Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

20180907. BÀN VỀ QUYỀN LỰC VÀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI LÃNH ĐẠO

ĐIỂM BÁO MẠNG
CHỦ NHẬT BUỒN, TRÒ CHUYỆN VỚI ANH TRƯƠNG

NGUYỄN KHẮC MAI/ BVN 3-9-2018
Kết quả hình ảnh cho quyền lực
Anh Trương ở đây, không phải chàng Trương ở quê của chị Doan, nổi tiếng trong bài thơ của Lê Thánh Tông, mà là Trương Tấn Sang. Anh Sang này thì ai cũng biết, tôi khỏi giới thiệu. Nguyên do là hôm nay Chủ nhật 2-9, trời thì mưa lất phất, u ám, đường làng ngõ xóm vắng vẻ. Nguyễn Du bảo “Người buồn, cảnh  có vui đâu bao giờ”. Quả có thế thật, lòng mình đang sầu muộn, thành ra trời đất cũng buồn theo. Đang ngồi gặm nhấm nỗi buồn mênh mang mà không hề vô lối của minh, chợt người đưa báo quen, đem đến cho một tập, có Hà Nội mới do Thành uỷ lấy ngân sách mua tặng, co Tuổi trẻ… Giở  ra xem thấy có bài của anh Trương, bèn chăm chú đọc.
Bài báo có cái tít do Toà soạn đặt : “Thời gian và cơ hội không chờ chúng ta”. Bài báo chủ yếu nêu vấn đề: quyền lực trách nhiệm người lãnh đạo và niềm tin của nhân dân. Trước hết, anh đưa ra bốn người lãnh đạo ở bốn quốc gia Đông Nam Á: Lý Quang Diệu - Singapore; Suharto - Indonesia; Park Chung Hee - Hàn quốc và Ferdinand Marcos - Philippines. Hai Ông Quang Diệu và Chung Hee là hai anh hùng của đất nước họ. Còn Suharto và Marcos là hai kẻ gian hùng, chung quanh mình lúc nhúc một bầy sâu. Có điều anh Sang không nói, khi nhân dân Phi và In đã mất niềm tin vào những tên lãnh đạo, thể chế đã cho phép họ đứng lên lật đổ “triều đình” của hai tên phản dân hại nước ấy! (Bây giờ, mấy người bạn của tôi vừa đi Indo về, ca ngợi hết lời đất nước của ba nghìn đảo). Tôi hiểu ý anh Sang là muốn nói dến hai nhân tố quan trọng của giới cầm quyền: Có được niềm tin của nhân dân và nhân cách trong sạch quyết chống tham nhũng. Bởi bàn về sự thành công của những quốc gia này, phải tính đến những nhân tố tổng hợp: đường lối chính xác, triết lý cầm quyền đúng đắn phù hợp thời đại, thể chế và thiết chế dân chủ đủ để cho phép ngăn ngừa tham nhũng và độc quyền, mở rộng tài trí của xã hội, đội ngũ quản trị quốc gia và xã hội tài năng, trong sáng được giám sát bởi luật pháp và xã hội.
Về niềm tin của nhân dân, anh Sang dẫn lời Lý Quang Diệu: “Tài sản lớn nhất của chúng tôi là sự tín nhiệm và lòng tin của nhân dân. Chúng tôi cẩn thận không để lãng phí niềm tin vừa mới giành được này do cai trị tồi và tham nhũng”. Về nhân cách người lãnh đạo, anh Sang hạ một câu về Chung Hee, mà cũng là nói về Quang Diệu, sau khi họ chết: “người ta không tìm thấy một tài sản có gíá trị nào được cất giấu, ngoại trừ một Hàn quốc đứng trong hàng ngũ những quốc gia phát triển. Về hai điều này, anh Sang nói đúng, niềm tin và tín nhiệm của nhân dân với người cầm quyền chỉ có được khi người cầm quyền có chính sách đúng và nhân cách trong sáng. Chứ như bộ máy lãnh đạo và cầm quyền ở nước ta là “một bầy sâu”, “cái gì cũng ăn”, “hèn với giặc, ác với dân”, “hành dân là chính”, phe nhóm, cánh hẩu, đồng loã chứ không đồng chí, lãnh đạo kêu gọi mà không dám làm gương, có gương nào bể gương ấy… thử hỏi làm sao xây dựng được niềm tin và tín nhiệm của nhân dân. Ngay cả anh Tư kêu gọi thế viết bài hay thế mà có dám nêu gương minh bạch tài sản của mình không. Nói chung chung thì được mà có dám lên tiếng tố cáo công an tàn ác với dân, chính quyền hùa với phe nhóm lợi ích cướp đất cuớp tài sản của dân? Tôi cho đó là “nhân cách vị” tựa như kim bản vị làm nền cho giá trị đồng tiền vậy. Tuy nhiên tôi nhắc lại, chỉ với một thể chế đúng, tốt và lành mạnh, văn minh may ra mới phát huy được nhân tố con người, nhất là con người gắn với quyền lực. Thể chế xấu chọn con người xấu để thi hành. Con người xấu càng làm thể chế ngày càng sa đoạ, xấu thêm.
Anh định đưa những gương sáng của mấy nước cận kề để kêu gọi đạo đức. Tôi cho là không nhằm. Những kẻ trí tuệ thì lú lẫn, nhân cách thì tham lam, quyền lực thì độc ác, họ làm sao có cơ sở tâm thế để nghe anh được.
Tôi thấy khi đề cập dến chúng ta, anh đã nêu lên được ba điều cay đắng và bi kịch.
Một là, “cũng phải nhìn nhận rằng có những lúc chúng ta đã phung phí thời gian và cơ hội, tai hại hơn là đã phung phí niềm tin”.
Hai là, “Việt Nam sẽ bứt phá đi lên, đứng vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, hay an bài, tự thoả mãn để rốt cuộc chỉ thấy nợ nần và lệ thuộc”.
Ba là, “phải đặt sang một bên những do dự và  ngại ngần, quyết liệt và không chậm trễ trong việc loại trừ những nhân tố gây phương hại đến niềm tin của nhân dân, cản trở sự phát triển của đất nước”.
Không chỉ phung phí, mà sự thật là đảng mà anh Tư từng lãnh đạo, đã vò xé, chà đạp niềm của nhân dân. Cay đắng và bi kịch!
Điều thứ ba mà anh nêu ra, thì cần huỵch toẹt rằng đám lãnh đạo già nua lú lẫn, bạc nhược, tham lam, độc đoán chính là nhân tố phương hại đến niềm tin của nhân dân, cản trở sự phát triển của đất nước. Ai sẽ loại trừ những nhân tố tai hại ấy đây. Anh Tư không làm được, đám già như tôi cũng không làm được. Chỉ phải trông cậy vào nhân dân trong đó có giới trẻ có tâm huyết, có tầm nhìn xa rộng, có khí phách, có ý chí và một nhân cách dân chủ mới làm được. Cũng không loại trừ nhân tố của những người trẻ trung, có tâm, có tầm trong nội bộ đảng, trong nhà nước, cả trong quân đội. Cả anh cả tôi nữa chúng ta sẽ thúc đẩy cho sự hình thành và xuất hiện cái xung lực mới phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mong thay.
Tôi hoan nghênh anh nhân 2-9 nói lên vài khía cạnh đắng lòng và bi kịch của cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền Tháng Tám nhưng đã không tạo ra được một chính quyền tử tế thực sự vì dân vì nước như mấy người ở mấy nước mà anh nhắc đến. Càng biết họ càng thấy mình xấu hổ, nhục nhã. Tự nhiên tôi nhớ lại ông Mác nói về xấu hổ khi nghĩ đến sự lạc hậu của nước Đức hồi thế kỹ XIX: “Xấu hổ là một tình cảm cách mạng. Một dân tộc biết xấu hổ sẽ như con sư tử đang co mình lại để chồm lên”.
Hãy co mình lại để chồm lên!
N.K.M.
Tác giả gửi BVN

TRAO ĐỔI VỚI CỰU CHỦ TỊCH TRƯƠNG TẤN SANG

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 7-9-2018

1-Giới thiệu
Đầu năm 2018, cựu chủ tịch nước Trương Tấn Sang viết bài “Lịch sử giúp chúng ta hiểu về hiện tại, dự báo tương lai”. Ông trình bày việc, sau khi về hưu, nhờ đọc sách Bão táp Triều Trần, chiêm nghiệm lịch sử và thực tế mà hiểu ra rằng đất nước hưng thịnh nhờ có vua sáng tôi hiền, còn đất nước suy vong cơ bản là do tài năng yếu kém và đạo đức suy đồi của những người cầm quyền. Rồi ông đặt câu hỏi “Đảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu”. Ông kết thúc bằng niềm tin vào Đảng để bước vào năm mới Mậu Tuất.
Ngày 2 tháng 9 ông Sang lại cho công bố bài “Quyền lực, trách nhiệm người lãnh đạo và niềm tin của nhân dân”. Viết bài này nhờ việc ông đọc được 2 tập hồi ký của Lý Quang Diệu. Ông nêu ra sự thành công của Lý Quang Diệu ở Singapore, Pắc Chung Hy ở Nam Hàn, sự độc tài, tham nhũng của Suharto ở Indonesia và của Marcos ở Philippin. Ông liên hệ tình hình Việt Nam và cho rằng đất nước đang rơi vào tình trạng tụt hậu, thua kém là do “sự thao túng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo suy thoái, hành động vì lợi ích cá nhân, không vì lợi ích Tổ quốc”. Ông kết thúc bài viết như sau : “Ðiều đáng mừng là những gì Ðảng, Nhà nước đã làm được,… Thời gian và cơ hội không chờ đợi ai. Có được niềm tin của nhân dân thì không một trở lực nào có thể ngăn cản chúng ta xây dựng thành công đất nước giàu mạnh”.
Về bài “ Lịch sử giúp chúng ta…”, trước đây vào tháng 1/2018 tôi đã viết bài phê phán: “Nhận thức muộn và nhầm của cựu Chủ tich nước”. Nay nhân bài “Quyền lực, trách nhiệm người lãnh đạo…” tôi xin bàn chút ít về các cán bộ lãnh đạo của cộng sản và phân tích thêm nhận thức sai lầm của ông Sang.
2- Về trình độ cán bộ lãnh đạo của cộng sản
Trong quyển sách “Thất bại lớn”, Brzezinski cho rằng phong trào cộng sản tất yếu sẽ sụp đổ vì kém trí tuệ. Có thể dễ dàng chứng minh được rằng các tổ sư như Mác, Engels, Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông cũng đều kém trí tuệ. Họ thành công được một phần nào đó vì có lắm mưu mẹo, lắm thủ đoạn, họ sử dụng được bạo lực (ban đầu là của quần chúng, về sau là của chuyên chế) , họ giỏi dùng ngụy biện, tuyên truyền dối trá kết hợp tạo ra sùng bái cá nhân, họ đánh lừa được hàng trăm triệu người. Nhưng rồi đã có nhiều công trình chứng tỏ rằng Chủ nghĩa Mác Lênin đặt nền móng trên những sai lầm cơ bản và các tổ sư của phong trào cộng sản sau khi nắm chính quyền đã phạm nhiều tội ác đối với nhân loại.
Riêng ở Việt Nam, những người lãnh đạo cấp cao, kém trí tuệ như Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười v.v… có thể kể ra hàng hàng trăm, hàng ngàn. Có một số ít, được công nhận tương đối có trí tuệ trong một vài lĩnh vực như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Võ Văn Kiệt v.v.., nhưng điều quan trọng nhất là con đường họ đã chọn để dẫn dắt dân tộc là sai lầm, chủ nghĩa họ tôn thờ là phản tiến bộ. Cũng đã có một số người đủ thông minh để nhận thức ra quy luật của phát triển như Trần Độ, Trần Xuân Bách, Nguyễn Kiến Giang v.v…, nhưng họ bị loại bỏ. Riêng Hồ Chí Minh, một con người đầy bí ẩn, tuy được suy tôn lãnh tụ vĩ đại, nhưng cũng chưa kết luận được là biết mệnh trời và hiểu lòng người, đã thoát khỏi tình trạng vô minh.
Phong trào cộng sản trên thế giới cũng như ở VN, thời gian đầu có thu hút được một số ít người tài giỏi, nhưng càng về sau số người có trí tuệ càng giảm. Số thì bị loại trừ, số thì công khai hoặc lặng lẽ từ bỏ.
Tại sao cộng sản vốn kém trí tuệ mà họ đã từng thành công một số nơi và đã từng là mối lo cho thế giới dân chủ. Cộng sản kém trí tuệ, nhưng để lôi kéo, lãnh đạo quần chúng đông đảo công nông binh thường chỉ cần đẩy mạnh tuyên truyền và hứa hẹn về quyền lợi trước mắt, chỉ cần tạo dựng được lãnh tụ đầy sức hấp dẫn, kết hợp sự khủng bố tàn độc đối với “kẻ thù giai cấp hoặc thế lực thù địch”. Mà những việc này cộng sản khá thành thạo.
Ông cựu Chủ tịch Sang kể rằng, sau khi về hưu mới có dịp đọc “Bão táp Triều Trần”, “Hồi ký Lý Quang Diệu”, còn khi tại chức ông chẳng có thời gian để đọc sách. Chắc rằng đại đa số các cán bộ lãnh đạo các cấp của cộng sản, kể cả các vị trong Hội đồng lý luận, trong trung ương và cả trong Bộ Chính trị cũng rất ít đọc sách. Trong các cán bộ cao cấp đã về hưu, ông Sang tỏ ra là người có đọc được vài quyển trong hàng trăm tác phẩm cần đọc. Mà các chính trị gia cần đọc từ lúc còn rất trẻ chứ không phải đợi đến lúc về hưu. Ông Sang thể hiện có đọc sách để có chút tự hào với nhiều người cùng trình độ và hoàn cảnh. Nhưng rồi việc làm đó phơi trần sự kém cỏi về kiến thức, sự thiếu hụt về trí tuệ của cán bộ lãnh đạo trước mắt toàn dân và đặc biệt là trước mắt tầng lớp trí thức. Cán bộ lãnh đạo của cộng sản tưởng nhầm rằng biết được vài luận thuyết của Chủ nghĩa Mác Lê là có thể lãnh đạo việc quản trị đất nước. Mà khốn thay các luận thuyết ấy đang chứng tỏ sai lầm, càng tiếp thu nhiều lý luận Mác Lê càng làm cho con người ta trở nên ngu dốt, xơ cứng, bảo thủ.
3- Nhận xét về bài của ông Sang
Ông Nguyễn Khắc Mai đã có những nhận xét rất hay về bài viết vừa rồi của ông Sang (Bài: Chủ nhật buồn, trò chuyện với anh Trương). Tôi làm việc “tát nước theo mưa”.
Phải chăng những điều cơ bản ông Sang viết ra trong 2 bài trên là nhận thức mới có được sau khi đã về hưu, sau khi đọc được Bão táp Triều Trần và Nhật ký Lý Quang Diệu. Phải chăng trong lúc làm Chủ tịch nước ông chưa từng biết đến điều ông vừa viết. Nếu quả như thế thật thì ông Tư Sang quá kém về trí tuệ, vậy ông nhờ vào thủ đoạn nào, mẹo mực nào, dựa vào thế lực nào để làm đến Chủ tịch nước. Hay là hồi làm Chủ tịch ông cũng biết cả rồi nhưng không dám nói, không thể viết vì “há miệng mắc quai”.
Ông Sang đã có được cái nhìn thực tế vào xã hội Việt Nam, thấy được những bầy sâu đang đục khoét, thấy đất nước nợ nần và lệ thuộc, mắc kẹt trong "bẫy thu nhập trung bình". Ông cho rằng “nguyên nhân là sự thao túng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo suy thoái” . Rồi ông đặt câu hỏi: Phải làm gì để Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn được nhân dân tin tưởng, trường tồn cùng non sông đất nước?
Nhiều ông bà cán bộ cao cấp khác về hưu chỉ lo cho cuộc sống gia đình, không quan tâm đến thế sự. Ông Sang có hơn bọn họ, có đọc sách, có viết bài. Tuy vậy ông Sang đã tỏ ra yếu về trí tuệ và thiếu gương mẫu.
Về trí tuệ, ông Sang không thấy được nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu xa của tham nhũng, của lợi ích nhóm nằm ở trong sự độc quyền đảng trị, ở việc đặt Đảng cao hơn tất cả. Những thứ đó do chủ thuyết Mác Lê sinh ra và nuôi dưỡng. Việc đổ lỗi cho một số cán bộ suy thoái là không sai, nhưng chưa đúng, chưa chỉ ra bản chất.
Theo Nguyễn Khắc Mai, ông Sang tuy có biết Marcos và Suharto độc quyền, tham nhũng, đẩy đất nước vào khó khăn, đã bị lật đổ, nhưng không biết đến hoặc không dám nói đến động lực của sự lật đổ là nhân dân, là chế độ đa đảng với bầu cử tự do, với nền dân chủ tam quyền phân lập. Ở ta, ĐCS phản ứng với những thứ đó như đỉa phải vôi, thế thì làm sao họ chấp nhận để nhân dân lật đổ độc tài. Nhắc tới sự liêm khiết của Pắc Chung Hy và Lý Quang Diệu, ông Mai nhắn ông Sang liên hệ bản thân, xem có dám minh bạch về tài sản và nhóm lợi ích sân sau không.
Tôi chỉ muốn nhắc ông Sang rằng ông đã mê muội, đã bị nhồi sọ quá sâu về chủ thuyết Mác Lê và sự độc quyền toàn trị của đảng cộng sản. Trong nhiệm kỳ Chủ tịch nước chưa thấy ông làm được việc gì, có được chủ trương gì để nâng cao dân chủ và nhân quyền, để làm giảm oan sai của dân.
Về hưu rồi, có thấy được một vài sự thật mà khi còn tại chức ông bị bưng bít và tự bưng bít, nhưng ông vẫn một lòng trông đợi vào Đảng có thể lấy lại lòng tin của dân. Một thời dân đã vì lòng tốt mà bị mắc lừa, tin vào Đảng. Ngày nay, khi đã nắm chắc quyện lực, Đảng đã lộ rõ bản chất độc đoán, phần lớn nhân dân đã thấy rõ lòng tin của họ bị phản bội. Nhắc ông đừng hy vọng vào việc xui nhân dân tiếp tục tin vào Đảng nếu như đảng ấy vẫn kiên trì Mác Lê và độc quyền. Chắc rằng cộng sản đã đem lại cho ông quá nhiều quyền lợi, không dễ gì ông thấy được sự thối nát của nó. Nếu như ông chưa thấy được những sai lầm và tội ác của cộng sản để đứng về phía nhân dân đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền, để thoát cộng sản và Tàu khựa Đại Hán mà vẫn tiếp tục viết những bài nhằm lấy lại lòng tin của dân thì tôi e rằng ông đã nhầm.
Gần cuối bài ông viết: “Phải đặt sang một bên những do dự và ngại ngần, quyết liệt và không chậm trễ trong việc loại trừ những nhân tố gây phương hại đến niềm tin của nhân dân, cản trở sự phát triển của đất nước”. Nghe thì rất hay, rất đúng về nguyên lý, nhưng nó rất tù mù ở khái niệm “ nhân tố gây phương hại…”. Những người đấu tranh vì dân chủ cho rằng nhân tố đó chính là Chủ nghĩa Mác Lê, chính là sự độc quyền toàn trị của ĐCS. Còn theo ông, nhân tố đó là cái gì thì xin nói thẳng ra. Phải chăng như ông đã viết, đó là “sự thao túng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo suy thoái”. Đã bao giờ ông chịu khó suy nghĩ để biết cái bọn suy thoái âý sinh ra từ đâu và được nuôi dướng như thế nào để trở thành “ cả bầy sâu”.
Như lời nhắc ở cuối bài của ông Nguyễn Khắc Mai, ông Tư Sang nên biết xấu hổ và sám hối. Khi ông chịu khó suy nghĩ để nhận ra sự thật, rồi đứng về phía nhân dân để đấu tranh cho nhân quyền , cho tự do và hạnh phúc của nhân dân thì mới là thức thời, còn nếu vẫn tiếp tục luận điệu như các bài vừa nêu thì may lắm ông có thể đánh lừa một số kẻ thân tín cùng phe nhóm, còn không có hy vọng gì vận động để nhân dân tăng lòng tin vào đảng của ông đang trên con đường rệu rã, sụp đổ.
Tôi ngờ rằng ông Sang chưa đọc được những quyển sách như: Thất bại lớn (Brzezínki), Giai cấp mới (Milovan), Cách mạng 1989 ( Sebattian), Chủ nghĩa phát xít (Zeliu Zelev), Trần Đức Thảo - Những lời trăng trối ( Phan Ngọc Khuê), Đêm giữa ban ngày (Vũ Thư Hiên), Mặt thật (Thành Tín) và nhiều quyển quan trọng khác mô tả những phần sự thật của phong trào cộng sản, của Chủ nghĩa Mác Lê. Chắc rằng ông Sang cũng chưa được nghe, được đối thoại với những người vạch ra những sai lầm cơ bản của Mác Lê. Nếu ông muốn nghe, muốn biết và có lời mời chân thành, tôi vui lòng đến gặp và trao đổi với ông về những vấn đề trên với tinh thần giữa những người bạn hưu trí.
Điện thoại của tôi : 01689 578 620. Email : ndcong37@gmail.com
N.Đ.C.

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

20180906. BÌNH LUẬN VỀ BIÊN CHẾ CÁN BỘ NHÀ NƯỚC

ĐIỂM BÁO MẠNG
THỰC RA, DÂN TA ĐANG PHẢI NUÔI CÁN BỘ NHƯ THẾ NÀO?

XUÂN DƯƠNG/ GDVN 6-9-2018

Ảnh minh hoạ: http://africanleadership.co.uk

Trên một tờ báo điện tử có bài: “Trung bình cứ 9 người dân nuôi 1 cán bộ nhà nước”, [1] về điều này có lẽ nên có sự bàn luận thêm để cho rõ thế nào là “nuôi cán bộ nhà nước”.
Muốn thế phải hiểu thế nào là “cán bộ nhà nước”.
“Cán bộ nhà nước” là thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh (theo nhiệm kỳ) trong cơ quan nhà nước.
Cơ quan nhà nước tại Việt Nam gồm 2 loại: Cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và cơ quan hành chính (Chính phủ, Ủy ban Nhân dân,…).
Cán bộ nhà nước phải thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị nhà nước và được hưởng lương từ ngân sách.
Theo danh sách được liệt kê tại “Danh mục cơ quan nhà nước tổ chức Đảng, Nhà nước cấp trung ương và cấp tỉnh” do Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) - Bộ Thông tin và Truyền thông công bố thì Việt Nam có 86 “Cơ quan nhà nước cấp trung ương và cấp tỉnh” trong đó có 35 đơn vị trung ương, 13 đơn vị thuộc tổ chức đảng, còn lại là đơn vị cấp tỉnh.
Theo ngành dọc các cơ quan này có thể trải xuống đến cấp huyện/xã. [2]
Điều đáng nói là danh mục mà VNNIC đưa ra về “cơ quan nhà nước” không thấy đề cập đến các tổ chức như Thanh niên, Phụ nữ, Cựu chiến binh, Công đoàn, Hội Nông dân,…
Mặt khác trong danh mục này, tổ chức Đảng được để riêng, không ghép với “Cơ quan nhà nước”.
Nếu trừ các cơ quan thuộc tổ chức Đảng thì Cơ quan nhà nước cấp tỉnh và trung ương chỉ gồm 73 đơn vị. (xuống cấp huyện có thể thêm hơn 700 đơn vị nữa).

Ảnh chụp màn hình dữ liệu của “Trung tâm Internet Việt Nam”.

Nếu dữ liệu của VNNIC đưa ra là chính xác và được người/cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì có thể thấy, các tổ chức chính trị - xã hội không phải là cơ quan nhà nước (tổ chức Đảng được để riêng - không ghép vào “Cơ quan nhà nước”) .
Đến đây có thể kết luận, việc dân phải nuôi một đội ngũ hùng hậu nhân sự thuộc các tổ chức chính trị, xã hội là “ngoài dự kiến” vì đó không phải là “cơ quan nhà nước” và do đó nói “9 người dân nuôi 1 cán bộ nhà nước” là chưa chính xác.
Cũng cần nói thêm là tất cả các tổ chức chính trị - xã hội đều là những đơn vị phi sản xuất, không làm ra của cải vật chất cho đất nước nhưng lại sử dụng một nguồn kinh phí khổng lồ từ ngân sách nhà nước.
Tổng kinh phí hàng năm chi cho các tổ chức này được Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) đưa ra là khoảng 14.000 tỉ đồng.
Lớn hơn dự toán ngân sách năm 2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (khoảng 11.000 tỉ đồng)…
Nghiên cứu của VEPR còn cho thấy nếu tính đủ cả chi phí kinh tế - xã hội, tức là gồm cả đất đai, nhà cửa, xe cộ và các tài sản khác, chi phí toàn hệ thống của các tổ chức hội đoàn này hàng năm dao động từ 45.600 đến 68.100 tỉ đồng, tương đương 1-1,7% GDP. [3]
Từ kết luận trên, có thể thấy ngay là để giảm thiểu số “cán bộ” dân phải nuôi, việc có thể làm ngay là cắt nguồn kinh phí từ ngân sách cấp cho các tổ chức chính trị-xã hội.
Các tổ chức quần chúng được thành lập trên cơ sở tự nguyện, phục vụ nhu cầu của các nhóm cư dân khác nhau.
Đã là tổ chức hội đoàn, tức là “phi nhà nước” thì kinh phí để hoạt động phải là nguồn đóng góp của hội viên, không thể bắt người dân đóng góp để nuôi tổ chức không do mình lập ra, không phục vụ lợi ích của mình.
Để giải quyết tình trạng này, tại Úc người lãnh đạo đảng cầm quyền sẽ là Thủ tường và ngân sách sẽ chỉ phải trả lương cho Thủ tướng chứ không phải lãnh đạo các tổ chức chính trị.
Thứ hai, thế nào là “nuôi”?
Cha mẹ “nuôi” con, người nông dân “nuôi” gia súc nghĩa là phải lo cho đối tượng nuôi đủ sống.
Nối đối tượng được “nuôi” không đủ sống (ở mức tối thiểu), phải kiếm ăn thêm bên ngoài thì người “nuôi” chưa làm tròn bổn phận, nói cách khác đó không phải là “nuôi”.
Trong số 11 triệu đối tượng vừa được, vừa bị gọi là “nuôi” đó có tới 1,3 triệu người làm việc ở xã, phường, tổ dân phố, tổng kinh phí chi cho lực lượng này vào khoảng 32.400 tỷ đồng/năm.
Số lượng cán bộ, công chức cấp xã/phường là 234 nghìn người, hơn một triệu người còn lại hoạt động không chuyên trách và họ chỉ được nhận phụ cấp chứ không phải lương.
Theo quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP thì mức phụ cấp cao nhất không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung (mức thấp nhất một số địa phương quy định là 0,3).
Với thu nhập từ khoảng 400.000 - 1,39 triệu đồng/tháng mà kết luận ngân sách “nuôi” những người làm việc “không chuyên” rõ ràng là không chính xác.
Vấn đề là vì sao hệ thống chính trị Việt Nam lại cần đến quá nhiều hội đoàn, tổ chức chính trị - xã hội và người làm việc không chuyên như vậy?
Đây là câu hỏi động chạm đến nhiều vấn đề “nhạy cảm”, khó trả lời một cách sòng phẳng.
Thứ nhất, chất lượng con người
So sánh hai tiêu chuẩn đánh giá con người là “thể lực và trí tuệ” thì người Việt hiện đại đều không hơn, thậm chí một số tiêu chí thua kém các nước trong khu vực.
Số liệu Bộ Nội vụ và Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam công bố về tầm vóc người Việt cho thấy:
“Chiều cao của nam thanh niên Việt Nam thua xa Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ, thậm chí thấp hơn Lào, Campuchia,…”. [4]
Sự còi cọc về thể chất khiến khả năng tư duy bị trì trệ, năng lực sáng tạo giảm sút, hệ quả là một bộ phận khá lớn cán bộ, công chức trở thành những người làm việc thụ động, không biết sáng tạo, không dám sáng tạo.
Nền giáo dục suốt thời gian dài loay hoay với các “thử nghiệm”, trong khi học sinh bị biến thành “chuột bạch” thì đội ngũ nhà giáo cũng chỉ là “chuột chạy cùng sào”.
Một nền giáo dục mà thày và trò đều mang danh là “chuột” (tất nhiên không phải là tất cả), lại mang di chứng của các loại “thuốc thử” thì đương nhiên không thể cho ra những sản phẩm chất lượng.
Hiện tượng gian dối trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia 2018 tại các tỉnh Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La,… chỉ là hiện tượng mà dân gian gọi là “vỡ mủ” của chiếc nhọt bọc đã ủ bệnh lâu ngày.
Nền giáo dục ấy khó có thể tạo nên một thế hệ sáng tạo, càng không thể đào tạo nên những con người khai phóng và hệ tư tưởng khai phóng.
Nói cách khác, nền giáo dục ấy trong phần lớn trường hợp góp phần đào tạo nên những người làm thuê, chấp nhận thân phận bị chủ tư bản nước ngoài bóc lột ngay trên quê hương mình chứ không phải con người làm chủ vận mệnh của mình.
Thứ hai, tư tưởng nông dân
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công với lực lượng nòng cốt là nông dân bởi vào lúc đó, đội ngũ công nhân và tầng lớp trí thức Việt Nam chưa phải là lực lượng đông đảo.
Trong đoàn quân tiến về giải phóng thủ đô năm 1954, đa số là con em nông dân, không ít trong số đó chỉ mới biết đọc, biết viết.
Có người nói khi đó chúng ta “lấy nông thôn khai sáng cho thành thị” không phải là hoàn toàn vô lý.
Xin không bàn đến khía cạnh lý luận của khái niệm “Tư tưởng nông dân” mà chỉ nhắc đến một số biểu hiện cụ thể:
“Tự cung tự cấp, bám lũy tre làng, ngại đi xa, ngại đổi mới, manh mún, cầu lợi cho bản thân bất chấp tất cả,…”.
Chuyện “rau hai luống”, chặt cây nọ trồng cây kia,… khiến nhà nước và xã hội luôn đối mặt với câu chuyện “giải cứu” cho thấy sự manh mún của nền nông nghiệp kéo theo sự manh mún của hệ thống hành chính, của hệ thống giáo dục đại học,...
Quan hệ dòng tộc, đồng hương len lỏi vào mọi ngõ ngách của công tác nhân sự, đến mức báo Thanhnien.vn phải chạy tít:
“Tuyển Việt Nam không phải của Sông Lam Nghệ An và Hoàng Anh Gia Lai”.
Thứ ba, truyền thống nói không làm, làm không đến nơi đến chốn
Dùng cụm từ “truyền thống” ở đây có phải là chưa chính xác?
Thói xấu “nói không làm, làm không đến nơi đến chốn” của cán bộ, đảng viên đã được Hồ Chủ tịch chỉ ra từ thời kỳ kháng chiến chống pháp trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
Có những điều ghi trong Hiến pháp 1946 cho đến Hiến pháp 2013 vẫn chưa được thực hiện như quyền lập hội, quyền biểu tình,…
Thói xấu này ngày nay còn được thể hiện qua những lời “xin hứa, xin nhận trách nhiệm, xin rút kinh nghiệm” của không ít Bộ trưởng trước Quốc hội nhưng rồi lại “nhường nhiệm kỳ sau”?
Bao nhiêu vụ án do truyền thông phát hiện chứ không phải cơ quan chức năng?
Bao nhiêu “củi tươi, củi vừa vừa, củi khô” bị địa phương cho vào lò mà không cần chờ Trung ương chỉ đạo?
Hậu quả của chính sách con người và nền giáo dục đến năng lực cán bộ, công chức là không phải bàn cãi.
Cựu Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Lê Phước Thanh từng chia sẻ với báo chí về con trai ông như sau:
“Bảo (con trai ông Thanh)  tốt nghiệp loại giỏi ở Đại học Kinh tế Đà Nẵng, nó được giữ lại đi dạy 1 năm sau đó về làm phó giám đốc một công ty ở Chu Lai.
Sau tôi thấy xu hướng kinh tế khó khăn nên khuyên con thôi bây giờ quay về hướng nhà nước”. [5]
Không đủ năng lực lăn lộn trong nền kinh tế thị trường thì “quay về hướng nhà nước” liệu có phải chỉ là cá biệt hay là đặc điểm chung của “con cháu các cụ”?
Khi nhà nước trở thành miền đất hứa để những người như ông Lê Phước Thanh đặt con cháu, người nhà mình vào thì đương nhiên nó phải phình ra và cũng đương nhiên sự kém cỏi của họ khiến công việc đáng lẽ chỉ cần một người làm sẽ được “vẽ” ra cho nhiều người.
Cũng vì năng lực nên mới có chuyện một cấp trưởng cần nhiều cấp phó, chẳng hạn năm 2017, Sở Nội vụ Hà Nội có tới 8 Phó Giám đốc, Sở Nông nghiệp Thanh Hóa năm 2016 cũng có tới 8 Phó Giám đốc, Cục Truyền thông Bộ Công an có 13 Cục phó (được duy trì đến năm 2021),…
Đánh giá tình trạng này, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn cho rằng:
“Quan điểm của tôi là cấp phó mà cần càng nhiều thì chứng tỏ cấp trưởng yếu và ngược lại.
Như ở Nhật và Singapore, mỗi cơ quan hành chính chỉ có 1 cấp phó”. [6]
Bất kỳ cơ quan, đơn vị nào cũng có vài ba cấp phó, mỗi cấp phó phụ trách một mảng công việc, khi phạm sai lầm thì họ phải chịu trách nhiệm, khi cần xuất hiện trước truyền thông, đa số trường hợp là cấp phó chứ không phải cấp trưởng, thế thì cần cấp trưởng để làm gì?
Tài liệu tham khảo:
[1] http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/trung-binh-cu-9-nguoi-dan-nuoi-1-can-bo-nha-nuoc-473225.html
[2]https://www.vnnic.vn/tenmien/hotro/danh-mục-cơ-quan-nhà-nước-tổ-chức-Đảng-nhà-nước-cấp-trung-ương-và-cấp-tỉnh
[3]https://www.thesaigontimes.vn/146256/Ngan-sach-va-cac-to-chuc-hoi---doan-the-nha-nuoc.html
[4] http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Suc-khoe/827966/nguoi-viet-co-kho-cai-thien-tam-voc
[5] https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/ong-le-phuoc-thanh-toi-muon-co-cong-bo-dung-sai-ro-rang-20151005001056459.htm
[6] http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/thu-truong-noi-vu-cap-pho-nhieu-chung-to-cap-truong-yeu-473077.html
Xuân Dương
TIN BÀI LIÊN QUAN:

CÓ THẬT '9 NGƯỜI DÂN NUÔI 1 CÁN BỘ NHÀ NƯỚC' ?

ĐINH DUY HÒA/ VNN 6-9-2018

Có thật '9 người dân nuôi 1 cán bộ nhà nước'?
Ảnh: Quang Phúc
 - "9 người dân nuôi một cán bộ nhà nước" - một con số gây sửng sốt. Tuy nhiên, có đến mức 9 người dân nuôi 1 cán bộ, công chức, viên chức?
Gần đây, báo chí dẫn số liệu cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, tính trên số dân cả nước thì trung bình 9 người dân nuôi 1 cán bộ nhà nước.
Một con số gây sửng sốt. Vẫn biết, từ trước đến nay cả quan chức nhà nước lẫn người dân đều thống nhất biên chế nhà nước nhiều, người nhà nước thừa so với yêu cầu và do đó cần giảm mạnh biên chế. Tuy nhiên có đến mức 9 người dân nuôi 1 CBCCVC?
Không có số liệu thống nhất
Trước hết, phải khẳng định điều kỳ lạ từ hàng chục năm nay là không có số liệu thống nhất về đội ngũ CBCCVC.
Đó là do cách phân công trách nhiệm trong quản lý biên chế: mảng Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội do Ban Tổ chức TƯ, mảng Quốc hội, trong đó có Tòa án và Viện KSNDTC do Ủy ban Thường vụ QH và mảng hành chính nhà nước do Bộ Nội vụ quản lý. Cả 3 cơ quan đều quyết về biên chế trong mảng của mình, cho nên lúc khớp lại các con số vênh nhau không nhỏ.
Giải pháp khắc phục cách quản lý này cũng đã được đặt ra là quy vào một đầu mối thống nhất, rồi có sự phân công cụ thể tiếp theo trong quản lý.
Không tính người trong DNNN, lực lượng vũ trang
Từ trước đến nay ta luôn không tính người lao động trong DNNN vào số liệu CBCCVC, trong khi đa phần các nước đều tính gộp vào số liệu người trong khu vực công. Cho nên khi so sánh với các nước, số liệu nước ta vẫn lợi thế hơn chút ít, đây là điểm cần lưu ý khi so sánh quốc tế.
Tương tự như vậy là không tính số lượng người đang làm việc trong lực lượng vũ trang, ở ta bao gồm chủ yếu là người trong Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Như vậy riêng việc không tính người làm việc trong DNNN và trong lực lượng vũ trang trong tổng số người nhà nước đã làm cho tỷ lệ CBCCVC/người dân ở nước ta nhỏ đi kha khá so với phần lớn các nước trên thế giới.
Theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, số lượng người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước ước tính là 11 triệu người, trong đó ở cấp khóm, xóm, tổ dân phố xã, phường là 1,3 triệu. Nếu số liệu đúng như vậy thì về đại thể, cứ bình quân 9 người Việt Nam phải nuôi 1 người làm việc, hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách nhà nước.
Con số 11 triệu như nêu ra là tương đối chuẩn, nhưng sự nhầm lẫn ở đây chính là cho rằng cả 11 triệu người này là CBCCVC đang làm việc. Theo cơ cấu thì 11 triệu người này bao gồm:
CBCCVC đang làm việc trong cơ quan, tổ chức đảng, đoàn thể, cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp xã.
Người hoạt động trong lực lượng vũ trang.
Người về hưu.
Người hưởng các loại chính sách, chế độ của nhà nước như bà mẹ VN anh hùng, gia đình có công với cách mạng, người hưởng chế độ xã hội…
Riêng số CBCCVC đang làm việc hiện nay ở nước ta là khoảng hơn 3,6 triệu người, bao gồm:
Hành chính trung ương: 110.000 người, không kể 10.000 người hợp đồng theo NĐ 68.
Hành chính địa phương (tỉnh, huyện): 160.000, không kể 9.600 hợp đồng theo NĐ 68.
Cấp xã là 1.267.000 người (trong đó bao gồm 230.000 CBCC, cán bộ không chuyên trách cấp xã là 200.000 và cán bộ không chuyên trách cấp thôn, tổ dân phố là 837.000).
Biên chế sự nghiệp (chủ yếu là người làm việc trong các trường và bệnh viện công lập từ cấp xã lên đến trung ương): khoảng 2,1 triệu người (Theo báo cáo của đoàn giám sát QH khóa 14 số 08/BC-ĐGS ngày 12/10/2017; Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2016).
Và nếu lấy 3,6 triệu này tính theo đầu dân số sẽ cho ra một tỷ lệ khiêm tốn hơn nhiều (26 người dân “nuôi“ 1 cán bộ nhà nước, tất nhiên chưa tính người trong DNNN và lực lượng vũ trang).
"Dân nuôi cán bộ nhà nước"
Ta cũng như các nước trên thế giới đều cùng áp dụng nhiều chuẩn, nhiều công thức trên các lĩnh vực, ví dụ như bao nhiêu dân có một bác sỹ, giáo viên. Tương tự là tương quan công chức và người dân. Cái đáng suy nghĩ là ở ta quen dùng khái niệm theo hướng hơi tiêu cực, tức là bao nhiêu dân "nuôi” một công chức, trong khi đa phần các nước chỉ dùng khái niệm tỷ lệ công chức trên đầu dân. Vậy mấy ông CBCCVC đang được dân “nuôi“ này làm gì:
Ra thể chế, chính sách, pháp luật;
Thực thi pháp luật;
Khám, chữa bệnh cho người dân;
Dạy dỗ học sinh học hành…
Còn có thể kể ra nhiều thứ đội ngũ này làm. Điểm quan trọng rút ra ở đây là xã hội không thể phát triển tốt mà không có bộ phận được “dân nuôi" này. Hãy xem đội ngũ được “dân nuôi” này đóng góp cho sự phát triển của quốc gia ra sao như ở Singapore, Nhật bản, Thụy Sỹ…
Và ngược lại khi đội ngũ này quá đông so với yêu cầu, hoạt động kém như ở ta hiện nay thì buộc người dân đặt ra yêu cầu phải tinh giản, giảm bớt.
Phải làm thế nào để CBCCVC phục vụ thực sự xã hội, người dân, làm thế nào để chất lượng dịch vụ công tốt hơn, làm thế nào để không còn hối lộ, tham nhũng trong đội ngũ CBCCVC. Đây lại là câu chuyện dài còn phải làm trong nhiều năm nữa.
Đinh Duy Hòa
TIN BÀI LIÊN QUAN:

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

20180905. VIỆT NAM NỢ TRUNG QUỐC BAO NHIÊU ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
VIỆT NAM MƯỢN CỦA TRUNG QUỐC BAO NHIÊU ?

VŨ QUANG VIỆT/ TBKTSG 3-9-2018

Kể từ năm 2017, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo được ưu tiên nhận vốn ưu đãi từ tổ chức quốc tế, do đó cần thay đổi chính sách phát triển dựa vào vốn nước ngoài. Ảnh: Internet
(TBKTSG) - Việt Nam hiện nợ Trung Quốc bao nhiêu là câu hỏi đáng hỏi, bởi vì chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam đã cảnh báo về các điều kiện không ưu đãi khi vay “tín dụng ưu đãi” của Trung Quốc.
Báo cáo “Cập nhật định hướng thu hút, và sử dụng vốn vay ODA và vay ưu đãi giai đoạn 2018-2020 và tầm nhìn 2021-2025” (3-8-2018) đã viết như sau (trích nguyên văn): “...tín dụng ưu đãi của Trung Quốc tương tự như các khoản tín dụng xuất khẩu, là các khoản vay có điều kiện (chỉ định thầu cho các doanh nghiệp Trung Quốc) và có điều kiện vay kém ưu đãi hơn so với vốn ODA của các nhà tài trợ khác tại Việt Nam. Lãi suất khoảng 3%/năm, phí cam kết 0.5%, phí quản lý 0,5%, thời hạn vay 15 năm, thời gian ân hạn năm năm... Tuy nhiên, một số dự án sử dụng vốn vay, nhà thầu, thiết bị Trung Quốc cũng thường xuyên chậm tiến độ, không đảm bảo chất lượng, tăng tổng mức đầu tư... ảnh hưởng hiệu quả đầu tư. Do đó, định hướng trong thời gian tới đối với việc vay nguồn tín dụng ưu đãi của Trung Quốc cần được xem xét, cân nhắc”.
Lãi suất vay từ Trung Quốc như vậy là rất cao so với lãi suất 0% của Đan Mạch, 0,2% của Tây Ban Nha, 0,6-1,2% của Nhật, 1,04% của Pháp, 0,75% của Đức, 1,75% của Ấn Độ... Còn với các tổ chức quốc tế, lãi suất là 0,9% (Libor 6 tháng + 0,4-0,9%) tức là hiện nay vào khoảng 1,3-1,8%/năm và với thời hạn vay rất dài có thể tới 30 năm, thời gian ân hạn ít nhất là 5 năm.
Như vậy, câu hỏi quan trọng vẫn là cho đến nay số nợ của Việt Nam với Trung Quốc là bao nhiêu? Tại sao Việt Nam tiếp tục vay Trung Quốc để phải nhập công nghệ phế thải với điều kiện rất không ưu đãi? Và tình hình chính trị sẽ ra sao nếu công ty Việt Nam vay mượn tiền Trung Quốc phải chấp  nhận chuyển giao sở hữu công trình cho ngân hàng chủ nợ của họ, một giải pháp bình thường trong thương mại, khi không trả được nợ? 
Mặc dù số nợ Trung Quốc cần theo dõi, nhưng rất tiếc không thể tìm thấy câu trả lời trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói đến ở trên. Bản báo cáo chỉ nói đến số tiền vay ODA từ Trung Quốc là 250 triệu đô la Mỹ, tức là chỉ khoảng 3,7% so với tổng số vay ưu đãi của Việt Nam là 6,78 tỉ đô la trong thời gian 2016-2017.
Phải nói kể từ năm 2011, Bộ Tài chính chỉ công bố tổng số nợ nước ngoài và đã chấm dứt việc công bố nợ từng nước. Bản tin nợ nước ngoài số 7 công bố năm 2011 cho thấy tổng số nợ của Chính phủ Việt Nam với Trung Quốc tính đến hết năm 2010 lên đến 552 triệu đô la Mỹ và khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh là 1,12 tỉ đô la. Như vậy tổng số nợ Trung Quốc tính đến cuối năm 2010 mà Chính phủ trách nhiệm là 1,64 tỉ đô la. 
Theo một nghiên cứu chi tiết về các khoản nợ của các nước trong đó có Việt Nam với Trung Quốc, thì tổng số nợ của Việt Nam với Trung Quốc (bao gồm cả Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư) có thể đã lên tới 4 tỉ đô la Mỹ, chỉ có thể tính đến hết năm 2013 (xem biểu 1 đính kèm). Số liệu trên cũng chưa thể tính trừ đi khoản nợ gốc đã trả. 

Tuy thế, nếu dựa vào số liệu nợ Trung Quốc là 4,1 tỉ đô la năm 2013, tính ra bằng 6,3% tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (kể cả nợ của doanh nghiệp) là 63,5 tỉ đô la vào năm 2013. Dựa vào cùng tỷ lệ trên, và với số nợ nước ngoài hiện nay ước là 100 tỉ đô la Mỹ, có thể ước nợ Trung Quốc vào năm 2018 đã trên 6 tỉ đô la. Ngân hàng Thế giới tính số nợ nước ngoài của Việt Nam là 86,9 tỉ đô la vào cuối năm 2016.  
Số nợ Trung Quốc thật sự có thể lớn hơn số trên, vì từ sau năm 2010, Bộ Tài chính chỉ theo dõi và công bố nợ công tức là nợ của Chính phủ và nợ của doanh nghiệp do Nhà nước bảo lãnh, theo định nghĩa của Việt Nam. Từ 2011, bộ đã chấm dứt công bố nợ nước ngoài bao gồm cả nợ của doanh nghiệp tư nhân. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có bản hướng dẫn về nội dung quản lý nhà nước đối với vay và trả nợ của doanh nghiệp (03/VBHN-NHNN, 12-7-2017). Như thế về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước nắm được thông tin nhưng không công bố. 
Việc quản lý nợ nước ngoài là quan trọng, chứ không chỉ nợ công. Mất khả năng chi trả, có thể đưa đến khủng hoảng kinh tế ngay lập tức, khi các ngân hàng nước ngoài chặn tài khoản quốc gia để đòi nợ. Đó là chưa kể đến các doanh nghiệp nước ngoài đòi con nợ chuyển sở hữu (tức là vĩnh viễn, chứ không chỉ là 99 năm).
Kể từ năm 2017, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo được ưu tiên nhận vốn ưu đãi từ tổ chức quốc tế, do đó cần thay đổi chính sách phát triển dựa vào vốn nước ngoài, thay vì dựa vào mình là chính, có thể đưa Việt Nam đến bẫy nợ Trung Quốc. Do đó, để có thể theo dõi kinh tế Việt Nam nhằm có chính sách đúng đắn, Bộ Tài chính cần theo dõi sát sao và công bố nợ nước ngoài của Việt Nam, dù là nợ của Chính phủ hay của doanh nghiệp. Nếu không tự nguyện, Quốc hội nên có nghị quyết yêu cầu Bộ Tài chính thực hiện việc làm trên.
Sri Lanka đã rơi vào bẫy nợ của Trung Quốc khi không thể trả nợ tiền mượn xây dựng cảng nên đã phải nhượng cảng nước sâu Hambantoba cho Trung Quốc trong 99 năm. Mới đây, Thủ tướng mới của Malaysia, ông Mahathir, đã yêu cầu Trung Quốc xóa bỏ các công trình đầu tư chung, từ làm xe lửa cao tốc, nới biển xây khu vực công nghệ, cảng, và dự án nhà ở cho người Trung Quốc. Ông Mahathir lấy lý do không muốn phải rơi vào thế nhượng địa khi mất khả năng chi trả (theo NYT ngày 20-8-2018).

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018

20180904. KỶ NIỆM 20 NĂM NGÀY SINH CỦA GOOGLE

ĐIỂM BÁO MẠNG
NGÀY NÀY NĂM XƯA: SỰ RA ĐỜI  CỦA 'GÃ KHỔNG LỒ' GOOGLE

SẦM HOA/ VNN 4-9-2018

Ngày 4/9/1998, Larry Page và Sergey Brin, khi đó là 2 nghiên cứu sinh tại trường đại học Stanford đã cùng nhau lập ra công ty Google tại California, Mỹ. Sự ra đời của Google đã làm thay đổi lịch sử Internet.
Trước đó vào năm 1996, Page và Brin tốt nghiệp ngành khoa học máy tính tại Đại học Stanford, bắt đầu nghiên cứu về một công cụ tìm kiếm cho các trang web đang phát triển và gọi nó là BackRub. Tháng 9/1997, họ đang ký tên miền là Google.com, History Today cho hay.

Ngày này năm xưa: Sự ra đời của 'gã khổng lồ' Google

Larry Page và Sergey Brin. (Ảnh: CNBC)

Tên "Google" là một cách chơi chữ cho từ “gooogol” tức 10100 với hàm ý nhiệm vụ của họ để tạo nên một số lượng vô hạn các nguồn tài nguyên trên website.

Ngày này năm xưa: Sự ra đời của 'gã khổng lồ' Google
Doodle là những logo Google được vẽ lại theo chủ đề của những sự kiện quan trọng xảy ra trên toàn thế giới. (Ảnh: Google)

Tháng 9/1998, Page và Brin nhận 100.000USD từ nhà đầu tư Andy Bechtolsheim. Bộ đôi đã quyết định sử dụng số tiền này để thành lập công ty Google trong gara căn hộ tại Menlo Park, California và thuê nhân viên đầu tiên, Craig Silverstein. Cùng năm đó, Brin đã cho ra mắt Google Doodle khi vẽ lại logo của Google theo chủ đề của ngày lễ Burning Man. Từ đó trở đi, Doodles đã trở thành một phần quan trọng được nhắc đến và cũng được xem bởi hàng triệu người dùng.

Ngày này năm xưa: Sự ra đời của 'gã khổng lồ' Google
Văn phòng làm việc của Google. (Ảnh: HinduTimes)

Tới 2/1999, họ đã chuyển trụ sở đến một văn phòng ở thành phố Palo Alto. Khi đó, Google có 8 nhân viên.
Google mở văn phòng quốc tế đầu tiên tại Tokyo vào năm 2001. Ba năm sau đó, hơn 800 nhân viên Google đã chuyển tới trụ sở mới mang tên Googleplex ( có nghĩa là 10googol) ở Mountain View, bang California. Ngay sau đó, công ty đã ra mắt dịch vụ thư điện tử Gmail đúng vào ngày “Cá tháng Tư”. Cũng trong năm 2004, Google phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, gây quỹ 1,67 tỷ USD và giá trị công ty đạt 23 tỷ USD (một thập kỷ sau, vào năm 2014, giá trị vốn hoá thị trường của Google là 390 tỷ USD).

Ngày này năm xưa: Sự ra đời của 'gã khổng lồ' Google
Văn phòng Google tại Tokyo, Nhật Bản. (Ảnh: Guru)

Google lần lượt tung ra một loạt các sản phẩm mới như bản đồ trực tuyến Google Maps và dịch vụ tối ưu dữ liệu Google Analytics trong năm 2005; ứng dụng lịch trực tuyến Google Calendar và công cụ dịch Google Translate vào năm 2006; hệ điều hành điện thoại di động Android vào năm 2007 và trình duyệt web Google Chrome vào năm 2008.

Ngày này năm xưa: Sự ra đời của 'gã khổng lồ' Google

Bên ngoài trụ sở Google tại Mountain View. (Ảnh: AP)

Google cũng mua lại một số doanh nghiệp, trong đó có YouTube với mức giá 1,65 tỷ USD vào tháng 10/2006. Ngày này, YouTube đã trở thành dịch vụ xem và chia sẻ video trực tuyến lớn nhất thế giới.

Đầu năm 2012, Google đứng đầu trong danh sách 100 công ty có môi trường làm việc tốt nhất ở Mỹ do tạp chí Fortune bình chọn, với tỷ lệ tăng trưởng việc làm trong năm 2011 là 33%.
Ngày này năm xưa: Sự ra đời của 'gã khổng lồ' Google
Nhân viên Google được làm việc trong một không gian đầy sáng tạo. (Ảnh: Itay Sikolski)

Tháng 8/2015, Google thông báo kế hoạch tái cơ cấu tập đoàn dưới một công ty mẹ mới có tên là Alphabet Inc, mở rộng đầu tư trên nhiều lĩnh vực gồm cả công nghệ sinh học, khoa học đời sống, vốn đầu tư, và nghiên cứu. Đầu 2016, Google là công ty đầu tiên vượt mặt Apple để trở thành công ty có giá trị thị trường lớn nhất thế giới với 570 tỷ USD vốn hóa. Apple xếp thứ 2 với 535 tỷ USD.


Văn phòng Google tại Thụy Sĩ. (Ảnh: BI)

Tính đến tháng 9/2016, Google xử lý hơn 3 tỷ lượt tìm kiếm mỗi ngày, trở thành trang web được nhiều người truy cập nhất trên thế giới, đứng vị trí thứ 2 và thứ 3 là YouTube và mạng xã hội Facebook.
Sầm Hoa