Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018

20180605. XẢO NGÔN LOẠN ĐỨC

ĐIỂM BÁO MẠNG
XẢO NGÔN LOẠN ĐỨC

PHƯƠNG THẢO/ VNTB/ viet-studies 3-6-2018


Kết quả hình ảnh cho xảo ngôn là gì

Ngôn ngữ của quan chức Việt nam liên tục được biến hoá một cách bất ngờ. Bất ngờ đến độ người nghe chỉ biết há hốc miệng ra mà không biết phải khóc hay phải cười. Cười một cách chua chát vì những lời xảo ngôn, trí trá để bao biện những hành vi, sự việc rõ ràng là sai; cười một cách đau xót vì trình độ sử dụng ngôn từ nhầm đánh tráo khái niệm để vặt lông vịt cho bằng hết.
Muốn khóc vì bất lực khi những kẻ mang danh là quan phụ mẫu, cầm cân nảy mực quyết định vận mệnh quốc gia, dân tộc lại có thể nhuần nhuyễn biến đen thành trắng trong ngôn ngữ. Lời nói trí trá của họ thể hiện việc đạo đức của người làm quan đã thật sự rối loạn.
Đánh tráo khái niệm
Trong tiếng Anh có những từ chỉ về phí, giá, chi phí rất rạch ròi. 
Fee là phí trả cho quyền sử dụng một dịch vụ ví dụ học phí – tuition fee, hay lệ phí ngân hàng – bank fee.
Cost là chi phí được dùng để sản xuất là một dịch vụ hàng hoá nào đó. Ví dụ như giá nhân công – labor cost, giá nguyên liệu –material cost ...
Giá hay price là giá trị của một dịch vụ, hàng hoá bao gồm chi phí và lợi nhuận cho nhà đầu tư. Và giá được tính toán để đảm bảo “bù đắp chi phí và có lợi nhuận hợp lý cho nhà đầu tư, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế trong từng thời kỳ.”
Như vậy khi cho sử dụng chữ “ giá” thì mặc nhiên họ đã có thể cho giá lên hay xuống tuỳ theo chi phí bỏ ra. Thật quả là tiện lợi.
Bộ trưởng Bộ Giao thông Nguyễn Văn Thể xứng đáng là “nhà ngôn ngữ của năm” khi đưa ra thuật ngữ vô nghĩa “ thu giá” đồng loạt cho các trạm BOT trên toàn quốc sau khi có các phản ứng mạnh về các trạm thu phí BOT mọc lên như nấm trên toàn quốc.
Ông Phùng Xuân Nhạ cũng hết sức biết thức thời cho ăn theo chữ “giá” đang rất nóng khi hùng hồn tuyên bố cho thay “học phí” bằng “ Giá dịch vụ đào tạo”.
Thu theo “Giá” thì giá dịch vụ đào tạo của ông Nhạ thì có thể sinh viên học sinh phải cõng luôn chi phí cho giáo viên, công chức vốn được nhà nước trả lương, chi phí điện nước, chi phí văn phòng phẩm, chi phí xây dựng cơ sở... Và giá cũng sẽ thay đổi theo từng năm, từng học kỳ, từng quý, hay từng tháng vì lạm phát, vì chi phí tăng.
Ai cứ cười ông Nhạ, ông thể ngô nghê về ngôn ngữ thôi là nhầm. Các ông quan thượng thư ấy khôn ra phết khi biết cách tận thu cho nhà nước.
Chuyện lớn hoá nhỏ bằng trí trá ngôn từ
Ngày 22 tháng 5, ông Đỗ Tấn Long, Trưởng phòng quản lý hệ thống thoát nước (Trung tâm chống ngập TP) đã tuyên bố với báo chí rằng “ngoài 10 tuyến ngập sâu thì 22 tuyến đường trên chỉ…'tụ nước' ”. Từ tụ nước được chế ra để chỉ cho khu vực có mặt đường có nước tụ lại thấp hơn 10cm mà theo ông Long đã có trong văn bản số 338/BXD - KTQH của Bộ Xây dựng.
Thật nực cười từ ngữ mới lạ được đưa ra nhằm làm cho vấn đề bớt nghiêm trọng, giảm đi tính nghiêm trọng của việc ngập nước mỗi khi có một trận mưa lớn ở Sài gòn. Họ đã tự “dễ dãi hoá” và “đơn giản hoá” công việc mà dân chúng đang phải còng lưng đóng thuế trả lương cho họ.
Ông phó Chủ tịch UBND Thành phố đã nói “ ngập thì nói là ngập, không nói tụ nước.” Nên sau đó cũng may là quan chức ở sở này còn biết rút lại lời mà không giải thích vòng vo hơn nữa để làm trò cười cho thiên hạ khi như khi quan chức ngoài trung ương giải thích chữ giá.
Cục Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 26 tháng 5 cũng đã phát minh cụm từ “ bay chưa đúng giờ”. Cục phó Võ Huy Cường, cho biết nhằm hướng tới mục tiêu để các dịch vụ hậu cần kỹ thuật ngày càng phục vụ hành khách tốt hơn, hướng tới các chuyến bay đúng giờ (on-time performance), Cục không dùng cụm từ "chậm, huỷ chuyến" (delay, cancel) nữa.
Ông Cường biết rằng dù bản chất không thay đổi, và để cho phù hợp với xu thế của thế giới, cũng như bớt u ám nên mới phải thay đổi thuật ngữ. Chẳng hiểu xu hướng thế giới là gì trong khi từ Âu sang Á hay từ Phi tới Mỹ Latin họ vẫn chỉ dùng hai chữ Delay và Cancel cho các chuyến bay trễ hay bị huỷ không đúng như lịch trình.
Bay trễ vẫn là trễ, huỷ chuyến vẫn là huỷ chuyến vì bản chất không thay đổi được. Vậy mà tới giờ vẫn không có ông quan nào lên tiếng về việc thay đổi thuật ngữ nhằm mục đích giảm nhẹ bản chất và lừa dối tình trạng chuyến bay với người dân của hãng Hàng không quốc gia “ bay chưa đúng giờ”.
Xảo ngôn
Ngày 26 tháng 5, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khi nói về thuế tài sản trước Quốc Hội đã cho biết “sẽ nghiên cứu theo hướng tạo công bằng xã hội, trên cơ sở quản lý xã hội, định hướng thị trường, đảm bảo công khai, minh bạch tài sản, đảm bảo công tác phòng chống tham nhũng; mục tiêu tăng thu ngân sách là mục tiêu thứ yếu”.
Tới đây thì mức độ xảo ngôn đã đạt đến đỉnh. Muốn thu thuế từ người dân sở hữu căn nhà giá 700 triệu trở đi để chống tham nhũng hàng ngàn tỷ thì chống bằng cách nào khi ngân sách đang mục ruỗng, nợ công đã ở mức báo động, quỹ bảo hiểm cũng đã cháy. Thà cứ thẳng thắn là ngân sách cạn kiệt rồi vì tham nhũng nên cần có tiền để đảo nợ có khi lại còn dễ nghe hơn.
Phó chủ nhiệm Uỷ ban Ngân sách Quốc hội Đinh Văn Nhã trong ngày cuối cùng của tháng 5 khi được hỏi về tính minh bạch của hệ thống ngân sách đã trả lời rất hùng hồn: “Tôi cảm thấy là ngân sách của ta không còn gì là không minh bạch nữa rồi, đã là đỉnh cao của quốc tế, đỉnh cao về minh bạch. Truyền hình trực tiếp buổi thảo luận về dự toán ngân sách nhà nước thì không còn gì là không minh bạch nữa.” 
Minh bạch của Việt Nam đã ở đỉnh cao về minh bạch như thế thì làm gì có chuyện tham nhũng để mà chống? Nếu đúng là như thế, thì nhà to, xe kềnh, tài sản khủng chìm nổi đúng thật là do nuôi heo, làm chổi đót, chạy xe ôm mà có. Còn các dự án thất thoát hàng ngàn tỷ, vốn đội lên hàng ngàn lần, hay chỉ số minh bạch của Việt Nam đội sổ thế giới đúng là do lỗi cơ chế hoặc là do phản động nó đưa tin thôi.
Mở đầu cho việc cho nước ngoài thuê đất 99 năm đang được bàn luận trong những ngày cuối tháng 5, từ tháng 4 Thủ tướng kiến tạo đương nhiệm Nguyễn Xuân Phúc đã tuyên bố khi cho phép lập đặc khu rằng “ bảo đảm trật tự xã hội, không để “cò đất”, xã hội đen mua bán đất lộng hành trên địa bàn.”
Thật quý hoá quá, thủ tướng đã lo chặn đầu việc cò đất - xã hội đen bất động sản từ khi chưa có đặc khu, còn nhóm lợi ích có thâu tóm đất đai thì sẽ không sao vì đâu có nằm trong nhóm có nguy cơ lộng hành.
Tại các phiên họp Quốc hội trong cuối tháng 5 và đầu tháng 6 bàn thảo Luật Đặc khu trong đó có điều khoản cho thuê đất 99 năm. Ba điểm trọng yếu từ Bắc tới Nam sẽ được giao cho ngoại bang sử dụng theo mô hình đặc khu của Thâm Quyến dù họ chỉ cho thuê đất có 20-30 năm. Việt Nam chơi sang hơn cho thuê luôn 99 năm.
Chỉ với một Formosa được thuê đất ở Hà tĩnh với giá bèo trong 70 năm mà chính quyền đã chẳng làm gì được khi họ xả thải, đã vì bênh Formosa mà mạnh tay đàn áp người dân biểu tình phản đối việc huỷ hoại môi trường của nhà đầu tư. Vậy thì khi cho thuê đất tới 99 năm để hình thành đặc khu với cơ quan hành chính riêng thì họ làm gì chính phủ đời thủ tướng nào cũng không thể can thiệp.
Từ ngữ chuyên môn của nhà nước thống nhất là cho thuê đất 99 năm, nên nếu muốn hiểu cho đúng thì phải hiểu đó là hình thức nhượng địa một cách tự nguyện trong thời gian một thế kỷ. Dân tình, nhân sỹ trí thức có phản đối gì thì đó đã là quyết định của chính phủ, chủ trương của Đảng … Đặc khu sẽ vẫn cứ được hình thành!
Có xót xa không khi chỉ biết chép miệng như Khổng tử : Xảo ngôn loạn đức”.


VÌ SAO CÁCH NÓI 'THU GIÁ' SẼ KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC CHẤP NHẬN ?

HẢI VĂN/ Viettimes 2-6-2018



VietTimes-- Mấy chữ “trạm thu giá”, “thu giá dịch vụ giáo dục” đã gây bão dư luận vì với tư cách là một cụm từ thông dụng, nó trái với ngữ pháp của tiếng Việt toàn dân; còn với tư cách là thuật ngữ của khoa học kinh tế-tài chính, nó cho thấy người đặt thuật ngữ, và những ai tham mưu đưa nó vào các văn bản quy phạm pháp luật, đã kịp quên hết những định nghĩa về giá trong kinh tế học đại cương, nhất là kinh tế học Marxist.

Trong tiếng Việt toàn dân “giá” không bao giờ là tên gọi của một cái gì cụ thể, hữu hình để con người có thể “thu” được
Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trên sách báo, giấy tờ và biển hiệu của người Việt ta, xưa nay và ở đâu cũng vậy, giá hay giá cả bao giờ cũng chỉ có nghĩa là kích thước hay trị số hay độ lớn (amount, magnitude) của cái khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán theo thỏa thuận, để được sở hữu hay tiêu dùng một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó. Ta chỉ có thể thu được một “khoản tiền” hay một “khoản tiền có độ lớn là hai triệu” chẳng hạn, chứ không thể nào thu được độ lớn của khoản tiền đó (cần lưu ý, khi ta nói “thu 2 triệu đồng” thì đó chỉ là cách nói tắt của “thu một khoản tiền 2 triệu đồng”, chứ nói một cách nghiêm ngặt thì “2 triệu đồng” là thứ không thể thu; tương tự ta chỉ có thể nói “nhấc một bao gạo 50kg” chứ không thể nói “nhấc 50kg” trống không).
“Giá” tức “Độ lớn” của khoản tiền phải trả khi mua một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ, nói thật nghiêm ngặt, chỉ là một thứ vô hình, không màu, không mùi, không vị, không có cân nặng, và đương nhiên không chứa đựng một nguyên tử vật chất nào bên trong cho nên con người không bao giờ có thể thu được nó một cách trực tiếp để có thể nói hay viết ra những từ tổ kỳ dị như thu giá, trạm thu giá, làn thu giá tự động , thu giá dịch vụ giáo dục hay thu giá dịch vụ y tế.
Nói thu giá của một sản phẩm hay một dịch vụ nghe cũng “chướng tai” tương đương với nói nhốt chiều cao hay giam cân nặng của một anh Tèo nào đó. Giá hay chiều cao hay cân nặng đều chỉ là những sản phẩm trừu xuất của trí tuệ con người. Ta chỉ có thể nghĩ hay nói và viết về nó, nhận thức nó bằng suy nghĩ chứ không bao giờ có thể sờ mó, cầm nắm, tức không bao giờ có thể nhốt, giam hay “thu” nó được.

Vì sao cách nói “thu giá” sẽ không bao giờ được chấp nhận? - ảnh 1
 “Thu giá” là cách nói phi lý không thể chấp nhận trong tiếng Việt
Giá trong kinh tế học, nhất là kinh tế học của Karl Marx
Đó đây đang có người nói rằng không ai cấm chúng ta đặt ra những thuật ngữ mới  cho những khái niệm quen thuộc, miễn sao nội hàm của khái niệm phải được định nghĩa thật minh xác. Những người ấy quên rằng khi một thuật ngữ đã được dùng một cách vững chắc để chỉ một khái niệm nào đó quen thuộc thì không còn có thể đem dùng nó để đặt tên cho một khái niệm khác cùng thuộc một chuyên ngành hẹp mà lại có nội dung khác hẳn.
Nếu đã từng đọc Karl Marx ở mức nhập môn (và thực sự thuộc bài) thì hẳn phải nhớ khi cần đo lường giá trị của một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó con người có thể dùng nhiều loại thước đo khác nhau như thước đo bằng vàng, thước đo bằng trâu, thước đo bằng chim câu, v.v. Chẳng hạn:
X cái xe máy           = A con trâu
= B con chim câu
= C gram vàng
v.v.,
Ở đây, giá trị của 1 cái xe máy sẽ bằng phân số A/X nếu đo giá trị bằng trâu (đơn vị con), bằng B/X nếu đo giá trị bằng chim câu (đơn vị con), hay C/X nếu đo giá trị bằng vàng (đơn vị gram).
Nhưng cái thước đo giá trị phổ biến nhất, được chấp nhận rộng rãi nhất và được nhà nước bảo hộ chính là thước đo tiền tệ:
1 xe máy                 = 1,5 triệu VNĐ
Trong phép đo này, xe máy là thứ có giá trị cần đo lường, tiền VNĐ là thước đo, còn giá cả 1,5 triệu đồng là số đo (kết quả) thu được khi tiến hành phép đo giá trị của chiếc xe máy bằng cái thước đo tiền VNĐ.
Tương tự, khi nói giá của một quả táo là 5 ngàn VNĐ thì ở đây quả táo là vật cần đo giá trị, tiền Việt Nam đồng là thước đo, còn “5 ngàn đồng" chính là kết quả (số đo) của phép đo vậy.
Còn khi nói giá của việc sử dụng một đoạn cao tốc chẳng hạn Pháp Vân-Cầu Giẽ là 45 ngàn đồng cho xe hơi 5 chỗ, thì dịch vụ sử dụng cao tốc là thứ cần đo giá trị, tiền Việt Nam đồng là thước đo, và 45 ngàn đồng chính là kết quả (số đo) của phép đo.
Ta chỉ có thể cầm nắm, thụ đắc, sở hữu, sử dụng cái thứ được đem ra đo giá trị hay cầm nắm cái khoản tiền phải trả để mua dùng thứ đó, chứ không thể cầm nắm sờ mó hay thu về cái “số đo”, tức cái kết quả (thuần túy về mặt lượng) của phép đo.
Nói “thu giá”, nếu như có cách nói gây cười đó trên đời, chỉ có thể là nói đến việc thu cái số đo giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó khi được đo bằng cái thước tiền mà thôi. Đó sẽ là việc thu về một con số mà người nộp sẽ nói ra bằng miệng, hoặc biên ra một tờ giấy; tức là thu về mấy chữ “30 ngàn đồng” chẳng hạn chứ không phải là thu về một khoản tiền 30 ngàn đồng. Thuật ngữ “Thu giá”chỉ được chấp nhận nếu nó được dùng để chỉ cái hoạt động thu mấy con số A/X, B/X, C/X... như bên trên vừa phân tích.
Nếu đã từng học qua vài tháng kinh tế chính trị học Marxist (và vẫn chưa kịp quên đi tất cả), các tác giả thuật ngữ sẽ luôn nghe văng vẳng bên tai lời của Karl Marx khi ông phân tích về Tiền, hay lưu thông hàng hóa : “Trong chức năng làm thước đo giá trị thì tiền chỉ được dùng với tư cách là tiền trong trí tưởng tượng, hay tiền trên ý niệm mà thôi [tức không bao giờ có thể thu được]”.
Và người khổng lồ của thế kỷ XIX đã cảnh báo thêm “Tình hình này đã đẻ ra những học thuyết điên rồ nhất về tiền.” !
Không thể lẫn lộn giá với phí
Nói ngắn gọn thì phí là một khoản tiền cần nộp khi mua dùng một dịch vụ gì đó, còn giá là mức nộp. Ta chỉ có thể thu về một khoản tiền vì lý do ABC nào đó chứ không thể thu về cái “mức nộp” tức cái “độ lớn” của khoản nộp, như bên trên đã phân tích.
Từ những phân tích trên, có thể kết luận: “thu giá” là cách nói phi lý không thể chấp nhận trong tiếng Việt thường nhật cũng như tiếng Việt của những khoa học chuyên ngành./.

CÔNG CUỘC 'GIẢI THOÁT RÁC CHỮ' VÀ CHUYỆN BỘ TRƯỞNG 'XIN LỖI'

BÙI HOÀNG TÁM/ DT 5-6-2018
 
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể lần đầu đăng đàn đã nhận được hàng núi câu hỏi về các bất cập xảy ra của ngành Giao thông Vận tải thời gian qua như trạm BOT, tai nạn đường sắt, đường bộ…
Tuy nhiên, có một chuyện nhỏ, rất nhỏ từng xôn xao dư luận nhiều ngày qua cũng được nêu lại tại cuộc chất vấn này. Đó là xung quanh cụm từ “thu giá”.
Theo báo Vietnam Net ngày 4.6 cho biết: "Ngay vào phiên chất vấn, Bộ trưởng GTVT bày tỏ: "Tiếp thu ý kiến của cử tri, dư luận xã hội và sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Bộ đang có phương án trình Chính phủ thay đổi tên gọi trạm thu phí BOT bằng một tên mới phù hợp với pháp luật và các yêu cầu". Nghe vậy, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân liền nói: "Tên cũ không có vấn đề gì thì nên chuyển tên trạm thu giá về tên cũ là được, không cần chờ trình Chính phủ, chờ trình lâu lắm!"".
“Trả lại tên cho em”. Câu chuyện đơn giản vậy thôi, song nó từng khiến dư luận xôn xao bàn tán và người viết bài này thì trăn trở với nhiều câu hỏi.
Thứ nhất là cái từ “thu phí” nó rõ ràng, dễ hiểu và đúng bản chất vấn đề như vậy thì không hiểu tại sao bộ GTVT lại thay nó bằng hai từ “thu giá” vừa vô nghĩa, vừ ngô nghê mà nói như Nhà báo Lương Phán là “xả rác chữ” làm ô nhiễm môi trường?
Rồi chẳng hiểu sao mà cái từ “giá” lại được tới hai vụ Tư lệnh ngành đều quan tâm sử dụng. Cùng với Bộ trưởng Thể, Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Phùng Xuân Nhạ cũng muốn thay học phí thành “giá dịch vụ đào tạo”?
Thứ hai, một việc đơn giản như thế nhưng nó chỉ chấm dứt khi có ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân còn báo chí thì tốn rất nhiều giấy mực?
Thứ ba, Giao thông là huyết mạch quốc gia, giao thông phát triển thì đất nước mới phát triển. Nhiệm vụ quan trọng nhất của vị tư lệnh ngành là mở những con đường mới cho giao thông thông suốt, cho tai nạn bớt xảy ra, cho hoạt động BOT hiệu quả… còn việc tìm những từ mới thì nên dành cho ngành khác đúng chức năng hơn. Sao Bộ GTVT lại… “rỗi hơi” đi “khai mở chữ nghĩa” thế nhỉ?
Tại phiên chất vấn này, Bộ trưởng Thể đã nhiều lần “xin lỗi”. Song, có lẽ cử tri không muốn thấy những lời xin lỗi bởi một khi phải “xin lỗi”, tức là sự việc đã diễn ra rồi.
Mong lắm những lần sau, cử tri không còn “phải” nhận từ Bộ trưởng những lời xin lỗi quen thuộc đến nhàm chán mà thay vào đó, là những yếu kém đã được khắc phục, phải không các bạn?

Bùi Hoàng Tám

NHỮNG NỘI DUNG CẦN LƯU  Ý TRONG DỰ LUẬT  VỀ BA ĐẶC KHU

VĨNH LONG/TTVN/  BVN 4-6-2018
Dự án Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc (tạm gọi là Dự luật về 3 đặc khu) bắt đầu được Quốc hội thảo luận vào ngày 23/5, dự kiến thông qua vào cuối kỳ họp.
Được đánh giá là một dự án luật quan trọng, ảnh hưởng lớn tới địa chính trị, kinh tế và đời sống xã hội Việt Nam, tuy nhiên, dự luật còn nhiều điểm chưa hợp lý. Trong đó bao gồm nhiều quy định ưu đãi cho nhà đầu tư chiến lược và phân quyền về hoạt động tư pháp ở đặc khu.
Về thời hạn sử dụng đất, Điều 32, Chủ tịch UBND đặc khu được quyết định thời hạn sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh tại đặc khu tối đa 70 năm. Đặc biệt, thời hạn sử dụng đất có thể dài tới 99 năm, do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Quy định này vượt Luật Đất đai, cũng cho phép Thủ tướng có quyền vượt trên Luật Đất đai.

Điều 126 Luật Đất đai quy định thời hạn giao đất sử dụng tối đa là 50 năm. Trong trường hợp đặc biệt, “dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn”, thời hạn giao đất, cho thuê đất được kéo dài 70 năm.
Về đầu tư ngân sách nhà nước, Điều 33, Nhà nước chi ngân sách nhà nước thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất đã giải phóng mặt bằng cho nhà đầu tư theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất.
Trường hợp ngân sách nhà nước không bố trí được kinh phí để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư được ứng kinh phí để thực hiện. Khoản tiền ứng trước sẽ trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án đầu tư.
Nhà nước cũng chi ngân sách đầu tư các dự án đầu tư công xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng khu tái định cư và các công trình khác để thực hiện quy hoạch đặc khu. Trường hợp NN không bố trí được ngân sách, nhà đầu tư sẽ ứng kinh phí cho NN để thực hiện. Khoản ứng trước sẽ trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất dự án, hoặc NN thanh toán bằng quỹ đất trong khu vực đặc khu.
Tuy nhiên, Điều 43 quy định nhiều ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp tại đặc khu: áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm kể từ khi có doanh thu, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế.
Chỉ doanh nghiệp đầu tư bất động sản tại đặc khu (trừ đầu tư kinh doanh nhà ở xã hội) mới áp thuế suất 17% trong 5 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế nhưng không quá năm 2030.
Ngoài ra, còn hàng loạt các khoản miễn thuế khác, như miễn thuế nhập khẩu hàng hóa đầu tư (Điều 41); miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm và giảm 50% sau đó (Điều 40); miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước tối đa cho cả thời hạn thuê đối với các dự án đầu tư khu hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, dự án thuộc lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế tại Phú Quốc.

Vậy ngân sách nhà nước lấy đâu ra tiền?

Về ngân sách đặc khu. Điều 39, “Ngân sách đặc khu được bội chi để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương và các khoản vay trong nước khác“. Cơ quan có thẩm quyền là cơ quan nào?
Mức dư nợ vay (hạn mức vay để bội chi ngân sách) của ngân sách đặc khu không vượt quá 70% ngân sách thu. Tức nếu ngân sách thu 10 đồng, các đặc khu có hạn mức vay 7 đồng để chi tới 17 đồng. Nếu vỡ nợ ngân sách, ai chịu trách nhiệm?
Hiện, mức dư nợ vay lớn nhất do Luật Ngân sách nhà nước quy định là 60% ngân sách thu (đối với của Hà Nội và TP.HCM), các tỉnh địa phương từ 20-30%.
Chủ tịch UBND đặc khu được trao rất nhiều quyền, quyền lựa chọn nhà thầu (Điều 37), quyền miễn thuế thuê đất, thuê mặt nước tối đa 30 năm (Điều 45), được ký hợp đồng lao động, tuyển công chức, ra quy định về hỗ trợ về nhà ở cho cán bộ, công chức trong các cơ quan của chính quyền địa phương ở đặc khu (Điều 47).
Cũng Điều 47, cán bộ, công chức làm việc trong chính quyền địa phương ở đặc khu cam kết làm việc ít nhất 10 năm được hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Chủ tịch UBND đặc khu. Công chức qua tuyển dụng làm việc 5 năm liên tục trở lên khi chuyển công tác sang các cơ quan, tổ chức khác của NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển.

Cơ chế nào để hạn chế tình trạng chạy thầu, miễn thuế, chạy chức, lách luật hưởng đặc quyền? Làm cách nào để vùng đặc khu không trở thành “rốn” tham nhũng chính sách?

Chủ tịch UBND tỉnh có quyền giới thiệu nhân sự Chủ tịch UBND đặc khu cho HĐND đặc khu bầu, cũng như đề nghị để HĐND đặc khu xem xét miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND đặc khu (Điều 83).
Việc phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật Chủ tịch UBND đặc khu do Thủ tướng quyết định (Điều 80).

Về nhân sự lao động, quy định cư trú:

Điều 46, người lao động nước ngoài là chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành được làm việc dưới 90 ngày và cộng dồn 180 ngày một năm không cần giấy phép lao động.
Người lao động nước ngoài là lao động kỹ thuật được thời gian làm việc dưới 30 ngày và cộng dồn 90 ngày trong 1 năm không cần cấp giấy phép lao động.
Ngoài các quy định chung, Điều 54, 55, 56 quy định về cơ chế, chính sách đặc biệt khác tại lần lượt đặc khu Vân Đồn, đặc khu Bắc Vân Phong, đặc khu Phú Quốc.
Đáng chú ý, Điều 54, người nước ngoài hoạt động trong ngành công nghiệp văn hóa tại đặc khu Vân Đồn có thể được cấp thị thực có giá trị nhiều lần với thời hạn 12 tháng; trường hợp có giấy phép lao động thì thời hạn thị thực phù hợp thời hạn của giấy phép lao động.
Công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh sử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch được miễn thị thực (visa) với thời hạn xác định; trường hợp có nhu cầu đến các địa điểm khác của tỉnh Quảng Ninh để du lịch thì làm thủ tục thông qua doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam.
Điều 55, Chủ tịch UBND đặc khu Bắc Vân Phong được quyền quyết định thành lập cơ quan quản lý cảng biển. Hàng hóa được phép trung chuyển qua cảng biển được vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam để xuất khẩu qua cửa khẩu khác hoặc xuất khẩu trực tiếp.
Điều 56, cá nhân có dự án đầu tư từ 110 tỷ đồng trở lên tại đặc khu Phú Quốc được cấp thẻ tạm trú 10 năm.
Theo Điều 38, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, thẻ tạm trú có thời hạn lâu nhất là 5 năm.
V.L.
HỌ ĐANG RẮP TÂM LÀM CHO BẰNG ĐƯỢC ?
FB MẠNH KIM / viet_studies 4-6-2018
Nếu các tập đoàn Trung Quốc đổ bộ vào ba đặc khu Việt Nam thì họ được quyền kinh doanh những gì? Có rất nhiều lĩnh vực “nhạy cảm” mà doanh nghiệp trong nước lâu nay vẫn bị làm khó thì đặc khu sẽ mở rộng toác cửa để “nhà đầu tư” Trung Quốc thâm nhập. Dựa vào “Phụ lục 4: Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại đặc khu (Ban hành kèm theo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc)”, Trung Quốc có thể kinh doanh vài hoặc tất cả trong tổng cộng 131 danh mục sau:
  • Kinh doanh các loại pháo, trừ pháo nổ
  •  Kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị
  •  Kinh doanh quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng
     (Chú thích của người viết: Vũ khí quân dụng sản xuất cho ai? Cho Trung Quốc, hay Việt Nam, hay có thể xuất khẩu đến nước khác? Việt Nam trở thành nơi mà Trung Quốc có thể sản xuất vũ khí dùng để bảo vệ Trung Quốc và dùng để tấn công Việt Nam nếu cần?)
  •  Kinh doanh dịch vụ đòi nợ
  •  Hành nghề luật sư
  • Hành nghề công chứng
  •  Hành nghề giám định tư pháp trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả
  •  Kinh doanh chứng khoán
  •  Kinh doanh bảo hiểm
  •  Kinh doanh xổ số
  •  Kinh doanh casino
  •  Kinh doanh dịch vụ đặt cược
Rồi:
  • Kinh doanh xăng dầu
  •  Kinh doanh khí
  •  Kinh doanh dịch vụ nổ mìn
Kể cả:
  • Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
  •  Kinh doanh vàng
  •  Kinh doanh rượu
  •  Kinh doanh sản phẩm thuốc lá
  •  Kinh doanh khoáng sản
  •  Kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp
  •  Hoạt động dầu khí
(Trung Quốc có thể khai thác dầu khí ở các mỏ dầu Việt Nam và các mỏ khoáng sản Việt Nam?)
Thậm chí:
  • Kinh doanh cảng hàng không, sân bay
  •  Kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay
(Trung Quốc được quyền khai thác sân bay Việt Nam hay họ có quyền xây sân bay để phục vụ cho họ? Có nguy cơ nào dẫn đến việc những sân bay này trở thành sân bay quân sự của Trung Quốc?)
Còn nữa:
  • Kinh doanh dịch vụ bưu chính
  •  Kinh doanh dịch vụ viễn thông
  •  Hoạt động của nhà xuất bản
  •  Kinh doanh dịch vụ phát hành xuất bản phẩm
  •  Kinh doanh dịch vụ mạng xã hội
  •  Kinh doanh dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền
  •  Kinh doanh dịch vụ thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp
  •  Kinh doanh dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động, mạng Internet
(Ai kiểm soát việc phát hành và kiểm duyệt nội dung sách báo in bằng tiếng Hoa của các tập đoàn truyền thông Trung Quốc? Việt Nam làm gì nếu sách báo do Trung Quốc in ấn và phát hành tại Việt Nam đề cập đến đường lưỡi bò? Ai kiểm duyệt nội dung các chương trình “phát thanh, truyền hình trả tiền”; nếu các chương trình này ra rả những show giải trí bôi nhọ Việt Nam hoặc kích động chủ nghĩa ái quốc Trung Quốc ngay trong lòng Việt Nam? Ai chịu trách nhiệm nếu một mạng xã hội Weibo phiên bản Việt Nam trở thành nơi mà ngày đêm người Trung Quốc kích động chủ quyền biển đảo theo “tinh thần” Bắc Kinh?...)
Chưa hết, tập đoàn Trung Quốc còn có thể:
  • Kinh doanh dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền ".vn"
  •  Kinh doanh các thiết bị gây nhiễu, phá sóng thông tin di động
  •  Kinh doanh dịch vụ thực hiện kỹ thuật mang thai hộ
  •  Kinh doanh dịch vụ phát hành và phổ biến phim (Những “Biển Đỏ” sẽ được chính thức phát hành tại Việt Nam, tại các đặc khu, và Việt Nam không thể làm gì à?)
  •  Kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường
  •  Kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế (Trung Quốc mặc sức đưa du khách sang Việt Nam sao?)
  •  Kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu (Sẽ có những chương trình nhảy múa ca tụng Mao Trạch Đông và Tập Cận Bình phát sóng ngay tại Việt Nam?)
Và còn nữa, Trung Quốc còn được phép:
  • Mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia (Rồi ai sẽ kiểm soát các cuộc chảy máu cổ vật?)
  •  Nhập khẩu phế liệu (Ai chịu trách nhiệm khi Việt Nam biến thành bãi phế liệu nhập từ Trung Quốc?)
…
Có thể những diễn dịch trên là “quá lo xa” nhưng có thể thấy rõ rằng toàn bộ nội dung “Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc” đã được soạn, để "trình Quốc hội”, bằng một thái độ hời hợt cực kỳ nguy hiểm. Những người cố vấn hoặc chủ trương soạn dự luật này, hoặc quá thiếu hiểu biết về nhiều mặt trong đó có pháp lý, hoặc họ bất chấp đến mức chẳng cần quan tâm đến chủ quyền. Họ cần tiền đến mức có thể bán rẻ quốc gia vậy sao? Hay họ đang rắp tâm làm điều gì đó khác thậm chí nguy hiểm hơn vạn lần?

CHO THUÊ ĐẤT 99 NĂM : 'ĐẠI BÀNG' BA ĐỜI XÂY Ổ

NGUYỄN KHẮC GIANG/ TVN 4-6-2018

TVN -Quy định thời hạn cho thuê đất kéo dài lên đến 99 năm, hoàn toàn có thể biến chủ thuê đất trở thành “lãnh chúa” trong địa hạt của mình.
Shannon là một sân bay cỡ vừa tại Ireland, là trạm trung chuyển và tiếp nhiên liệu cho nhiều chuyến bay xuyên Đại Tây Dương từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Thế nhưng với công suất máy bay ngày càng tăng, số chuyến trung chuyển ngày càng giảm dần, kéo theo sự suy tàn của khu vực này. Để cứu vãn tình hình, giám đốc Shannon đề xuất xây dựng khu vực sản xuất có ưu đãi thuế quanh sân bay. Năm 1959, khu kinh tế mở Shannon ra đời, là “Đặc khu kinh tế” (SEZ) đầu tiên trên thế giới và là hình mẫu cho các SEZ phát triển mạnh mẽ ở châu Á.
Nhưng đó là câu chuyện của 60 năm trước. Hiện nay, Quốc hội vẫn đang thảo luận rất gay gắt về dự luật Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc, và dự kiến sẽ thông qua ngay trong kỳ họp này. Trong một bản dự thảo chi tiết gồm 85 điều, thứ đọng lại với người đọc vẫn chủ yếu là những ưu đãi, đặc biệt liên quan đến thuế má và đất đai.
Về thuế, ở đặc khu thuế doanh nghiệp chỉ còn 10% (so với mức 20% thông thường), miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời gian 05 năm (không quá năm 2030), và giảm 50% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp trong các năm tiếp theo, miễn tiền thuê đất vô thời hạn hoặc tối đa 30 năm…Đây là những ưu đãi vô cùng hấp dẫn nếu so sánh với cách chính sách hiện hành.
Thế nhưng ưu đãi về thuế và đất đai không phải là không có vấn đề. Cho phép đặc khu thực hiện ưu đãi vượt khung, liệu có công bằng với 63 tỉnh thành khác cũng đang rất nỗ lực để thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng không được phép tạo cơ chế như vậy?
Hơn nữa, thuế luôn là nguồn chính cho ngân sách địa phương. Một khi nguồn thu này ở đặc khu không còn hoặc rất không đáng kể, ngân sách trung ương chắc chắn sẽ phải bù đắp thiếu hụt. Trong khi đầu tư vào đặc khu là canh bạc vô cùng tốn kém. Bộ Tài chính ước tính ba đề án đặc khu cần tới 1,57 triệu tỷ đồng (khoảng 70 tỷ USD), Vân Đồn cần 270 nghìn tỷ (2018-2030), Bắc Vân Phong 400 nghìn tỷ đồng (2019-2025), và Phú Quốc 900 nghìn tỷ (2016-2030). Đây là con số khổng lồ, và nếu đặt trong bối cảnh ngân sách trung ương năm nào cũng thiếu hụt, tiền ở đâu để hiện thực hoá tham vọng này?
Chính vì thế, luật đặc khu không thể chỉ chăm chăm nhìn vào ưu đãi. Đặc khu phải thực sự đảm nhiệm đúng vai trò mà Quốc hội kì vọng: trở thành “vườn ươm thể chế”, nơi nhà nước có thể thử nghiệm cách thức quản trị và chính sách mới, khuyến khích đầu tư các công nghệ của tương lai, tạo bệ phóng tăng trưởng cho các miền mà nó đại diện (Vân Đồn phía Đông Bắc, Bắc Vân Phong ở Nam Trung Bộ, và Phú Quốc ở Nam Bộ). Muốn làm được như vậy, đặc khu phải thu hút được các doanh nghiệp trong lĩnh vực ưu tiên đặt trụ sở hoạt động ở đó. Nhưng cho đến nay, dường như chưa có doanh nghiệp công nghệ cao, logistics nào tỏ ý định đầu tư tại các đặc khu.
“Nồi nào vung nấy”, cách thức ưu đãi sẽ thu hút những đối tượng phù hợp. Tập trung ưu đãi về thuế và đất, sẽ chỉ thu hút được casino, khách sạn, nhà nghỉ…hay là trở thành thiên đường thuế như các hòn đảo vùng Trung Mỹ. Xây dựng đặc khu, suy cho cùng, vẫn là bài toán phát triển lợi ích kinh tế cho quốc gia trong dài hạn. Mong muốn của nhà nước tạo ra hiệu ứng lan toả từ đặc khu để làm đòn bẩy phát triển là chính đáng. Thế nhưng những gì chúng ta thấy ngay cả khi dự luật này chưa được thông qua chỉ là những cơn sốt đất. Một khi sốt đất đi qua, với diện tích hạn chế, chúng ta lấy đâu ra đất để phát triển công nghệ cao, logistics, cơ khí chính xác, công nghệ thông tin…như kỳ vọng?
Một lo ngại nữa là quy định thời hạn cho thuê đất kéo dài lên đến 99 năm, hoàn toàn có thể biến chủ thuê đất trở thành “lãnh chúa” trong địa hạt của mình. Cần phải nhớ rằng với tiềm lực tài chính lớn, các tập đoàn đa quốc gia – thậm chí được hỗ trợ bởi chính phủ nước ngoài – có đủ khả năng tích góp một lượng lớn đất đai ở đặc khu, đủ để họ tạo ra “quyền lãnh thổ” trên thực tế, tạo ra những vấn đề rất khó xử lý về an ninh – quốc phòng.
Đây là câu chuyện đã diễn ra ở các nước châu Phi và chuỗi đảo dọc “con đường tơ lụa trên biển” như Sri Lanka và Maldives, khi các công ty Trung Quốc thu mua/thuê lại một lượng lớn đất đai. Đọc dự thảo Luật trình Quốc hội, tôi chưa thấy quy định nào có thể ngăn ngừa được rủi ro này. Chúng ta mở đặc khu với tâm thế cởi mở, tự do, hướng ra thế giới, nhưng rõ ràng cũng cần phòng ngừa những bất trắc có thể xẩy ra. Cùng thời điểm Quốc hội đang thảo luận về ba đặc khu, cách Vân Đồn chưa đầy 200 hải lý, Trung Quốc cũng đang nỗ lực biến đảo Hải Nam trở thành “đặc khu kinh tế”. Định vị vị trí của các đặc khu chúng ta như thế nào trong bối cảnh đó là một vấn đề cần xem xét kĩ.
Như vậy, điều cần tập trung trong Luật đặc khu không phải ưu đãi kiểu “quy ra thóc” như hiện tại, mà cần nhấn mạnh vào thay đổi những thể chế vốn kìm hãm phát triển kinh tế ở trong nước. Đó là cơ chế quản lý hành chính công rườm rà, kém hiệu quả, thiếu minh bạch; nền kinh tế thị trường chưa được tôn trọng với sự can thiệp quá sâu của nhà nước bằng chính sách và doanh nghiệp quốc doanh; hay môi trường kinh doanh chưa thông thoáng, chưa tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy tối đa năng lực của mình trong thời đại internet và toàn cầu hoá. Nhưng nói như một số đại biểu tại nghị trường, các quy định về thể chế trong dự luật dường như chưa tạo ra được bước đột phá cần thiết, khi phần lớn chỉ trích dẫn các luật hiện hành như Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách, hay Luật Quản lý công chức.
Kể từ khi SEZ Shannon ra đời, đã có hơn 3000 đặc khu kinh tế dưới hình hài khác nhau xuất hiện trên thế giới. Thế nhưng không phải mô hình nào cũng thành công, và dường như tỷ lệ thành công ngày càng thấp khi quá trình toàn cầu hoá kinh tế được đẩy mạnh, xoá nhoà những lợi thế từng là đặc thù của SEZ như mức thuế ưu đãi hay vị trí lý tưởng. Bởi thế, nhà nước không nên kì vọng quá nhiều về thành công về mặt kinh tế của các đặc khu, mà nhấn mạnh vào tính thử nghiệm thể chế của nó. Khi ít chịu áp lực thành công về kinh tế, nhà nước cũng không cần phải thu hút đầu tư bằng mọi giá và với mọi đối tượng tại các đặc khu. Tự thân các Vân Đồn, Bắc Vân Phong, và Phú Quốc đều là mỏ vàng, đừng để dự luật đặc khu lại hợp pháp hoá việc “bán rẻ như cho” những mỏ vàng đó.
Nguyễn Khắc Giang

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

20180604. BÀN VỀ TIẾN SĨ NGUYỄN ĐỨC KIÊN

ĐIỂM BÁO MẠNG
THƯ GỬI TIẾN SĨ S NGUYỄN ĐỨC KIÊN

TRẦN KIÊM ĐOÀN/ FB TKĐ/ BVN 4-6-2018

Ngày 30 tháng 5 năm 2018
Thư gửi: Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc Hội Việt Nam
Kính thưa TS. Nguyễn Đức Kiên,
Trả lời câu hỏi: “Về vấn đề an ninh - quốc phòng, ông có lo ngại khi thời gian thuê đất dài và các đặc khu nằm ở vị trí khá nhạy cảm?”
TS. Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội đã nói:
“Tại sao cứ sợ ảnh hưởng của Trung Quốc tại các đặc khu? Tại sao ở Úc, Pháp, Mỹ... đều có Chinatown? Ở California mình có Little Saigon. Ở đó toàn người Việt, nói bằng tiếng Việt, thì bang California có lo ngại vấn đề an ninh quốc phòng hay không?”

mage may contain: 1 person, smiling, suit and text

Là một người Việt có song tịch (Mỹ -Việt), đã sống nửa đời ở Việt Nam và nửa đời ở Mỹ, tôi thấy có trách nhiệm góp ý với ông và các quan chức đang ở vị thế lãnh đạo trong nước nhằm làm sáng tỏ sự so sánh hời hợt và suy luận quá đơn giản của quý vị về vấn đề ở tầm mức quốc gia như thế nầy.
Khi nói đến những Khu Vực Đặc Biệt - Đặc khu (Special Zones) của một đất nước thì cần phải hiểu ngay rằng đấy là những khu vực nằm trên một quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của riêng đất nước đó. Tuyệt nhiên không có ảnh hưởng hay sự nhúng tay làm áp lực của nước ngoài bất cứ từ đâu đến. Từ năm 1934, Mỹ đã có những Đặc khu Thương mãi với Nước ngoài (Foreign Trade Zone – FTZ) và Trung Quốc mới bắt đầu thành lập các Đặc khu Kinh tế (Special Economic Zone – SEZ) từ năm 1980. Trong chiến tranh Việt Nam, miền Nam đã có những Đặc khu Quân sự như năm 1962 có Đặc khu Rừng Sát, Đặc khu Quảng Đà nhưng ở vào một vị thế và yêu cầu chiến lược cấp thời.
Các khu dân cư và buôn bán ở tại Pháp, Úc, Canada, Hoa Kỳ của các nhóm nước ngoài như Phố Tàu (China Town - Quartier Chinois)), Phố Hàn (Korean Town), Phố Việt (Little Saigon) là hoàn toàn khác với những “Đặc khu” như Ts. Kiên đã nêu ra làm ví dụ để so sánh và suy diễn với những “Đặc khu” của người Trung Quốc trên đất nước Việt Nam.
Tôi đã đi qua và đã tận mắt chứng kiến cũng như tìm hiểu trong quần chúng và chính mình nếm trải sự xa lạ, vong thân, vong quốc khi tiếp cận với những “Đặc khu” Trung Quốc tại Huế (Tân Mỹ), Đà Nẵng (Bãi biển Sơn Chà), Nha Trang (Đường Duy Tân [Trần Phú – BVN chú] dọc biển). Những nơi đó, người Trung Quốc đã ngang nhiên biến những mảnh đất thân yêu Việt Nam thành những “Tử cấm Thành” đại Hán của riêng họ. Họ che chắn bịt bùng như một sào huyệt riêng tư, người Việt Nam không có quyền lai vãng đến đó. Ngoài ra, những nhân sự người Trung Quốc là những kẻ mang sẵn tinh thần kiêu căng nước lớn, giàu có. Chúng nghênh ngang sẵn sàng khiêu chiến, gây sự với người Việt Nam ló mặt tới căn cứ địạ của họ. Và cũng đã có tin đồn phát tác rộng rãi trong quần chúng rằng, có những tình huống éo le và mỉa mai hơn nữa là các quan chức Việt Nam cũng bị cấm không được bước chân vào đặc khu nhượng địa của người Trung Quốc trên đất nước Việt Nam.
Trong khi đó, những khu Phố Tàu, Phố Hàn, Little Saigon… tại Hoa Kỳ và các nơi khác chỉ là một hình thức văn hóa chủng tộc trong một quốc gia hợp chủng. Nếu TS. Nguyễn Đức Kiên dụng công tìm hiểu cẩn thận hơn thì đã không làm một sự so sánh khập khiễng và phiến diện “đau lòng dân Việt” đến như thế.
Những nơi đó không phải là một quốc gia trong một quốc gia như các Đặc khu Trung Quốc trên đất nước Việt Nam hiện nay. Như khu Little Saigon lớn nhất ở Santa Ana chẳng hạn là một ví dụ điển hình phân biệt giữa cái gọi là đặc khu và khu phố thương mãi bình thường.
Toàn khu phố Little Saigòn là sở hữu của nhiều chủ nhân, nhưng địa bàn đất đai, kiến trúc là tài sản quốc gia Hoa Kỳ. Giới chủ nhân kinh doanh hay sở hữu địa ốc hầu hết là công dân Hoa Kỳ. Tất cả đều phải tuyệt đối tuân thủ luật pháp quốc gia từ thượng vàng đến hạ cám. Tiếng Anh là ngôn ngữ hành chánh chính thức (official language) mà từ một cái hóa đơn bán lẻ đến những văn tự giao dịch hàng ngày hay các văn kiện quan trọng đều phải dùng tiếng Anh. Những chủ nhân kinh doanh thương mãi hầu hết sử dụng song ngữ Anh-Việt mà tiếng Việt thì tùy nghi (optional), nhưng tiếng Anh là bắt buộc (mandatory). Không biết nói tiếng Anh thì phải dùng thông dịch viên chứ không phải như phường ú ớ chỉ biết rặt tiếng Tàu trên xứ Việt. Mọi nguyên tắc và quy trình sinh hoạt đều phải theo đúng tinh thần văn hóa, xã hội và pháp luật của Hoa Kỳ. Bất cứ một biểu hiện hay sự việc xảy ra lớn nhỏ nào đều do cơ quan an ninh Hoa Kỳ đảm trách. Mọi sự gian dối, phá rối, bạo hành, phạm pháp, tình nghi… dù ở mức độ lớn nhỏ nào đều do cơ quan công quyền xử trị tức khắc.
Thưa TS. Nguyễn Đức Kiên,
Là người có chút học vị, chắc ông khó có thể phủ nhận được thực trạng Việt Nam hôm nay là đang nằm trong chiến dịch “Chinh phục bằng vũ khí mềm” của Trung Quốc đang diễn ra quyết liệt tại Phi Châu, Nam Mỹ và Đông Nam Á mà nước Việt Nam chúng ta đã và đang bị lún sâu vào con đường “bán nước” theo nghĩa thật, nghĩa đen, nghĩa minh xác nhất của nó. Đó là sự kiện (không còn là hiện tượng nữa) diễn ra quá rõ ràng rằng: đất nước Việt Nam, từ sông núi, biển trời tới đền đài, phố chợ… từ Bắc chí Nam đã bị bán và đang bị bán từng phần cho đạo quân vũ khí mềm Trung Quốc được trang bị và tiềm ẩn dưới nhiếu danh nghĩa khác nhau. Nghĩa là họ chở tiền chứ không phải chở xe tăng, đại bác đi chinh phục Việt Nam và thế giới nữa. Bất hạnh thay cho vận nước là đồng tiền chinh phục của Trung Quốc gặp đạo hùng binh tham nhũng Việt Nam kẻ tung người hứng thì còn chi là gia tài tổ quốc!
Hệ lụy của đất nước Việt Nam trước nạn xâm lăng của Trung Quốc còn dài. Vai trò kẻ sĩ ngày xưa hay trí thức ngày nay đã được đặt định: “Đất nước an nguy, người thường phải gánh” huống chi là thành phần trí thức và quan chức như quý ngài. Có một đại biểu trong Quốc hội quý vị thuộc đơn vị Quảng Nam đã lên tiếng xác định với đồng viện rằng: “Có đặt vấn đề đúng, mới đưa ra cách giải quyết đúng!” Quả nhiên là vậy. Cách đặt vấn đề của TS. Nguyễn Đức Kiên về những Đặc khu đang hiện hữu của người Tàu trên đất Việt là rõ ràng chủ quan và tùy tiện; nếu không muốn nói là mỵ dân và sai lầm. Một nhà khoa bảng giữ chức vụ trọng trách trong Quốc hội của một nước 95 triệu dân như ông mà nhìn sự thoái trào của đất nước như là một chuyện qua đường bâng quơ và đơn giản như vậy thì làm sao tìm ra một con đường khả thi để giúp dân, giữ nước?
Đây không chỉ là sự góp ý riêng đối với trường hợp TS. Nguyễn Đức Kiên mà là chung với các quan chức đang nằm trong vị thế lãnh đạo Việt Nam. Rằng là: Cần đặt vấn đề đúng đối với sự xâm lăng quân sự trên các vùng biển đảo đến cuộc vạn lý trường chinh bằng vũ khí mềm của Trung Quốc vào Việt Nam. Cần bạch hóa những Đặc khu nhượng địa để thế hệ con cháu mai sau không thống hận, nguyền rủa thế hệ đàn anh bất tài, tham bạo. Đất nước là đất nước chung, một thế lực có thể nhất thời giữ độc quyền cai trị; nhưng không ai là kẻ độc quyền yêu nước. Mong thay.
Đồng thời với đôi điều góp ý trên đây, tôi cũng đã viết và trình bày về nạn du lịch của du khách Trung Quốc tại Việt Nam và trên thế giới để có thêm thông tin về quan hệ nhân văn và văn hóa ứng xử của người Trung Quốc nội địa và thế giới bên ngoài trong thời hiện đại.
Là một người con dân Việt sống xa quê hương, tôi chỉ xin có đôi điều góp ý chân thành.
Xin cám ơn quý vị.
Trân trọng,
Trần Kiêm Đoàn, MSW; Ph.D
California, USA & Huế, VN
Nguồn: https://www.facebook.com/TranKiemDoan/posts/1011216739031357

CÓ THẬT NGUYỄN ĐỨC KIÊN-PHÓ CHỦ NHIỆM ỦY BAN KINH TẾ QUỐC HỘI VIỆT NAM-LÀ TIẾN SĨ KINH TẾ ???

MINH CHINH BUI/ FB MCB/ BVN 29-9-2018

clip_image002
A) Những phát ngôn ngu xuẩn và thằng Kiên ngày nào
Sở dĩ mình gọi nó là thằng Kiên bởi mình với nó biết nhau. Hồi trước, khi còn bám váy vợ ở Đức, thằng Kiên có qua lại nhà mình, đã ăn uống, qua lại với nhau nên mình rõ về nó.
Số là vợ thằng Kiên con nhà quan. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khi Việt Nam đưa lao động sang Đông Âu thì vợ thằng Kiên được cho đi làm Đội trưởng một đơn vị lao động mặc dù chẳng biết một từ tiếng Đức. Hồi ấy nước ta còn nghèo. Con quan chưa một phát lên quan như bây giờ thì đi Tây là nhất.
Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, vợ thằng Kiên không nhận tiền đền bù mà chạy sang Tây Đức. Sau khi ổn định công việc, vợ thằng Kiên đón chồng, con qua "đoàn tụ". Hồi ấy chả biết thằng Kiên có việc làm ở Việt Nam hay chưa, chỉ biết sau khi ất ơ bám vợ một thời gian thì, có thể thấy mình thừa thãi, thằng Kiên xin đi học Aufbaustudium, một dạng học nâng cao để lấy bằng Đức – cái bằng nghe nói là Kỹ sư Giao thông ở Việt Nam trước đó. Sau ba năm vật vờ, chắc không nói nổi ba câu chào bằng tiếng Đức, thằng Kiên bỏ học, không bằng.
Rồi biến động xảy ra, rồi Việt Nam ầm ầm đổi mới, rồi tin tức từ nhà đưa qua rằng ở Việt Nam bây giờ dễ làm ăn lắm, nhất là làm quan. Đang yên lành với vợ con ở Đức, thằng Kiên nằng nặc đòi "hồi hương" – một mình. Chắc biết chồng là thằng thế nào, vợ thằng Kiên chấp nhận cho thằng Kiên về lại Việt Nam với điều kiện phải ôm theo một đứa con làm thanh tra... bố.
Rồi mấy bữa sau thấy đồn rằng thằng Kiên vừa từ Đức về hôm qua, cái thằng Kiên không bằng cấp của Đức, trên răng, dưới… ấy bỗng dưng thành Tiến sĩ Kiên, mà Tiến sĩ Kinh tế mới kinh! Mình chả tin, nhưng có người cho xem cạc-vi-dít thì rõ ràng từ Frankfurt nó là thằng Kiên, về đến Nội Bài đã hóa ra Tiến sĩ. Rồi nhờ là con cha, cháu ông, thằng Kiên nhảy bụp phát vào Ban tổ chức Trung ương, thuộc Ban Kinh tế.
Mình vốn dĩ có gần 4 năm sống ở tập thể Ban tổ chức Trung ương, thường xuyên vào đọc sách tại thư viện Ban Tổ chức Trung ương, mọi chú, bác hàng xóm đều là chuyên viên to nên biết qua cái uy quyền và đặc lợi vô biên của Ban Tổ chức.
Vậy là thằng Kiên, qua mấy tháng rời tư bản giãy chết, nghiễm nhiên thành Tiến sĩ Kinh tế, cán bộ Ban Kinh tế Trung ương thuộc Ban Tổ chức Trung ương – viết tắt là CP2, quyền uy nghiêng trời, lệch đất. Với cái phao gia đình cộng với chất láu cá vốn có, thằng Kiên dần dần thành ông Kiên và từ vài nhiệm kỳ Quốc hội, nay thằng Kiên đã chắc chân với suất Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội, một chức vụ, địa vị mà ngày xưa khối bậc lão thành, tiền bối Cách mạng vào tù, ra tội mơ ước cũng không với tới được.
Phải chi thằng Kiên... im mẹ đi thì không nói. Đằng này cứ thỉnh thoảng thằng Kiên lại phun ra một phát ngôn để đời đại loại "Phải làm đường sắt tốc độ cao vì nó đã ở tây, nó biết... "; "Cán bộ tây" thậm chí dùng máy bay công đi làm thì cán bộ ta chạy xe công đắt tiền là cái đinh gì; Trả phí BOT bằng tiền lẻ là có vấn đề nọ về kia về đạo đức, và cái phát ngôn thậm ngu hôm nay: "TRẠM THU PHÍ BOT KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGƯỜI NGHÈO"!
Mình chỉ biết một điều rằng, vợ và hai con thằng Kiên đã lại đoàn tụ từ lâu tại Đức. Con cái thằng Kiên đã học hành xong xuôi, đi làm tại Đức. Thằng Kiên ở Việt Nam (nghe đồn) rất giàu, nhà đất mênh mông. Nói dại, mai kia lỡ thằng Tập ngứa mũi, đem quân sang tận Gia Lâm, Đông Anh bắn đạn thật thì các bạn thân mến, các bạn cứ ở nhà mà quan ngại. Còn thằng Kiên nó đã tếch mẹ nó từ đời nào sang... Đức TÁI ĐOÀN TỤ VỢ CON, bái bai nhân dân nhé!
Nguồn:  FB Minh Chinh Bui
B) Lại chuyện ông nghị Kiên, chính khách Kiên và thằng Kiên năm nào!
Cách đây hai ngày, 07.09.2017, tôi có viết về thằng Kiên, nghị sĩ Quốc hội Việt Nam hiện nay. Sở dĩ tôi vẫn gọi nó là thằng Kiên bởi như đã nói với các bạn, chúng tôi biết nhau, hơn nữa về tuổi tác, thằng Kiên là bậc em nên theo nếp cũ, từ đây tôi vẫn gọi nó là thằng Kiên cho thân mật.
Tôi không nghĩ vì bài mình viết trên Góc nhìn Báo chí - Công dân hôm 07.09 mà ngày hôm nay 09.09 đột nhiên tại Việt Nam xuất hiện bài báo "Ông Nghị nói ngược: Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là một nhà chính trị" (xem: http://nhaquanly.vn/ong-nghi-noi-nguoc-toi-chua-bao-gio-nghi-minh-la-mot-nha-chinh-tri-d35022.html). Tuy nhiên, tôi rất hồ nghi phản ứng này bởi tôi biết, rất có thể thằng Kiên đã biết được điều tôi nói và mấy hôm nay kiếm một cây bút (nô) nào đó, với vài triệu bạc, chữa cháy hay chống chế thay. Tiện thể, rất cám ơn bạn Nguyễn Hùng sớm nay đã đăng bài báo để tôi biết được sự xuất hiện của nó.
Trước hết mong các bạn hãy đọc lại một lần nữa bài báo "Ông Nghị nói ngược: Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là một nhà chính trị". Phần tôi sẽ trả lời từng chi tiết bài báo (rất láo) này. Về câu chuyện đi làm nghiên cứu sinh mà thằng Kiên dựng lên, tôi đã nói hôm 07.09.17, nay chỉ nói lại để những ai chưa đọc được rõ.
Vợ thằng Kiên đi lao động hợp tác tại DDR cũ (Đông Đức), thay vì nhận tiền đền bù về nước, vợ Kiên sang Tây Đức, định cư tại gần thành phố Karlsruhe, tiểu bang Baden-Württemberg (xin lỗi vì luật bảo vệ dữ kiện, không thể viết rõ hơn). Karlsruhe là thành phố lớn với rất nhiều trường Đại học trong đó số lượng sinh viên luôn là 50 ngàn trên tổng số chừng hơn 300 ngàn dân. Bài báo nói đúng, đó là vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, tại Karlsruhe có 4 nghiên cứu sinh Việt Nam. Bốn bạn đó gồm:
- 1) bạn V.A. sinh năm 1957, nghiên cứu sinh Kiến trúc đô thị,
- 2) bạn M.Đ.B. nghiên cứu sinh toán - dòng chảy,
- 3) bạn T.M.T.P từ Đại học Thủy lợi - cạnh Chùa Bộc, đường Tây Sơn
- 4) bạn X, Kỹ sư Hóa học ở Tiệp, về Việt Nam giảng dạy tại Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh (cũ), sau đó qua làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ Hóa tại Uni Karlsruhe.
Tôi đặt bạn X cuối cùng vì muốn nói thêm về bạn mà tôi rất quí này. X trẻ nhất, sinh 1963, học rất giỏi và hết sức ngang tàng. Có lẽ đã từng ở Tiệp do đó việc các bạn rủ nhau vào đảng với X là chuyện lạ lùng, đáng khinh bỉ. X hay chọc, mà chọc rất ác các "đồng chí" từ Việt Nam qua. X rất thẳng thắn, người Hà Nội gốc. So với hội sinh năm 1961 (gồm cả vợ chồng Kiên) thì X lúc nào cũng coi cả đám như bằng lứa tuy kém 2 tuổi. Ngoài 4 người từ Việt Nam qua Đức làm nghiên cứu sinh thì vợ chồng Kiên và chúng tôi là dân ngoại đạo.
Vợ chồng Kiên như đã nói ở trên. Tôi đưa vợ con từ Tiệp khắc qua Đức sinh sống, ở Karlsruhe. Do tất cả đã cùng sống, sinh ra, làm việc tại Hà Nội nên chúng tôi quen thân với nhau. Một phần cũng bởi hồi đó chưa có đông người Việt. Thực ra tôi không thân với vợ chồng Kiên bởi vợ chồng nó ở ngoại thành, cách Karlsruhe hơn 15 (km). Chúng tôi thân thiết với mấy bạn kia hơn. Hầu như tất cả các cuối tuần, ngày lễ, Tết chúng tôi đều tụ tập ăn uống vui vẻ. Như đã nói ở bài trước, Kiên được vợ đón qua, sống vất vưởng bám vợ, làm thêm linh tinh sau đó xin đi học Aufbausstudium CHỈ ĐỂ lấy lại bằng Kỹ sư tương đương như cái bằng Việt Nam nó có trước đó nhưng không nổi. Cũng vì chuyện học lại này mà Kiên hay qua lại ký túc xá chỗ các bạn kia ăn ở để hỏi han, cách nhà tôi chừng 500 (m).
Vì gia đình vợ Kiên nghe nói làm lớn ở Bộ Ngoại giao do đó thời thế đổi khác, hơn nữa nếu trụ lại Đức cũng chỉ ăn bám vợ hay rửa chén nên thằng Kiên về nước, đem theo một đứa con. Thằng Kiên có 2 con gái (chứ không phải 1 trai, 1 gái như bài báo viết). Về lại Việt Nam với bản chất cực kỳ láu cá (như mọi người vẫn nhận xét) cùng cái phao gia đình, thằng Kiên chui được vào Ban Tổ chức Trung ương, vòng vo cho có lệ... và thành ông nghị Kiên + chính khách Kiên hôm nay. Tất cả chặng đường công danh của thằng Kiên mà tôi viết hôm rồi trùng khớp với nội dung bài báo là do thông tin tôi biết được qua những người quen, ngay từ những năm thằng Kiên mới về nước. Điều hết sức láu lỉnh đó là thằng Kiên, nhân cơ hội bỏ nước 6, 7 năm theo vợ ĐÃ LẤY CHÍNH THỜI GIAN ĐÓ, biến thành thời gian làm nghiên cứu sinh để lừa thiên hạ!
Tôi biết được thằng Kiên bỗng dưng thành Tiến sĩ cũng bởi nhiều bạn về phép qua vừa khúc khích, vừa ghê tởm nói lại. Có nhiều bạn còm cho rằng thằng Kiên xài bằng dỏm. XIN THƯA, ĐẾN BẰNG DỎM THẰNG KIÊN CŨNG KHÔNG CÓ, chưa nói ở phương Tây thì điều đó là không thể. Xin nhắc lại - thằng Kiên muốn lấy lại mảnh bằng Kỹ sư tương đương từ trường Đức mà chật vật không nổi, TIẾN SĨ GÌ THỨ NÓ.
Một chi tiết ngoài nữa, đó là thằng Kiên "nổ" trên trang báo rằng con nó hiện giảng dạy tại Uni Mannheim, một trường đại học thuộc hàng Harvard thì quả là tếu hết chỗ nói. Trong số các Unis hàng đầu của Đức, Uni Mannheim đứng thứ 10. Theo mình đây lại là một chi tiết rất đắt giá bởi nếu không có chi tiết này thì bộ mặt thằng Kiên sẽ lại khiếm khuyết một nét gì đó.
Cũng cần nói thêm rằng, câu chuyện tiếu lâm về việc tốt nghiệp, đi làm với mức lương hàng trăm cây vàng/năm mà thằng Kiên viết ra cũng khôi hài như chính cái bằng Tiến sĩ của nó. Thưa với các bạn, từ xưa chưa khi nào du học sinh Việt Nam được phép ở lại sau khi học xong. Mãi tới cách đây chừng 5 năm, các nước EU mới có điều luật này. Bạn M.Đ.B. được ở lại có thể coi là trường hợp hiếm DUY NHẤT vì bạn này học rất giỏi. Thầy của bạn này là một trong hai Giáo sư Toán lý thuyết lừng danh thế giới. Sau khi làm xong Tiến sĩ, do sự can thiệp của Giáo sư, bạn này được Sở Ngoại kiều cấp giấy phép cho ở lại làm việc với mức lương ban đầu chừng 7 cây vàng/tháng vào thời điểm vàng chừng trên 700 D-Mark khi chưa đổi tiền.
Tôi kể lại câu chuyện này thêm cho câu chuyện đã viết hôm rồi và nhân bài báo rất đáng giận CỦA THẰNG KIÊN hôm nay. Tôi chợt mường tượng. Nếu đọc được bài báo này thì bạn X, Tiến sĩ Hóa hiện đang giảng dạy tại Sài Gòn phải vật vã, nghiêng ngả vì cười. Nụ cười rất "đểu", vô cùng khinh mạn dành cho thằng Kiên.
Tấm bằng Tiến sĩ ma của thằng Kiên chỉ có tôi, mấy bạn kia, vợ và em vợ thằng Kiên biết được (bởi em vợ Kiên sau đó được vợ nó đưa qua, cũng học Aufbausstudium để lấy lại bằng tương đương VN từ trường Đức). Bạn V.A. đã lớn tuổi lại lấy chồng Tây không biết có còn sống tại Việt Nam. Bạn M.Đ.B. học giỏi được phía Đức cho phép ở lại, hiện còn đang ở đây. Hai người tại Việt Nam có thể vạch mặt thằng Kiên đó là bạn X ở Sài Gòn và bạn T.M.T.P. hiện đang sống tại Đại học Thủy lợi, cạnh chùa Bộc. Rất đáng tiếc bạn M.T.P lại là đảng viên duy nhất kiêm bí thư chi bộ hồi đó, do vậy chuyện bóc mẽ nhau là khó xảy ra, đặc biệt khi thằng Kiên đã là ông Phó chủ nhiệm Kinh tế Quốc hội hiện nay.
Tôi kể lại câu chuyện này trong tâm trạng hơi áy náy nhưng lại nghĩ, câu chuyện của thằng Kiên là câu chuyện của quan chức Việt Nam hôm nay cần phải được bóc trần. Cũng như bộ mặt ghê tởm, thói đạo đức giả của chúng không thể cứ được tha thứ mãi.
Tin hay không, chia sẻ cho mọi người cùng biết hay tha cho thằng Kiên là tùy các bạn.
Việc của tôi đã xong. Thấy nhẹ lòng hơn chút.
Nguồn: FB Minh Chinh Bui
[Link dự phòng FB Minh Chinh Bui bị chặn: http://www.tintuchangngayonline.com/2017/09/thang-nguyen-uc-kien-tien-si-kinh-te.html]

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

20180603. SAO KHÔNG THI HÀNH LUẬT TRƯNG CẦU Ý DÂN ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
LUẬT TRƯNG CẦU Ý DÂN ĐÃ CÓ, SAO KHÔNG THI HÀNH ?

THẢO VI/ VNTB/ BVN 1-6-2018

b5
Bốn vấn đề sẽ phải trưng cầu dân ý
Trong ngày 29-5-2018, có 2 bản tuyên bố được lập bởi một số nhóm xã hội dân sự đều liên quan đến đất đai. Một tuyên bố yêu cầu cần phải có quyền tư hữu đất đai, công bố vào rạng sáng ngày 29-5, và một tuyên bố vào cuối giờ chiều ngày 29-5 về thời gian ‘bán đất’ trong 99 năm của dự luật đặc khu.
Trong “Tuyên bố về quyền tư hữu đất đai của công dân qua trường hợp Thủ Thiêm” do nhóm linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn khởi xướng, sau khi viện dẫn Điều 53, Điều 54 của Hiến pháp 2013, đã đưa ra ba yêu cầu (trích): “Phải thay đổi Hiến pháp, chuyển từ “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân”, thành “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản thuộc sở hữu cá nhân, sở hữu tổ chức, sở hữu cộng đồng quy ước và sở hữu toàn dân”.
Mọi việc giải tỏa theo quy hoạch phải vì lợi ích phát triển của dân cư tại chỗ trước tiên, và họ phải là người được hưởng lợi nhiều nhất trong quy hoạch phát triển mới, chứ không thể để quan chức hay các công ty thuộc nhóm lợi ích hay ăn chia lợi nhuận với quan chức được hưởng lợi chính.
Trường hợp điển hình tại bán đảo Thủ Thiêm, phải giữ nguyên địa giới cùng cơ sở Nhà thờ và Tu viện mến Thánh Giá Thủ Thiêm. Nhất là phải tính toán đền bù lại cho hơn 1.000 hộ gia đình đã bị giải tỏa và bị buộc phải nhận tiền đền bù với giá rẻ mạt”. (hết trích)
Mặc dù chỉ đăng tải qua trang facebook cá nhân, song Tuyên bố nói trên nhanh chóng thu hút sự hưởng ứng của các hội đoàn xã hội dân sự, cùng nhiều tầng lớp nhân dân.
Người viết cho rằng nội dung Tuyên bố yêu cầu cần có sự thay đổi về Hiến pháp của nhóm linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn (và cả bản Tuyên bố do Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng khởi xướng, công bố vào cuối giờ chiều ngày 29-5), là phù hợp với Điều 6 của Luật Trưng cầu Ý dân: “Quốc hội xem xét, quyết định trưng cầu ý dân về các vấn đề sau đây: 1. Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp; 2. Vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia; 3. Vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước; 4. Vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước”.
Điều 28 của Hiến pháp đã bảo hộ về ‘quyền ý kiến’ của cả hai nhóm khởi xướng nói trên: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.
Cần thực thi Luật Trưng cầu Ý dân
Luật Trưng cầu Ý dân được chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký ban hành ngày 25-11-2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Bà Nguyễn Thị Kim Ngân kế nhiệm ông Nguyễn Sinh Hùng từ ngày 31-3-2016, và bà đã làm không tròn trọng trách của mình khi mãi cho tới nay vẫn không thực hiện điều cuối cùng của Luật Trưng cầu Ý dân: “Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật và hướng dẫn việc thi hành Luật này” (Điều 52).
Nếu chưa thể thực thi Luật Trưng cầu Ý dân, thì cần dừng ngay dự Luật Đơn vị Hành chính - Kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc (gọi tắt là Luật Đặc khu).
Lý do: “Thời hạn thuê đất 99 năm thực sự đặt ra mối quan ngại về an ninh quốc phòng mà chúng ta không thể phớt lờ, vì nó hoàn toàn có thể bị lợi dụng để thực hiện các kế hoạch chiếm giữ những vị trí xung yếu về quân sự tại ba vùng đất và biển chiến lược ở Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc, nhất là trước hiểm họa thôn tính biển đảo và đất liền thường trực của nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay. Bài học người Trung Quốc mua đất đai hàng loạt với diện tích lớn ở Đà Nẵng vẫn còn nóng hổi tính thời sự, xét dưới góc độ và mưu toan mở rộng “biên giới mềm” mà nhà cầm quyền Trung Quốc đang thực hiện” (trích Tuyên bố của CLB Lê Hiếu Đằng).
Có thể thấy rằng khi người dân vẫn còn niềm tin vào công lý, người ta mới mạnh dạn đưa ra những kiến nghị, yêu cầu cho ích nước – lợi nhà. Nói theo ngôn ngữ tuyên giáo, Đảng đã khôi phục quyền phúc quyết (trưng cầu dân ý) của người dân đối với Hiến pháp và các vấn đề quan trọng của đất nước. Vậy tại sao Quốc hội vẫn còn chần chừ trong thực thi?
Hiến pháp là đạo luật do nhân dân tạo nên. Nhân dân, với tư cách là chủ thể gốc của quyền lực nhà nước, tự mình đưa ra những giới hạn cho hoạt động của chính quyền. Về nguyên tắc, quyền lực nhà nước nói chung, quyền lực của Quốc hội nói riêng, chỉ là quyền lực được ủy nhiệm. Nếu Quốc hội tự mình làm ra Hiến pháp, sửa đổi và thông qua nó mà không có sự tham gia, phê chuẩn của chủ thể quyền lực gốc là một việc làm mang tính đơn phương, không đúng với tinh thần “mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân”.
Quyền phúc quyết là quyền được quyết định trực tiếp của người dân. Tất nhiên, người dân không thể quyết định trực tiếp mọi vấn đề. Do tính chất của Hiến pháp là đạo luật cơ bản quy định quan hệ của nhà nước với người dân, do vậy, quyền phúc quyết đối với Hiến pháp (cũng như các sửa đổi Hiến pháp) cần được xem như là dấu hiệu cơ bản nhất của quyền làm chủ, của sự đồng thuận, tự nguyện tuân thủ quyền lực do chính người dân ủy nhiệm.
Ngoài quyền phúc quyết Hiến pháp, người dân có thể có quyền phúc quyết đối với một số vấn đề lớn, trọng đại khác liên quan đến vận mệnh quốc gia như dự Luật Đặc khu, dự Luật An ninh mạng… Và để thực thi các quyền đó, nếu như các vị đại biểu Quốc hội, các thành viên Chính phủ vẫn chưa đồng thuận được với nhiều ý kiến của người dân – đơn cử như hai bản Tuyên bố nói ở trên, cần thiết thực thi ngay quyền trưng cầu ý dân.
“Dễ trăm lần không dân cũng chịu”… Lời dạy ấy luôn là một chân lý cho những nhà quản trị quốc gia.
T.V.
VNTB gửi BVN

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ ĐẶC KHU

NGUYỄN TIẾN TƯỜNG/ TTVN 1-6-2018

1. Tương quan

Người ta nói đến đặc khu với hình tượng Thẩm Quyến và Thượng Hải mà ngó lơ con số của Ngân hàng Thế giới (WB): 50% đặc khu trên toàn thế giới thất bại thảm hại. Đặc khu, là một canh bạc 5-5. Và, có vẻ như nó đã lỗi thời so với thời điểm Thẩm Quyến từ một làng chài thành thiên đường, thập niên 80 của thế kỷ trước, thời tương quan kinh tế dĩ nhiên lạc hậu hơn.
Trong 5 yếu tố làm nên thành công một đặc khu: Vị trí chiếm số 1, chiến lược giữ vị trí số 2. Tức là kiến tạo giá trị lõi để khi nhắc đến, người ta biết giá trị của nó là gì. Ví dụ: Thẩm Quyến là một thung lũng công nghệ. Thượng Hải là thủ phủ tài chính.
Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc, cho đến bây giờ chưa định hình được “giá trị lõi” đó. Tôi đọc báo 1 ngày, chưa thấy mỗi đặc khu sẽ mang một giá trị nhận diện gì. Ngoài những thứ chung chung như công nghệ cao, du lịch, casino.
Làm công nghệ cao thì không biết bắt đầu từ đâu cả. Ngay cả TP.HCM và HN cũng chưa thành công. Du lịch, thì có lẽ không cần đặc khu. Còn casino? Anh Nguyễn Duy Hưng ở SSI nói: Tôi chả thấy ở nơi đâu mà xây dựng giá trị của đặc khu dựa trên casino cả!
Yếu tố thứ 3 quyết định thành công của đặc khu: Chính sách và đột phá thể chế. Điều này, chưa hiển hiện ở cả ba khu vực, chỉ là những “ý định” chung chung chứ chưa định khung những luật lệ, quy định riêng cho đặc khu, và từng đặc khu.
Một sự thay đổi le lói ở Phú Quốc, Bí thư Nguyễn Thanh Nghị từng đề xuất thiết chế Trưởng đặc khu, thay cho chủ tịch và bí thư. Hợp nhất cả các đoàn thể. Đến nay, bặt vô âm tính. Đương nhiên nó vướng quá nhiều ở thực tế.
Để thấy rằng, việc hình thành các đặc khu có vẻ như chỉ đang luẩn quẩn trong ý chí cục bộ (hoặc toan tính) của vài người. Ba tòa cung điện mơ mộng, tổng vốn đầu tư 1.300.000.000.000.000 (1,3 triệu tỷ đồng) đang không có nền móng đủ chắc.



dac khu

Vị trí của 3 đặc khu Vân Đồn, Văn Phong và Phú Quốc trên lãnh thổ quốc gia. (Đồ họa: vnexpress.net)

2. Thực trạng

Thực trạng chung của Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc là “sốt đất”. Đất tăng giá vài chục lần. Cơn sốt đất đang khiến 3 khu vực này quay cuồng. Mua 800 triệu, bán 18 tỷ. Nạn mua bán tràn lan phá vỡ quy hoạch.
Thực tế đó sẽ đặt nhà cầm quyền vào một thách thức lớn khi quyết tâm làm đặc khu: Đó là xung đột xã hội khi muốn có quỹ đất sạch.
Cơn sốt đất lan rộng trên phạm vi toàn quốc, đẩy giá trị bất động sản (BĐS) lên cao, đương nhiên là giá trị ảo. Dòng vốn chảy vào 3 “thiên đường BĐS này”, phần lớn từ giới lắm tiền nhiều của, khách phía Bắc chiếm phần đông.
Cơn sốt đất, như Phú Quốc chẳng hạn, có từ rất lâu trước khi công bố ý tưởng đặc khu. Nghĩa là có nhiều cá nhân, pháp nhân đã gom đất chờ sẵn. Gợn bóng dáng tham nhũng chính sách.
Nếu thông qua đặc khu, tức là tạo ra sự thiên lệch về đối tượng thụ hưởng chính sách và “bảo hộ” cho các thị trường đất đai tự phát.

3. Thuê đất 99 năm và… Trung Quốc

Như đã nói ở trên, quy hoạch “giá trị lõi” cho 3 đặc khu chưa hiển hiện. Làm sao xác định các đặc thù của từng đặc khu để xác định thời hạn giao đất phù hợp?
Đối với các vị trí nhạy cảm như Vân Đồn, Bắc Vân Phong mà giao đất 99 năm là “mạo hiểm”. Nhất là khi tiệm cận hoặc lọt vào “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.
Vịnh Vân Phong chỉ cách Nha Trang 30km, khu vực cảng rộng lên tới 43.500 héc ta gấp 3 lần so với vịnh Cam Ranh. Đây là một vị trí chiến lược. Chính phủ Mỹ đã yêu cầu Việt Nam ngăn không cho phép Nga sử dụng căn cứ quân sự ở vịnh Cam Ranh.
Với thời hạn giao đất 99 năm, kịch bản con ngựa thành Troy không phải là không thể. Thực tế quản lý của Bouxite Tây Nguyên và Formosa đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Những cộng đồng người TQ, đường phố tên Trung Quốc được hình thành.
Formosa thậm chí còn không cho quan chức địa phương vào kiểm tra, bên trong còn xây dựng cả công trình tôn giáo.
Thử tưởng tượng, người Trung Quốc, từ Hoàng Sa và một phần Trường Sa đi vào, có những “trạm trung chuyển” là 2 đặc khu với những cơ sở giao đất 99 năm thì sẽ như thế nào?
Chưa hết, vốn đầu tư của Trung Quốc vào bất động sản, nhất là phân khúc nghỉ dưỡng ven biển đang gia tăng. Cộng hưởng với dòng vốn tín dụng đổ vào các doanh nghiệp BĐS lập dự án ở các vị trí “nhạy cảm” trong thời gian gần đây. Nó là một dạng quyền lực mềm mà chẳng có ai giỏi bằng TQ.
Tại Nha Trang, dài đến Đà Nẵng, tình trạng người Trung Quốc mua nhà đất, cư trú tràn lan trong một thời gian rất dài.
…
Nếu nghĩ về một kịch bản xâm chiếm quy mô kết hợp với du kích, có lẽ nhiều người sẽ nói tôi hoang tưởng. Nhưng những gì hiển hiện trước mắt và trải dài qua một thời đoạn, có lẽ cũng sẽ khiến không ít người chột dạ.
Thông qua đặc khu với những thực trạng như trên sẽ là một quyết định vội vã. Một nút bấm thông qua, chưa chắc đã biến những làng chài thành thiên đường. Nhưng nó có thể sẽ biến tương lai trở lại với quá khứ Giao Chỉ, với dã tâm vô giới hạn của chính quyền Trung Quốc.
Theo Facebook Nhà báo Nguyễn Tiến Tường
(*) Bản đăng có chỉnh sửa chi tiết nội dung so với nguyên bản.

5 KHÁC BIỆT GIỮA ĐẶC KHU KINH TẾ CHO TQ THUÊ VỚI KHU PHÓ TÀU (CHINATOWN)
HUỲNH CHÍ VIỄN/ TTVN 1-6-2018

Nhân dịp có một Đại biểu Quốc hội phát biểu so sánh rằng đặc khu kinh tế cho Trung Quốc thuê thì có khác gì các khu phố Tàu (Chinatown) mà thành phố lớn nào trên thế giới cũng có (*), tôi xin đưa ra 5 khác biệt lớn của hai hình thức dân cư nói trên để phản bác lại ý kiến này.

dac khu
Con đường ban đêm dưới cổng vòm vào khu phố Tàu tại Manila, Philippines, ngày 3/5/2018. (Ảnh: Carlo Gauco/Bloomberg qua Getty Images)
1. Về chính trị:
Những khu phố Tàu có mặt hầu hết khắp nơi trong các thành phố lớn trên thế giới, là nơi người Hoa di dân sang để sống tại đất nước đó. Người Hoa ở các khu phố Tàu phần lớn là những người dân tị nạn chính trị và họ ra đi vì không công nhận sự tồn tại của chính thể đang cai trị tại quê hương họ.
Còn dân của các đặc khu kinh tế cho Trung Quốc thuê là do Chính phủ đưa sang và cài cắm vào đó với mục đích biến đặc khu đó thành đất của chính phủ Trung Quốc về lâu về dài. Cả bộ máy hành chính của đặc khu cũng được đưa từ Trung Quốc sang. Mỗi đặc khu là một đất nước Trung Quốc thu nhỏ về mặt chính trị và hành chính.
2. Về quy mô và vị trí:
Các khu phố Tàu tại các thành phố lớn thường có quy mô nhỏ, chỉ vài con đường. Khu Chợ Lớn được xem là Chinatown lớn nhất thế giới và lâu đời nhất cũng chỉ có quy mô vài quận.
Một đặc khu kinh tế thì quy mô hoàn toàn khác hẳn, rộng lớn hơn rất nhiều, diện tích ít nhất cũng bằng một thành phố nhỏ.
Các khu phố Tàu không hề có ranh giới biệt lập với khu dân cư bản địa, vì nó là một phần của thành phố bản địa, ra vào không cần phải xuất trình giấy tờ đặc biệt cũng không phải nhất thiết là người Hoa mới vào được.
Các đặc khu kinh tế Trung Quốc tuy nằm trên đất Việt Nam nhưng lại tách biệt hoàn toàn, người Việt Nam nếu không có giấy tờ đặc biệt cũng không được vào.
3. Về tư cách công dân:
Dân cư khu phố Tàu qua nhiều thế hệ hòa nhập với dân địa phương và trở thành một phần của cộng đồng nơi đó. Họ nhập tịch của quốc gia sở tại, nếu lập gia đình với người bản địa hoặc với người đồng hương thì con cái của họ vẫn mang quốc tịch nước sở tại chứ không mang quốc tịch Trung Quốc. Con cái họ lớn lên đi học nền giáo dục địa phương, nói tiếng địa phương song song với tiếng Hoa.
Dân cư đặc khu kinh tế Trung Quốc mang quốc tịch Trung Hoa, nếu có lấy vợ người bản địa thì con cái họ vẫn mang quốc tịch Trung Hoa. Họ học chương trình giáo dục Trung Quốc và không cần phải học tiếng địa phương của nước sở tại.
dac khu
Chợ Bình Tây nằm ở khu phố Tàu ở TP.HCM, ngày 6/1/2013. (Ảnh: Munshi Ahmed/Bloomberg qua Getty Images)
 
4. Về việc chấp hành pháp luật:
Dân cư khu phố Tàu chịu sự chế tài của pháp luật nước sở tại và thực hiện quyền lợi cũng như nghĩa vụ của công dân nước sở tại. Họ làm việc, đóng thuế cho nhà nước sở tại và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của cộng đồng.
Dân cư đặc khu kinh tế Trung Quốc tuân theo pháp luật Trung Quốc, thực hiện nghĩa vụ công dân với Trung Quốc nhưng lại được hưởng nhiều ưu đãi về mặt quyền lợi kinh tế mà ngay cả doanh nghiệp bản địa cũng không được hưởng. Họ làm việc, đóng thuế cho quốc gia của họ và khai thác tài nguyên nước sở tại góp phần làm giàu cho Trung Quốc.
5. Về quân sự:
Ở các khu phố Tàu, việc thành lập quân đội hay lực lượng cảnh sát riêng là điều không thể xảy ra vì chính quyền địa phương kiểm soát chặt chẽ mọi thứ trong khi những đặc khu kinh tế, nơi tách biệt hoàn toàn với nước sở tại và chính quyền địa phương không có quyền hành kiểm soát mọi hoạt động bên trong, việc thành lập một căn cứ quân sự hay xây nhà máy sản xuất vũ khí là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Nếu có xảy ra xung đột giữa dân địa phương và dân trong đặc khu, chính quyền Trung Quốc hoàn toàn có thể đưa quân đội sang với cớ là bảo vệ công dân nước mình. Lúc đó trong đánh ra ngoài đánh vào thành thế gọng kìm coi như ta không thế nào trở tay kịp.
Theo Facebook Huỳnh Chí Viễn
(*) Trong cuộc phỏng vấn trên Nhadautu.vn (9/5/2018), trả lời câu hỏi: “Về vấn đề an ninh – quốc phòng, ông có lo ngại khi thời gian thuê đất dài và các đặc khu nằm ở vị trí khá nhạy cảm?”, TS. Nguyễn Đức Kiên – Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội đặt luận điểm: “Tại sao cứ sợ ảnh hưởng của Trung Quốc tại các đặc khu. Tại sao ở Úc, Pháp, Mỹ… đều có Chinatown. Ở California mình có Little Saigon. Ở đó toàn người Việt, nói bằng tiếng Việt, thì bang California có lo ngại vấn đề an ninh quốc phòng hay không?…”

KHI CHÚNG TA  LÀ 'ĐỈNH CAO CỦA QUỐC TẾ'

TRÂN VĂN/ Blog VOA 1-6-2018

Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phùng Xuân Nhạ.
Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phùng Xuân Nhạ.

Ông Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo, vừa tự biến chính mình thành bia cho dân chúng Việt Nam liệng ra đủ thứ từ ngữ, nhận định vốn chẳng hay ho chút nào cho cả uy tín của ông lẫn thể diện của chính phủ, khi đề nghị Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Dự luật sửa đổi Luật Giáo dục Đại học theo hướng loại bỏ việc “thu học phí”, cho phép hệ thống giáo dục đại học chuyển sang “thu giá dịch vụ đào tạo”.
Có một điểm đáng ngạc nhiên là tuần trước, ông Nguyễn Văn Thể, Bộ trưởng Giao thông – Vận tải, đồng liêu của ông Nhạ, vừa “ôm đầu máu” tháo chạy, vứt lại quyết tâm thay đổi những “Trạm Thu phí” cho các công trình giao thông được đầu tư theo hình thức BOT thành “Trạm Thu giá”, giữa con đường đưa Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Lúc các “Trạm Thu giá” đồng loạt chào đời, thiên hạ đã từng mỉa mai, nếu “thu phí” trở thành “thu giá”, hẳn sẽ có ngày viện phí trở thành “viện giá”, học phí trở thành “học giá”, lệ phí trở thành “lệ giá”, cước phí trở thành “cước giá”, án phí trở thành “án giá”, thậm chí đảng phí có thể sẽ được đổi thành… “đảng giá”! Chẳng ai dè trong bối cảnh như vậy, giữa lúc dân chúng thuộc đủ mọi giới đang sôi sùng sục như thế, ông Nhạ vẫn “xô cửa xông vào, liều mình như chẳng… có”!
Ngoài yếu tố có nhiều chuyện khó… ngờ, cuộc đời rõ ràng là còn có nhiều người mà nhận thức, ứng xử, ý kiến cũng thuộc loại… khó ngờ!
Đối diện với viễn cảnh “thu học phí” có thể được chuyển đổi thành “thu giá dịch vụ đào tạo” – theo… “qui định của pháp luật”, Cù Mai Công nhận định: Lúc này, chính phủ… “zui” thiệt. Vừa yên chút xíu là có vị… chọt cho… dân chửi! Hết Kim “Tiêm” (lối ví von có tính miệt thị bà Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Y tế) đến Thể “BOT” (ông Nguyễn Văn Thể, Bộ trưởng Giao thông – Vận tải), Tuấn “Đại cục” (ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng Du lịch thuộc Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch), tới Nhạ “Giá”!
Phạm Uyên Nguyên, bạn của Công, cho rằng: Chính trường đang bị biến thành… hí trường! Diệu An, một người bạn khác, tin đó là kiểu tấu hài để Quốc hội và nhân dân đỡ buồn ngủ! Quân Võ Minh Quân nghi ngờ, chính phủ hiện giờ không phải “chính phủ kiến tạo” mà là “chính phủ… chọc ngoáy”. Lam Hồng Nguyễn trấn an, tuy chưa có chính phủ kiến tạo nhưng rõ ràng nội các hiện nay là… chính phủ vui vẻ, đáng… phấn khởi! Hoài Lê thắc mắc: Trời nắng, nóng lắm hay sao mà phát bệnh nhiều vậy?..
Tuy rất khó có thể thống kê xem trên các diễn đàn điện tử, mạng xã hội như facebook có bao nhiêu người nguyền rủa, mỉa mai những quyết định như đổi tên những “Trạm Thu phí” cho các công trình giao thông được đầu tư theo hình thức BOT thành “Trạm Thu giá”, những ý tưởng như loại bỏ việc “thu học phí”, cho phép hệ thống giáo dục đại học chuyển sang “thu giá dịch vụ đào tạo”, những biện giải kiểu như một nhóm du khách Trung Quốc đồng loạt mặc áo thun quảng bá lãnh thổ Trung Quốc bao gồm cả biển Đông của Việt Nam, khi làm thủ tục nhập cảnh Viện Nam là “sự cố nhỏ” và khuyến cáo đừng để “sự cố nhỏ anh hưởng đến… đại cục”,… song có thể khẳng định, con số ấy không dưới hàng triệu và gần như không có ai biểu đạt sự đồng tình với các viên chức hiện là thành viên chính phủ.
Những từ như “ngu”, “điên”, “ngáo đá” (nhận thức đi vắng do dùng ma túy tổng hợp quá liều), khốn nạn,… càng ngày càng phổ biến trên các diễn đàn điện tử, mạng xã hội khi công chúng tham gia bàn luận về những sự kiện có liên quan đến viên chức trong hệ thống công quyền tại Việt Nam. Không ít người trong số này đề nghị xem lại việc canh giữ các bệnh viện tâm thần vì dường như chưa chặt chẽ, thành ra để “sổng”
nhiều… bệnh nhân, khiến… toàn dân khó chịu. Tuy nhiên cũng có những facebooker như Phạm Hoài Nhân, thay mặt… “Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2” (vốn vẫn được dân chúng gọi là Nhà thương Điên Biên Hòa), thông báo, bệnh viện này sẽ không nhận các bệnh nhân từng là Bộ trưởng hoặc Đại biểu Quốc hội vì “vượt quá khả năng điều trị”.
***
Có một điểm rất đáng lưu ý là dẫu số lượng lời nguyền rủa, miệt thị, mỉa mai tăng rất nhanh, mức độ bất bình, thất vọng về hệ thống công quyền của công chúng càng ngày càng cao nhưng các viên chức ở đủ mọi cấp, thuộc đủ mọi ngành vẫn tỏ ra rất vô tư cả trong hành động lẫn phát ngôn. Sự vô tư ấy đã vượt qua mức bình thường và nó khiến người ta nghi ngại đó là sự vô tư có… chủ đích. Đâu phải tự nhiên mà danh sách những viên chức trong hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương, ứng xử, phát ngôn,…vô tư đến mức đáng ngại càng ngày càng dài.
Trường hợp ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Việt Nam, có thể xem là … nặng nhất.
Sau những tuyên bố khiến dư luận trở thành bão, kiểu như: Đừng thắc mắc về công xa, các quốc gia khác còn sắm phi cơ riêng cho lãnh đạo! Nợ nần của Việt Nam không chỉ khoảng 120 tỉ Mỹ kim như Ngân hàng Thế giới công bố mà còn cao hơn nhưng chẳng có gì để phải hốt hoảng! Các dự án BOT không ảnh hưởng đến người nghèo! BOT có sai sót nhưng không tù mù! Giá xăng ngày càng tiệm cận với giá thế giới, đó là thành công về mặt điều hành!.. ông Kiên vẫn tiếp tục “lập ngôn” cho thiên hạ rủa. Tuần trước, ông Kiên bảo: “Thu giá” là… luật định, phải chờ khoảng năm năm nữa, sau khi Quốc hội xem xét, sửa luật mới tính đến chuyện bỏ hay không! Tuần này, ông Kiên chọc ngoáy đám đông thêm một lần nữa: Tại sao nhiều quốc gia có China Town, bang California của Mỹ có Little Saigon toàn người Việt,… nhưng không nơi nào lo ngại về an ninh, quốc phòng mà dân Việt Nam lại lo Trung Quốc kiểm soát các đặc khu mà hệ thống công quyền muốn thành lập?
Giống như nhiều lần trước đó, hàng ngàn facebooker đã tự nguyện xúm vào làm công việc mà họ gọi là “thông… não” cho ông Kiên. Theo đó, các khu China Town ở nhiều nơi trên thế giới, Little Saigon ở California – Mỹ không khiến ai lo vì chúng chỉ là những khu dân cư mà toàn bộ hoạt động phải tuân theo luật pháp của quốc gia sở tại, toàn bộ sinh hoạt được đặt dưới sự giam sát của chính quyền sở tại, khác hẳn với bản chất của các đặc khu… Thế nhưng chẳng có gì bảo đảm, thêm lần này nữa ông Kiên sẽ im lặng, ngưng huyên thuyên, bởi dường như ông Kiên có nhu cầu được xỉ vả.
***
Cũng nên nhắc lại hàng loạt tuyên bố cùng kiểu: Đất nước có bao giờ được như thế này chăng (?) của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng CSVN. Hoặc mới đây, bất kể hàng loạt diễn biến đáng ngại cho chủ quyền Việt Nam trên biển Đông, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam, vẫn khẳng định: Kinh tế quốc phòng trên biển, thế trận quốc phòng toàn dân trên biển ngày càng tốt hơn. Dù thế giới và khu vực phức tạp nhưng chúng ta vẫn giữ được ổn định…Rồi bất kể những câu hỏi về thống kê, thu – chi vang vọng từ năm này sang năm khác và chưa bao giờ được trả lời thỏa đáng, ông Đinh Văn Nhã, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội Việt Nam, vẫn hùng hồn: Ngân sách của ta không còn gì là không minh bạch nữa rồi, đã là đỉnh cao của quốc tế, đỉnh cao về minh bạch... Không hiểu các phát ngôn này là biểu hiện của loại tâm bệnh nào.