Tây Nam Bộ, nơi mà “người Bắc có lý luận” như ông Trọng muốn “trấn Nam”.
Bàn cờ giai đoạn 3 của “đốt lò” cũng bởi thế nhiều khả năng sẽ tập trung vào Sài Gòn và một số tỉnh thành miền Tây Nam Bộ, và giai đoạn này có thể sâu hiểm nhất, sắt máu nhất, kể cả tàn nhẫn nhất kể từ đầu chiến dịch “đốt lò.” Nhiều quan chức Nam Bộ sẽ chính thức vào “lò” và làm “bạn chăn kiến” với Đinh La Thăng.
Không biết vô tình hay hữu ý, chỉ sau khi Trần Đại Quang chết, cựu Phó Chủ Tịch Sài Gòn Nguyễn Hữu Tín mới chính thức bị bắt giam, dù ông ta đã bị khởi tố bị can vào Tháng Chín, năm 2018.
Nguyễn Hữu Tín không chỉ liên đới mật thiết đến các phi vụ cấp “đất vàng” cho Vũ “Nhôm ở Sài Gòn, mà Tín còn được xem là một “đệ ruột” của “bố già” Lê Thanh Hải – cựu ủy viên Bộ Chính Trị – cựu bí thư Thành Ủy với triều đại của ông Hải đã thống trị Sài Gòn suốt 15 năm.
Cùng lúc, một “đệ ruột” khác của Lê Thanh Hải là Tất Thành Cang – Phó bí thư thường trực Thành Ủy và là con bài đắt giá nhất mà Lê Thanh Hải đã “cài” lại sau khi phải rời bỏ chức vụ vào đầu năm 2016, đang phải chịu nguy cơ không chỉ mất chức vì những sai phạm trong vụ “ăn đất” Nhà Bè và Thủ Thiêm, mà còn có thể vào nhà đá.
Chiến dịch “Bình Nam” của Nguyễn Phú Trọng đã chính thức bắt đầu ở Sài Gòn. Lê Thanh Hải – được xem là nằm trong “phe cánh chính trị Ba X” – đương nhiên là tiêu điểm. Hàng loạt người nhà của Lê Thanh Hải – vợ, con, em trai – đã bị mang ra “đấu tố”…
Vào lần này, hình như sẽ không có “nhân văn” và “mở đường cho người ta tiến.” Có lẽ Nguyễn Phú Trọng, với đà này, sẽ xử gọn, nhanh và mạnh nhóm quan chức Nam Bộ tham nhũng ngập mặt.
Trong khi đó, những Võ Kim Cự, Nguyễn Thị Kim Tiến, Phạm Sỹ Quý, Trương Minh Tuấn và cả bộ Trưởng Giáo Dục Đào Tạo đương nhiệm là Phùng Ngọc Nhạ ở miền Bắc vẫn “ung dung tự tại”
P.C.D.
Tác giả gửi BVN
GỬI NHỮNG "ĐẢNG VIÊN NHƯNG MÀ TỐT"

ĐINH MINH ĐẠO/ BVN 4-12-2018

“Đảng viên nhưng mà tốt”.  Chúng ta cám ơn ai đó đã sáng tạo ra cách gọi thật là chuẩn xác. Chỉ với 5 con chữ mà đầy đủ tính xác thực, hài hước, mỉa mai dễ gợi nhớ như câu tục ngữ, để đặt tên gọi cho những người tốt hiện  còn lại rất ít ỏi trong 4 triệu đảng viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN). Có lẽ thực trạng của Đảng, sự tha hóa của hầu hết các đảng viên như : tham nhũng, ức hiếp dân chúng, cửa quyền, gian dối, bảo thủ... là nguồn chất liệu, cảm hứng cho những nhà ngôn ngữ học dân gian sáng tạo ra tên gọi này.
“Đảng viên nhưng mà tốt” đã khái quát tình trạng  hiện nay trong Đảng mà cả xã hội đã thừa nhận : Hầu hết các đảng viên không tốt, không những họ không tốt mà họ là những người xấu. “Nhưng mà” là trường hợp cá biệt, là số ít (hoặc rất ít) không bình thường trong Đảng.
“Đảng viên nhưng mà tốt” thể hiện đặc tính của người Việt Nam, khoan dung, không “vơ đũa cả nắm” ngay cả đối với một tập đoàn đang cai trị, ức hiếp mình dưới một thể chế độc tài Đảng trị.
“Đảng viên nhưng mà tốt” là sự diễn tả chính xác, tài tình, phong phú, thâm thúy của tiếng Việt.
Với khái niệm trên đây, chúng ta mới chứng kiến giáo sư Chu Hảo, một “đảng viên nhưng mà tốt” rời bỏ Đảng.
Là một trí thức, ông đã vào Đảng “với một lý tưởng cao quý là đấu tranh vì độc lập dân tộc vì dân chủ và phát triển đất nước”. Ông viết trong tuyên bố rời bỏ Đảng: “Nhưng càng ngày tôi càng nhận thức rõ hơn rằng tổ chức chính trị mà mình tham gia không có tính chính danh, hoạt động không chính đáng, có nhiều khuất tất, càng ngày càng thoái hóa, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại.
Sau khi về hưu, lẽ ra ông có nhiều thời gian để nghỉ ngơi và dành cho gia đình, nhưng ông đã tiếp tục công việc “khai dân trí”. Nhà xuất bản Trí Thức do ông làm giám đốc mong muốn thực hiện ước mơ xây dựng tủ sách tinh hoa của trí thức thế giới, đã biên dịch, xuất bản những tác phẩm có giá trị về khoa học, kinh tế, chính trị, triết học.
Ông đã tham gia viện nghiên cứu phát triển IDS, ký  các kiến nghị yêu cầu Đảng thay đổi, sửa chữa những chính sách kìm hãm sự phát triển của đất nước. Ông tổ chức đi thăm hỏi, động viên những nông dân bị chính quyền cướp đất và những người tham gia đấu tranh cho tự do, dân chủ bị đàn áp.
Nhưng Đảng đã không để cho ông yên thân làm một “đảng viên nhưng mà tốt”. Cái gọi là UB Kiểm tra Trung ương đã kết tội ông “tự diễn biến, viết bài , phát ngôn, xuất bản những cuốn sách trái với chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước”.
Tuyên bố rời bỏ Đảng của Giáo sư Chu Hảo đã gây một tiếng vang rộng rãi trong nước và quốc tế. Hàng chục “đảng viên nhưng mà tốt”, trong đó có những trí thức có uy tín như nhà văn Nguyên Ngọc, Phó giáo sư Mạc Văn Trang tuyên bố ra khỏi Đảng để phản đối cách hành xử độc đoán, thô bạo của Đảng và đồng hành cùng giáo sư Chu Hảo.
Sự kiện giáo sư Chu Hảo đã phản ảnh bộ mặt thật của Đảng đối với những “đảng viên nhưng mà tốt” còn lại trong Đảng. Đảng lo sợ những “đảng viên nhưng mà tốt” hoạt động mang lại lợi ích cho người dân, cho toàn xã hội nhưng đe dọa đến sự cai trị và tồn tại của Đảng. Lợi ích của Đảng là trên hết. Đảng chụp lên đầu họ tội “tự diễn biến, tự chuyển hóa, nguy hại đến an ninh chính trị của đất nước”. Ông Nguyễn Phú Trọng đã biện minh thật là hồ đồ, gian dối cho việc kỷ luật Giáo sư Chu Hảo: “kỷ luật một người để cứu muôn người”. Ông muốn cứu muôn người là những người nào? Ông muốn che đậy một sự thật, Đảng đang răn đe những đảng viên  “nhạt Đảng” để cứu vãn sự tan rã của Đảng.
Ngày 23-11 vừa qua xã hội Việt Nam đã được chứng kiến một sự việc chưa từng có. 13 nhà báo của báo Thanh Niên đã bị cho thôi chức gồm các vị trí trưởng ban, phó ban vì không phải là đảng viên ĐCSVN. Hành động này chẳng khác nào Đảng nói một cách trắng trợn: này nhé! Nếu các anh vào Đảng, các anh sẽ có chức, có quyền và có tiền. Còn nếu các anh không vào Đảng hay ra khỏi Đảng, các anh sẽ bị trừng phạt dù các anh là những người tốt và có tài. Đây quả thật Đảng tự phơi bày là một tổ chức vụ lợi, độc đoán, phân biệt đối xử, giống như môt tổ chức của những kẻ ganster. Đúng là “mọi người dân đều bình đẳng, nhưng đảng viên được bình đẳng hơn”. Tôi tin rằng, trong 13 nhà báo này, có những người đã không muốn trở thành “đảng viên nhưng mà tốt”, họ là những nhà báo yêu nghề, thạo nghề nhưng không yêu Đảng.
Những sự việc kể trên xẩy ra trong thời gian gần đây chắc hẳn không khỏi làm cho những “đảng viên nhưng mà tốt” hiện còn đang sinh hoạt Đảng suy nghĩ.
Những người đã vào Đảng với  lý tưởng phụng sự đất nước, đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho lý tưởng mà mình đã chọn lựa. Nay đang ở tuổi xế chiều, trăn trở, giận dữ, bất lực, nhiều người đau khổ chứng kiến sự biến chất, tha hóa của Đảng. Những người đang ở lứa tuổi trung niên, vào đảng với lòng hăng hái, nhiệt tình mong muốn đóng góp cho việc xây dựng và phát triển đất nước, sau thời gian hoạt động trong Đảng, họ thất vọng và bị cô lập, lạc lõng trong Đảng.
Chúng ta tôn trọng sự lựa chọn của mỗi “đảng viên nhưng mà tốt”, nhưng tôi muốn trao đổi những trải nghiệm của một đảng viên ĐCSVN đã rời bỏ Đảng cách đây 28 năm.
Tôi vẫn nhớ buổi sáng mùa mưa của Sài Gòn cách đây 28 năm. Nắng trải trên khắp đường phố, những tia nắng xuyên qua các hàng me lấp lánh đầy màu sắc. Dưới nắng, đường phố Sài Gòn càng ồn ào náo nhiệt hơn. Tôi đạp xe tới cơ quan với một tâm trạng nặng nề. Bước vào văn phòng đảng ủy cơ quan, tôi đặt tấm thẻ Đảng và nói lý do trả lại thẻ để ra khỏi Đảng. Ông Bí thư đảng ủy, một thương binh chống Mỹ không phản bác những lý do mà tôi đưa ra, nhưng ông chân thành khuyên tôi nên tiếp tục sinh hoạt Đảng, Đảng sẽ chấn chỉnh, thay đổi để lấy lại lòng tin và uy tín với quần chúng. Tôi để lại tấm thẻ Đảng, cám ơn ông và ra về.
28 năm đã trôi qua, nhớ lại lời ông Bí thư đảng ủy, tôi thấy tội nghiệp cho ông, ông đã ngây thơ tin vào sự tự sửa chữa của Đảng. Đảng không những đã không sửa chữa mà còn trượt dài trên con đường tha hóa, độc tài và tham nhũng. Đảng đã mất hết lòng tin đối với nhân dân và trở thành vật cản cho sự xây dựng và phát triển đất nước.
Phần tôi, sau khi rời bỏ Đảng thấy mình như đã dứt bỏ được mặc cảm đồng lõa với tội lổi, tôi đã đứng hẳn về phía lẽ phải, có thái độ dứt khoát, rõ ràng trước những tội ác của Đảng.
Sau này sang sinh sống tại Ba Lan, tìm hiểu lịch sử, tôi được biết, trong cuộc đấu tranh để loại bỏ chế độ độc tài cộng sản, hàng vạn đảng viên Đảng Công Nhân Thống Nhất Ba Lan (đảng cộng sản) đã từ bỏ đảng để gia nhập Công đoàn Đoàn Kết, góp phần vào cuộc đấu tranh không sử dụng bạo lực, chuyển đổi Ba Lan từ thể chế độc tài cộng sản sang thể chế tự do dân chủ, Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan với 2 triệu đảng viên đã tan rã. Ngày nay nhân dân Ba Lan được sống trong một xã hội tự do dân chủ, đất nước phát triển đem lại công bằng, hạnh phúc, no ấm cho mọi người dân.
Để kết luận cho bài viết, tôi xin mượn lời của cựu Tổng bí thư Đảng CS Liên Xô Mikhail Gorbachov: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng, cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.
Những “đảng viên nhưng mà tốt” có nên tự giam giữ mình trong một tổ chức như vậy không?
Đ.M.Đ.
Tác giả gửi BVN

XÚC PHẠM QUỐC KỲ

ĐỖ THÀNH NHÂN/ BVN 2-12-2018

Trên mạng đưa tin, Huỳnh Thục Vy bị kết án 33 tháng tù giam vì tội “xúc phạm Quốc kỳ” theo điều 351, Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13: “Điều 351. Tội xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca: Người nào cố ý xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Quốc kỳ theo Hiến pháp 2013: Điều 13, Khoản 1 “Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.”
Định nghĩa “xúc phạm: (là động từ) động chạm đến, làm tổn thương đến cái cao quý, thiêng liêng cần phải giữ gìn”
Trên cơ sở Hiến pháp, Luật và ngôn ngữ, xin phân tích việc Huỳnh Thục Vy bị kết án 33 tháng tù giam dưới góc độ nhận thức chung của xã hội.
***
I. Hiến pháp chỉ mô tả Quốc kỳ, hoàn toàn không có một chữ nào nói Quốc kỳ là “cái cao quý, thiêng liêng cần phải giữ gìn”.
Cho nên định tội “xúc phạm Quốc kỳ” là hoàn toàn mơ hồ, cảm tính của những người nắm quyền lực. Khi Quốc kỳ không phải là cái “cao quý, thiêng liêng” mà chỉ mang tính biểu tượng; thì người ta thể hiện tình cảm như thế nào với cái biểu tượng đó là quyền con người được Hiến pháp công nhận.
Thực tế đại đa số Quốc kỳ được làm bằng vải. Vậy thì xin hỏi tất cả mọi người mảnh vải đó đến khi cũ rách thì người ta sẽ làm gì?
Người giàu vứt vào giỏ rác chung với những thứ bẩn thỉu nhất trong gia đình, ở nông thôn vứt vào bếp. Người nghèo tái sử dụng: lau nhà, lau bàn ghế, thậm chí làm tả lót cho các cháu bé mới sinh. Tất cả những người này đều có đầy đủ nhận thức hành vi, cho nên tất cả những người này đều phạm tội “cố ý xúc phạm Quốc kỳ”. Tôi cũng xin tự thú đã từng phạm tội này.
Nếu Huỳnh Thục Vy xịt sơn vào lá cờ, có nghĩa là miếng vải này không còn là “Quốc kỳ” nữa (chưa biết kích thước có phù hợp với quy chuẩn Quốc kỳ hay không); thì không thể nói là Huỳnh Thục Vy “xúc phạm Quốc kỳ” được.
Hồi nhỏ, Mẹ tôi thường lấy cờ cũ may quần xà lỏn cho anh em chúng tôi mặc; nếu có xúc phạm thì phải gọi là “xúc phạm quần xà lỏn” (hoặc cái trong quần xà lỏn) mới phù hợp.
Các quan tòa hoàn toàn suy diễn để buộc tội:
1. Hành vi cắt lá cờ (may xà lỏn của Mẹ tôi), phun sơn lên lá cờ (Huỳnh Thục Vy), … không thể xác nhận là hành vi “xúc phạm” (dù vô tình hay cố ý);
2. Một miếng vải khi đã không phù hợp quy chuẩn theo Hiến pháp (như: không còn là hình chữ nhật, tỷ lệ dài = 1,5 rộng; không còn nền đỏ hay sao vàng 5 cánh) thì không thể gọi là “Quốc kỳ” được.
Cho thấy chính các quan tòa đã cố tình chà đạp lên Hiến pháp.
II. Chỉ ra tội “xúc phạm Quốc kỳ”
Xét trên 3 yếu tố Hiến pháp, Luật và ngôn ngữ ở trên; tôi chỉ ra tội “xúc phạm Quốc kỳ”và đề nghị Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa thực thi công lý:
1. Sau những trận bóng đá, nếu đội tuyển Việt Nam thắng thì còn đỡ, đội tuyển thua thì những lá cờ được đối xử chẳng khác gì tác nhân gây ra thất bại; hình ảnh phản cảm rất nhiều đề nghị cộng đồng mạng cung cấp hình ảnh để cơ quan chức năng xử phạt tội “xúc phạm Quốc kỳ”.
Tôi chỉ đưa ra một hình ảnh mà ngay cả phạm trù đạo đức cũng không chấp nhận (xem hình):

clip_image002
2. Để cấu thành tội “xúc phạm” thì Quốc kỳ phải là cái “cao quý, thiêng liêng”.
Tuy nhiên, trong nhiều sự kiện trọng đại của quốc gia, địa phương bên cạnh Quốc kỳ là tấm vải cùng màu và kích thước, nhưng có hình búa liềm, tạm gọi là cờ đỏ búa liềm (xem hình):

clip_image004
Hiến pháp thừa nhận và tôn vinh Quốc kỳ, nhưng không có dòng nào nói về “cờ đỏ búa liềm”.
Rõ ràng đặt một vật “cao quý, thiêng liêng” ngang hàng với một vật khác không được định danh; chẳng khác gì đưa một người không tên tuổi, tiếp đón nguyên thủ quốc gia trong ngoại giao. Chính điều đó mới là sự xúc phạm: Quốc kỳ và Quốc thể.
Lịch sử ghi nhận trong những giờ phút trọng đại nhất, như: trên lễ đài ngày ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, hay hình ảnh các đoàn quân đánh chiếm Việt Nam cộng hòa, hoàn toàn vắng bóng “cờ đỏ búa liềm”; nhưng đến khi hòa bình thì “cờ đỏ búa liềm” lại sánh ngang với Quốc kỳ: đó là một sự xúc phạm.
clip_image006

clip_image008
Ghi chú: búa liềm và quốc tế ca dành cho các nghi thức của những người cộng sản; còn Quốc kỳ và Quốc ca của nhân dân.
3. Sự kiện ngoại giao tổ chức ở Việt Nam “Đối ngoại Quốc hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng” được đưa lên chương trình thời sự VTV1 lúc 19 giờ ngày 16/8/2018: Hoàn toàn không có Quốc kỳ (hay biểu tượng của Quốc kỳ).
Là người từng sống ở miền Nam trước 1975, tôi thấy phông nền phía sau diễn đàn được cách điệu rất đẹp. Xem hình:
clip_image010

clip_image012
Tuy nhiên hình ảnh này có thể vẫn bị suy diễn là … “xúc phạm”, nặng hơn là “phản động”.
***
Cảm thán!
Rõ ràng kết án Huỳnh Thục Vy xịt sơn lá cờ, tịch thu áo nền vàng 3 sọc đỏ với 33 tháng tù giam là bản án của rừng rú hoang dã của loài thú ăn thịt; hoặc là “một bản án bất công và là một vụ án có nhiều động cơ chính trị” theo luật sư Đặng Đình Mạnh (BBC)
Với hệ thống tư pháp này thì mọi người dân đều có khả năng bị kết án tù với tội danh “xúc phạm Quốc kỳ” như phân tích ở phần I, cũng như tội danh “bôi nhọ lãnh đạo”!
Mong được an toàn, từ nhiều năm nay tôi không mua cờ để cắm nữa; đơn giản là vì sau một năm cờ cũ rách không biết làm gì để khỏi phạm tội. Đến khi bầu cử là gạch tên tất cả để xác nhận không có lãnh đạo tránh phải phạm tội “bôi nhọ”.
Đ. T. N.
Tác giả gửi BVN

ĐẾ QUỐC, CHÚNG MÀY ĐANG Ở ĐÂU ?

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 2-12-2018

Trong tiếng Việt từ Đế Quốc có một số nghĩa khác nhau. Thứ nhất là danh hiệu một quốc gia. Vương quốc là nước có Vua (Vương). Đế quốc là nước có Hoàng Đế. Năm 1945 Chính phủ Trần Trọng Kim đã tự xưng, Việt Nam là một Đế Quốc, do Hoàng đế Bảo Đại đứng đầu. Nghĩa thứ hai được lưu truyền rộng rãi, rằng đế quốc là giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, rằng đó là bọn người chuyên dùng sức mạnh để mở mang thế lực, bắt các nước khác làm tay sai, làm nô lệ.
Trước đây phổ biến rộng rãi luận điểm phe đế quốc do Mỹ cầm đầu và nhiều tai họa của nhân loại là do đế quốc gây ra. Tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao cả của Cách mạng. Việt Nam đã từng tự hào là đội quân xung kích chống đế quốc.
Từ đầu thế kỷ 21 những văn bản và tuyên truyền chính thức của nhà nước hầu như không nhắc gì đến nghĩa vụ chống đế quốc trong hiện tại và tương lai. Hình như có sự công nhận ngấm ngầm rằng nhận định của các ĐCS trong thế kỷ 20 về chủ nghĩa đế quốc Mỹ là không phản ảnh đúng sự thật.
Tuy thế trong nhiều bài của tuyên truyền viên và trí thức CS, của bọn dư luận viên và bút nô, vẫn quy kết nhiều thứ “tự diễn biến” thuộc tư tưởng và chính trị của các đảng viên CS cho bọn đế quốc và bè lũ tay sai của chúng. Họ viết và nói lảm nhảm, chung chung, không chỉ ra được bọn đế quốc đang là ai, ở đâu, tổ chức như thế nào.
Khác với trước đây, hễ nói đến đế quốc thì mọi người đều hướng về Mỹ. Ngày nay họ không thể chỉ ra đế quốc đang ở đâu, nhưng vẫn cứ nói và viết. Họ không muốn hoặc không thể suy nghĩ, chỉ nhai lại các luận điệu cũ rích về đế quốc, phản động, thế lực thù địch.
Rõ ràng hiện nay, các lãnh đạo của VN sung sướng, tự hào khi được đến Mỹ, dân Việt Nam vui mừng, hồ hởi đón các Tổng thống Mỹ. Đa số dân Việt đã biết tương đối rõ rằng nước Mỹ, dù cho còn một số thói hư tật xấu, vẫn là biểu trưng cho tự do, dân chủ, văn minh, rằng trước đây vì khờ dại theo Xit và Mao mà nhận nhầm, mà quy kết Mỹ là kẻ thù của nhân loại yêu hòa bình. Trong tình hình như hiện nay mà có kẻ vẫn nói, vẫn viết rằng, đế quốc Mỹ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam thì, nếu không mất trí cũng là kẻ quá ngu đần, bất chấp sự thật hiển nhiên.
Khi Mỹ không phải là tên đế quốc đầu sỏ, không phải là kẻ thù của nhân loại tiến bộ, thì thế lực nào đang là mối nguy hiểm của thế giới. Đó là bọn bành trướng Đại Hán, là Đảng Cộng sản Trung Quốc với Tập Cân Bình chứ còn ai nữa. Chúng nó dùng tiền và nhiều thủ đoạn để mua chuôc, thao túng lãnh đạo các nước nghèo và yếu hoặc mới nổi, để rồi đưa các nước này sập vào bẫy nợ mà lệ thuộc vào chúng nó, mất tài nguyên, đất đai, biển đảo, chủ quyền vào tay chúng nó.
Một số nước đã tỉnh ngộ, tìm cách quẫy đạp để thoát bẫy, như Malaysia, Myanmar. Thế nhưng lãnh đạo của VN vẫn ôm chặt chân chúng nó, càng ngày càng lệ thuộc. Rồi các tuyên truyền viên, các trí thức của Đảng, các dư luận viên và bút nô không dám đụng đến một sợi lông chân chúng nó, họ thi nhau đổ lỗi cho thế lực đế quốc không biết ở đâu, đã gây ra “tự diễn biến” làm suy yếu một thứ chưa hiện hữu là chế độ XHCN.
Bọn đế quốc, chúng mày đang ẩn nấp ở đâu? Hãy chường mặt ra để tiếp nhận những đòn sấm sét từ các loại tuyên truyền của những kẻ ngu tín, cuồng tín đang sống bám vào Đảng Cộng sản VN.
N. Đ. C.
Tác giả gửi BVN

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

20181202. BÀN VỀ BÀI TOÁN GIẢM NỢ CÔNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
GIẢM NỢ CÔNG, TĂNG KHÔNG GIAN TÀI KHÓA- BÀI TOÁN KHÓ

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN */ TBKTSG 1-12-2018

(TBKTSG) - Theo báo cáo của Chính phủ, tỷ lệ nợ công đang có xu hướng giảm dần từ 63,7% GDP năm 2016 xuống 62,6% năm 2017, khả năng cuối năm 2018 ước giảm còn 61,4% và năm 2019 tiếp tục còn 61,3% GDP.
Thực tiễn cho thấy tỷ lệ nợ công so với GDP giảm là do tốc độ tăng nợ công thấp hơn tốc độ tăng GDP danh nghĩa. Cụ thể, trong khi nợ công tăng khoảng 8% thì GDP danh nghĩa tăng gần 11% (bằng tốc độ tăng trưởng GDP thực + tỷ lệ lạm phát)

Tỷ lệ nợ công giảm là một tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế. Ảnh: LÊ ANH
Những tín hiệu tích cực
Bất luận do nguyên nhân gì, trên phương diện chung, tỷ lệ nợ công giảm là một tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế. Điều này cho thấy những nỗ lực của Chính phủ trong việc quản lý và kiểm soát sự gia tăng của nợ công về cơ bản đã mang lại kết quả tích cực.
Một mặt, Chính phủ đã kiểm soát khá tốt các yếu tố làm gia tăng nợ công bao gồm giảm bội chi ngân sách từ mức rất cao trên 5% GDP (cụ thể là 6,28% của năm 2015 và 5,52% năm 2016) xuống dưới 4% GDP (3,48% năm 2017 và năm 2018 là 3,67%).
Ngoài việc giảm bội chi ngân sách đáng kể, Chính phủ cũng đã kiểm soát khá tốt các khoản nợ bảo lãnh của Chính phủ. Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2017 Chính phủ đã quản lý khá chặt chẽ việc cấp bảo lãnh chính phủ, không cấp bảo lãnh mới các chương trình, dự án vay vốn trong và ngoài nước, nhờ đó đã giúp giảm nợ được 500 triệu đô la Mỹ. Trong khi đó, các khoản nợ của chính quyền địa phương cũng được kiểm soát chặt theo Luật Quản lý nợ công 2017.
Mặt khác, yếu tố quan trọng không kém giúp kéo giảm tỷ lệ nợ công chính là tăng trưởng GDP. Về lý thuyết, việc vay nợ để thúc đẩy tăng trưởng là điều cần làm đối với các nước đang phát triển. Về thực tiễn, chừng nào nền kinh tế vẫn duy trì mức tăng trưởng tốt thì việc vay nợ trong giới hạn vẫn được xem là bền vững.
Chưa chuyển dịch theo hướng vững chắc
Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được thì nợ công Việt Nam nhìn chung vẫn chưa thực sự chuyển dịch theo hướng vững chắc, vẫn còn đó một số vấn đề cần được lưu ý.
Thứ nhất, mặc dù tỷ lệ bội chi ngân sách đã giảm đáng kể nhưng con số trên 3% GDP vẫn được xem là cao so với thông lệ quốc tế (ví dụ, tiêu chuẩn của Liên minh châu Âu đặt ra chỉ là 3%). Con số bội chi 3,67% GDP năm nay dù thấp hơn so với mục tiêu 3,7% GDP của Quốc hội giao nhưng vẫn cao hơn mục tiêu 3,3% GDP được đặt ra trong Chương trình quản lý nợ trung hạn 2016-2020 của Chính phủ (Quyết định 544/QĐ-TTg).
Hơn nữa, nỗ lực kéo giảm bội chi từ trên 5% xuống 4% GDP đã là thách thức của Chính phủ nhưng việc giảm tiếp về dưới 3% GDP sẽ là thách thức lớn hơn.
Thứ hai, liên quan đến cơ cấu thu ngân sách. Mặc dù thu ngân sách vượt dự toán nhưng thiếu nhân tố bền vững. Thu ngân sách chuyển dịch theo hướng giảm thu ngoại thương và thu từ dầu thô, đồng thời tăng tỷ trọng thu nội địa. Sự chuyển dịch nguồn thu này là tất yếu theo xu hướng hội nhập nhưng lại đặt gánh nặng lên các hoạt động của khu vực phi ngoại thương.
Hơn nữa, trong cơ cấu thu nội địa, một số khoản thuế có độ nổi thấp (như thuế tài nguyên) hoặc thiếu tính công bằng dọc (như thuế giá trị gia tăng vì mang tính lũy thoái) lại chiếm tỷ trọng lớn. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giảm để cạnh tranh với các nước trong khu vực song có rủi ro cạnh tranh xuống đáy. Nhiều ưu đãi thuế tràn lan và thiếu hệ thống đang có nguy cơ làm xói mòn nghiêm trọng cơ sở thuế.
Trong khi đó, một số khoản thuế có độ nổi cao (như thuế thu nhập), bền vững và có tiềm năng cải thiện tính công bằng dọc (như thuế sử dụng đất phi nông nghiệp) chưa hiệu quả do cơ sở thuế quá hẹp. Nhiều khoản thu về đất đai lắt nhắt, phân mảnh và không bền vững, trong khi thuế bất động sản chưa sẵn sàng. Thuế thu nhập cá nhân chưa thực sự là một sắc thuế tốt giúp cải thiện tính công bằng dọc. Tình trạng nợ đọng thuế, trốn thuế, tránh thuế, chuyển giá... còn lớn và có xu hướng tăng so với năm 2017. Một số địa phương gặp khó khăn trong huy động nguồn thu.
Thứ ba, cơ cấu chi ngân sách chưa hiệu quả. Tỷ lệ chi thường xuyên dù đã giảm còn 63,3% (thấp hơn so với đầu nhiệm kỳ năm 2015 là 67,7% cũng như so với kế hoạch 64% giai đoạn 2016-2020). Tuy nhiên con số 63,3% vẫn cao hơn so với tỷ lệ chi thường xuyên theo dự toán năm 2018 là 61,8% tổng chi ngân sách nhà nước.
Hơn nữa, với tỷ lệ chi thường xuyên này cộng với chi trả nợ (cả gốc lẫn lãi) thì tỷ lệ chi đầu tư phát triển gần như không còn. Theo dự kiến năm nay, chỉ tính riêng tỷ lệ chi trả nợ lãi đã chiếm đến 7,4% tổng chi ngân sách nhà nước. Như vậy, để đạt được tỷ lệ chi đầu tư phát triển lên đến 26,8% Chính phủ buộc phải đi vay nợ. Con số tỷ lệ bội chi ngân sách 3,67% GDP nếu so với tổng chi ngân sách nhà nước đã chiếm đến 13%.
Nếu giả định bội chi được dùng cho chi đầu tư phát triển thì thực chất số ngân sách có thể dành cho chi đầu tư phát triển chỉ chiếm 13,8% tổng chi ngân sách nhà nước. Nếu tính cả chi trả nợ gốc (theo kế hoạch của Chính phủ năm 2018 tổng trả nợ 256.769 tỉ đồng, tương đương gần 17% tổng chi ngân sách) thì số còn lại dành cho chi đầu tư phát triển thực sự là rất ít. 
Thứ tư, mặc dù tỷ lệ nợ công giảm nhưng tỷ lệ nợ Chính phủ lại có xu hướng tăng lên (năm 2017 là 51,8% GDP; 2018 là 52,1% GDP; 2019 dự kiến là 52,2% GDP) trong khi trần nợ Chính phủ theo quy định là 55% GDP. Hiện tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong giới hạn nhưng xu hướng tăng cho thấy tính không bền vững. Nợ Chính phủ tăng ngoài bội chi ngân sách, có một phần do Chính phủ có trách nhiệm trả thay đối với các khoản nợ được bảo lãnh. Ngay cả một số địa phương vay nợ nếu không trả được thì có thể Chính phủ vẫn phải trả thay. Khi dư nợ Chính phủ đã gần tiệm cận mức trần quy định thì năng lực bảo lãnh cũng như trả nợ thay của Chính phủ sẽ giảm đi, khi đó rủi ro tín nhiệm vay nợ của Chính phủ sẽ gia tăng, dẫn đến làm tăng chi phí vay nợ của Chính phủ.
Chưa kể, khi Chính phủ phải đi vay nợ với lãi suất cao hơn thì sẽ có tác động chèn lấn đầu tư tư nhân, vì khi đó tư nhân không thể vay được với lãi suất rẻ hơn Chính phủ. Hệ quả là làm tăng chi phí tài chính của doanh nghiệp, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam cũng như của nền kinh tế nói chung.
Thứ năm, nợ nước ngoài của quốc gia cũng đang tăng nhanh và hiện đã gần chạm trần 50% GDP theo quy định (năm 2018 là 49,7% GDP và dự kiến năm 2019 là 49,9% GDP). Mặc dù nợ nước ngoài của quốc gia có cả nợ nước ngoài của Chính phủ và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân nhưng đặc tính và rủi ro của nợ nước ngoài của quốc gia rất khác với nợ trong nước, khó có thể xem nhẹ. 
(*) Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright

Hai rủi ro từ việc nợ nước ngoài tăng
Nợ nước ngoài tăng sẽ tạo ra rất nhiều thách thức và rủi ro đối với nền kinh tế nói chung chứ không riêng những chủ thể vay nợ.
Thứ nhất phải kể đến là rủi ro dòng tiền, cụ thể là sự không tương thích giữa mệnh giá nợ và tài sản. Nhiều chủ thể vay nợ nước ngoài không trực tiếp tạo ra dòng tiền từ hoạt động của mình. Các khoản vay nợ nước ngoài của các tập đoàn nhà nước được Chính phủ bảo lãnh không tạo ra đủ dòng tiền ngoại tệ để trực tiếp trả nợ, như trường hợp của EVN. Dự án của VinFast, trừ khi có khả năng xuất khẩu, cũng không trực tiếp tạo ra doanh thu bằng ngoại tệ để trả nợ vay. Tương tự là khoản vay nước ngoài 5 tỉ đô la Mỹ để mua cổ phần của Sabeco, trong khi Sabeco chưa bao giờ đạt lưu chuyển tiền thuần đến con số như vậy trong 10 năm.
Rủi ro thứ hai là sự biến động của tỷ giá. Tỷ giá tăng sẽ làm tăng số tiền trả nợ tính bằng đồng nội tệ. Vào những thời điểm phải trả nợ, nhu cầu ngoại tệ sẽ tạo áp lực tăng tỷ giá. Ngay cả đó là những khoản nợ tư nhân thì khi tỷ giá tăng cũng sẽ làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài của Chính phủ. Tỷ giá tăng cũng sẽ làm tăng chi phí đối với các nhà nhập khẩu, tạo áp lực lạm phát trong nước.
Ngược lại, nếu Chính phủ kiềm chế tỷ giá để giảm áp lực nợ công nước ngoài thì chi phí khi đó lại đặt lên vai các nhà xuất khẩu, làm suy yếu sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu ra nước ngoài.
Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể tăng lãi suất để duy trì cân bằng tỷ giá, nhưng cách làm này thậm chí còn gây tác động bất lợi lên nền kinh tế nghiêm trọng hơn so với việc điều chỉnh tỷ giá. Đặt trong bối cảnh Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất; đồng thời là hệ lụy của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, đồng nhân dân tệ và nhiều đồng tiền khác mất giá, áp lực lên tiền đồng trong thời gian tới là không hề nhỏ.

Lettre ouverte: A Monsieur Nguyen phu Trong, le nouveau Président de La RSVN

 

Nguyễn Khắc Mai/ BVN 1-12-2018
(Tôi thảo thư này khi còn rong chơi ở Paris, nên xin mở đầu bằng tiếng Pháp. Président thì họ dùng Le (lơ) giống đực, mà République socialiste VN thì họ dùng La (la), giống cái, ta gọi là cái cọng hòa… Ở bên tây nếu ta đọc la rờ sờ vờ nờ (RSVN) thì họ không hiểu ta rờ sờ cái chi nên phải đọc là la e rờ, e’xtờ, vê, en nờ).
Thưa Anh, tôi xin gọi như tôi vẫn gọi anh như thế cho thân mật, để tôi có thể nói huỵch toẹt ra những điều cần nói với anh. Còn cái chức vụ cao quý mà Quốc hội của Đảng đã bầu thì nhất thiết phải kính nhi.
Ngày xưa khi vua chúa mới lên ngôi rất chú ý đến những cái “dớp”, tức là những hành động hoặc hiện tượng có tính sái, nghĩa là bất thường. Ví như lụt bão, hạn hán, sao chổi xuất hiện, núi lở, sông đổi dòng, cả hiện tượng lạ bất thường như gà gáy nửa đêm, chim chóc đột nhiên bay loạn xạ, kêu xao xác… Nếu có những điều như thế thì nhà vua thường lập trai đàn cầu cúng và ăn năn, sám hối những lỗi lầm của bản thân hoặc của các quan lại cấp dưới. Điều đó có tác dụng làm yên ổn lòng mình mà còn làm thần dân an tâm. Cố nhiên phải sám hối cho thành tâm, như C.Mác nói “Sám hối thật lòng thì có cơ cứu rỗi”. Tôi dẫn một ví dụ. Triều vua Lê Nhân Tông (tk XV), Việt sử thông giám cương mục ghi: “Đại hạn… Nhà vua bèn hạ chiếu xét mình.
“Luôn mấy năm nay hạn hán thóc lúa hỏng, không thu hoạch được; dân tình sầu oán!
“Có lẽ vì trẫm không hết sức thành thực để cảm cách lòng trời,
không tròn đạo hiếu để kính thờ tông miếu? Lại không biết sử dụng người hiền năng, còn những người mình dùng đó đều là hạng người mờ tối nhỏ nhen mà nên nỗi chăng?
“Hay là nạn hối lộ thịnh hành và việc nữ sắc quá nhiều chăng?
“Hay là không cẩn thận tiết độ trong việc tiêu dùng, làm hao hại tiền tài của dân chăng?
“Hay là đại thần giúp rập chưa làm hết phận sự điều hòa xoay chuyển trời đất chăng?
“Tướng súy và bầy tôi nơi phiên trấn chưa biết yêu thương quân dân, làm nhiều việc xà xẻo bóc lột chăng?
“Các chức thú lệnh không biết vỗ về chăn nuôi dân, chỉ chăm bề xâm phạm đục khoét của dân mà đến nỗi thế chăng?
“Hay là quan coi hình ngục không biết giữ sự công bằng, chỉ rông rỡ tham lam khắc nghiệt, khiến cho oán khí bốc xông lên trên đến nỗi thế chăng?
“Hay là các quan thừa hành chỉ chuyên ưa chuộng giấy tờ tư văn,  làm cho ơn trạch không nhuần thấm xuống dưới, tình hình kẻ dướí không đề đạt được lên trên chăng?
“Những nhà quyền quý cậy thế ra oai làm cho người dân nhỏ mọn phải chịu oan uổng chăng?
“Người làm chủ súy đảo lộn công lao  của quân nhân, làm hại đến phép công chăng?
“Chằm đã khô cạn không có cá, thế mà ngạch thuế vẫn chưa giảm bớt, dân còn phải nộp thuế khống chăng?
“Con cháu các nhà công thần kỳ cựu chưa lục dụng được hết chăng?
“Những lỗi lầm dồn dập chứa chất ấy làm thương tổn đến khí hòa của trời đất. Vậy nay nếu không kê cứu lời xưa dạy bảo sửa lỗi và tìm  hết đường lối xét mình thì làm thế nào để trên có thể xoay lại lòng trời, dưới có thể cứu chữa đau khổ cho dân được?
“Tờ chiếu vừa ban xuống thì buổi tối hôm ấy trời mưa” (Sđd, NXB Văn Sử Địa Hà Nội, TX, Tr. 16-17).
Tôi nghĩ, “những lỗi lầm dồn dập chứa chất ấy”, ngày nay đầy dẫy từ TW đến địa phương, tệ hại, khốn nạn hơn xưa nhiều lắm!
Có môt cái dớp rất lớn, rất tệ hại mà anh vừa lên ngôi chỉ vài ngày thì xảy ra. Cái Ủy ban Kiểm tra TW đã làm một việc mà dân họ gọi là vừa ngu, vừa điên, nó tố cáo với thế giới và với dân nước rằng cái đảng mà anh là TBT vừa thù ghét trí thức, vừa kỳ thị tri thức. Trí thức thì người xưa gọi là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí mạnh thì thế nước mạnh, mà suy thì thế nước yếu. Các bậc thánh trí minh vương phải làm không biết đến đâu là cùng để bồi đắp cho nguyên khí. Có thể nhận định rằng cái UBKTTW đã chẳng biết gì về những tư tưởng tốt đẹp của tổ tiên mà hành xử thì rõ ràng là đã chửi bới lại cả tổ tiên. Ông bà bảo "phải làm không biết đến đâu là cùng", tức là phải bồi dưỡng nguyên khí, còn họ lại ra một quyết định ngớ ngẩn không thể biện hộ. Người nhà nhà anh có tư tưởng tiến bộ, anh vùi dập, thử hỏi ai tin được anh còn biết tôn trọng người ngoài? Ra cái nghị quyết ngớ ngẩn ấy, họ đã phạm ba sai lầm.
Thứ nhất họ khẳng định rằng đảng của anh không cần kiến thức, tri thức, chỉ cần tụng mấy câu mác lê là đủ. Nhưng có thể đảng không cần trí tuệ vẫn có thể cầm quyền. Còn dân và xã hội, thì không. Cấm dân mở rộng tri thức, chỉ là hành vi của bạo chúa, ngu tối, chúng cần dân ngu để dễ cai trị! Cớ sao anh lại đồng tình? Anh có thật lòng không, hay là lừa dối, khi anh kêu goi tìm đột phá về lý luận. Làm sao có đột phá khi hành xử thô bạo như vậy với trí thức. Anh Chu Hảo và nhiều người khác không chỉ là đảng viên của đảng, họ còn là trí thức của đất nước!
Thứ hai, cấm người đảng viên trí thức không được nghĩ khác, nói khác ý kiến ban lãnh đạo. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, phân biệt giữa tư tưởng của các vị tổ sư Mác và Ăngghen với đám phản đồ như Lênin, Stalin, Mao… Sinh thời Ăngghen phải kêu trời vấn đề này, ông từng nói: “Phải chấm dứt một tình hình tế nhị. Cớ sao các đảng viên, thay cho coi các quan chức của đảng là đầy tớ để bảo ban và phê bình, thì quay ra coi họ là đám quan-liêu-không-bao-giờ-mắc-sai lầm”. Như thế là mối quan hệ đảng viên và đám quan chức của đảng đã từng được xác lập theo quan hệ của đông đảo đảng viên là chủ thể và quan chức chỉ là “serviteur”, người phục vụ (đầy tớ, công bộc). Tôi không hiểu vì sao anh là trí thức lại rập khuôn sao chép y chang mô hình của Xô Viết và Diên An. Chắc anh cũng hiểu chỉ những tổ chức theo kiểu ma phi a hoặc phát xít thì mới bắt đàn em phải tuân phục đại ca (thủ lĩnh) vô điều kiện! Kéo dài những phương thức của một mô hình xã hội-chính trị vừa lỗi thời vừa phản động,lại đã phá sản, mà lịch sử đã lên án, thử hỏi chúng ta có chính danh hay không?
Thứ ba, hành xử của cái UBKT rõ ràng đang làm cho tình trạng quân hồi vô phèng phát triển. Việc quản lý in ấn phát hành đã có một cơ quan nhà nước là Cục Xuất bản đảm nhiệm, theo luật pháp và thẩm quyền chuyên môn. Anh là một ngành chuyên môn cụ thể, lại nhảy bổ vào đi làm chuyện của một cơ quan chuyên môn khác, tạo ra sự nghi ngờ về thẩm quyền và tư cách nhà nước của cơ quan này, nếu không gọi là vô chính phủ thì gọi là gì? Làm sao xã hội có thể tin được rằng một anh Vụ trưởng UBKT lại có đủ trình độ để thẩm định một tác phẩm có hàm lượng trí tuệ và khoa học, triết học mà chỉ có những chuyên gia liên nghành may ra mới đánh giá được! Theo Mác chỉ có duy nhất một phương thức để đối xử với tác phẩm là: nghiên cứu và phê bình, mọi hình thức kiểm duyệt chỉ là biện pháp sen đầm, thậm chí là biện pháp sen đầm tồi. Thành thử sai lầm này lại là môt sai lầm kép, nó chứa trong nó chẳng những là sự ấu trĩ (non nớt) mà còn là sự phá hoại.
Để phỉ phui mấy cái dớp này, không cứ mua bồ kết đốt vía mà được. Anh phải thành tín làm ngay một vài việc có ý nghĩa chấn động lòng người, may ra mới chấn động đến lòng trời, rồi họa may anh mới được chuyển nguy thành an được.
Hãy ra một chỉ thị của Président (1), yêu cầu giải quyệt vụ Thủ Thiêm, trước hết từ nay đến Tết Đinh Hợi phải trả lại nhà đất ngoài quy hoạch cho dân oan đã bị cưỡng chế sai.
Nhân dịp Tết Đinh Hợi hãy đặc xá, trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm. Ngày xưa Vua Lý Nhân Tông, mùa đông, ngồi trong cung có áo ngự hàn, đốt cũi sưởi mà vẫn rét, liền nghĩ ngay đến người tù, những con người cùng khổ nhất, bèn lệnh tăng  phần ăn, cấp thêm chăn chiếu và đặc biệt là thả hết những người bị giam mà chưa thành án! Huống nữa là anh chị em tù nhân lương tâm, họ chỉ hoạt động vì mong muốn Đất nước tự chủ, không làm tôi mọi cho Trung Hoa Đại Hán bành trướng, mong làm lành mạnh hóa chính quyền, mong người dân thực sự có tự do dân quyền… Không nên coi họ là người có tội!
Nếu làm được ba điều ấy trước Tết, anh sẽ xua khỏi mình những tà khí, sẽ tạo ra trong đất nước một luồng sinh khí mới. Và như thế công việc của anh, đi tìm người hiền tài thay thế đám “quan liêu không bao giờ mắc sai lầm" may ra mới hanh thông.
Còn bây giờ, tôi xin nói chuyện đường dài với anh.
Bây giờ anh không chỉ là người của 4 triệu (thật ra anh chỉ là người của vài ba ngàn đại biểu bầu cho anh thôi). Cứ xem ông Tương Lai tuyên bố không muốn cùng đảng với anh thì biết, có cả nhiều vạn người từ bỏ anh âm thầm lặng lẽ, đút hồ sơ đảng viên vào ngăn kéo, không thèm nạp cho tổ chức. Cuộc thoái đảng này họ đã làm một cách rất Lạc Việt. Với cương vị Nhà nước mới anh phải là người của 90 triệu. Nếu anh cứ khư khư chỉ là người của đảng, tính chính danh “Chủ tịch Nhà nước” sẽ không còn. Cứ xem các Tổng thống các nước, mỗi khi đắc cử bao giờ cũng  tuyên bố phải phục vụ cho cả những người không bầu cho họ.
Nên giao chức Tổng bí thư cho người khác. Cố nhiên không được giao cho những kẻ cơ hội, làm tay sai cho Tàu.
Hãy từng bước tự chuyển hóa, chuyển biến, từ bỏ cái gọi là chủ nghĩa mác lê. Cái chủ nghĩa mác lê gắn với mô hình xã hội chính trị có tên gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị Thế giới lên án. Nghị viện châu Âu lên án nó là mang tội diệt chủng, phản nhân loại. Gần đây Tổng thống D. Trump giữa Đại hội đồng LHQ đã tiếp tục lên án CNXH, mà cả Trung Hoa cả Việt nam đều im tiếng không dám cãi lại một lời. Lịch sử 100 năm nay cho thấy những nhà nước XHCN đều là những nhà nước tiếm quyền, độc tài toàn trị, đều đem lại thảm họa cho đất nước của họ. Riêng ở nước ta từ khi “Đổi mới”, thực chất đã không dám nói đi theo CNTB, nhưng vốn, kỹ thuật và một phần lớn  phương thức chủ nghĩa tư bản đã được áp dụng. Không phải nhờ đường lối XHCN của đảng, mà thật sự là nhờ những yếu tố quan trọng này, mà nước ta đã có những hạ tầng kinh tế xã hội theo hướng hiện đại, nhờ thế mà nền kinh tế đã có thể hòa nhập khá sâu với thế giới. Nhờ nó mà các anh đã có thể tiếp tục đánh tráo khái niệm và lừa dối nhân dân, rằng nhờ đảng mà có cơ ngơi như ngày nay. Cần nói cho rõ ràng rằng với sự lãnh đạo “tài tình sáng suốt” của đảng chỉ kể từ “đổi mới” đến nay, tổng đầu tư cho công nghiệp hóa hiện đại hóa của VN (theo sự tính toán của nhiều nhà nghiên cứu) thì đã gấp đôi của Hàn quốc để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước họ. Hơn nữa họ đã hoàn thành trong một thời gian kỷ lục. Chỉ trong vòng hơn 30 năm, họ đã có một hạ tằng giao thông gồm đường bộ, đường sắt, hàng hải hàng không hiện đại, một nền kinh tế mạnh xếp  thứ 10 của thế giới, có một nền khoa học, giáo dục tiên tiến đáng ngưỡng mộ, lại có một nền tư pháp đủ sức điều tiết bất kỳ hành vi tội lỗi, dẫu là của đương kim hay cựu Tổng thống. Ở nước ta, công trình của đảng chỉ là: một nền kinh tế bệnh hoạn, một nền khoa học giáo dục, nói như Lênin “9 phần là sai lầm, 1 phần là dối trá. Luật pháp thì như rừng mà xử thì như luật rừng. Một Chính quyền hành dân là chính, ăn không kể thứ gì, có đầy đủ cả ba tính chất (như Lênin nói), dốt, tham và cậy quyền.
Không phải ngẫu nhiên mà anh Trương Tấn Sang nhân kỷ niêm 19 tháng Tám và 2-9 đã viết bài khá cảm khái. So sánh nước ta với các lân bang và nêu ra yêu cầu phải “gạt qua một bên, loại trừ”những yếu tố cản trở sự phát triển của Dân tộc. Những đảng viên quan chức cao cấp đã bắt đầu nhận thấy những dấu hiệu đồi trụy của đảng, người thì nói “lỗi hệ thống”, người thì nói “sâu một bầy”, "ăn đủ mọi thứ”… Chắc anh cũng biết những điều đó, có điều anh đang sợ vỡ bình, lại sợ mất quyền lực, mất ghế.  Nhưng ngay những tên độc tài trên thế giới từng ép cả Quốc hội ra luật để chúng làm Tổng thống mãn đời, thì hậu vận đâu có ra gì, chết đi, mà dân còn tiếp tục nguyền rủa. Chi bằng sám hối để còn được dung tha, thanh thản mà còn lưu phúc cho con cháu.
Anh là Tiến sỹ, Giáo sư, sao anh không hiểu rằng cái gọi là chủ nghĩa Mác Lênin thực ra là mớ hổ lốn, mà đám phản đồ hớp lấy những thứ cặn bã mà chính Mác và cả Ăngghen đã thải bỏ. Về lý tưởng cộng sản hai ông ấy khẳng định “đó chỉ là những ý nghĩ trẻ con lúc đầu đời và đã vứt bỏ lúc cuối đời”. Mác tự mình chối bỏ cái gọi là chủ nghĩa mác. Có hai điều mà Mác và Ăngghen đưa vào Tuyên ngôn cộng sản là “xóa bỏ tư hữu”và thi hành nền chuyên chính vô sản lấy giai cấp vô sản công nhân làm lãnh đạo, làm “người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”. Cả hai điều đó, mà Lênin và bọn phản đồ đã cho là cột trụ của cái gọi là chủ nghĩa Mác Lê, thì chính nó là hai thứ cặn bã mà tự Mác đã thải ra. Hớp lấy cặn bã để dựng học thuyết, phỏng ra cái gì? Về tư hữu thì cuối đời Mác đã phủ định, và cho rằng “Những người sản xuất chỉ có được tự do một khi họ có quyền sở hữu: đất đai, nhà xưởng, tàu thuyền, ngân hàng tín dụng…”(2) Về giai cấp công nhân thì ông cho rằng “Một khi giai cấp công nhân đoạt được chính quyền, họ sẽ thúc đẩy một thể chế ủy trị, để cho một nhóm người đứng ra đại diện họ (cn) và cai trị họ. Ngay lập tức, họ sẽ rơi tõm vào sự lừa dối và lệ thuộc. Sau một hồi hưng phấn cách mạng trong một kiểu nhà nước mới, họ sẽ bừng tỉnh, thấy mình là nô lệ, con rối và con mồi của những tham vọng mới” (2). Như thế là cả hai cái cột trụ của chủ nghĩa Mác Lê chỉ là cái cặn bã đã được Mác thải bỏ. Cả về lý thuyết lẫn thực tiễn đều đã bị nhân loại tiến bộ lên án. Các nước XHCN hiện tồn đều thực hiện chế độ tư hữu đỏ mập mờ hoang dại và tham tàn, khiến cho dân tộc chia ly, suy đồi, rối loạn kỷ cương, giá trị.
Cái gọi là giai cấp vô sản thực sự đã từ tên phu đào huyệt trở thành kẻ nô lệ, đau đớn hơn họ đã trở thành con mồi của những tham vọng mới. Bọn tham vọng mới chính là bè lũ quan liêu không bao giờ mắc sai lầm bám vào chủ nghĩa Mác Lê để lừa bịp, cai trị và cướp bóc. Nếu anh còn chút lương tri, xin hãy tỉnh ngộ, bóc trần mọi dối trá, trả lại cho dân tộc sự lành mạnh văn hóa và tinh thần, để cho đất Việt - với cái nghĩa là vươn lên - vượt lên, siêu việt lên vào một thời kỳ mới nhịp cùng nhân loại văn minh tiên tiến ngày nay!
Anh hãy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Người không tự diễn biến, tự chuyển hóa, thực ra là con người chết. Ngay quy luật tự nhiên thôi cứ bảy ngày thì tế bào cũ chết, sinh ra một tế bào mới. Vì thế mà nhà Phật mới nói được luân hồi ngay trong kiếp này.
Trước hết anh hãy chuyển hóa làm người của dân tộc, của 90 triệu chứ không chỉ là người của mấy ngàn mà thôi.
Để làm được người của dân tộc,anh  có ba lựa chọn:
- Tìm lại và thực hiện tinh thần của Hiến pháp 1946 và mô hình nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nguyên khởi. Đó là tinh thần Độc lập Tự chủ (chưa bị lệ thuộc), Đoàn kết và Hòa hợp Dân tộc, tôn trọng đa nguyên, mời gọi các chính đảng cùng tham gia, tinh thần pháp quyền, tôn trọng Dân… Đáng tiếc là sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vào năm 1959, Hồ Chí Minh đã xóa bỏ Hiến pháp ấy và khởi thảo Hiến pháp mới rất đậm dấu ấn của mô hình Xô Viết và tư tưởng Diên An. Cố nhiên, là tooi nói anh theo tinh thần của HP 46, nhưng nội dung cụ thể thì phải tuân theo sự tiến bộ của thế  giới trong thế kỷ XXI.
- Hướng theo tư tưởng của các đảng Xã hội-Dân chủ. Những đảng này chỉ sử dụng tư tưởng của Mác và Ăngghen, như một tham chiếu quan trọng, chứ không coi đó là chủ nghĩa xơ cứng. Họ có những điều khả thể : Tôn trọng Độc lập quốc gia, nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập, Xã hội dân sự, kinh tế thị trường đúng đắn và đầy đủ… Sau Thế giới đại chiến lần II, họ có nhiều công đóng góp cho các dân tộc của mình. Hiện nay họ đang ở vào tình thế khó khăn. Chủ yếu là chủ trương và đường lối không theo kịp biến chuyển của thế giới, thiếu những nhân cách lãnh đạo có uy tín cao trong xã hội, trở về thế đối lập yếu.
- Tinh tuyển những yếu tố tiến bộ, hợp lý trong các mô hình nhà nước hiện đại, xây dựng một Nhà nước Việt Nam Tân tiến, Nhân văn, Dân chủ, Độc lập, Đoàn kết Dân tộc, Lập Quyền Dân. Từ ngàn xưa, dân tộc ta đã biết “Coi Dân là gốc của Nước”, ”Dân là quý”, ”thân Dân”, “an Dân”… Nhưng Dân chưa bao giờ thực sự có quyền lực nhà nước. Chỉ vào đầu tk XX vấn đề dân quyền mới được đặt ra. Hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh từng nói với nhau: Tranh được Độc lập rồi mà dân không có quyền thì cũng chẳng nghĩa lý gì! Trong khởi nghĩa tháng Tám 1945, Văn Cao có bài ca Chiến sĩ Việt Nam. Trong bài ca ấy có đoạn ca từ rất đẹp:
Lập Quyền Dân tiến lên Việt Nam,
Đài Hạnh phúc đắp xây Tự do.
Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm.
Thật ra Lập Quyền Dân mới chỉ là khẩu hiệu văn hóa. Bây giờ, phải trở thành khẩu hiệu chính trị. Phải trả lại cho Dân những quyền chính trị quan trọng, như quyền sở hữu từ đất đai, nhà xưởng, tàu thuyền, ngân hàng, tín dụng… như C. Mác quan niệm. Trả cho Dân quyền tự do mưu cầu hạnh phúc, mà trong Tuyên ngôn 2-9 Hồ chí Minh đã phải thừa nhận. Trả cho Dân quyền tụ do Lập Hội, tự do ngôn luận, báo chí, tự do nhân thân... Một đất nước chỉ có thể phát triển bền vững khi tôn trọng Quyền Dân, Quyền con người. Đó chính là cái vốn xã hội chính trị quan trọng và cơ bản nhất.
Những người cộng sản Việt Nam hôm nay, nếu thật có lòng yêu Nước thương Dân, hãy suy ngẫm dự báo tài tình của C. Mác, khi ông nói, sau khi cướp được chính quyền, thì một nhóm người tự mình bầu cử và ứng cử để cai trị trong một kiểu nhà nước mới. Và ở Việt Nam thì cả công nhân, nông dân, trí thức, cả ba thành phần cốt cán của đảng đều trở thành nô lệ, con rối và con mồi (nạn nhân) của  bọn tham vọng mới! Hình thù bọn tham vọng mới ở nước ta hôm nay thì từng người dân đều rõ, đó là những đảng viên cầm quyền cấu kết với “ngoại bang lạ”, với những băng nhóm làm ăn bất chính hùa với tà quyền để cướp bóc. Cho nên nếu ai còn có chút lòng lương thiện thì phải tự diễn biến tự chuyển hóa thành người dân chủ, tiến bộ, nhân văn, thành con người của dân tộc, của nhân dân. Hiện nay ranh giới đã rõ, là đảng trì trệ, hủ lậu, phản tiến hóa, phản dân tộc, hay là làm người của Dân tộc, Nhân dân, Dân chủ, Nhân văn, quyết phục hưng Đất nước trong thế kỷ mới!
Còn môt vấn đề sinh tử nữa của Đất Nước hôm nay. Đó là mối quan hệ quốc tế. Bám theo để kiếm chác và phục vụ cho chính sách bá quyền Đại Hán đế quốc chủ nghĩa mới của tập đoàn cầm quyền hiện nay của Trung Hoa, hay chấn hưng đất nước, giữ vững độc lập, bảo vệ chủ quyền, thăng hoa dân tộc trong thế kỷ mới? Mệnh lệnh của dân tộc là phải sửa đổi mối quan hệ với Trung Hoa. Phải gầy dựng tinh thần tự chủ, phải gia tăng nội lực của đất nước, ủng hộ tinh thần yêu nước trong nhân dân, thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Chân thành, thật tâm thực hiện quan hệ chiến lược với các nước văn minh tiến bộ, mà họ đang thực thi việc ngăn ngừa và làm thất bại mưu đồ xấu xa, phản động của đế chế Trung Hoa mới. 
Ngày nay chỉ trở về với nhân dân, thật tâm đi với nhân dân, dựa vào nhân dân xây dựng nội lực mới của dân tộc thì họa may mới đủ sức để ứng phó với tình hình thế giới mà anh cũng nhận thức được là biến chuyển nhanh chóng và khó lường. Ai cũng thấy thể chế này bất lực trước những đòi hỏi mới của Dân Nước. Chúng ta đã phung phí quá nhiều tài sản của quốc gia, phung phí cả thời gian của dân tộc, đã để mất nhiều thời cơ. Nay không thể chần chừ gì nữa. Thay đổi! Thay đổi! Không thay đổi thì Dân tộc sẽ rơi vào thảm họa đã trông thấy, mà đảng cũng đang chết trong lòng người!
Những ý kiến trên không mới, nhiều người đã nói với anh. Tôi, nhân khi đang rong chơi ở Paris, biết tin anh đã lên ngôi mới, thề thốt vì dân vì nước, cũng thử nghĩ  xem nhóm Ngũ Long, Nguyễn Les Patriotes xưa, họ đã gõ gót trên những đường phố nào, để ấp ủ một hoài vọng, mong nước được hồi sinh, dân được văn minh tiến bộ. Bèn ngẫm nghĩ trong đầu một lá thư gởi cho anh. Xin anh hãy lắng nghe lời một người già vẫn đau đáu một mong ước như Nàng Bích Châu (3) xưa “Mong Nước được trị Dân được an”.
Cầu mong ơn Tiên Tổ cho anh một thần trí mới để thực hiện thành quả tự diễn biến, tự chuyển hóa.
Thân kính,
Nguyễn Khắc Mai, người già Ô Đồng Lầm Thăng Long.
Ghi chú
(1) Tôi xin dùng chữ Pháp vì chữ Chủ tịch, từ Tàu du nhập vào, nó có nghĩa là  chủ chiếu, hoặc chiếu bạc, chiếu rượu, chiếu thơ, chiếu văn, từ ấy không xứng đáng để gọi người đứng đầu Nhà nước.
(2) Xem Marx sa vie et son oeuvre, Jean Eleinstein, NXB Fayard, Paris.
(3) Bà Bich Châu Phi hậu của vua Trần Duệ Tông, hy sinh trong cuộc Nam chinh, tác giả áng văn Kê minh thập sách. Xem Chế Thắng Phu nhân Nguyễn Thị Bich Châu và Đền thiêng bên cửa biển. NXB Phụ nữ. 2015.
Tác giả gửi BVN

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2018

20181201. BỆNH 'NÃO BÉ'

ĐIỂM BÁO MẠNG
NÃO BÉ MÀ LEO CAO, LUỒN SÂU THẾ ?

QUỐC PHONG / TVN 27-11-2018

Não bé mà leo cao, luồn sâu thế?
 - Dư luận đùng đùng nổi giận đặt câu hỏi vì sao một người não bé như ông Hóa có thể leo cao luồn sâu trong ngành công an?
Sự “thật thà” đến mức ngây thơ của cựu tướng Công an Nguyễn Thanh Hoá, người từng đảm trách chức vụ cực kỳ quan trọng trong lực lượng phòng chống tội phạm công nghệ cao (C50) Tổng cục Cảnh sát, bộ Công an đã biểu lộ khi ông ta được nói lời sau cùng trước phiên toàn xét xử 92 bị cáo bảo kê đánh bạc, tổ chức đánh bạc và các con bạc tại tỉnh Phú Thọ hôm rồi có lẽ khiến nhiều người đọc báo hoặc theo dõi được phen cười té ghế khi nghe ông tướng oai hùng ngày nào đã” tự thú”: “Tạo hoá cho bị cáo một bộ não quá bé nhưng ước mơ lớn, dẫn đến vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng thanh danh, uy tín ngành Công an. Bị cáo thành thật xin lỗi.”
Nhà báo Hoàng Hải Vân, bạn tôi, theo dõi phiên tòa xét xử vụ đánh bạc công nghệ cao đã nhận xét: "Não bé thì không có tội. Não bé mà tham vọng quá lớn cũng chưa chắc phạm tội, nếu như không có cơ hội hiện thực hóa tham vọng đó. Não bé mà giữ chức vụ to mới có tội, trước hết là tội của người đã giao chức vụ to cho anh ta. “Tội” ở đây không nói theo luật, mà theo công lý, theo lẽ phải."
Nhiều người hẳn đã ngỡ ngàng khi trước đó, trong phần tranh tụng, chính bị cáo Nguyễn Thanh Hoá  phản bác lại những gì đã khai báo, đã thừa nhận trong cáo trạng. Việc ông Hóa phủ nhận hết nội dung trình bày trước toà của bị cáo Nguyễn Văn Dương, Chủ tịch Công ty bình phong CNC đối tác của C50 để đến nỗi bị cáo Dương cho rằng ông Hoá “đã xúc phạm mình” thì đủ hiểu các bị cáo căng thẳng đến thế nào, đồng thời họ cũng hiểu mức độ nghiêm trọng của vấn đề đến thế nào.
Còn nữa. Khi các cán bộ cấp dưới của cựu cục trưởng C50 đối chất, họ đều quả quyết, đã phát hiện ra những sai phạm trong hoạt động của Công ty CNC nhưng bị ông Hoá ngăn chặn. Chính tướng Hoá bật đèn xanh cho công ty trên triển khai kinh doanh khi chưa hề được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động.
Trong ngày tiếp theo của phiên xét xử, ông Hoá đột ngột xin lỗi các đồng đội cũ của mình, xin lỗi bị cáo Nguyễn Văn Dương.
Diễn biến phiên tòa như vậy khiến cho dư luận không khỏi suy nghĩ tới chiêu kế “lật cánh” uyển chuyển để mong gỡ tội, hòng thoát tội của các bị cáo, từng giữ các chức vụ rất cao trong cơ quan công an.
Sự “thật thà” đến mức ngây thơ của cựu tướng Công an Nguyễn Thanh Hoá, người từng đảm trách chức vụ cực kỳ quan trọng trong lực lượng phòng chống tội phạm công nghệ cao (C50) Tổng cục Cảnh sát, bộ Công an đã biểu lộ khi ông ta được nói lời sau cùng trước phiên toàn xét xử 92 bị cáo bảo kê đánh bạc, tổ chức đánh bạc và các con bạc tại tỉnh Phú Thọ hôm rồi có lẽ khiến nhiều người đọc báo hoặc theo dõi được phen cười té ghế khi nghe ông tướng oai hùng ngày nào đã” tự thú”: “Tạo hoá cho bị cáo một bộ não quá bé nhưng ước mơ lớn, dẫn đến vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng thanh danh, uy tín ngành Công an. Bị cáo thành thật xin lỗi.”
Thông tin từ phiên tòa tiếp tục nóng lên khi luật sư bào chữa cho ông Hoá lý giải sự “tiền hậu bất nhất” của thân chủ là “do ông Hoá hiện bị hai mảnh đạn vẫn đang còn găm trong đầu trong thời kỳ chiến tranh. Bởi thế nên thần kinh ông Hoá không ổn định”.
Tới đây, dư luận đùng đùng nổi giận, đặt câu hỏi trực diện về công tác cán bộ: Một người thần kinh không ổn định như vậy, sao có thể leo cao luồn sâu đến thế trong ngành công an?
Khi đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ tranh tụng, chủ tọa phiên toà sơ thẩm Nguyễn Thị Thùy Hương mời bị cáo Nguyễn Thanh Hóa lên khai báo. Khá rụt rè, tỏ vẻ ăn năn, bị cáo Nguyễn Thanh Hóa kể lể, "nhiều đêm qua, bị cáo đã suy nghĩ nhiều về hành vi sai phạm của mình. Dù có ăn năn hối hận ngàn lần đi nữa cũng đã quá muộn, không thay đổi được gì nữa. Tuy nhiên, về mức án 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù mà VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị với mình, bị cáo cho rằng là quá nặng.”
“Khi được giao xây dựng lực lượng cảnh sát đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, bản thân không am hiểu nhiều về công nghệ nhưng vẫn luôn gắng hết sức” bị cáo Hóa đã giãi bày như thế trước tòa.
Ô hay nhỉ! Tại sao khi được bổ nhiệm vị trí lãnh đạo chủ chốt, lại trong một lĩnh vực đòi hỏi kỹ năng công nghệ cao điều này đã không được báo cáo; Tại sao bản thân ông Hóa lúc đó lại im lặng?
Kịch tính này khiến người ta suy nghĩ không nguôi về những lỏng lẻo trong công tác cán bộ, về những gian truân của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực. Và càng thấm thía về trách nhiệm chống lại cái xấu, cái ác; chống lại thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, xa dân của những cán bộ thoái hóa, biến chất, và cả trách nhiệm phải sàng lọc, loại bỏ ngay từ đầu một bộ phận cán bộ được ví như những “con lươn, con chạch” luôn tìm cách leo cao, chui sâu vào bộ máy.
Càng theo sát vụ án tướng công an bảo kê đánh bạc tôi càng không tin ngành công an thiếu nhân lực công nghệ cao. Bởi trước nay ngành an ninh lâu nay luôn đấu tranh với các thế lực thù địch bằng công nghệ thông tin rất tốt.
Niềm tin của tôi là chính xác bởi theo các lời khai của nhân chứng trước tòa, khi các thuộc cấp của cựu tướng Hoá phát hiện ra việc làm vi phạm pháp luật của doanh nghiệp bình phong CNC, thì đích thân ông Hoá đã sử dụng chức vụ quyền hạn của mình ngăn cản họ nhằm che dấu hành vi sai trái.
Vì sao ông Hóa làm vậy, tham vọng của ông ở đây là tham vọng gì? Hẳn rằng ai ai cũng đều nhìn thấy cả.
Những diễn biến trong phiên tòa xét xử tướng công an bảo kê đánh bạc công nghệ cao càng thôi thúc dư luận ủng hộ công tác cán bộ mà Đảng ta đang hướng tới, bắt đầu từ việc làm trong sạch đội ngũ.
Bởi thực tế đã được thực tiễn đúc kết thành quy luật đúng với bất kể tổ chức nào, mô hình nào đó là, chỉ khi nào đội ngũ cán bộ chủ chốt vừa hồng, vừa chuyên thì tổ chức đó mới có hy vọng đi xa và đi bền vững.  
Quốc Phong 
TIN BÀI LIÊN QUAN:
BỆNH NÃO BÉ

XUÂN DƯƠNG / GDVN 1-12-2018

Giáo sư Tạ Quang Bửu (1910–1986) từng làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Trong một tài liệu lưu tại Viện Bảo tàng cách mạng, trước chữ ký của ông trên văn bản có ghi cấp hàm là Thiếu tướng. [1]
Giáo sư Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm thiếu tướng năm 1948, ông từng giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, cấp hàm tương đương Bộ trưởng.
Gần đây, một vị thiếu tướng là ông Nguyễn Mạnh Hùng được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
Quốc hội đã ban hành những điều luật khống chế số lượng cấp tướng trong quân đội và công an, bởi đây là những chức vụ rất quan trọng.
Nêu một vài thông tin để thấy cấp hàm thiếu tướng là khá cao, không ít trường hợp tương đương với chức bộ trưởng.
Báo chí đưa tin, trước tòa, cựu thiếu tướng công an Nguyễn Thanh Hóa bộc bạch: “Khi được giao xây dựng lực lượng cảnh sát đấu tranh phòng, chống tội phạm về công nghệ cao, tôi không am hiểu gì về công nghệ nhưng vẫn cố hết sức của mình. Tạo hoá cho tôi một bộ não quá bé nhưng lại cho tôi một tham vọng quá lớn”.
Nguyễn Thanh Hóa chắc chắn được học hành cẩn thận, có đủ các loại bằng cấp lý luận và quản lý hành chính mới được đề bạt chức Cục trưởng, tuy nhiên khi ông này tự nhận mình bị “Tạo hoá cho một bộ não quá bé” thì không biết ông nói về thể tích của bộ não hay về khả năng tư duy mà bộ não mang lại?
Sự việc người “không am hiểu gì về công nghệ” nhưng lại làm Cục trưởng Cục phòng chống tội phạm công nghệ cao (C50) Bộ Công an cho thấy một thực tế, không ít vị lãnh đạo có thể làm người đứng đầu bất kỳ cơ quan nào miễn là được bổ nhiệm.
Xin nêu vài dẫn chứng:
Trịnh Xuân Thanh trình độ chuyên môn kiến trúc sư, chuyển sang làm trong lĩnh vực dầu khí rồi làm Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang một cách suôn sẻ nếu không có chuyện chiếc xe tư nhân mang biển xanh của người này bị báo chí điểm mặt.
Lê Phước Hoài Bảo từ chỗ không làm được cho doanh nghiệp tư nhân theo lời khuyên của cha quay về làm cho nhà nước, tháng 2/2014 nhận việc tại Ủy ban Nhân dân huyện Thăng Bình, tháng 3/2014 làm Phó Chủ tịch huyện, tháng 4/2015 làm Phó Giám đốc sở và tháng 9/2015 làm Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư.
Khả năng lãnh đạo của người này theo đánh giá của nguyên Bí thư tỉnh ủy Quảng Nam Lê Phước Thanh như sau:
“Tôi có thể khẳng định việc đó (làm Giám đốc sở - NV) thừa sức, Bảo có uy tín để làm. Nhiều người đánh giá cách tổ chức, cách quản lý của Bảo rất tốt, từ đạo đức, phẩm chất cũng rất là tốt”. [2]
Bài “Suy và ngẫm” trên Tapchicongsan.org.vn trích dẫn lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng như sau:
“Sự nhiệt tình cộng với dốt nát bằng phá hoại”. [3]
Bài báo cho thấy năm 2013, người Việt đã chi 6 tỷ USD du lịch và 4 tỷ USD chữa bệnh ở nước ngoài và kết luận:
“Nếu chỉ vì lợi ích cá nhân thấp hèn mà bán rẻ lương tâm, bán rẻ đồng bào thì có tội lớn với dân tộc, với đất nước, muôn đời bị các thế hệ phỉ nhổ”.
Thế thì những người “vi phạm nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng đến mức phải xem xét kỷ luật” như Vũ Huy Hoàng, Nguyễn Bắc Son, Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa,… có phải đã và đang phá hoại cả kinh tế đất nước lẫn uy tín chính trị của cơ quan, đoàn thể hay chỉ tại họ “nhiệt tình” cộng thêm chút “dốt nát”?
Nói cho công bằng, một số người làm đến Bí thư, Chủ tịch tỉnh, Bộ trưởng hay cấp tướng trong quân đội, công an mới bị xử lý kỷ luật không thể là người dốt nát.
Có điều họ “thông minh quá, thông minh không chịu nổi” nên mới bị khai trừ, cách chức hoặc “dựa cột”.
Nói đến chuyện những kẻ hại nước, hại dân “muôn đời bị các thế hệ phỉ nhổ” thì lại có nhiều kiến giải khác nhau.
Loại quan mà dân gian gọi là “Quan cỏ”, bị tù năm bảy năm hay mất cái nguyên này nhưng vẫn còn nguyên cái không mất thì vài ba chục năm sau chẳng mấy người để ý.
Liệu hôm nay bao nhiêu người còn thời gian tìm hiểu để mà “phỉ nhổ” Nguyễn Trường Tô, người từng một thời hét ra “ảnh nóng” ở một tỉnh miền núi?
Con cái đám “quan cỏ” nhiều người du học ở bên tây, đã có sẵn hộ chiếu nước ngoài, tiền tiêu không hết thì lo gì chuyện “phỉ nhổ”.
Vả lại đến đời cháu chắt, tiếng Việt không biết, có du lịch về “quê cha đất tổ” nghe ai nói gì cũng như nước đổ đầu vịt, thế thì dẫu có ai đó bỏ công “phỉ nhổ” cũng mỏi mồm.
Họa chăng chỉ những kẻ mà người đời gọi là “Đại khốn nạn”, thành viên nhóm lợi ích “Khốn nạn” thì tiếng xấu mới để muôn đời, mà số này có lẽ không nhiều lắm.
Vận dụng câu nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng “Nhiệt tình + dốt nát = phá hoại” cho trường hợp “Não bé + chức to” thì sau dấu “=” phải thêm từ gì?
Người viết dùng từ “Bệnh viện” vì các lý do sau đây:
Nếu không phải ra tòa, hầu hết các nghi phạm luôn đủ sức khỏe để cống hiến, khi bị tòa án gọi tên, không ít người phải nhập viện với đủ các chứng bệnh nguy hiểm.
Đầu tiên phải kể đến vụ khai man thành tích để nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang của Hồ Xuân Mãn, sau khi bị tước danh hiệu và nộp lại tiền đã nhận, báo Laodong.vn dẫn kết luận của cơ quan chức năng như sau:
“Ông Mãn chưa bị xem xét kỷ luật do đang mắc bệnh hiểm nghèo. Bệnh của ông Mãn được Hội đồng chuyên môn Bệnh viện Sức khỏe miền Trung kết luận”. [4]
Bài báo cũng cho biết ý kiến của người dân Thừa Thiên - Huế như sau:
“Chúng tôi không hề biết bệnh viện này ở đâu, ở Huế, Đà Nẵng, Phong Điền? Ông Mãn mắc bệnh gì? Cần lập hội đồng y khoa để làm rõ. Lâu nay ông Mãn vẫn tụ tập ăn nhậu đều; cách đây 3-4 ngày, khi dự đám cưới, ông Mãn vẫn lên hát bài “Cuộc đời vẫn đẹp sao”…
Gần đây thì quá nhiều ví dụ:
Trần Bắc Hà - nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng BIDV vắng mặt tại tòa vì sang Singapore chữa bệnh.
Trong phiên tòa phúc thẩm vụ Út “trọc”, báo Tienphong.vn viết:
“Là nhân chứng quan trọng trong vụ án nhưng ông Lê Thanh Cung - nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương vắng mặt. Vợ ông viết đơn xin vắng mặt thay chồng và cho biết ông Cung từng phải sang Mỹ chữa bệnh tim, hiện phải xuất cảnh để tái khám”. [5]
Cựu trung tướng Phan Văn Vĩnh cũng nhập viện trước khi Tòa án tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử vụ đánh bạc qua mạng vì sức khỏe yếu.
Trong y văn, có một bệnh mà người mắc phải đầu cứ nhỏ dần, nhọn lên và có tên gọi là bệnh Zika. Y học còn hay gọi với tên bình dân là bệnh não nhỏ.
Có người tặc lưỡi “Khi người ta đã phải vào bệnh viện, bị bệnh nguy kịch mà còn kết luận là “phá hoại” e là hơi nặng nề, nhất là khi họ đã xin lỗi trước tòa”! Chẳng phải có lãnh đạo thành phố vào bệnh viện thăm kẻ phê ma túy còn tặng thêm phong bì đó sao!
Vậy nên có lời khuyên với ai bị bệnh “não bé” mà làm to ngoài việc chuẩn bị sẵn hộ chiếu nước ngoài như Vũ “nhôm” cũng nên dự trữ thêm vài ba cái bệnh án.
Mua bệnh án bất quá mất vài trăm ngàn đồng, khi cần trương ra là chữa được khối “bệnh”, nếu không chữa khỏi tuyệt đối thì chí ít cũng làm “bệnh” giảm đi ba bốn phần.
Nếu chẳng may chưa kịp mua bệnh án “Não bé” cho bản thân thì tìm bệnh của người nhà, rồi năn nỉ xin về phụng dưỡng, kiểu này cũng là một sáng kiến mà chỉ có “não bé” mới nghĩ ra được.
Tài liệu tham khảo:
[1]https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:T%E1%BA%A1_Quang_B%E1%BB%ADu
[2] https://dantri.com.vn/xa-hoi/ong-le-phuoc-thanh-toi-muon-co-cong-bo-dung-sai-ro-rang-20151005122623418.htm
[3]http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Sinh-hoat-tu-tuong/2014/30195/Suy-va-ngam.aspx
[4] https://laodong.vn/xa-hoi/vu-ong-ho-xuan-man-bi-de-nghi-tuoc-danh-hieu-anh-hung-llvtnd-nguoi-khieu-nai-tung-bi-doa-giet-171730.bld
[5] https://www.tienphong.vn/phap-luat/phuc-tham-ut-troc-nguyen-chu-tich-tinh-binh-duong-sang-my-chua-benh-1339693.tpo
Xuân Dương
TIN BÀI LIÊN QUAN: