Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

20180504. TỪ CHUYỆN THU PHÍ 'BÒ ĂN CỎ'

ĐIỂM BÁO MẠNG
GIÁM SÁT QUYỀN LỰC ĐỊA PHƯƠNG

NGUYỄN KHẮC GIANG/ TBKTSG 2-5-2018

Mô hình trung ương tập quyền cần phải đi kèm một hệ thống giám sát đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng cát cứ quyền lực. Ảnh: THÀNH HOA
(TBKTSG) - “Trâu ta ăn cỏ đồng ta/ Đừng sang đồng bạn để mà gãy răng”.
Câu ca dao từ xưa của cha ông có lẽ không còn đúng nữa với nông dân làng Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa, khi “trâu ta ăn cỏ đồng ta” cũng không còn yên ổn. Vừa qua, họ bị hợp tác xã buộc phải đóng phí “gặm cỏ” là 100.000 đồng/gia súc/năm.
Sự việc tất nhiên gây chú ý ngay tức thì với dư luận, khiến cơ quan chức năng vào cuộc nhanh chóng và hủy bỏ loại “phí” vô lý kể trên. Thật may mắn cho nông dân xã Thiệu Dương, bởi câu chuyện thật như bịa này dễ lan truyền nhờ tính bi hài của nó, đặc biệt là lại xảy ra ở vùng ven của một đô thị lớn.
Nhưng nếu đó là chuyện ở địa phương khác, đặc biệt là những nơi “trời thì cao, hoàng đế ở xa”, vấn đề có lẽ sẽ không được xử lý nhanh như vậy. Còn nhớ cách đây vài năm, báo chí rộ lên các tuyến bài về gánh nặng thuế, phí của dân nghèo ở các vùng quê tại Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Ở cấp độ cao hơn, đâu đó hiện lên trong đầu mọi người hình ảnh của những Đà Nẵng, Đồng Nai, Yên Bái, về sai phạm đất đai đang bị xử lý. Không có số liệu chính thức để đánh giá hiện tượng “cát cứ” địa phương, nhưng về mặt quan sát mà nói, dường như đây là tình trạng khá phổ biến ở nhiều nơi trong thời gian qua.
Đáng lo ngại hơn, hiện tượng này thường diễn ra ở nông thôn, vùng sâu vùng xa, nơi trình độ dân trí còn chưa cao và khả năng phản biện của người dân còn thấp. Điều này tạo ra một nghịch lý: những nhóm càng dễ bị tổn thương thì lại càng bị chèn ép và bần cùng hóa.
Thêm vào đó, nhiều quyết định lạm quyền được gắn mác “tự nguyện”. Các loại phí, lệ phí vượt khung ở nông thôn đều được giải thích là “đã hỏi ý kiến và nhận được đồng thuận cao của người dân”. Những ai đã từng ở nông thôn đều hiểu rằng việc bỏ phiếu ở một cuộc họp làng sẽ diễn ra như thế nào. Trưởng thôn công bố đề xuất, sau đó yêu cầu đại diện các hộ biểu quyết công khai. Với những lãnh đạo có quyền lực lớn, hoặc chỉ đơn giản là có nhiều phe cánh ủng hộ hơn trong làng - đông họ hàng, bạn bè, đồng niên hơn - thì việc gây áp lực để các hộ thiểu số phải chấp nhận “chủ trương chung” theo nguyên tắc “tập trung dân chủ” là không mấy khó khăn.
Giám sát cát cứ quyền lực
“Nhất thể hóa” tiêu chuẩn quản trị của các địa phương khác nhau vẫn cần là một ưu tiên chính sách trong giai đoạn phát triển tới. Thực hiện nhiệm vụ đó không chỉ cần có vai trò của các cơ quan nhà nước, mà còn cần sự tham gia tích cực của người dân.
Câu chuyện “phép vua thua lệ làng” thực chất dẫn đến vấn đề nghiêm trọng hơn trong hệ thống quản trị công ở nước ta. Từ xưa đến nay, kể cả dưới thời phong kiến, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của Việt Nam là từ trên xuống dưới, từ trung ương xuống địa phương. Mô hình này giúp thống nhất hệ thống quản trị, các quyết định chính sách có thể được thực hiện nhanh và hiệu quả. Nhưng nó cũng có lỗ hổng: cơ quan công quyền ở những địa phương vùng biên, hoặc ở cấp cơ sở, sẽ có nhiều không gian để lạm quyền khi mức độ giám sát từ trung ương giảm đi.
Mô hình trung ương tập quyền vì thế cần phải đi kèm một hệ thống giám sát đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng cát cứ quyền lực. Có hai cách để xây dựng hệ thống giám sát đó.
Thứ nhất, Nhà nước trung ương trực tiếp tạo ra và vận hành bộ máy giám sát. Đây không phải là một giải pháp tồi, và thực tế đã được chúng ta thực hiện qua hai kênh: Thanh tra Chính phủ (về mặt chính quyền) và Ban Kiểm tra Trung ương (về mặt Đảng).
Tuy vậy, hệ thống giám sát tập trung lại có hai nhược điểm lớn: không thể giám sát thường xuyên và tạo ra chi phí quản lý lớn. Thậm chí trong một số trường hợp, chính cơ quan giám sát đó lại tha hóa và buộc Nhà nước tiếp tục tạo ra một cơ quan “giám sát của giám sát”.
Cơ chế giám sát thứ hai, ngược lại, được xây dựng từ dưới lên, với cán cân quyền lực nghiêng về người dân. Hệ thống giám sát này yêu cầu một cơ chế bầu cử địa phương minh bạch, các tổ chức đại diện đủ mạnh, và các kênh truyền dẫn thông tin hiệu quả. Đây là vấn đề mà bộ máy các cấp cũng đã nhìn ra, đặc biệt là sau sự biến ở Thái Bình năm 1997, với hàng loạt văn bản chỉ đạo được ban hành sau đó như Chỉ thị 30 CT-TW về xây dựng dân chủ cơ sở (1998), Nghị định 71 NĐ-CP về Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan (1998), hay Pháp lệnh 34 về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (2007).
Cách giám sát dựa vào trách nhiệm giải trình này, tuy vậy, còn gặp nhiều trở ngại ở nước ta. Thí điểm bầu cử trực tiếp lãnh đạo cấp cơ sở vẫn nằm trên bàn giấy sau 10 năm, các tổ chức đại diện (chủ yếu là các tổ chức chính trị - xã hội và Mặt trận Tổ quốc) hoạt động thiếu hiệu quả, trong khi kênh thông tin truyền thống là báo chí lại không mấy để ý đến những chuyện lẻ tẻ ở địa phương. Mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, tạo ra một đường dẫn khác để người dân thực hiện vai trò giám sát, nhưng tất nhiên với những hạn chế của nó, không thể là giải pháp dài hạn.
Hơn nữa, không thể phủ nhận rằng tâm lý cục bộ, ưu ái “người nhà” và “quê nhà” của một số cán bộ cấp cao cũng phần nào góp phần vào tình trạng bè phái, cát cứ địa phương. Nghiên cứu của một nhóm tác giả người Việt đăng tải trên tạp chí đầu ngành về kinh tế, tạp chí kinh tế Mỹ: Kinh tế học Ứng dụng (American Economic Journal: Applied Economics)(*), cho thấy mối quan hệ giữa việc cán bộ được thăng chức và gia tăng đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương Việt Nam. Vấn đề này rõ ràng chỉ được giải quyết khi hệ thống tuyển dụng và đánh giá công chức nhà nước được chuẩn hóa và dựa vào chế độ trọng nhân tài (meritocracy) hơn.
Xử lý căn nguyên của “con bệnh”
Tình trạng cát cứ địa phương, vì những lý do trên, không hẳn là vấn đề tự thân mà còn là di chứng của những căn bệnh trầm kha khác. Để giải quyết nó, do vậy, sẽ phải song hành cùng với việc xử lý căn nguyên của “con bệnh”.
Trải qua ba giai đoạn cải cách bộ máy hành chính (mỗi giai đoạn kéo dài 10 năm, bắt đầu từ năm 1990), hệ thống chính quyền địa phương đã vận hành tốt hơn trước khá nhiều, đặc biệt là ở những đô thị lớn. Nếu theo dõi những chỉ số đánh giá năng lực của địa phương, cũng như cảm nhận của doanh nghiệp và người dân ở địa phương như Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của VCCI, hay Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) của UNDP phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và CECODES khảo sát và công bố, có thể thấy xu hướng tiến bộ trong hệ thống quản trị công của Việt Nam trong 10 năm trở lại đây. Nhưng khoảng cách lớn giữa nhóm dẫn đầu và cuối bảng cho thấy sự tiến bộ này là không đồng đều. Ở những địa phương đội sổ về các chỉ số như minh bạch, trách nhiệm giải trình, hay cảm nhận tham nhũng, thì rõ ràng nguy cơ “cát cứ” sẽ càng cao hơn.
Chính vì vậy, “nhất thể hóa” tiêu chuẩn quản trị của các địa phương khác nhau vẫn cần là một ưu tiên chính sách trong giai đoạn phát triển tới. Thực hiện nhiệm vụ đó không chỉ cần có vai trò của các cơ quan nhà nước, mà còn cần sự tham gia tích cực của người dân. Suy cho cùng, nói như nhà văn Anh Bernard Shaw, chúng ta không thể có một hệ thống cai trị tốt hơn những gì mình xứng đáng. 
(*) Do, Q. A., Nguyen, K. T., & Tran, A. N. (2017). One mandarin benefits the whole clan: hometown favoritism in an authoritarian regime. American Economic Journal: Applied Economics, 9(4), 1-29. (Một người làm quan cả họ được nhờ: chủ nghĩa ưu ái địa phương trong thể chế chuyên quyền. Tạp chí
Kinh tế Mỹ: Kinh tế học Ứng dụng 9(4), 1-29.)

PHÉP VUA THUA LỆ LÀNG

LÊ THƯ/ TBKTSG 3-5-2018

(TBKTSG) - Mỗi quốc gia đều có hệ thống pháp luật của mình để đảm bảo vận hành và giữ gìn kỷ cương xã hội, tạo điều kiện và cũng đồng thời buộc mọi công dân phải sống và làm việc trong khuôn khổ pháp luật. Ở từng địa phương, còn có hương ước làng xã có giá trị tuân thủ, vốn được hình thành từ rất lâu dựa trên tập quán truyền thống của địa phương đó.
Hương ước, nôm na là lệ làng với những quy định riêng của địa phương có thể song hành với hệ thống pháp luật nhưng không được trái với những gì pháp luật quy định. Cách nói “phép vua thua lệ làng” trong chừng mực nào đó là sự thừa nhận tình trạng tồn tại song song của lệ làng bên cạnh pháp luật Nhà nước, song thành ngữ ấy cũng hàm ý phê phán khi những chức sắc làng xã tự đặt ra những quy định tùy tiện.
Ấy thế mà những người dân vùng nông thôn ở nơi này nơi nọ trong thời hiện đại, thời đề cao sự thượng tôn pháp luật, đôi khi phải chịu những quy định trái khoáy nhân danh hương ước. Những ngày qua dư luận lại sôi nổi bàn luận chuyện một hợp tác xã dịch vụ ở Thanh Hóa đã đặt ra “phí đồng cỏ” để thu tiền của người dân khi họ chăn thả trâu, bò ngoài đồng. Không chỉ trâu bò, hợp tác xã cũng quy định mức xử phạt đối với những trường hợp chăn nuôi dê, gà, ngan, ngỗng cố tình chăn thả tự do ngoài đồng.
Trần tình với báo chí, ông chủ nhiệm hợp tác xã cho biết việc thu tiền là trên tinh thần tự nguyện và có văn bản họp dân, dựa trên “quy ước đồng điền” của làng từ xưa đến nay.
Điều khó hiểu ở chỗ, dựa trên quy ước của làng từ xưa đến nay, tức đã thành hương ước từ trước, nhưng sao mãi bây giờ người dân mới phản ứng, sao họ ngạc nhiên và cho rằng “vô lý quá mức”? Mặt khác, dù có là hương ước thì như đã nói, cũng không được trái với pháp luật, ở đây là luật về phí và lệ phí, trong đó loại phí và mức phí phải được hội đồng nhân dân địa phương ban hành, chứ không thể từ một hợp tác xã dù có nói rằng đã họp thống nhất với dân.
Thật ra, hương ước hay “quy ước của làng từ xưa đến nay” như cách nói ông chủ nhiệm hợp tác xã ở trên được hiểu một cách phổ biến là những quy phạm xã hội được cộng đồng dân cư trong phạm vi một làng, một xã thỏa thuận và thừa nhận như những quy tắc để điều chỉnh lối sống trong mối quan hệ cộng đồng, chủ yếu để bảo vệ những giá trị thuộc về phong tục, tập quán đã được cộng đồng địa phương ấy thực hành bấy lâu nay. Cộng đồng làng xã lập ra hương ước và tất nhiên trong đó cũng quy định những biện pháp xử phạt để đảm bảo cho hương ước được tuân thủ.
Nhưng như vậy cũng không có nghĩa là được tự ban hành luật riêng. “Luật” trong hương ước chỉ có thể dựa vào quy định của pháp luật chung để cụ thể hóa vào điều kiện đặc thù của làng xã mình. Trong chừng mực nào đó hương ước cũng có thể là một sự bổ sung cho luật pháp khi khung luật pháp không thể bao quát hết các mối quan hệ phức tạp trong sinh hoạt làng xã, trong những tập quán đã được duy trì lâu đời. Tuy nhiên, ngay cả sự bổ sung này cũng không thể bao hàm những điều không phù hợp với tinh thần chung của luật pháp.
Trở lại câu chuyện thu “phí đồng cỏ” ở trên, khi nói đó là dựa trên “quy ước đồng điền” của làng từ xưa đến nay thì thiết nghĩ chỉ là một lối bào chữa cho cách hành xử tùy tiện, bỏ qua điều cốt lõi là mọi quy định buộc người dân thực hiện đều phải được căn cứ trên pháp luật. Tiếc rằng ở những làng xã, vùng nông thôn cứ ít lâu lại có những cách hành xử hay những quy định tùy tiện, kiểu như trai gái lấy vợ lấy chồng là người ở làng xã khác phải nộp tiền cho thôn; hoặc như phê bình thay vì chứng thực trong bản lý lịch xin việc nếu như gia đình chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính với địa phương… Những quy định ấy đã lộ ra cung cách làm việc quan liêu và hạn chế về nhận thức pháp luật. Chuyện xảy ra gần nhất: cán bộ một xã ở thành phố Hải Phòng mới đây đã từ chối giải quyết thủ tục cấp giấy khai sinh cho con của một người dân với lý do gia đình còn nợ tiền làm đường trong chương trình nông thôn mới.
Người dân ở làng xã, vùng nông thôn có thể nhiều người không nắm rõ pháp luật, nhưng họ đủ sức nhận ra đâu là cách làm có đạo lý, đâu là những quy định không hợp lý. Những người có chức quyền tại địa phương cần nhận ra điều này để hành xử chuẩn mực tránh đi ngược lại pháp luật. 

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2018

20180503. QUANH DỰ ÁN CỦA FLC TẠI QUẢNG NGÃI

ĐIỂM BÁO MẠNG
THƯ NGỎ GỬI ÔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI

XUÂN DƯƠNG/GDVN 2-5-2018

Phối cảnh dự án nghỉ dưỡng của FLC mà chính quyền Quảng Ngãi đang rốt ráo chỉ đạo để triển khai dự án càng sớm càng tốt. Ảnh: FLC
Bằng bài viết này, người viết muốn gửi đôi lời đến ông Lê Viết Chữ - Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi, ông Trần Ngọc Căng - Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, về dự án mà quý vị đang định trao cho tập đoàn FLC.
Xin đề cập đến hai vấn đề, khía cạnh pháp lý của hoạt động kinh tế liên quan đến vùng biển Việt Nam và đối tượng tham gia các dự án kinh tế liên quan đến biển.
Trước khi đề cập đến Quảng Ngãi, thiết nghĩ cũng nên nói đôi điều về một sự kiện ở “thành phố đáng sống” Đà Nẵng, người dân vùng ven biển thành phố này đã bức xúc phản đối chủ dự án khu du lịch sinh thái Lancaster Nam Ô dựng rào dài chừng 3 cây số, bịt lối đi xuống biển khiến Bí thư Thành ủy Trương Quang Nghĩa phải xuống tận nơi thị sát và yêu cầu tháo dỡ, mở lối cho người dân xuống biển.
Để ông Bí thư và Chủ tịch Quảng Ngài đỡ tốn thời gian xem lại luật, xin trích một số điều khoản trong Luật Biển Việt Nam có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013.
Khoản 4, 6 điều 5 Luật Biển Việt Nam viết: “Khuyến khích và bảo vệ hoạt động thủy sản của ngư dân trên các vùng biển…
Thực hiện các chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo; chế độ ưu đãi đối với các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo”.
Điều 44. Quy hoạch phát triển kinh tế biển quy định khi quy hoạch phát triển kinh tế biển phải theo các bước:
a) Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng khai thác, sử dụng biển;
b) Xác định phương hướng, mục tiêu và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển;
c) Phân vùng sử dụng biển cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; xác định các vùng cấm khai thác, các vùng khai thác có điều kiện, khu vực cần bảo vệ đặc biệt cho mục đích quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên biển;
Khoản 2, điều 45. Xây dựng và phát triển kinh tế biển: “Việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển được thực hiện theo quy định của Chính phủ”.
Xin nêu một số câu hỏi với hai vị lãnh đạo cao nhất tỉnh Quảng Ngãi:
Thứ nhất:
Trước khi quyết định giao đất cho FLC triển khai dự án ven biển, tỉnh Quảng Ngãi đã thực hiện đúng những quy định tại điều 44 chưa?
Cụ thể là tỉnh nhà đã có quy hoạch (bản đồ) “Phân vùng sử dụng biển”; “Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng khai thác, sử dụng biển”,…?
Tóm lại là các vị đứng đầu tỉnh Quảng Ngãi đã thực hiện đúng những quy định của Chính phủ về việc “giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng” chưa?
Nếu Chính phủ đồng ý thì đề nghị lãnh đạo tỉnh công bố các văn bản chỉ đạo của Chính phủ cho nhân dân được biết. Còn nếu chưa được phép của Chính phủ thì quý vị cần xem lại những hành động của mình?
Thứ hai:
Với những quy định trong Luật Biển, khi quyết định dành hàng nghìn ha đất cho FLC, di dời và tái định cư hàng mấy trăm hộ dân, quý vị đã làm gì để “Khuyến khích và bảo vệ hoạt động thủy sản của ngư dân trên các vùng biển” nếu cách 8 km mới mở một đường xuống biển cho ngư dân?
Thứ ba:
Quảng Ngãi có khoảng 130 km bờ biển, vốn là nơi nổi tiếng với Văn hóa Sa Huỳnh, Văn hóa Chăm Pa, đặc biệt là Lễ hội nghinh cá Ông, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tại đảo Lý Sơn…
Được biết dự án FLC Bình Châu – Lý Sơn sẽ trải dài trên địa bàn các xã ven biển Bình Châu, Bình Phú, Bình Hòa, Bình Hải (huyện Bình Sơn), kết hợp với 20 ha thuộc địa phận đảo Lý Sơn và đảo An Bình để tạo thành phức hợp du lịch nghỉ dưỡng quy mô với tổng diện tích lên tới 3.890 ha.
Vậy thực chất bao nhiêu cây số bờ biển sẽ nằm trong khuôn viên dự án và ảnh hưởng của dự án đến ngư dân Lý Sơn thế nào?
Trao đất cho dự án ven biển thực chất là lấy biển trao cho tư nhân quản lý, khai thác, nói cách khác là biến của công thành của tư.
Nhìn rộng ra, rừng đã bị chặt phá tan hoang, bờ biển của dân đang dần biến thành của riêng, vậy rừng vàng biển bạc mà cha ông để lại cho con cháu hôm nay còn gì cho những người lao động?
Thứ tư:
Khoản 9 điều 9 Luật Ngân sách nhà nước quy định: “Không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác”.
Khoản 6, điều 18. Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân sách nhà nước quy định: “Cấm sử dụng ngân sách nhà nước để cho vay, tạm ứng, góp vốn trái với quy định của pháp luật”.
Dự kiến ứng tiền ngân sách tới 500 tỷ đồng giúp tư nhân giải phóng mặt bằng, quý vị có tuân thủ điều khoản nêu trên của Luật Ngân sách nhà nước khi ứng tiền ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân chứ không phải là “cấp khác” hay “địa phương khác”?
Cứ cho là Quảng Ngãi cho FLC vay tiền thì cũng xin nhắc là vay ngân hàng hiện nay phải chịu lãi xuất khoảng 12% một năm, tiền lãi của 500 tỷ đồng một năm vào khoảng 60 tỷ đồng, đủ xây mới mấy trường tiểu học.
Vấn đề thứ hai là pháp nhân thực hiện dự án. Để hiểu về FLC, xin trích dẫn một số phản ánh được truyền thông đăng tải:
Báo Nhandan.com.vn - Cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam - ngày 20/8/2017 trong bài “Cần xử lý nghiêm những vi phạm tại các dự án của Tập đoàn FLC ở Thanh Hóa và Bình Định” viết:
"Những vi phạm của Tập đoàn FLC xảy ra trong thời gian dài, nhưng không được các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý kịp thời, gây bức xúc trong dư luận".
Bài báo kết luận: “Ðề nghị các cơ quan chức năng, Ủy ban nhân dân các tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Bình Ðịnh cần xử lý nghiêm những vi phạm nêu trên của Tập đoàn FLC, truy trách nhiệm, xử lý các cá nhân, tập thể liên quan các sai phạm để bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật”.
Một số ý kiến khác: Chưa có Báo cáo đánh giá tác động môi trường, bị Bộ Tài nguyên - Môi trường yêu cầu dừng xây dựng nhưng dự án FLC Hạ Long vẫn bất chấp, thi công rầm rộ khiến người dân Thành phố Hạ Long (Quảng Ninh) không khỏi lo ngại 'bom bùn' tái diễn. [1]
Sau cơn mưa lớn kéo dài hơn 1 giờ sáng 20/7, nhiều khu dân cư tại phường Hồng Hải, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh bị ngập trong nước và bùn từ sân golf FLC đổ xuống. [2]
Dự án Quần thể du lịch nghỉ dưỡng FLC Hạ Long với tổng mức đầu tư 3.400 tỷ đồng được khởi công hoành tráng vào ngày 20/3/2016.
Hãy khoan nói chuyện tập đoàn này phớt lờ hàng loạt quy định của pháp luật, sau hơn một năm, những hệ lụy từ dự án đang tra tấn người dân vùng phụ cận. [3]
Quảng Bình: Người dân kiến nghị không giao đường ven biển cho tập đoàn FLC quản lí. [4]
“Vì sao FLC "lộng hành" ngay giữa Thủ đô?”. [5]
Rất nhiều bài báo đăng trên nhiều tờ báo về các sai phạm của FLC cho thấy sai phạm của doanh nghiệp này không phải chuyện cá biệt mà đã xảy ra rất nhiều lần. Truyền thông không ác cảm gì với FLC mà bởi chính doanh nghiệp hành xử thiếu chuyên nghiệp, có những việc làm theo kiểu "đầu voi đuôi chuột". Hãy nhìn những gì đang diễn ra ở dự án Khu công nghiệp Hoàng Long - Thanh Hóa  [6]; hay chuyện đấu giá khu đất DDM1 tại quận Nam Từ Liêm - Hà Nội thì thấy rõ [7].
Nhìn vào hàng loạt sự việc ấy, chẳng lẽ lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi không một chút băn khoăn lo lắng hay sao mà lại còn sốt sắng đến mức ứng tiền cho doanh nghiệp này thực hiện dự án?
Còn biết bao nhiêu người còn tiếp tục bám biển sinh sống, giờ nếu phải di dời ra xa họ sẽ sống làm sao khi phải đi vòng 8 km với những chiếc thuyền thúng trên vai mới có lối xuống biển?
Và còn nữa, mấy trăm hộ ngư dân bám biển không chỉ là mưu sinh cho gia đình mà còn là những cột mốc di động xác nhận chủ quyền quốc gia trên biển. Nếu tất cả phải bỏ nghề thì ai sẽ thay họ trợ giúp cho các lực lượng bảo vệ chủ quyền biển, đảo của tổ quốc?
Vẫn biết trải thảm cho nhà đầu tư là chủ trường đúng, cần khuyến khích nhưng nếu những bàn chân trần và những bờ vai chai sạn nắng gió chỉ có thể từ xa ngắm nhìn những biệt thự, khách sạn cao cấp mọc lên thì chủ trương ấy có cần cân nhắc thấu đáo?
Cổ nhân có câu “Chọn mặt gửi vàng”, nếu “mặt” mà Quảng Ngãi chọn đã từng được báo chí cảnh báo: “Ðề nghị các cơ quan chức năng truy trách nhiệm, xử lý các cá nhân, tập thể liên quan” thì có nên sốt sắng đến mức như vậy?
Cái lợi trước mắt với dân chưa thấy, với ai đó chưa thể biết nhưng cái hại thì nhỡn tiền, vậy ông Bí thư, ông Chủ tịch Quảng Ngãi có nên bình tĩnh một chút, đừng vội chỉ nghĩ đến hôm nay mà quên chuyện mai sau?
Vài lời nghịch nhĩ, chưa chắc sẽ làm các vị vừa lòng, song không nói e là có lỗi với người dân Quảng Ngãi, nói ra mà các vị nghe được thì chắc dân sẽ vui.
Sau này, không chỉ các vị mà con cháu các vị cũng vui, thế thì không thể không nói./.
Tài liệu tham khảo:
[6] http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Hang-tram-ho-dan-kho-so-vi-do-li-cua-du-an-FLC-Hoang-Long-post185647.gd
[7] http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Ai-dung-tung-cho-FLC-chay-i-hang-tram-ty-dong-post185482.gd
Xuân Dương

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

20180502. BÀN VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO, LÀM LUẬT, SỬA LUẬT

ĐIỂM BÁO MẠNG
CÂU CHUYỆN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

ĐẶNG ĐÌNH CUNG*/ TBKTSG 1-5-2018

Kết quả hình ảnh cho trí tuệ nhân tạo

(TBKTSG) - Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một khái niệm bao gồm những máy thông minh (intelligent machine) và những hệ cứng (hardware) cùng hệ mềm (software) cần thiết để chế tạo và vận hành những máy đó.
Cụm từ TTNT gợi cho ta liên tưởng đến những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, robot lên nắm chính quyền để cai trị hay tiêu diệt con người. Một tương lai rất có thể, như việc thanh niên Trung Quốc cưới mô hình phụ nữ nhân tạo. Hay đã là một hiện thực, như robot đang chăm sóc các cụ già ở Nhật Bản... Tương lai vừa đáng lo ngại vừa đầy triển vọng với những hệ cứng và hệ mềm được gán cho là thông minh như con người!
Trí tuệ tùy ở năm nhân tố: học tập, suy luận, giải quyết vấn đề, nhận thức và sử dụng ngôn ngữ
Một người thông minh là một người vận động năm nhân tố đó để phát biểu một quan điểm hay thực hiện những hành động cụ thể. Trong ngành TTNT, người ta mô phỏng (simulate) một, một số hay tất cả năm nhân tố của trí tuệ con người kể trên. Một máy được coi là thông minh tùy ở số nhân tố của trí tuệ con người đã được mô phỏng và mỗi nhân tố đó đã được mô phỏng sát với con người đến đâu. Những phương pháp để đo trình độ thông minh đều khách quan dù là để đo trình độ thông minh của con người hay của máy.
Người ta đo trí thông minh của một người bằng thương số IQ (intellectuel quotient, thương số trí lực). Thương số này được tính theo nhiều phương pháp. Nổi tiếng nhất là phương pháp của quân đội Mỹ để tuyển lính hồi Thế chiến thứ nhất. Thông dụng nhất là phương pháp CHC (Cattell-Horn-Carroll, tên ba người đã sáng chế phương pháp đo IQ đó).
Tương lai ngắn và trung hạn của chúng ta thực sự là ở mạn xuôi (máy thông minh) chứ không phải là ở mạn ngược (hệ cứng và hệ mềm) của ngành TTNT.
Nhà toán học Alan Turing, cha đẻ của ngành tin học, đề nghị một quy trình trắc nghiệm một máy thông minh đến đâu như sau: Một ban giám khảo họp trong một phòng không liên lạc gì được với bên ngoài. Máy muốn được xác định là thông minh và một số người thật được coi là thông minh ở những nơi cách biệt khỏi ban giám khảo. Ban giám khảo đặt một câu hỏi và ra thời hạn cho máy cùng những người này trả lời. Ban giám khảo đánh giá các câu trả lời đúng hay không mà không biết máy hay con người đã trả lời. Một máy được coi là thông minh khi trả lời đúng một tỷ lệ tối thiểu các câu hỏi. Máy này thông minh hơn máy khác khi có tỷ lệ câu trả lời đúng cao hơn.
Một người thông minh không nhất thiết là một người có ích cho xã hội. Người ta ngưỡng mộ một người thông minh và tôn kính một người đã vận dụng trí thông minh để phát biểu hay hành động có ích cho xã hội, doanh nghiệp. Một người có thể làm được nhiều việc khó khăn khác nhau thì được trọng dụng hơn một người khác có chỉ số IQ cao nhưng chỉ biết làm một vài việc lặt vặt. Một máy thông minh cũng vậy, tùy ở công dụng của nó chứ không tùy ở trình độ thông minh của nó. Một máy có nhiều giá trị nếu có thể thay thế con người trong nhiều việc nặng nhọc, khó khăn và phức tạp. Máy đó đã sử dụng nhiều hay ít dữ liệu và xử lý thông tin nhanh hay chậm theo những thuật toán (algorithm) phức tạp hay không chỉ là phụ.
Một máy thông minh là một máy có thể thay thế con người làm một việc gì đó một cách tự lập, không cần con người hay một máy khác điều khiển
Ví dụ, một người bán quần áo phải biết chào hàng một khách thích mặc quần áo màu mình đang bán và tránh mất thì giờ với một người thích mặc quần áo màu mà mình không bán. Các công ty GAFAM (tên viết tắt của năm công ty tin học Google, Apple, Facebook, Amazon và Microsoft) có những hệ tin học, được coi là những máy thông minh, có thể làm được việc này.
Có những máy thông minh làm việc mau hơn hay giỏi hơn con người.
Vì khả năng con người có hạn, người bán quần áo vừa kể trên lầm lẫn khá nhiều khi chọn khách hàng tiềm năng. Nhưng một hệ tin học ít khi nào chào hàng sai vì máy này huy động một bộ dữ liệu rất lớn, trong đó có ghi sở thích về màu quần áo của mỗi khách hàng tiềm năng. Người bán quần áo chỉ biết dự đoán sở thích về màu quần áo của một khách hàng tiềm năng. Còn hệ tin học thì có thể xếp loại khách hàng nữ theo sở thích màu quần áo và sở thích mặc váy hay mặc quần. Nhờ đó mỗi phụ nữ vào cửa tiệm sẽ được chào hàng về váy hay quần có màu người đó ưa thích. Hơn thế nữa, mỗi ngày hệ tin học tích lũy thêm những dữ liệu liên quan đến mỗi cá nhân, tổ chức và cơ quan để có thể chào hàng chính xác hơn cho cá nhân đó.
Ở bệnh viện, một robot giải phẫu tinh vi hơn một bác sĩ. Nguyên do là tay một bác sĩ run nhiều hơn là đầu dao mổ của robot. Cũng vì một người thợ hàn hàn không chính xác và không thể chịu đựng được lâu trong môi trường rất nóng mà người ta sáng chế ra những robot hàn.
Có những máy thông minh làm những việc mà không ai có thể làm được.
Không có phu khuân vác nào có thể nâng bốc những container to nặng rồi xếp đặt chúng ở kho bãi một cách hợp lý để khi bốc một container thì ít phải luân chuyển các container khác. Không có thuyền trưởng nào có thể sắp xếp những container trên tàu để cân bằng và tối ưu hóa trọng tải của tàu. Chỉ có các cần cẩu thông minh mới có thể làm được những việc này.
Sau tai nạn hạt nhân ở Fukushima (Nhật Bản), phát sinh nhu cầu thăm dò bên trong các nhà máy điện hạt nhân để quyết định làm gì để khắc phục hậu quả của tai nạn. Thay vì đưa người vào thì các kỹ sư Nhật đã chế tạo những robot để đưa vào quan sát thân nhà máy, ghi và truyền tin ra ngoài tình trạng của nhà máy. Chỉ có những robot mới có thể thăm dò trong môi trường có phóng xạ nguy hiểm chết người của các lò phản ứng hạt nhân.
Các nước công nghệ tiên tiến làm gì và chúng ta phải làm gì?
Một máy thông minh bao gồm ba thành phần vật chất: một bộ nhớ (memory) tích trữ dữ liệu (data), một bộ xử lý (processor) những dữ liệu, và một số thành phần như là bộ nhạy (sensor), bộ dò (detector), bộ truyền động (actuator), màn hình (screen), đèn báo (light)... tương tác với con người, môi trường và các máy khác. Những thành phần hiện đại này rất nhỏ và chạy rất nhanh. Nhưng các công ty và phòng thí nghiệm trên thế giới vẫn tiếp tục nghiên cứu để thu nhỏ hơn và làm cho chúng chạy nhanh hơn nữa.
Để điều khiển các thành phần thì có những hệ mềm. Những nghiên cứu khoa học - kỹ thuật hiện thời nhằm mô phỏng vận hành mỗi ngày mỗi sát với bộ óc của con người. Các công ty GAFAM gần đây tuyên bố mở những phòng thí nghiệm về TTNT. Theo tôi được biết thì các phòng thí nghiệm đó sẽ chủ yếu nghiên cứu về mạng thần kinh (neuronal network), học tập sâu (deep learning), dữ liệu lớn (big data), thuật toán (algorithmics) và điện toán đám mây (cloud computing).
Những nghiên cứu này tốn cả tỉ đô la Mỹ và thu hút khoảng mười vạn kỹ sư nghiên cứu. Hiển nhiên là chúng ta không thể cạnh tranh được trong lĩnh vực này. Quá lắm là có vài cá nhân giáo sư đại học trong nước đang làm nghề tay trái nghiên cứu gia công cho các hãng ngoại quốc.
Tuy nhiên chúng ta có thể nghiên cứu chế tạo các máy thông minh chạy với các hệ cứng và hệ mềm TTNT sẵn có trên thị trường.
Các máy thông minh rất ấn tượng đã xuất hiện hay đang được triển khai từ mười năm nay cũng chỉ dùng những hệ cứng, hệ mềm sẵn có. Số loại máy thông minh chỉ bị giới hạn bởi trí tưởng tượng của ta, mà thị trường của mỗi máy thì rộng lớn. Số thanh niên độc thân, số cụ già cần người giúp việc hay số học sinh cần gia sư... tại các nước xung quanh chúng ta rất lớn. Đó là chưa kể đến những ứng dụng như máy công cụ, hệ quản lý tổng hợp (integrated management software) cho tất cả các ngành kinh tế và những ứng dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu đặc thù của người dân nước ta.
Tương lai ngắn và trung hạn của chúng ta thực sự là ở mạn xuôi (máy thông minh) chứ không phải là ở mạn ngược (hệ cứng và hệ mềm) của ngành TTNT.
(*) Kỹ sư tư vấn

HÀ NỘI SẮP CÓ CỬA HÀNG KHÔNG NGƯỜI BÁN

CP/TBKTSG 1-5-2018
(TBKTSG Online) - Trong năm 2018, Hà Nội sẽ thí điểm vận hành chuỗi cửa hàng tự động không người bán, sử dụng mô hình 020 Online 2 Offline và mã QR trong thanh toán.

Hình thức mua sắm mới này được đánh giá tiện lợi cho những người có thói quen không cầm tiền, đáp ứng xu thế tự động hóa toàn cầu và giúp khách hàng thuận tiện hơn trong việc thanh toán. Cũng theo kế hoạch, Hà Nội phấn đấu năm 2018, doanh thu bán lẻ trực tuyến chiếm 8% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn Thành phố; giữ vững xếp hạng từ thứ 2 trở lên so với cả nước về chỉ số thương mại điện tử (EBI) hằng năm.
Kế hoạch cũng đề ra mục tiêu đưa tỷ lệ dân số Hà Nội tham gia mua sắm trực tuyến năm 2018 đạt 66% số người sử dụng internet, tăng 3% so với năm 2017.
Đồng thời, có 85% cơ sở phân phối, bán lẻ hiện đại, cửa hàng xăng dầu, đơn vị cung cấp điện, nước, dịch vụ viễn thông chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt khi mua bán hàng hóa, dịch vụ; đạt 62% doanh nghiệp có website/ứng dụng cung cấp thông tin doanh nghiệp, tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Mô hình cửa hàng tự động không người bán, thanh toán không cần tiền mặt xuất hiện lần đầu tại Việt Nam từ cuối năm 2017 có tên là Toromart (quận 1, TPHCM). Cửa hàng không cần nhân viên đứng quầy, mọi thao tác mua bán hàng hóa tại đây đều không cần đến tiền mặt và việc thanh toán hàng đều sử dụng mã quét QR.
Theo đó, để mua đồ tại đây, khách hàng phải tải ứng dụng “Ví tiết kiệm Toro” trên phần mềm Android hoặc iOS. Sau khi cài đặt, khách nộp tiền vào tài khoản hoặc chuyển tiền trực tuyến vào tài khoản thông qua hình thức internet banking trước khi giao dịch. Tại quầy có các bảng chọn sản phẩm bằng màn hình cảm ứng. Khách chọn sản phẩm xong chỉ cần mở mã vạch ứng dụng trên điện thoại cá nhân đưa vào điểm quét tự động sẽ được thanh toán rồi nhận hàng ở ô giao trả.
Trước đó, từ tháng 9-2017, sau khi khai trương phố đi bộ quanh hồ Gươm, Hà Nội cũng lắp đặt và đưa vào sử dụng một số máy bán hàng tự động, phục vụ các loại nước giải khát đóng chai để mang đi.
Theo Chinhphu.vn

MÊ HỒN TRẬN LÀM LUẬT VÀ SỬA LUẬT

LAN NHI/ TBKTSG 1-5-2018
(TBKTSG) - Dự án Luật Thuế tài sản mới được Bộ Tài chính đưa ra lấy ý kiến đã vấp phải sự phản ứng của công luận. Không hẳn người dân và các nhà kinh tế phản ứng về sắc thuế mà đa số các ý kiến chưa đồng tình về cách thức làm luật, dù là chỉ mới ở giai đoạn ban đầu, nhất là khi luật này tác động đến đông đảo người dân.
Cho dù cuối tuần trước, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã đăng đàn giải thích, nhưng nhiều người không đồng tình với cách giới thiệu dự án luật theo kiểu “dội bom” như vừa qua.
Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xây dựng một dự án luật là phải đảm bảo “tính khả thi” và tuân thủ đúng “trình tự”, “thủ tục”. Những tài liệu được Bộ Tài chính giới thiệu cho thấy quá trình chuẩn bị dự án luật này không đảm bảo nghiêm ngặt các nguyên tắc nói trên khi chỉ có dự thảo, tờ trình và đề cương. Vì vậy thiếu thuyết phục.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật yêu cầu “cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh”, đồng thời đánh giá những tác động tích cực, tiêu cực và so sánh chi phí lợi ích của từng phương án đưa ra...”. Như vậy, dự luật Thuế tài sản hay bất kỳ dự luật nào khác thì việc đánh giá tác động là bắt buộc.
Thậm chí việc đánh giá tính tương thích của luật này với nội dung chính sách có liên quan như Luật Đất đai, Luật Nhà ở... cũng không có. Mà theo tờ trình đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, Luật Đất đai sẽ được sửa đổi, liệu nội dung sửa có theo hướng phù hợp cho việc ra đời Luật Thuế tài sản hay không?
Việc đưa ra dự luật như trên dễ gây ra sự hoài nghi của xã hội về năng lực làm luật hiện nay.
Trong vòng vài năm gần đây, đã có nhiều dự án luật trình mới hoặc sửa đổi vấp phải “vết xe đổ” bị người dân phản ứng, thiếu khả thi. Khi Bộ luật Hình sự (sửa đổi) 2015 chuẩn bị đến ngày thi hành (1-7-2015) thì Quốc hội phải ra nghị quyết tạm dừng thi hành để sửa do phát hiện có đến 90 lỗi sai sót lớn. Trước đó, Quốc hội phải ra quyết định dừng thực thi điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội (2014) để thực hiện theo quy định cũ.
Điều này thể hiện quá trình làm luật ngay từ khâu đầu (thường do các cơ quan Chính phủ thực hiện) đến khâu cuối (giám sát, phản biện, thông qua tại Quốc hội) đều yếu.
Nay, nhìn số lượng các dự án luật mới và sửa đổi hàng năm, người dân đều không khỏi giật mình. Như năm 2017, ban đầu Nghị quyết Quốc hội thông qua việc xây dựng và sửa đổi 27 dự luật, sau đó nâng lên thành 29 dự luật (có 20 dự luật là trình thông qua, một số lượng rất lớn!) Trong số này, Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi), Luật Thuế bảo vệ môi trường (sửa đổi)... đến nay vẫn đang bị “treo” vì tính khả thi và hiệu quả của việc sửa còn quá nhiều tranh cãi.
Để chuẩn bị cho sự điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2018, vào tuần trước Chính phủ đã trình việc xây dựng và bổ sung 22/23 dự luật. Trong số này có một dự án luật thật ra là sửa nhiều luật (dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Quy hoạch đô thị). Việc này là để “phục vụ” cho việc thi hành Luật Quy hoạch đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực từ năm 2019. Vì Luật Quy hoạch có nhiều nội dung “đụng” với các luật khác nên phải rà soát, sửa đổi các luật có liên quan này.
Vấn đề là, theo đánh giá của Ủy ban Pháp luật thuộc Quốc hội khi thẩm tra dự án luật được Chính phủ trình thì một số nội dung sửa đổi chính sách lớn đã không có báo cáo, đánh giá tác động. Trong nhóm bốn luật mà theo Chính phủ là cần sửa đổi để tương thích với Luật Quy hoạch nói trên, chỉ cần sửa Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị. Hai luật còn lại không có nội dung liên quan đến quy hoạch nên không cần sửa. Ngay trong hai luật cần sửa cũng có quá nhiều nội dung ngoài quy hoạch mà Chính phủ kết hợp sửa đổi. Như Luật Xây dựng dự kiến sửa đổi, bổ sung tới 45 điều, bãi bỏ 8 điều, tổng số là 53 điều, chiếm đến 31,55% tổng số điều luật của luật này. Trong khi đó, chỉ cần sửa 11/53 điều là đã thống nhất với Luật Quy hoạch. Với Luật Quy hoạch đô thị, Chính phủ định sửa cả nội dung liên quan đến quy hoạch nông thôn là nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Quy hoạch. Ủy ban Pháp luật thống kê được, trong bốn luật được đề nghị sửa đổi, chỉ cần sửa 19/77 điều đề nghị là đã đồng bộ với Luật Quy hoạch, phần còn lại không liên quan gì.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

20180501. CẦN MỘT TÒA ÁN MÔI TRƯỜNG ĐỘC LẬP

ĐIỂM BÁO MẠNG
CẦN MỘT TÒA ÁN MÔI TRƯỜNG ĐỘC LẬP

CÁT TƯỜNG/ VNTB/ BVN 29-4-2018

Dự án Bauxite Tân Rai và Nhân Cơ bị bỏ rơi cảnh báo ngay trong những giai đoạn đầu tiên.

Hệ lụy của “Đảng luôn đúng”

Đầu tháng 4-2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có một báo cáo gởi Bộ Công Thương cảnh báo về các nguy cơ tiềm ẩn về môi trường và sự cố môi trường của hai dự án bauxite Tân Rai và Nhân Cơ do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) làm chủ đầu tư, với tổng vốn đầu tư vượt 32.000 tỉ đồng. Trong đó có cảnh báo đến vấn đề chất lượng công trình, hệ thống xử lý môi trường của hai dự án đã xuống cấp...

Các cảnh báo này không bất ngờ vì hơn chục năm trước, các nhà khoa học và cả chuyên gia của TKV đều phản đối việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên bằng công nghệ nhập từ Trung Quốc. Tương tự như Formosa Hà Tĩnh, cả hai dự án bauxite đều vấp phản ứng mạnh về công nghệ xử lý ướt bùn đỏ hay xử lý khô bùn đỏ?

Hậu quả của chuyện tràn hồ, vỡ hồ xử lý ướt bùn đỏ cũng đã xảy ra. Chất thải có độ pH cao thấm vào nguồn nước ngầm suốt gần chục năm qua ở hai dự án này - nói như lời của TS. Nguyễn Thành Sơn, nguyên Trưởng ban Chiến lược và Khoa học công nghệ Tập đoàn TKV: “Tự thân hai dự án này, kể cả khi chưa có sự cố, đã làm thay đổi cơ bản môi trường đất và môi trường nước trong khu vực. Các sự cố xảy ra thời gian qua, tuy có quy mô nhỏ, nhưng tính chất lại rất nguy hiểm vì nó đã xảy ra ngay từ khi dự án mới đi vào hoạt động”.
Không quá lời khi coi đây là hệ lụy của “Đảng luôn đúng”. Giữa tháng 4-2009, Bộ Chính trị đã nghe Ban cán sự Đảng Chính phủ báo cáo về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025. Thông báo đăng trên nhiều tờ báo cho hay điểm đầu tiên trong kết luận của Bộ Chính trị là: “Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bauxite là chủ trương nhất quán từ Ðại hội IX và Ðại hội X của Ðảng đến nay”. Bộ Chính trị chỉ đạo “Tiếp tục thực hiện chủ trương triển khai hai dự án ở Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đăk Nông) do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư, chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài” [Nguồn: http://bit.ly/2HzmSRL].

Tòa án môi trường với các quyền độc lập?

Có lẽ thông tin sau đây ít phổ biến hơn: công ty An Viên - doanh nghiệp đã bán dịch vụ hạ tầng truyền hình AVG cho Mobifone, có một thành viên là An Viên B.P thành lập năm 2008. Theo kế hoạch, An Viên B.P sẽ được cấp giấy phép khai thác 2 dự án mỏ bauxite Thọ Sơn và mỏ Thống Nhất tại tỉnh Bình Phước. “Công ty khai thác bauxite “bí ẩn” trong thương vụ Mobifone mua AVG” đang là thông tin được nhiều tòa soạn cử phóng viên tìm hiểu.

Trở lại với câu chuyện công nghệ sản xuất liên quan môi trường. Formosa Hà Tĩnh, Lee&Man Hậu Giang, Nhiệt điện Vĩnh Tân… tiếp tục là những địa chỉ nóng về chuyện sản xuất bằng công nghệ được xác nhận ngay từ đầu là sẽ gây ô nhiễm môi trường. Thế nhưng tương tự như hai dự án bauxite nói trên, Bộ Công Thương gần như bỏ ngoài tai mọi khuyến cáo không chỉ từ công luận, mà ngay cả nơi đồng cấp là Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Sự ra đời của một tòa án môi trường độc lập là cần thiết?

“Như tôi từng đề nghị cách đây 9 năm là Việt Nam cần có một tòa án môi trường chuyên biệt để thực thi luật môi trường, tới nay, dĩ nhiên Việt Nam vẫn cần một trọng tài độc lập làm việc dựa theo luật môi trường như vậy. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, để tránh xung đột lợi ích hay tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, một trọng tài môi trường (tương tự như tòa án thương mại xử lý các vụ tranh chấp thương mại) chuyên về luật môi trường sẽ tránh những trường hợp gây xáo trộn xung đột trong cộng đồng và giải quyết vấn đề ổn thỏa với sự đồng thuận cao”. TS. Nguyễn Đức Hiệp, chuyên gia khoa học về khí quyển ở Bộ Môi trường và Di sản, bang New South Wales, Úc, nói.

Mà môi trường sống đâu chỉ là gói trong những ô nhiễm do công nghệ, mà còn là các yêu cầu của bảo tồn di sản thiên nhiên và văn hóa; gồm cả kiến trúc, lịch sử và tâm linh gắn liền với kiến trúc và cảnh quan đô thị.

Chia sẻ đề nghị của TS. Nguyễn Đức Hiệp, từ Kiên Giang, luật sư Trần Thành nói rằng thực tiễn xét xử hiện nay cho thấy, các thẩm phán còn thiếu chuyên môn, kiến thức, kỹ năng chuyên ngành về xét xử vụ án liên quan đến môi trường nên chất lượng, hiệu quả giải quyết các vụ án có liên quan đến môi trường chưa cao.

“Một bản án tuyên về chuyện môi trường bị hủy diệt từ bauxite Tân Rai, bauxite Nhân Cơ hay từ Formosa Hà Tĩnh từ tòa môi trường chuyên biệt, chắc chắn sẽ thuyết phục và có tính răn đe mạnh mẽ hơn cho tất cả những dự án có công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường!”. Luật sư Trần Thành bày tỏ.

Tuy nhiên nhiều đồng nghiệp với ông Thành cho rằng nếu tòa án không có được sự độc lập, thì vẫn không giải quyết được gì.

“Theo tôi, khó khăn lớn nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường là không hoàn toàn độc lập trong công tác thẩm định đánh giá tác động môi trường của các dự án luyện alumina ở Tây Nguyên, tham vấn cộng đồng, quan trắc và xử lý các vi phạm nếu có của chủ đầu tư. Vì đây là công trình của Nhà nước và có sự chỉ đạo từ trên cao nên việc thẩm định, giám định và thi hành luật môi trường bị giới hạn. Suốt quá trình đưa ra đề án, hồ sơ đánh giá môi trường, tham vấn cộng đồng, thẩm định, xây dựng, vận hành nhà máy và quan trắc đã không đạt được”.... TS. Nguyễn Đức Hiệp, chia sẻ.

C.T.
VNTB gửi BVN.

QUYỀN LỰC FORMOSA TỪ ĐÂU ĐẾN ?

ĐỖ NGÀ/ TIẾNG DÂN/ BVN 1-5-2018
Ảnh Internet
Khi vào Việt Nam, Formosa được chính quyền CS ưu đãi đặc biệt. Được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong khi doanh nghiệp trong nước phải gánh tới 22%. Trong 4 năm đầu hoạt động được miễn thuế, và 9 năm tiếp theo chỉ đóng 50% thuế. Quá trình xây dựng dự án Formosa được miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị; miễn thuế tài nguyên với hoạt động hút cát san nền….

Chưa hết, Formosa được thuê đất 70 năm thay vì 50 năm như luật pháp quy định. Và điều đặc biệt là trong khoảnkhoản 7, Điều 4, Hợp đồng thuê đất ngày 6/2/2009 quy định “đảm bảo không thu hồi đất vì mục đích cộng đồng và phát triển kinh tế hay các mục đích khác; Đối với thu hồi đất vì lý do quốc phòng, an ninh, hai bên tiến thảo luận đi đến thống nhất bồi thường dứt điểm trước khi thực hiện”.

Như ra biết, tại khoản 1 điều 38 Luật Đất Đai quy định về trường hợp thu hồi đất như sau “Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế”, nghĩa là hợp đồng của Formosa đã chà đạp lên luật pháp Việt Nam. Với doanh nghiệp trong nước có ai dám ký một bản hợp đồng phạm pháp thế không? Tại sao Formosa tự tin như thế? Chắc chắn phải có một quyền lực chính trị mạnh hơn luật pháp Việt Nam để đè bẹp luật pháp.
Nhìn lại hành động của ĐCSVN và chính phủ Việt Nam với Formosa khi nó gây ra thảm họa, thì ta sẽ thấy bảo kê rất rõ. Đảng thì che chở cho nó, chính phủ làm tay sai cho nó, và luật pháp thì không dám đụng đến nó.

Thứ nhất, khi Formosa gây thảm họa, Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa mà không ngó ngàng gì đến thảm họa. Điều đó xem như Nguyễn Phú Trọng đã gởi một thông điệp đến toàn dân rằng “Toàn dân phải hy sinh cho Formosa, không nhưng nhị gì cả”.

Thứ nhì là hàng loạt cách xử lý của chính quyền để che chở cho Formosa trước hành động gây thảm họa của nó như; không cho dân kiện Formosa theo luật định, cho CSCĐ đồn trú trong trụ sở Formosa để chiến đấu với dân.

Và hôm nay, trong danh sách thanh tra môi trường, tại sao chính quyền đã để Formosa ngoài danh sách? Tôi thì thấy Bộ Tài nguyên & Môi trường không dám thi hành quyền pháp định của mình với Formosa. Bộ là một đầu ngành của chính phủ, trong lĩnh vực của nó, nó là cơ quan quyền lực cao nhất nước vậy tại sao sợ một doanh nghiệp? Trên Pháp luật có Đảng luật, trên Đảng luật có những văn kiện bí mật ký giữa ĐCSVN và ĐCS Trung Quốc. Trung Nam Hải là kẻ giám sát cuộc chơi theo những gì đã kí. Vậy Formosa dựa vào quyền lực nào trong các ràng buộc trên đầu pháp luật Việt Nam? Nhìn cơ quan hành pháp của Việt Nam vừa né động chạm đến Formosa vừa ra tay làm kẻ bảo vệ cho nó thì đủ biết, nó đến từ quyền lực bên ngoài, quyền lực sai khiến cả ĐCSVN. Tôi cho là vậy!

FB Đỗ Ngà
Theo báo Tiếng Dân.