Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017

20170710. KỶ NIỆM 110 NĂM PHONG TRÀO ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907-2017)

ĐIỂM BÁO MẠNG
ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC VÀ CUỘC QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP THẾ KỶ XX

NGUYỄN KHẮC MAI/ BVN 10-7-2017


I. Đông Kinh Nghĩa thục - Điều cần đến đã đến
Vào đầu thế kỷ XX, Khi phong trào Cần vương đã thất bại, Thực dân Pháp bắt đầu đặt nền đô hộ hoàn chỉnh lên Việt Nam, thì tấm gương duy tân của Nhật Bản, với sự kiện bùng nổ chiến tranh Nga-Nhật kết thúc . Nhật đã đánh tan Hạm đội hùng hậu của Nga ở eo Đối Mã, cùng lúc tiếng vọng về những tư tưởng mới Âu Mỹ từ những “tân thư” vào Việt Nam. Những sự kiện ấy cùng lúc dội vào tâm trí lớp sĩ phu cấp tiến, nặng lòng yêu nước, ý thức được sự yếu kém về mọi mặt của đất nước của xã hội. Khiến cho cái tinh thần Duy tân trỗi dậy. Họ tìm tòi một con đường cứu nước, trước hết bằng thức tỉnh quốc dân, vượt lên sự hủ lậu cố cựu, xây dựng nội lực tự lập, tự cường, bỏ con đường khoa cử hư danh “nọc độc”, gây dựng thực nghiệp làm cho dân mạnh nước giàu, cổ vũ lối sống mới, xóa bỏ hủ tục, mở mang nhiều trường học ở khắp nơi… Bắt đầu từ Trung Kỳ kết hợp chống thuế và Duy tân, rồi lan ra Bắc vào Nam.
Đông Kinh Nghĩa thục ra đời trong bối cảnh ấy. Cố nhiên, chúng ta phải đánh giá cao sự gợi ý từ mẫu hình của Khánh Ứng Nghĩa thục (Keio Gijuku) của Nhật Bản (Và cũng phải ngậm ngùi than thở, cớ sao trường Nghĩa thục của họ vẫn tồn tại, hoạt động suốt hơn trăm năm qua. Còn ở Việt nam thì dẫu gọi là đã giành độc lập, mà ngôi trường ấy chẳng những không được phục hưng, mà còn bị dập vùi quên lãng!).
Dông Kinh Nghĩa thục chỉ tồn tại vỏn vẹn trong 9 tháng (kể từ tháng Tư bắt đầu khới sự cho đến tháng 12 thì phải theo lệnh thực dân Pháp mà đóng cửa. Tuy thế, chưa bao giờ có một ngôi trường kiểu mới, vừa học vừa hành, vừa học vừa tập, nhà trường rộng mở, liên kết với nhiều hoạt động văn hóa xã hội, vừa học vừa bàn kế sách cứu nước. Từ cả ngàn năm, chưa bao giờ có một sinh hoạt văn hóa tưng bừng, nô nức hứng khởi như vậy.
Bởi vì đây là một ngôi trường kiểu mới, “hoàn toàn của Việt Nam”, không chỉ là một nhà trường mà thật sự là một phong trào văn hóa mới, cách mạng, yêu nước mới. Ở đó thầy và trò đề cao mục đích (cũng là lý tưởng của việc học):
Liệu làm sao, tính làm sao,
Làm sao cho được bảnh bao như người?
Mai sau cho được như lời,
Lên lầu Độc Lập, hát bài Tự Do.
Hoặc dẫu chỉ là một vấn đề của lối sống (văn minh, hợp lý hơn, như việc cắt đi cái búi tó, thì cũng là:
Phen này cắt tóc đi tu,
Tụng kinh ĐỘC LẬP, ở chùa Duy Tân!
Sự hưởng ứng của quần chúng có chăng, chỉ những ngày đầu của Khởi nghĩa Tháng Tám mới sánh được:
Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ,
Khắp ba mươi sáu phố Hà thành.
Gái trai nô nức hoc hành,
Giáo sư tám lớp, học sinh non ngàn.
Và
Buổi diễn thuyết người đông như hội,
Kỳ bình văn khách tới như mưa.
Cái mới mẻ, hào hứng nhân lên đầy reo vang tự hào:
Mở tân giới, xoay nghề tân học,
Đón tân trào dựng cuộc duy tân.
Tân thư, tân báo, tân văn...
Ngày nay sau 110 năm nhìn lại, Đông Kinh Nghĩa thục xuất hiện trên bầu trời văn hóa Việt, chỉ như ánh sao băng, rọi một làn sáng chói, tưởng chừng chỉ trong khoảnh khắc. Nhưng năng lượng để lại thì đang lan tỏa trong vũ trụ. Cũng như năng lượng vũ trụ không bao giờ mất. Giá trị của ĐKNT còn tồn tại vĩnh hằng. Thế mà có những kẻ dám quên ơn, dám “trứng khôn hơn vịt” coi thường sĩ khí một thời. Còn nhớ, về sau này khi Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, bị thực dân Pháp dìm trong bể máu, trước khi ra pháp trường, Nguyễn Thái Học đã cảm khái “Dẫu không thành công thì cũng thành nhân”. Thành nhân có thể hiểu theo hai nghĩa. Thành người, và thành ra những hạt nhân, nếu biết cách có thể thu được năng lượng vô cùng to lớn của nó, chữ “nhân” này cũng nên hiểu như những hạt giống tốt, đúng, đẹp để nếu biết gieo trồng nhất định sẽ có kết quả tử tế, tốt đẹp.
Vào thời ấy Đông Kinh Nghĩa thục như mở ra một cánh cửa lớn để Dân tộc nhìn vào, rồi đi vào một con đường lớn, làm một cuộc khởi nghiệp quốc gia để đưa đất nước, xã hội bước vào con đừơng giành Độc Lập, gây dựng một nền Dân quyền, phát triển một nền kinh tế, một nền giáo dục hoàn toàn mới. Bây giờ, chúng ta cổ vũ sự khởi nghệp của từng doanh nhân, doanh nghiệp. Nhưng cuộc vân động khởi nghiệp để có một Quốc gia Việt Nam kiểu mởi, trong đó “lập quyền dân” mới, lập một kiểu chính quyền mới, xây dựng một nền văn hóa giáo dục mới hoàn toàn Việt nam, phát triển môt nền kinh tế có công nông thương tín hiện đại… những nhà Đông Kinh Nghĩa thục thời đó cả thầy cả trò đã thực hiện một ước mơ lớn lao dường nào?.Thử hình dung tình hình nước ta thời đó, Đất nước không còn độc lập, Chủ quyền trong tay thực dân Pháp, Triều đình (chính quyền), nói như GS Vũ Ngọc Khánh là ngu ngơ hư hèn, xã hội thì dân còn mù chữ, kinh tế đời sống lạc hậu, giáo dục thì chuộng hư danh khoa cử (các cụ phải kêu lên: khoa cử nọc độc).
ĐKNT, không chỉ là ngôi trường theo nghĩa cụ thể, mà là một trường hoạt động, đấu tranh, để chấn hưng, “đổi mới” Đất nước và Dân tộc, chuẩn bị điều kiện “dân trí, dân quyền”, năng lực tự lập, tự cường về kinh tế, văn hóa… để giành lại độc lập, tự do cho nhân dân và Đất nước. ĐKNT, là một “cú hích” quyết liệt để khẳng định sự từ bỏ Trung cổ, Phong kiến chuyển sang Hiện đại và hòa nhập văn minh nhân loại. ĐKNT khẳng định độc lập gắn với dân trí, dân quyền, với nền kinh tế công nghiệp, hòa nhập thế giới. ĐKNT mở ra định hướng mới cho sự chấn hưng, phát triển đất nước, mà nhiều điều cốt lõi đến nay vẫn nguyên giá trị.
Cho nên với những việc làm, những hô hào cổ vũ, những sách báo mà ĐKNT chủ trương, đặc biệt là Văn minh tân học sách và Tân đính Luân lý giáo khoa thư … không thể nghĩ khác hơn, đó chính là một cương lĩnh to lớn và đẹp đẽ của một cụôc QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP đầu thế kỷ XX.
II. Những lý tưởng của cuộc quốc gia khởi nghiệp mà ĐKNT đề xướng
1. Giữ gìn nền độc lập của Dân của Nước
Đông Kinh Nghĩa thục nhân thức rõ cái họa “mất nước” và phải khôi phục lại nền Độc lập cho nước nhà. Họ quan niệm 4 yếu tố gắn với nền độc lập: Quốc gia - Dân tộc - Quốc dân - và Lòng Yêu nước, mà ngày nay vẫn tồn tại như những giá trị cập nhật.
Về lòng yêu nước, ĐKNT nhấn ba điều, vừa thể hiện tinh thần, vừa thể hiện ra hành động:
Một là, lo nghĩ về vận nước. ”Than ôi! Lo không gì hơn mất nước, buồn không gì buồn hơn thân bị nhục”.
Hai là, lo rửa nhục mất nước, thân nô lệ, xã hôi yếu hèn lạc hậu. Các cụ gọi là Tuyết quốc sỉ. Tuyết, là làm trắng lại như tuyết, rửa sạch nỗi nhục nô lệ, yếu hèn lạc hậu. Quốc sỉ là nỗi nhục của nước.
Ba là, hành động để hóa dân, cường quốc. Phải làm biến đổi, chuyển hóa quốc gia dân tộc. Làm cho Dân tiến hóa, cho dân văn hóa, biến đổi chất lượng con người, chất lượng xã hội. Để giành lại và giữ gìn độc lập thì nước phải mạnh và dân có văn hóa.
Vào cuối thế kỷ XX, khi đã thấm đòn “bao cấp”, (thật ra bao cấp chỉ là một phương thức hành động có tính chất nhà nước và xã hội. Bao cấp đã có từ xa xưa trong thời nguyên thủy, thời chế độ chiếm nô, thời “feodal”(chữ phong kiến không diễn tả được!) trong chủ nghĩa tư bản và xhcn. Để tránh sự kết án XHCN nên các nhà “tư tưởng” mác xít ở Việt Nam dùng làm hình nhân thế mạng cho cnxh). Khẩu hiệu “Dân giàu, nước mạnh”được phổ biến. Khẩu hiệu này kém một bậc so với khẩu hiệu của Nho gia Việt Nam, là “Quốc phú Dân cường”, nghĩa là Dân mạnh, Nước giàu. Dân mạnh, là mạnh vì gạo, bạo vì tiền, mà còn là mạnh về học vấn, văn hóa trí tuệ, chữ nghĩa, nhân cách con người! Tuy nhiên mấy khẩu hiệu ấy chủ yếu nói về các kết quả đạt được. Trong khẩu hiệu của ĐKNT ta thấy nó là phương thức kép, vừa nói cái kết quả phải đạt được, mà còn nói tới cả cái quá trình hành động để tạo ra kết quả ấy.
Hóa dân, cường quốc, là triết lý kép lại biện chứng, hai nội dung ấy hỗ trợ cho nhau, có tiến hóa, có văn hóa (cái kết quả tinh thần mà không chỉ đạt tới bằng vật chất, nên có vật chất mà không có tiến hóa và văn hóa thì cũng chỉ là “vật” chứ chưa có thể thành người). Cho nên ĐKNT quan niệm rất rõ: “Nước mạnh hay yếu là do Dân. Dân mạnh thì nước yếu có thể chuyển thành mạnh, mạnh lâu dài”.
Phải đổi mới tư cách của người dân. Lần đầu tiên, ĐKNT đưa ra quan niệm Quốc dân, là một quan niệm tiên phong, đi trước thời đại cả trăm năm. Quốc dân chính là cái xương sống, cái lõi của quốc gia dân tộc. Quốc dân phải là những người “rõ ý thức ái quốc, ái quần, bồi dưỡng tài năng tự trị, tự lập”. Và,”Muốn nước được bình trị, mà mong ở vua hiền, tướng giỏi thì không bằng mong ở dân mạnh”.
Ngày nay chúng ta đã ghi được vào Hiến pháp một số điều cơ bản về nhân cách và quyền của Quốc dân (công dân). Nhưng để đạt cho được cái minh triết trong hai chữ Quốc dân mà ĐKNT mong ước thì còn phải sửa đổi và làm nhiều hơn nữa. Quan niêm dân mạnh của ĐKNT bao gồm: mạnh về trí tuệ, học vấn, năng lực khoa học kỹ thuật, công nghệ và thực nghiệp, mạnh về phẩm chất đạo đức, tinh thần yêu nước,bác ái, tiến thủ, cạnh tranh, biết vị trí của mình trong xã hội, mạnh về ý thức tự quyền, không nhất thiết trông chờ ở chính phủ. Bởi vì “quan cũng chỉ là người dân nắm chính quyền mà thôi”. Mà thiết thực nhất là “mạnh”: vì có sản nghiệp và biết làm chủ sản nghiệp.
Triết lý “Hóa dân, Cường quốc” của ĐKNT đặt ra một loạt vấn đề có tính hệ thống: xây dựng một chính thể dân chủ của Việt Nam, do Việt Nam, vì Việt Nam; một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền kinh tế biết coi trọng và phát triển cái vốn (tư bản), coi trọng công, nông, thương, tín, coi trọng luật pháp để biết bảo vệ tài sản, kể cả tài sản trí tuệ. Hơn nữa, biết coi trọng và phát huy mọi phương thức, phương tiện hiện dại để phát triển và quản lý kinh tế.
Hãy làm cho nước Nam của ta càng văn minh, kế ấy là kế của nước, cũng tức là kế của bản thân mình”. Bởi vì ”Không thể như trăm năm trước nữa,cứ đóng cửa mà trị dân, dù không tiến bộ cũng có thể ngồi mà giữ nước”. Vì thế cái định hướng Độc lập gắn với Dân chủ, Dân quyền rõ ràng là một định hướng minh triết.
2. Thực hiện “Chủ nghĩa mở trí khôn cho Dân”
Trong Văn minh tân học sách, ĐKNT khẳng định như vậy. Mở rí khôn cho Dân. Tư tưởng ấy khác xa cái lối suy tính”tuyên huấn” cho dân biết tuân phục, nghe theo. Làm cho dân có trí khôn để tự mình có hiểu biết quyết định lựa chọn. Trí khôn mà ĐKNT quan niệm, vừa là những hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, những hiểu biết về con người,về dất nước, về thế giới, cổ vũ thực học, thực nghiệp. Hơn nữa ĐKNT còn nhấn mạnh về một nhân cách quốc dân mới. Lần đầu tiên,trong lịch sử văn hóa Việt Nam, đã hình thành một quan niệm mới về người dân như một chủ thể của quốc gia dân tộc, một chủ thể của xã hội, chủ thể của chính quyền nhà nước.
Chủ nghĩa mở trí khôn cho dân, đánh dấu một sự phân biệt về văn hóa, tiến bộ, nhân bản của giáo dục, mà cho đến nay vẫn rất cần để suy ngẫm. Trong thời hiện đại, chúng ta từng chứng kiến những nền giáo dục nhằm đào tạo những “con người công cụ”, chỉ cần biết tuân phục, chỉ cần có được một niềm tin giáo điều! Khác với giáo dục đào tạo “con người công cụ”, Tư tưởng mở trí khôn cho dân đã đề cập đến một triết lý giáo dục dân tộc, nhân bản, và tiến bộ. ĐKNT chủ
trương giáo dục nên những con người “quốc dân”, mạnh mẽ (Dân cường), biết tự chủ, tự lập tự cường.
Đẻ mở trí khôn cho dân, ĐKNT chủ trương Làm cho cả nướcvăn minh thì phải có giáo dục phổ cập. Giáo dục phổ cập là cả nước không một người nào không được đi học!Hưởng ứng chủ trương này khắp nhiều tỉnh thành quanh Hà Nội, cho đến Nghệ An, Quảng Nam Quảng Ngãi, cả một số nơi ở Lục tỉnh Nam Kỳ cũng mở những trường “Nghĩa thục”.
Với tư cách là một ngôi trường, một cơ sở giáo dục, ĐKNT là hình mẫu tinh khôi đẹp đẽ về một nhà trường do dân, của dân, vì dân. Là một ngôi trường tư đa cấp, đa ngành, một ngôi trường kiểu mới đầu tiên của dân tộc trong thời hiện đại. Nó hơn hẳn và khác hẳn những ngôi trường của chúng ta sau này, kể cả những trường đại học. ĐKNT đã xác định và để lại một di sản quý giá, có tác dụng đặt nền móng cho một triết lý giáo dục Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam thời hiện đại, giáo dục Việt Nam dã có hẳn một triết lý giáo dục với những phạm trù khá hệ thống và hoàn chỉnh.
Về mục tiêu, ĐKNT xác định:
. Giáo dục để mở trí khôn cho dân;
. Giáo dục để đào tạo ra con người quốc dân mạnh. Bởi vì nước yếu hay mạnh là do dân. Dân mạnh thì nước yếu có thể chuyển thành mạnh và mạnh lâu dài.
. Theo lý chung thì học là để có ích cho bản thân mình và cho quốc gia. Có 3 điều, Một là học vệ sinh tức là học phương pháp làm cho thân thể cường tráng, không bệnh tật. Hai là học trị sinh, tức là học phương pháp làm cho có thức ăn, đồ mặc, và quản lý sản nghiệp. Ba là, học làm người, làm quốc dân, tức là học cách tự kiềm chế, và cách đối xử với quốc gia xã hội. Tôi coi đó là thiên tài Việt, bởi một trăm năm sau Jacques Delors dẫu có đưa ra bốn cột trụ của giáo dục thì cũng đến thế là cùng!
ĐKNT mở đầu cho xu hướng cải cách phương thức và phương pháp Dạy và Học , đả phá lối học vì khoa cử hư danh, học để làm quan, lên án khoa cử nọc độc, khoa cử thối nát. Đáng tiếc, vì nhiều nguyên nhân chính trị, văn hóa và xã hội, trong chế độ hiện nay lại đang duy trì lối dạy và học chạy theo khoa cử, bằng cấp, thành tích giả và dối trá.
ĐKNT cổ vũ tinh thần giáo dục thực nghiệp, tinh thần thực học, làm sao cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm.
Diều đặc biệt lý thú là ĐKNT phần lớn là những nhà nho có tư tưởng tiến bộ đầu thế kỷ XX, nhưng nhiều tư tưởng của họ tiến bộ lạ kỳ. Họ chủ trương dường như là tinh thần “Tự do học thuật”, họ đề cao phương pháp dạy và học văn minh tiên tiến, dân chủ. Cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà, không cần thể cách gì hết. Ngẫm ra, nền giáo dục của chúng ta hôm nay lạc hậu mọi bề. Sự khác nhau là một bên có triết lý Mở trí khôn cho Dân. Còn một bên vì sợ dân khôn thì khó trị và khó tiếm quyền, để cho dân ngu “dân dại” đặng dễ tham nhũng.
ĐKNT còn để lại một giá trị minh triết về một phương thức ứng xử văn hóa của dân tộc:
Á Âu chung lại một lò,
Đúc nên nhân cách mới cho là NGƯỜI.
Nghìn năm trước, chúng ta từng rơi vào cái bẫy “hủ nho”khiến dân tộc không kịp canh tân cho kịp thời nên đã sa vào vòng đô hộ của thực dân. Có ngót cả trăm năm, chúng ta dán đủ thứ nhãn lên trán, đến nỗi một nhà ĐKNT là cụ Nguyễn Hữu Cầu từng cảnh báo “Ngày nay, chúng ta đã quá tây, quá tàu, chúng ta là lũ giáo điều ba rọi, lũ xã hội chủ nghĩa cậy quyền” (*). ĐKNT chủ trương Việt Nam phải hòa nhập với thế giới. Chữ “Đức” là một chữ rất khoa học, rất triết lý, nó nói về việc xây dựng một bản lĩnh Việt Nam mới, một bản ngã Việt Nam mới. Nền văn hóa của Việt Nam thế kỷ XXI cũng đang đứng trước vấn đề “Đức” hay “dán nhãn”.
Triết lý giáo dục của ĐKNT, còn là đề cao tinh thần “Nghĩa thục”. Một kiểu nhà trường không vụ lợi, đề cao cái nghĩa công ích về sự mở mang dân trí. Nhà trường đề cao sự liên thông kết nối với xã hội, thầy và trò đắm mình trong thời sự của đất nước và dân tộc.
Nhà trường nêu cao tinh thần tự chủ, tự lập, soạn lấy chương trình, sách giáo khoa, mời gọi tất cả những ai có tài, có tình, có tâm huyết tự nguyện tham gia xây dựng giáo dục.
ĐKNT để lại một triết lý về nhân cách của kẻ sĩ, giới trí thức. Là lớp trí thức đầu tiên trong thời hiện đại, các nhà ĐKNT đã sáng tạo ra nhiều giá trị văn hóa cho dân tộc, để lại nhiều di sản quý báu, hữu ích cho những thế hệ nối tiếp. Nhiều dự báo của các nhà ĐKNT càng chứng nghiệm càng thấy đúng đắn, hợp lý và cập nhật. Các Cụ xứng đáng như lời Nguyễn Trãi “Trí giả quan chư sự ư vị hình“, Nghĩa là kẻ trí xem xét sự vật lúc nó chưa định hình.
Là trí thức cũng có nghìa là chiến sĩ đấu tranh cho lẽ “Chân-Thiện-Mỹ” của cuộc đời, của dân tộc.
4.Chấn hưng công nghệ.
Đông Kinh Nghĩa thục chủ trương xây dựng một nền kinh tế tự chủ tự lập, tự cường, đúng nghĩa như tên gọi của nó. Kinh tế đồng nghĩa với kinh bang tế thế, trong minh triết của phương Đông. Nó không chỉ có nghĩa là việc làm ăn tiết kiệm (economy) như phương Tây quan niệm. Nền kinh tế mới có công nông thương tín phát triển theo quy luật phổ biến với những phương thức hiên đại.
Công nghệ rất quan hệ với quốc gia. Ta không hơn người thì người sẽ bỏ rơi ta. Tiền của phung phí ra ngoài nước, không còn gì tệ hại hơn thế nữa.
Cạnh tranh để tồn tại. Chỉ có thể tin cậy vào sự cạnh tranh của dân ta mà thôi.
Triết lý về sở hữu và quyền sở hữu của ĐKNT rất tiến bộ, nó là minh triết vì nó là quy luật phổ biến, nó đúng ở hơn 100 năm trước mà cập nhật cho đến bây
giờ.Sau già nửa thế kỷ say sưa và võ đoán với một lý thuyết cộng sản quái đản, người ta buộc phải nói lại về tư hữu!
Thế giới càng văn minh, của công càng ít, của riêng càng nhiều.
Sản nghiệp nên là của riêng, không nên là của công.
Nước càng văn minh thì pháp luật bảo vệ sản nghiệp càng tường tận.
Giá như người giàu bỏ vốn ra phát triển công nghiệp, thì dân ta sẽ cảm kích, xưng tụng, sao lại sinh lòng đố kỵ.
5. Chủ nghĩa Dân bản và triết lý Dân quyền
Có thể lấy ngay ý tứ và chữ nghĩa của ĐKNT để lại mà đặt tên cho một chủ nghĩa chính trị, một đạo trị nước mà ĐKNT đề xướng là chủ nghĩa Dân bản và triết lý Dân quyền. Lần đầu tiên ở nước ta đã ra đời một triết lý trị đạo mới, nó kết hợp những tư tưởng dân bản (Quốc dĩ dân vi bản-Nước lấy dân làm gốc) cổ truyền với những tư tưởng dân quyền hiện đại. Một quan niệm Chính phủ chỉ là người trong quốc dân nắm chính quyền. Quan đáng tôn đáng trọng, nhưng chỉ là một người dân nắm chính quyền… Phải nghĩ rằng dân là gốc của nước, không thể bắt dân theo ý muốn của mình, chẳng phải chỉ không bạo ngược mà thôi,… Phàm những quyền lợi mà dân đáng được hưởng thì phải theo chừng mực mà cho dân hưởng… Quyền chính một nước không thể để một người nắm hết… hơn cả trăm năm sau vẫn còn nguyên giá trị!
Những tư tưởng của một nền dân quyền như thế mới mẻ biết bao nhiêu trong cả trăm năm trước, mà ngày nay vẫn còn cập nhật với chúng ta. Từ ngàn năm trước, chúng ta chỉ có những tư tưởng thân dân, coi Dân Là Quý (Dân vi quý), coi dân là gốc nước… Nhưng chưa bao giờ dân thoát khỏi thân phận “thần dân”, thứ dân, thảo dân, dẫu có quý, nhưng không có quyền. Một trăm năm nay vấn đề dân quyền luôn luôn là vấn đề mới mẻ, thời sự. Quyền của dân luôn được “đề cao”. Nhưng luôn bị chiếm đoạt.
Có thể nói thế kỷ trước, tk XX, là thế kỷ của Độc lập và Thống nhất, thì thế kỷ này, tk XXI, phải là thế kỷ của Dân quyền. Và ý nghĩa của chủ nghĩa Dân bản và triết lý Dân quyền của ĐKNT vẫn luôn có ý nghĩa như lý tưởng của thời đại.
Làm cho Dân vừa quyền vừa quý là lý tưởng của ĐKNT.
III. Đứng trên vai những người khổng lồ, khởi nghiệp mới vào thế kỷ XXI
Sau ĐKNT Việt Nam chứng kiến hai cuộc quốc gia khởi nghiệp lớn.
1. Một là cuộc Quốc gia khởi nghiệp theo mô hình xô-viết, một đảng - nhà nước toàn trị, dân quyền, nhân quyền là hình thức. Thực quyền nằm trong tay lãnh đạo của đảng chứ cũng không phải là toàn đảng. Nền kinh tế gọi là “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Sau đó thất bại nên phải điều chỉnh đôi chút, có tí tư bản, có tí thị trường, thực chất vẫn là đảng lãnh đạo, nắm lấy công hữu, duy trì công hữu với cách nói kinh tế nhà nước, với lý thuyết chủ nghĩa tư bản nhà nước. Vì tư bản nên mời gọi được đầu tư nước ngoài và có GDP tăng trưởng. Vì nhà nước nên kiên trì cnxh, nghĩa là kiên trì tham nhũng, cậy quyền. Một nền kinh tế quái đản đẩy tới tha hóa xã hội, phân hóa giàu nghèo kịch liệt, giết hại môi trường, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của, lãng phí tàì nguyên, nợ công và nợ xấu đến độ nguy hiểm!
Một chính quyền được rêu rao là của dân do dân vì dân, nhưng thực chất dân chỉ có hư quyền. Cả ngót trăm năm những vấn đề thế nào là một chính quyền có chính danh, chính thống, chính nghĩa vẫn là vấn đề tranh luận chưa ngã ngũ. Cậy quyền và tham nhũng biết rồi, nói mãi cũng không có cách chi để đẩy lùi!
Một nền văn hóa giáo dục tiến thụt lùi, không có khả năng cải cách. Văn hóa suy đồi, nhân cách thoái hóa, những giá trị nhân văn cổ truyền mai một. Mối quan hệ người và người trong xã hội, chưa bao giờ thấy những biểu hiện ghê tởm đau lòng như hiện thực.
Cái vỏ vật chất được tạo ra, bề ngoài hào nhoáng, sang trọng, nhưng nó là một thứ vỏ bọc của ung nhọt nguy hiểm, xấu xa.
Có thể nói cuộc quốc gia khởi nghiệp theo mô hình xã hội chủ nghĩa rồi điều chỉnh định hướng xã hội chủ nghĩa đã không giải quyết rốt ráo những mục tiêu quốc gia là: Độc lập, Thống nhất, một nền chính trị dân chủ dân quyền, một nền kinh tế phát triển bình thường như thiên hạ đời nay, một nền văn hóa giáo dục cho con người, vì con người. Có thể nói nó có những thành “công” (có một chính quyền, có một nền kinh tế, có một nền văn hóa, khoa học, giáo dục hiện thực) nhưng không thành nhân!
Hãy đem bấy nhiêu tài sản do Dân Nước tạo ra hôm nay làm một cuộc Khởi Nghiệp Mới - Cuộc Quốc gia Khởi nghiệp của thế kỷ XXI. Hãy phấn đấu cho một nền DÂN QUYỀN vẫn chưa bao giờ hiện hữu ở nước ta!
2. Có một cuộc Quốc gia Khởi nghiệp đi vào Cộng hòa, nửa đường đứt gánh, ở Miền Nam Việt Nam. Đáng tiếc là chúng ta đã không biết tổng kết, lưu giữ cho dân tộc những di sản hữu ích. Khi nghĩ đến thành công hay thất bại không thể không kể đến những tích cực cũng như những tiêu cực đã xảy ra. Sự thất bại nào cũng có nguyên nhân nội tại. Tuy nhiên lich sử đã xảy ra như một số phận dân tộc. Một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn đã xảy ra, vừa có chút sắc thái chống thực dân biết lợi dụng, vừa mang tính chất một cuộc chiến ủy nhiệm mà chính Việt Nam đã tự ,và bị đẩy rơi vào. Có phải là một may mắn không khi Miền Nam tự và bị buộc phải buông súng?
Trong cuộc Quốc gia Khởi nghiệp này Miền Nam đã cống hiến những gì cho lịch sử Việt Nam thời hiện đại, đã có những bài học tích cực nào và bao nhiêu những tiêu cực. Việt Nam là một dân tộc của sông nước hải hồ, nó từng có một ngụ ngôn của văn minh đánh bắt.Phàm con cá, con thú sổng lưới là con cá to! Dẫu sao Nó cũng đã để lại những bài học đắt giá!
Cái gia sản mà chúng ta đang có cả cái hay, cái dở đều cần cho một CUỘC QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP MỚI TRONG THẾ KỶ XXI này./.
Ô Đồng Lầm tháng Sáu 2017 rất nóng,
N.K.M.
Ghi chú:
Những dòng thơ, những dòng văn trong ngoặc và những dòng văn không có ngoặc nhưng đen đậm là lời văn của ĐKNT
*Bài “Une grande figure de lettrée”. Le Peuple số 8-1946.
Tác giả gửi BVN

'VĂN MINH TÂN HỌC SÁCH'-BƯỚC CHUYỂN CÓ Ý THỨC SANG NỀN VĂN MINH MỚI

PHAN KHIÊM ÍCH/ BVN 10-7-2017


"Văn minh tân học sách" (VMTHS) là tác phẩm có ý nghĩa quan trọng đặc biệt của Đông Kinh Nghĩa thục (ĐKNT). PGS.TS. Chương Thâu gọi đây là "một tuyên ngôn, một cương lĩnh xây dựng nền giáo dục và nền học thuật mới, chìa khóa của tiến bộ quốc gia và dân tộc". Nhà giáo Vũ Thế Khôi cho rằng VMTHS là "bản cương lĩnh cách mạng thực sự, đề xuất một chiến lược đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, phục vụ mục đích canh tân đất nước".
VMTHS (Kế sách xây dựng nền học mới để đạt đến văn minh) là tác phẩm đầu tiên tập trung bàn luận về văn minh, đặc điểm của văn minh Việt Nam so sánh với văn minh phương Tây, nêu lên những nguyên nhân làm cho nước ta chậm tiến, đồng thời đề ra một loạt biện pháp cụ thể nhằm đưa nước ta tiến kịp các nước phương Tây. Tác phẩm bằng chữ Hán này ra đời năm 1904 trước khi xuất hiện phong trào ĐKNT. Ba năm sau, đầu năm 1907 VMTHS được in lại làm tài liệu sách giáo khoa của ĐKNT. Mãi đến năm 1961 Đặng Thai Mai mới dịch ra quốc ngữ. Cho đến nay, vẫn chưa rõ ai là tác giả của VMTHS. Theo nhà giáo Vũ Thế Khôi, tác giả của VMTHS có thể là Ngô Đức Kế, về sau là thành viên Ban Tu thư - Dịch thuật của ĐKNT.
Tập VMTHS đặt ra câu hỏi: Văn minh là gì và thái độ của chúng ta đối với văn minh phương Tây ra sao? Đây là câu hỏi lớn của Việt Nam ở thời điểm những năm cuối cùng của thế kỷ XIX và những năm đầu tiên của thế kỷ XX.
Năm 1896 Pháp dập tắt được cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, chấm dứt phong trào Cần Vương (1885-1896). Phong trào này bắt đầu từ năm 1885, khi vua Hàm Nghi mưu việc kháng Pháp không thành, phải chạy ra Tân Sở (Quảng Trị) lẩn tránh. Ngày 13/7/1885 Tôn Thất Thuyết, một đại thần nhà Nguyễn thuộc phe chủ chiến đã nhân danh Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi văn thân, sĩ phu, nhân dân cả nước đứng lên vì Vua mà chống Pháp. Hưởng ứng phong trào "Chiếu Cần Vương" hàng chục cuộc khởi nghĩa vũ trang đã nổ ra trên khắp ba miền của đất nước. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng ở Hương Khê, Hà Tĩnh.
Cuối năm 1888 vua Hàm Nghi rơi vào tay giặc. Vua cự tuyệt mọi sự dụ dỗ của Pháp, chịu đi đày ở Algérie. Ngày 28/12/1895 trong một cuộc giao tranh ác liệt, Phan Đình Phùng bị thương nặng và hy sinh. Quá trình bình định, dẹp yên các cuộc khởi nghĩa yêu nước ở VIệt Nam được xem như đã hoàn thành. Chỉ còn phong trào khởi nghĩa ở Yên Thế của Hoàng Hoa Thám là đang hoạt động, nhưng ở diện hẹp và bị dập tắt hoàn toàn vào năm 1913, khi ông bị hạ sát (10/2/1913).
Kết thúc quá trình bình định Việt Nam cũng là lúc bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất tại Đông Dương(1897-1914).
Năm 1897 Pháp cử Paul Doumer (1857-1932) làm Toàn quyền Đông Dương (1897-1902) để xây dựng bộ máy cai trị và tiến hành khai thác thuộc địa trên quy mô lớn. Dưới thời Toàn quyền Paul Doumer chính sách thuộc địa của Pháp tại Đông Dương chuyển sang một bước ngoặt mới. Ông được đánh giá là "một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không vụ lợi". Ông đã 3 lần làm Bộ trưởng Bộ Tài chính của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện và Tổng thống thứ 14 nước Cộng hòa Pháp (nhậm chức ngày 13/6/1931, bị ám sát ngày 06/5/1932 bởi tên Paul Gorgulov một kẻ lưu vong người Nga bị rối loạn tâm thần). Ông tốt nghiệp Cử nhân Toán, sau đó lấy thêm bằng Luật, rồi trở thành chuyên gia tài chính. Đầu năm 1897 ông đang là Bộ trưởng Bộ Tài chính thì Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau qua đời vì bệnh kiết lị. Chính phủ Pháp cử ông sang kế nhiệm. Khi đó ông 40 tuổi, để lại 5 người con đang học đại học tại Paris. Sau này trong Đại chiến thế giới lần thứ Nhất, bốn trong số năm người con của ông đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ nước Pháp.
Là một chính trị gia có nhãn quan chiến lược, một nhà quản lý tài năng giàu kinh nghiệm, Toàn quyền Doumer mang lại cho Đông Dương nhiều thay đổi sâu sắc. Rất nhiều công trình quý giá được thiết lập tại Việt Nam. Tiêu biểu là cầu Long Biên và Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp.
Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng do nhà thầu Pháp, Daydé & Pillé thiết kế và xây dựng giống với kiểu dáng cầu Tolblac ở quận 13 Paris. Dự án xây cầu được Toàn quyền Doumer thông qua ngày 04/6/1897, bốn tháng sau khi ông sang nhậm chức. Ngày 12/9/1898 cầu được khởi công, dự trù 5 năm, nhưng sau 3 năm 9 tháng đã hoàn thành, huy động hơn 3000 công nhân bản xứ và 40 giám đốc kỹ sư, chuyên gia, đốc công người Pháp điều hành, chi phí lên tới 6.200.000 phơ-răng (franc). Đây là một trong những cây cầu lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Nó được đặt tên là cầu Doumer ghi đậm dấu ấn của ông.
Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (École Francaise d'Extrême Orient - EFEO). Ngày 20/01/1900, Toàn quyền Paul Doumer ký nghị định thành lập Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp trên cơ sở "Phái đoàn Khảo cổ Thường trực tại Đông Dương" (Mission Archéologique Permanente en Indochine) đã ra đời theo Nghị định của ông ký ngày 15/12/1898. Lúc đầu trụ sở cơ quan đặt tại Sài Gòn, ít lâu sau chuyển ra Hà Nội. Hơn một năm sau, ngày 26/2/1901 Tổng thống Pháp Émile Loubet ký sắc lệnh chính thức công nhận việc thành lập EFEO. Theo đó Học viện trở thành một thiết chế của Nhà nước Pháp, là cơ quan nghiên cứu khoa học về lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ, dân tộc học, địa lý và địa lý nhân văn ở phương Đông, đảm bảo việc bảo tồn và gìn giữ các công trình lịch sử ở Đông Dương. Học viện còn xây dựng một bảo tàng nhằm mục đích lưu giữ và trưng bày hiện vật lịch sử. Lúc đầu bảo tàng này mang tên Bảo tàng Học viện Viễn Đông Bác cổ (Bảo tàng EFEO), về sau đổi tên thành Bảo tàng Louis Finot. Sau hòa bình lập lại đổi thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Dưới thời Paul Doumer hệ thống hạ tầng cơ sở tại Đông Dương được kiến thiết rất nhiều. Ông đích thân chỉ đạo quy hoạch, thiết kế và thường xuyên đôn đốc xây dựng tuyến đường sắt Bắc Nam, một công trình đầy khó khăn, tốn kém, kéo dài từ năm 1899 đến năm 1937 mới hoàn thành. Ông cho mở mang cảng Hải Phòng làm đầu cuối của tuyến đường sắt nối vùng cao Tây Nam Trung Quốc với duyên hải Bắc Bộ Việt Nam.
Ngoài cầu Long Biên, ông còn cho xây cầu Tràng Tiền ở Huế và cầu Bình Lợi dành cho xe lửa ở Sài Gòn. Ông cho lập một số nhà máy điện. Dưới thời ông, Hà Nội trở thành thành phố đầu tiên ở châu Á phố xá được chiếu sáng bằng ánh điện.
Năm 1901 Doumer đã lên Đà Lạt rồi quyết định chọn nơi đây là đô thị nghỉ dưỡng cho người Pháp tại Đông Dương và tài trợ cho Bác sĩ Yersin xúc tiến việc thành lập thành phố Đà Lạt.
Một điều rất có ý nghĩa là dưới thời Doumer, Nhà hát Lớn Hà Nội được khởi công xây dựng. Vào năm 1899, Hội đồng thành phố Hà Nội dưới sự chủ tọa của Công sứ Richard đã đề nghị lên Toàn quyền Đông Dương xin xây dựng một nhà hát cho thành phố. Dự án Nhà hát thành phố ở Hà Nội gây nhiều tranh cãi ở Pháp, mãi đến ngày 07/6/1901 mới được khởi công. Nó được xây dựng trên khu vực đầm lầy thuộc hai làng Thạch Tân và Tây Luông nên rất khó khăn về san lấp mặt bằng. Hai Kiến trúc sư người Pháp Broger và V. Harley thiết kế, họa theo hình dáng nhà hát Opéra Garnier nổi tiếng ở Paris. Nhà hát xây dựng trong 10 năm (1901- 1911) với kinh phí 2 triệu phơ-răng. "Nhà hát lớn Hà Nội không chỉ có giá trị đơn thuần về kiến trúc. Rộng hơn, từ đầu thế kỷ XX, đó cũng là nơi chứng kiến những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam với văn hóa, nghệ thuật phương Tây, cụ thể là âm nhạc và sân khấu".
Đánh giá như thế nào về những việc làm trên đây của Toàn quyền Paul Doumer, người đứng đầu chính quyền thực dân, tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất? Có thể nói gì đến văn hóa, văn minh ở đây được không, hay chỉ đơn thuần là khai thác và bóc lột thuộc địa?
Xin hãy lắng nghe câu trả lời của Paul Doumer trong Hồi ký "Xứ Đông Dương" (Viết năm 1903, Alpha Books dịch, NXB Thế giới, 2016):
"Ngay từ đầu tôi đã cho rằng sự hiện diện của nước Cộng hòa Pháp tại Đông Dương không chỉ vì sứ mệnh tổ chức và quản lý thuộc địa, mà nước Pháp còn phải hành động trong khuôn khổ những phương tiện có trong tay để được chính sự phát triển của thuộc địa truyền thêm sức mạnh, từ đó tăng cường danh tiếng, quyền lực và hành động của nước Pháp tại Viễn Đông. Sứ mệnh này không giây phút nào bị sao nhãng trong những năm tôi tại nhiệm ở Đông Dương. Nhân lực, vật lực, tiền bạc của Đông Dương đã được sử dụng không do dự ở bất cứ nơi nào mà lợi ích quốc gia cần đến”.
Chỉ trong một thời gian ngắn Paul Doumer đã làm cho Đông Dương từ chỗ là một thuộc địa nghèo nàn, bị chia cắt, phải định kỳ chìa tay xin chính quốc giúp đỡ, thành nơi bắt đầu phục vụ nước Pháp cả về tiền bạc lẫn danh tiếng. Paul Doumer viết tiếp:
"Kể từ khi được thiết lập một cơ cấu tổ chức mạnh mẽ vào năm 1898, Đông Dương đã có sự phát triển hữu ích về tài chính và kinh tế, cũng như về đối ngoại qua những hành động mà xứ sở này được phép thực hiện, cũng như bằng cả danh tiếng mà xứ sở thuộc địa này đã đạt được và nhờ đó có lợi cho ảnh hưởng của nước Pháp. Với ngân sách luôn thặng dư, có các quỹ dự trữ đáng kể, và dòng tín dụng mạnh có thể khiến nhiều quốc gia châu Âu phải ghen tỵ, xứ sở này đã chứng kiến giá trị hoạt động thương mại của mình tăng hơn gấp đôi trong 5 năm tới mức 500 triệu phơ-răng, bên cạnh đó còn có thể tự cung cấp các nguồn lực và thi công những công trình lớn mà ít có nơi nào ở châu Á sánh được – xứ sở này đã nhanh chóng giành được sự vị nể của các láng giềng”.
Đánh giá tổng quát: "Như vậy có thể nói rằng trong năm năm vừa qua, chính quyền trung ương tại Đông Dương đã hoàn thành trọn vẹn bổn phận cai quản một thuộc địa quan trọng". Ông ta vui mừng tuyên bố:
"Trong những hoàn cảnh này, Đông Dương đã chứng tỏ mình đã sẵn sàng đảm nhiệm vai trò thuộc về Đông Dương, vai trò tiền đồn của nước Pháp ở phương Đông".
Có một điều Paul Doumer không nói, đó là người dân ở Đông Dương đã phải vắt kiệt sức người, sức của, chịu sưu cao thuế nặng, bị bắt bớ tù đày để được vinh dự đóng "vai trò tiền đồn" canh giữ cho các ông chủ Pháp. Nhà cai quản thuộc địa khôn ngoan này tính toán lạnh lùng về ngân sách: các năm 1899, 1900 và 1901 Đông Dương đã "chi tiêu bên ngoài biên giới của mình (?) từ một đến hai triệu phơ-răng để phục vụ cho ảnh hưởng của nước Pháp”. Trong ngân sách năm 1902, ngân sách cuối cùng mà Doumer lập, khoản chi tiêu kỳ quái này được nâng lên thành hai triệu rưỡi phơ-răng!
Mặc cho Doumer tính toán, các cụ nhà ta có cách tính khác. Dẫu sao cầu Long Biên, Nhà hát Lớn Hà Nội, cầu Tràng Tiền, thành phố Đà Lạt, đường sắt Bắc Nam,... cũng là biểu tượng của nền văn hóa văn minh Pháp. Hơn nữa, đó còn là mồ hôi nước mắt, đôi khi cả máu mà cha ông ta đã đổ xuống để xây lên. Lựa chọn nó để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu là hợp lý và cần thiết. Như vậy, những công trình văn hóa, văn minh Pháp đã trở thành những nhân tố thúc đẩy sự hình thành nền văn minh mới ở Việt Nam.
VMTHS đặt câu hỏi: Văn minh là gì? Và trả lời văn minh với dân trí là một, "hai đàng cùng làm nhân quả lẫn nhau". Trên địa cầu này, nước này còn là dã man, nước kia là bán khai, nước nọ thì văn minh. Ấy là tùy theo chỗ dân trí từng nước thông hay tắc, nhiều hay ít, chóng hay chậm, mà khác nhau. Muốn tiến đến văn minh phải "nhờ có một chủ nghĩa lớn. Ấy là chủ nghĩa mở trí khôn cho nhân dân."Tôi hiểu “chủ nghĩa” ở đây chính là một hệ thống nhất quán những quan điểm, những nguyên tắc chỉ đạo cho hành động.
VMTHS khẳng định: "Nước Đại Nam ta vốn là một nước lớn văn minh". Rất tiếc rằng ngày nay ta không giữ được truyền thống tốt đẹp đó. Sự sa sút về trí tuệ và nhân cách là đáng sợ nhất. Nhiều người ngày ngày dốc cả trí khôn vào những thứ vô dụng, ham mê cờ bạc, tướng số, sống say chết mộng. Những hạng cao hơn, đỗ đạt một tý thì khư khư ngồi giữ những thuyết hủ lậu, khinh thường hết thảy học mới văn minh, củng cố trong mình căn tính nô lệ. Đấy là đặc tính của văn minh nước ta hiện nay, cái đặc tính luôn luôn tĩnh. Trong khi văn minh châu Âu có đặc tính luôn luôn động. Đặt hai nền văn minh đó trong mối tương phản sẽ thấy rõ cái dở của ta và cái hay của người. Đây là bước đi đầu tiên để mở trí khôn cho nhân dân. Có nhận rõ cái dở, cái dốt của mình thì mới chịu khó học hỏi để sáng mắt ra, đỡ ngu muội, lú lẫn đi. Còn nếu lúc nào cũng hợm hĩnh rằng mình giỏi nhất thế giới, thiên hạ chỉ việc “mang giấy bút đến Hà Nội mà học” thì ôi thôi bệnh vĩ cuồng đã hết thuốc chữa!
VMTHS làm rõ ta khác người, trái với người ở 5 điểm: Tư tưởng; Giáo dục; Kinh tế; Tính tình, và Phong tục.
Đời sống tư tưởng ở các nước châu Âu rất phong phú, sôi động. Nào là diễn thuyết, tranh luận, tự do bàn bạc, cốt tìm ra điều hay để làm, điều dở để tránh. Trong khi đó làm văn sách ở ta chỉ sợ phạm húy, dâng thư cho người trên chỉ e phạm tội vượt phận nói leo, viết lách chỉ thấy sách Tàu, trích lời cổ nhân, văn hoa lòe loẹt, hoàn toàn không có gì mở mang trí khôn cho dân cả. VMTHS giới thiệu hai nhà tư tưởng lớn, cùng với “đại trước tác” của họ. Đó là Mạnh-đức-tư-cưu với Dân quyền thiên(Montesquieu với De L’esprit des Lois 1748, ngày nay thường dịch là Bàn về tinh thần pháp luật) và Lư-thoa với Dân ước luận(J.J.Rousseau với Du Contrat social 1762, ngày nay thường dịch là Khế ước xã hội). Hai tác phẩm này đã phác họa những nét cơ bản về xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền, trong đó ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau và tương tác lẫn nhau để đảm bảo công bằng xã hội, chống sự lạm quyền. Hai tác phẩm này trở thành một bộ đôi khai sáng về quan điểm pháp lý, mở đường cho tư duy xã hội Pháp đi tới cuộc Đại cách mạng 1789.
Cha ông chúng ta rất tinh tường khi chọn hai tác phẩm này để mở mang trí khôn cho con cháu. Điều này càng có ý nghĩa khi giờ đây nhà nước pháp quyền dân chủ với tam quyền phân lập, và xã hội dân sự vẫn còn bị cấm kỵ ở nước ta.
Các cụ ta từ lâu vẫn dạy: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Đã 110 năm rồi mà con cháu vẫn thua xa ông cha thì thật là nhà vô phúc! Mở trí khôn cho dân, hay ngu dân hóa, đó vẫn là vấn đề thời sự nóng bỏng. Sự nghiệp cao cả này xưa cũng như nay rất gian nan. VMTHS viết những dòng rất cảm động: “Nay đã từng ngẩng đầu trông lên, cúi đầu nhìn xuống, trầm ngâm suy nghĩ cho cùng, để tìm kế mở mang dân trí giữa nghìn muôn khó khăn”. Từ sự suy nghĩ sáng suốt, các cụ đã đề ra 6 biện pháp: 1/Dùng văn tự nước nhà; 2/Hiệu đính sách vở; 3/Sửa đổi phép thi; 4/Cổ võ nhân tài; 5/Chấn hưng công nghệ; 6/Mở tòa báo.
Đấy là hệ thống những biện pháp đồng bộ mở trí khôn cho nhân dân để vững bước sang nền văn minh mới.
P.K.I.
Tác giả gửi BVN

BAO GIỜ MỚI CÓ ĐÁNH GIÁ CHÍNH THỨC VỀ PHONG TRÀO ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC ?

NGUYỄN HẢI HOÀNH/ BVN 10-7-2017

Trong bài “Đôi dòng tưởng niệm nhà cách mạng Nguyễn Hữu Cầu ...”, học giả lão thành Vũ Khiêu viết: «Năm nay (2007) trường Đông Kinh Nghĩa thục (ĐKNT) tròn 100 tuổi. Đi sâu vào nội dung cùng những tài liệu được lưu giữ và phổ biến cho đến ngày nay, tôi càng kính phục sự sáng suốt của các cụ ĐKNT cách đây 100 năm» [1].
Ý kiến trên phần nào đại diện cho quan điểm đánh giá khách quan phong trào ĐKNT của giới học giả nước ta hiện nay. Tiếc rằng không phải ai cũng có nhận thức như vậy. Dù 110 năm đã trôi qua nhưng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của các chí sĩ ĐKNT vẫn chưa nhận được sự đánh giá chính thức và công khai của chính quyền nước ta.
Có thể thấy điều đó qua việc lễ kỷ niệm 100 năm ĐKNT lẽ ra phải được tổ chức ở cấp nhà nước nhưng lại chỉ làm ở cấp Hội Sử học và trường đại học; các đài báo lớn im lặng về đề tài này. Quan chức cấp cao nhất tới dự cuộc Hội thảo ngày 22/5/2007 tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn chỉ là một vị Phó Ban Tuyên giáo Trung ương.
Nhưng trước ta, nước Pháp đã long trọng tổ chức Hội thảo quốc tế về phong trào Duy Tân nhân kỷ niệm 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục tại thành phố Aix-en-Provence. Hội thảo diễn ra trong ba ngày (3-5/5/2007) với 30 bản tham luận của các học giả Pháp, Việt Nam, Hà Lan, Canada, Mỹ, Nhật. Mỗi tiểu ban có 70-80 người theo dõi đến từ nhiều nước. Nước Pháp đã tài trợ cho một số học giả Việt Nam sang dự Hội thảo này.
Năm 2012, lễ kỷ niệm 105 năm ĐKNT cũng chỉ được làm với quy mô nhỏ dưới hình thức Tọa đàm Đông Kinh Nghĩa Thục và Cải cách giáo dục hiện nay, do một đoàn thể “xã hội dân sự” là Trung tâm Minh triết Việt tổ chức tại hội trường Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội (20/9/2012). Các quan chức được mời đều vắng mặt không có thông báo.
Hiện nay, khi một số đường phố đô thị lớn được đặt tên các loài hoa (vì danh sách danh nhân đã cạn?) thì tên của các yếu nhân ĐKNT, những bậc danh nhân-tiền bối cách mạng đáng kính ấy lại bị chính quyền thành phố lờ đi, không rõ là cố ý hay vô tình.
Giờ đây dư luận đang tự hỏi: Năm nay nước ta sẽ kỷ niệm 110 năm phong trào ĐKNT như thế nào đây ? Đến bao giờ giới lãnh đạo và giới sử học chính thống nước ta mới có đánh giá công khai về ĐKNT cũng như về một số sự kiện và nhân vật lịch sử khác?
E rằng lần này câu hỏi ấy lại tiếp tục rơi vào “im lặng đáng sợ” – cái kết cục đã trở thành quen thuộc khi nhà nước này đã sang tuổi thất tuần. Phải chăng đây là hậu quả của tình trạng những nhận định sai lệch về ĐKNT đã chi phối công luận một thời gian quá dài mà chưa có ai dám lên tiếng phản biện? Tình trạng này có lợi hay hại cho các thế hệ hiện nay và mai sau khi họ học lịch sử dân tộc ta? Đây là một vấn đề rất đáng bàn thảo.
GS Hoàng Như Mai từng nói đại ý: Từ trước tới nay hầu như giới nghiên cứu ít chú ý, đặc biệt là những cơ quan có trách nhiệm về văn hóa giáo dục cũng không quan tâm tới phong trào ĐKNT, vì vậy đông đảo nhân dân, đáng suy nghĩ hơn là lớp trẻ, hoàn toàn không biết là có sự kiện lịch sử trọng đại ấy. Sở dĩ có tình trạng này là do ĐKNT đã bị nhìn nhận dưới ánh sáng của những quan niệm, luận điểm không thỏa đáng [2].
Nhà văn Phạm Toàn nói: «Những người có gan thay đổi tư liệu lịch sử cũng có gan dạy dỗ thế hệ tôi rằng đường lối của các chí sĩ ĐKNT là sai lầm, là cải lương, là thiếu tinh thần chiến đấu… coi ĐKNT như một dấu hiệu của sai lầm lịch sử, là chủ trương phát triển chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam!… Người nói sai tha hồ nói. Cái lầm lẫn của thế hệ tôi là đã cả tin vào những lời dạy dỗ đó trong một thời gian quá dài» [1].
Từ xưa tới nay, kẻ viết sử đều là kẻ thắng trong cuộc tranh giành quyền lực, và dĩ nhiên bao giờ họ cũng viết sử sao cho có lợi cho mình. Dưới các chế độ toàn trị, quan điểm lịch sử chính thống là quan điểm của chế độ đó. Tuy rằng cuối cùng lịch sử sẽ đi tới những phán xét khách quan, nhưng ngày ấy có thể đến rất muộn. Nhà đại cách mạng Phan Bội Châu nổi tiếng thế mà mãi sau mới được tôn vinh. Việc đánh giá nhà đại cách mạng Phan Châu Trinh còn lận đận hơn, chủ yếu được các tổ chức xã hội dân sự đề xuất tiến hành.
Khi nói về nguyên nhân thất bại của các phong trào giải phóng dân tộc tồn tại trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, người ta thường nói đó là do các phong trào ấy chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. ĐKNT dường như cũng bị đánh giá như vậy.
Để đánh giá đúng một sự kiện lịch sử, nhất thiết phải đặt nó vào bối cảnh thực tế ở thời điểm của nó.
Trong một thời kỳ dài trước khi nhà nước chủ nghĩa xã hội đầu tiên được thực hiện tại nước Nga, thế giới chỉ mới biết nhà nước cộng hòa dân chủ tư sản kiểu Mỹ là loại hình nhà nước tiến bộ nhất của xã hội loài người. Năm 1846, K.Marx từng nói «Ví dụ hoàn hảo nhất về nhà nước hiện đại là nước Mỹ. Những nước như Bắc Mỹ là những nước bắt đầu ngay bằng một thời đại lịch sử đã phát triển thì sự phát triển diễn ra rất nhanh…” [3].
Như vậy ĐKNT chủ trương bỏ xã hội phong kiến, tiến lên xã hội dân chủ tư sản là đi đúng trào lưu lịch sử đương thời. Thực ra đòi hỏi ĐKNT làm cách mạng XHCN mới là quan điểm sai lầm, vì hoàn toàn không hợp với điều kiện thực tế, bởi lẽ 10 năm sau ngày thành lập trường ĐKNT mới nổ ra cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917), từ đó thế giới mới biết tới cái gọi là CNXH. Mao Trạch Đông cũng nói: Tiếng súng Cách mạng Tháng Mười đưa CNXH đến Trung Quốc (TQ).
Cuối thế kỷ XIX, văn minh phương Tây ồ ạt tràn vào châu Á, nhưng chỉ có nước Nhật dám dứt khoát từ bỏ Khổng giáo, tiếp nhận các giá trị tiên tiến của văn minh phương Tây. Trong vẻn vẹn 15 năm đầu thời kỳ Duy tân Minh Trị (từ 1868) đất nước phong kiến cực kỳ bảo thủ này đã tiếp thu toàn diện nền văn minh phương Tây, đứng vào hàng ngũ các quốc gia tiên tiến. Nhờ đó Nhật nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành cường quốc quân sự hàng đầu thế giới, trong 10 năm lần lượt đánh bại hai nước lớn là TQ (1894) và Nga (1904).
Tấm gương ấy đã cổ vũ các dân tộc châu Á. Đến thập niên đầu thế kỷ XX, Việt Nam với phong trào cách mạng ĐKNT là nước châu Á thứ hai đưa ra chủ trương đi lên con đường cải cách toàn diện xã hội, tiếp thu văn minh phương Tây.
Xin ôn lại vài sự thật lịch sử. Tại TQ, sau khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, giới trí thức tiên tiến nước này cho rằng nước họ ngu dốt lạc hậu là do chữ Hán khó học và do bị lễ giáo phản dân chủ của đạo Khổng kìm kẹp. Năm 1908 học giả TQ Tiền Huyền Đồng nói: Muốn bỏ Khổng giáo, trước hết phải bỏ chữ Hán. Nhưng từ năm 1907, Phan Châu Trinh ở ta đã kêu gọi: Không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam. Ngót 30 năm sau, Lỗ Tấn trăng trối: Không diệt chữ Hán thì TQ ắt mất nước. Phong trào yêu nước Ngũ Tứ ở TQ phát sinh năm 1919, tức 12 năm sau phong trào yêu nước ĐKNT.
Mấy ví dụ trên cho thấy giới trí thức Việt Nam tiên tiến đã sớm nhận thức được con đường phát triển của nước mình nói riêng và châu Á nói chung. Lẽ ra những sự thật lịch sử ấy phải được đánh giá cao và phải làm chúng ta ngẩng cao đầu tự hào. Tiếc thay ở ta vẫn có người trong khi hết lời ca ngợi cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật lại chê bai phong trào ĐKNT là «cải lương», «không triệt để». Đây thật là một sai lầm đáng trách, hòng phủ định công lao to lớn và trí tuệ sáng suốt của chính cha ông mình, dân tộc mình.
Cách mạng giải phóng dân tộc là một sự nghiệp lâu dài, do nhiều thế hệ tiếp nối, kế thừa. Ông cha ta có giỏi thì con cháu mới giỏi và nhờ đó con thuyền cách mạng Việt Nam mới vượt qua gian nguy tiến tới bờ thắng lợi như ngày nay. Có chút công trạng mà đánh giá sai thậm chí phủ nhận chính cha ông mình thì thật là không hợp đạo nghĩa. Các thế hệ sau này sẽ nghĩ gì về một thế hệ từng đánh giá sai lịch sử?
Chẳng cần biện luận cũng có thể thấy rõ một sự thực: Trong điều kiện tương quan lực lượng Việt Nam - Pháp ở đầu thế kỷ XX mà chủ trương dùng khởi nghĩa vũ trang để đánh đuổi thực dân Pháp thì chắc chắn thất bại 100%, rốt cuộc chỉ làm dân chúng sống trong cảnh chiến tranh loạn lạc, đói khổ. Thực tế cho thấy, phong trào Cần Vương khởi xướng năm 1885 của các bầy tôi dũng cảm khởi nghĩa giúp triều đình vua Hàm Nghi sau hơn chục năm chiến đấu đã bị giặc Pháp dập tắt. Những cuộc khởi nghĩa chống Pháp lẻ tẻ sau đó cũng đều thất bại. Đường lối giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn ngày ấy chỉ có thể là tiến hành tuyên truyền giáo dục khêu gợi lòng yêu nước của đông đảo quần chúng, trên cơ sở dân chúng đã giác ngộ mà tổ chức họ thành một sức mạnh to lớn, khi có thời cơ sẽ đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc và sau đó xây dựng nhà nước dân chủ tư sản, chế độ chính trị được coi là tiên tiến nhất thời đó.
Các nhà sáng lập ĐKNT đã làm như vậy, điều đó hoàn toàn phù hợp với đường lối đúng đắn «Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh» do Phan Châu Trinh nêu ra.  
Vả lại sự việc thực dân Pháp đàn áp tàn bạo phong trào ĐKNT tự nó đã bác bỏ quan điểm cho rằng phong trào này có tính cải lương, không triệt để chống Pháp.
Toàn quyền Đông Dương Klobukowsky «khẳng định ĐKNT là cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ». Rõ ràng, «cải lương» chưa thể nào là «phiến loạn». Tuy trường ĐKNT được chính quyền Pháp cho phép thành lập và chỉ tồn tại có 9 tháng nhưng thực dân Pháp nhanh chóng nhận ra các hoạt động của nhà trường có tính chất nổi loạn đe dọa lật đổ sự thống trị của chúng. Vì thế không chỉ cấm trường hoạt động mà chúng còn cố tìm ra mọi cớ để kết án hầu như toàn bộ các yếu nhân ĐKNT với mức từ 5 năm tù cho tới chung thân, tử hình, và còn đày tất cả ra Côn Đảo nhằm tách rời họ với nhân dân.
Trong thực tế, nhiều yếu nhân ĐKNT từng có liên hệ với các phong trào bạo động hồi đó. Ví dụ Nguyễn Hữu Cầu đã mấy lần tìm cách tiếp xúc với các thủ lĩnh tổ chức vụ đầu độc Hà Thành, và trực tiếp giúp một số thanh niên yêu nước sang TQ học làm cách mạng. Khi ra lệnh đóng cửa ĐKNT, thực dân Pháp còn dọa sẽ bỏ tù bất cứ ai tàng trữ tài liệu của trường này. Vì thế chỉ sau một đêm tất cả các tài liệu ĐKNT từng in ấn phân phát hàng chục nghìn bản trong cả nước đều bị đốt sạch. Dễ hiểu là các tài liệu ấy phải có nội dung gây hại cho thực dân Pháp như thế nào nên chúng mới sợ hãi như vậy.
Cách đây một thế kỷ, khi đất nước còn cực kỳ ngu tối mà các nhà sáng lập ĐKNT đã nêu ra nhiều chủ trương thể hiện nhãn quan chính trị rất sáng suốt, hợp thời đại. Quá khứ vô cùng vẻ vang đó thật đáng được nêu cao để học tập và noi theo, cớ chi lại phải lờ đi?
Nhà thơ Gamzatov từng nói: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”.
Chắc chắn dân tộc ta cuối cùng sẽ có đánh giá công bằng về ĐKNT cũng như về những sự kiện và nhân vật lịch sử khác còn bị đánh giá sai, hoặc bị lờ đi. Nhưng lẽ nào thế hệ này lại hèn tới mức chấp nhận để các thế hệ sau sẽ «xử» chúng ta bằng súng đại bác?
Ghi chú :
[1] Nguyễn Hữu Cầu, chí sĩ yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục. Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007
[2] 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008.
[3] Tuyển tập Mác-Ăng-ghen, tập I, tr. 364. Nxb Sự thật, Hà Nội.
N.H.H.
Tác gả gửi BVN

Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2017

20170709. 'THẾ LỰC THÙ ĐỊCH' CHỈ TRÍCH GS NGÔ BẢO CHÂU ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
TIẾC CHO NHÂN TÀI NGÔ BẢO CHÂU
CPĐ/FB HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN/ viet-studies 7-7-2017

Giáo sư Ngô Bảo Châu (NBC) được biết đến tài năng của một nhà khoa học. Nhìn vào bảng vàng về thành tích học tập và các công trình nghiên cứu “đồ sộ” được thế giới công nhận trong những năm qua. Rõ ràng, Ngô Bảo Châu là nhà khoa học lớn mang tầm cỡ quốc tế ở thế kỷ 21.
Mới đây, một vinh dự nữa lại đến với Ngô Bảo Châu khi ngày 20/6 vừa qua được công nhận là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Sự kiện này đánh dấu sự “thăng tiến” vượt bậc của Ngô Bảo Châu về lĩnh vực khoa học. Bởi để trở thành Viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp không dễ dàng, đòi hỏi nhà khoa học người nước ngoài cần phải có những thành tựu và đóng góp lớn cho nền khoa học thế giới mới được công nhận.
Khi Ngô Bảo Châu được công nhận là Viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp niềm vui như được nhân đôi. Đó cũng là niềm tự hào to lớn của người dân Việt Nam nói chung và nền toán học nước nhà nói riêng.
Xin được thành thật chúc mừng Ngô Bảo Châu
Tuy nhiên, đi cùng với sự chúc mừng này, người dân VN chân chính cảm thấy “chua xót”, buồn phiền và đáng tiếc thay, cho một tài năng đang độ phát triển, hình như không có điểm dừng của Ngô Bảo Châu, một nhân tài đất Việt đang thăng hoa về tài năng, độ chín đã đạt tới đỉnh cao về trí tuệ thời @. Nhưng lại thụt lùi về nhận thức chính trị, cuốn theo lối sống tự do, dân chủ thực dụng của phương Tây. Vì thế, lập trường của Ngô Bảo Châu đã không đứng vững trước “Ảo vọng kim tiền” đã kéo theo sự xuống cấp thê thảm về đạo đức làm “thui chột” nhân cách của một nhà khoa học lớn như Ngô Bảo Châu
Những, hành vi của Ngô Bảo Châu đã thể hiện từ khi “thành danh lẫn thành tài” làm người dân VN thất vọng và người ta có thể kết luận bản chất thật, con người thật của NBC luôn chống đối chính quyền là không hề thay đổi. Châu đã không chịu quay đầu vào bờ khi được cả dân tộc này thành tâm góp ý. Tổ quốc linh thiêng vẫn muốn Châu là con dân đất Việt, vẫn mong Châu mang trong mình dòng máu Lạc Hồng của cha ông, để NBC có thể cống hiến tài năng của một nhà khoa học lớn cho đất nước.
Tuy nhiên, cái tài của GS Châu lại là nỗi bất hạnh của đất nước Việt đã sinh ra Châu, có người nói rất đúng rằng Châu GS đang “ngao toán”, nhưng lại ngẫn về chính trị, thiếu hiểu biết về xã hội, về đất nước nhưng lại có thói quyen xấu thích “can dự” vào vấn đề chính trị của đất nước, bằng những lời lẽ miệt thị thiếu tính xây dựng, đi ngược lại chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, có hành vi bôi nhọ Đảng, chính quyền. Thậm chí, khốn nạn và táng tận lương tâm, NBC đã leo lên nấc thang cuối cùng của tội lỗi khi xúc phạm đến anh linh Chủ Tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam
Từ ngữ của Ngô Bảo Châu khi nói về đất nước, chính quyền chẳng khác gì đám rận chủ trong nước và những kẻ phản động người Việt hải ngoại. Và nhẽ đương nhiên được hiểu rằng NBC đang đứng chung, cùng hàng ngũ những kẻ chống phá đất nước. Vì thế, khó có thể chấp nhận được nhân cách một nhà khoa học lớn mà lại vô chính trị như vậy.
Rõ ràng, Ngô Bảo Châu đang ở đỉnh cao về trí tuệ, nhưng vô chính trị nên không phân biệt nổi trắng đen “nhìn gà hóa cuốc”, biến “cú thành công” khi khen ngợi Cù Huy Hà Vũ một kẻ phản bội Tổ quốc như một người anh hùng. Không dừng lại, năm 2015 NBC lại ngang nhiên thách thức dư luận khi bênh vực Nguyễn Thị Phương Uyên kẻ rải truyền đơn chống chính quyền, treo cờ ba que nơi công cộng và đang có âm mưu nổ bom phá hủy tượng đài Bác Hồ ở Cần thơ.
Rồi mới đây, ngày 01/7/2017 trên Facebook cá nhân của NBC đăng tải Stt bênh vực Nguyễn Ngọc Như Quỳnh kẻ đội lốt dân chủ chống phá chính quyền, bị Tòa án Nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt 10 năm tù. Không những thế, NBC còn láo xược trích đoạn thư gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu nhà cầm quyền CS Việt Nam thả blogger mẹ Nấm tức Nguyễn Ngọc như Quỳnh.
Bất hạnh thay, đất nước này đã sinh ra Châu, dân tộc này cay đắng chỉ được thừa hưởng “hư danh” hão của NBC, chứ chưa bao giờ được tận hưởng những thành quả của một nhà khoa học lớn để góp phần xây dựng đất nước. Bởi lúc này, NBC đang làm “cu li” tại Chicago của nước Mỹ để kiếm tiền, để tìm tòi danh vọng hơn là vì cống hiến tài năng cho đât nước đã đẻ ra Châu.
Thử hỏi cái tài của một nhà khoa học lớn đã làm được gì cho đất nước? Xin được trả lời đó là con số “0” tròn trĩnh
Chính vì thế, dư luận đều cho rằng nhà nước cầu hiền tài thế nên mới mua tặng cho NBC một căn nhà 12 tỷ đồng để Châu sử dụng, đồng thời chi 560 tỷ đồng xây dựng Viện toán Quốc gia do Châu làm Giám đốc. Hỡi ôi sau 4 năm thành lập cái Viện toán “hữu danh nhưng vô thực” này, vẫn đắp chiếu nằm đó không tạo ra bất cứ sản phẩm trí tuệ nào, giờ chính cái Viện Toán ấy đã không giúp gì cho đất nước, mà lại góp phần làm nghèo thêm đất nước lúc này?
Có lẽ, Ngô Bảo Châu đã tìm cho riêng mình một con đường khác, đi ngược lại con đường mà Đảng, Bác Hồ cùng nhân dân đã chọn hơn 70 năm qua, có nghĩa và được hiểu rằng NBC không còn đồng hành cùng dân tộc và nhân dân, hay nói một cách khác Ngô Bảo Châu đã và đang là kẻ phản bội Tổ quốc.
Nhà nước đã có chính sách “cầu hiền tài”. Nhưng, hiền tài của NBC đâu chưa thấy, chỉ thấy Châu chống phá đất nước. Tuy nhiên, cầu hiền tài không có nghĩa Quốc gia, dân tộc chịu nhục để cá nhân một kẻ phản bội dắt mũi, bôi nhọ, chống phá. Vì thế, chính quyền nên tỏ rõ thái độ, quan điểm rõ ràng với Ngô Bảo Châu.
Đã là kẻ phản bội, thì không nên để hình ảnh Ngô Bảo Châu một tấm gương xấu, phản cảm trong mắt người dân Việt nữa, những gì liên quan đến kẻ vô ơn bạc nghĩa, kẻ phản trắc này, cần phải thu hồi và dẹp bỏ đó là ý nguyện của người dân lúc này./. (CPĐ)
 Nguồn: 
HÃI HÙNG (*)

LS LÊ VĂN LUÂN/ BVN  8-7-2017

Nhìn vào một đám người hung hãn lao vào cấu xé và nhục mạ vị Giáo sư toán học vì có tiếng nói trái chiều bằng những ngôn từ kinh hoàng và bằng sự mất dạy chưa từng có mà thấy những bọn thú vật đã được nảy nòi ra từ một xã hội quái thai.
Khi đất nước lại sản sinh ra và công khai duy trì những đám người quái thai ấy để làm nhục bất cứ ai dám lên tiếng đấu tranh trước những bất công, tiêu cực mới thấy rằng lợi ích và miếng ăn của bọn chúng mới là tất cả chứ không phải giá trị về Tổ quốc thiêng liêng hay phẩm giá con người nào được xây dựng hay tôn trọng cả.
Những loài thú hoang dại được sử dụng để ăn thịt bất cứ người nào, dù trí tuệ đến đâu cũng đều chẳng nghĩa lý gì trong mắt chúng, khi những kẻ có quyền lực bảo chúng làm theo hoặc chúng tự giác phục vụ để kiếm lấy miếng ăn cho mình.
Tương lai như một bức tường, không được để tâm xây dựng một cánh cửa mở ra thế giới tươi đẹp mà chỉ có hiện tại để chúng giành giật lợi ích và giết thịt lẫn nhau bằng sự thoả mãn trong u mê tăm tối.
Thật rùng mình và hãi hùng cho chặng đường phía trước.
L.V.L.
Nguồn: FB Luân Lê
(*) Xin xem bài rất gần đây của một “trí tuệ đảng” hoặc “cánh tay nối dài của đảng” công kích vị GS đáng kính Ngô Bảo Châu – người có mối liên hệ rất sớm với GS Nguyễn Huệ Chi vào tháng Năm 2009 trong việc lên tiếng kiến nghị dừng dự án bauxite ở Tây Nguyên do ông cựu TBT Nông Đức Mạnh rước từ Tàu về gieo tai ách cho đất nước: Tiếc cho một nhân tài đất Việt: Ngô Bảo Châu.
CHÚC MỪNG CẢNH SÁT TƯ TƯỞNG ra tay chống Ngô Bảo Châu!
Ông Trọng ơi, quân ông nó hại ông rồi. Một bài ngu như thế này, tưởng đập được NBC, đập chính lưng các vị đó!
Thấy bài này trên Facebook mang danh "Học viện An ninh Nhân dân" nhưng không thể tin một Học viện "trí tuệ" của Đảng ta lại có một bài như thế này (không thấy trên website chính thức của Học viện).  Yêu cầu Công an vào cuộc, điều tra xem có phải trương mục này là của "thế lực thù địch" nhằm chia rẽ nhân dân ta, và nguy hiểm hơn, thách thức kỷ cương của ngành Công an? (Rất may là tính chất "vô học" của nó chỉ làm độc giả phì cười). Xin các cơ quan chức năng "xử lý nghiêm"!
Trần Hữu Dũng

Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2017

20170708. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THI THPT QUỐC GIA 2017

ĐIỂM BÁO MẠNG
PHỔ ĐIỂM KHỐI THI A, B, C, D, A1 KHÁC GÌ SO VỚI NĂM 2016?

THÙY LINH /GDVN 8-7-2017

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa đưa ra phân tích cụ thể về phổ điểm từng khối thi và có so sánh phổ điểm năm 2017 với phổ điểm năm 2016. CHI TIẾT XEM TẠI ĐÂY.
Nhận xét phổ điểm khối A:
Phân bố chuẩn, khá đều hai bên giá trị trung bình
So với năm 2016: điểm trung bình phổ điểm năm 2017 không khác biệt gì nhiều (khoảng 18 điểm) nhưng phổ điểm năm nay về phía điểm cao thoải hơn năm ngoái rất nhiều do đó thuận tiện cho các trường xây dựng điểm chuẩn vào các ngành khác nhau

Nhận xét phổ điểm khối B:


Điểm trung bình không khác biệt nhiều so với năm 2016 (khoảng 17 điểm). Phổ điểm phần nhỏ hơn 24 điểm hơi dốc nhưng phần cao hơn 24 điểm thoải nên các trường có điểm chuẩn cao không khó xác định điểm chuẩn.
Nhận xét phổ điểm khối C:


Điểm trung bình cao hơn năm 2016 khoảng 1 điểm, đường cong phân bố chuẩn, dốc đều, thuận lợi trong xác định điểm trúng tuyển vào các trường đại học; 

Nhận xét phổ điểm khối D:
Điểm trung bình năm nay cao hơn năm ngoái khoảng 2 điểm, nhánh phân bố phổ điểm về phía điểm cao dốc đều, thuận tiện trong việc xác định điểm chuẩn vào các trường Đại học.
Nhận xét phổ điểm khối A1:
Điểm trung bình năm 2017 cao hơn điểm trung bình năm 2016 khoảng 2 điểm, đường cong phân bố chuẩn, dốc đều, phân hóa tốt, các trường thuận lợi trong xác định điểm chuẩn.

 
Thùy Linh
PHỔ ĐIỂM: ĐIỂM 10 ĐA SỐ THÍ SINH Ở ĐÔ THỊ VÀ NHỮNG NƠI CÓ TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC
THÙY LINH/ GDVN 7-7-2017

Sau khi phân tích dạng phổ điểm và các thông số thống kê, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhìn nhận:
Dạng phổ điểm của tất cả các bài thi, môn thi gần với phân phối chuẩn, chứng tỏ các đề thi đánh giá sát với chuẩn đầu ra chương trình lớp 12 của các môn học, phân loại, phân hóa rõ ràng, sát thực năng lực của thí sinh.

Hầu hết các bài thi, môn thi đều có điểm trung bình từ khoảng 4,5 – 6,5 điểm, giá trị của điểm trung bình gần sát với điểm trung vị. 
Ở một số bài thi, môn thi, có nhiều thí sinh đạt điểm tuyệt đối (10 điểm) nhưng chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn và các tỉnh có truyền thống hiếu học. 
Tuy nhiên, số lượng thí sinh đạt điểm 0 và điểm nhỏ hơn hoặc bằng 1 (điểm liệt) cũng tương đối lớn và có hầu hết ở các bài thi, môn thi. Điểm trung bình dưới 5 của hầu hết các bài thi, môn thi đều chiếm tỉ lệ khoảng từ 40 – 60%.

Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá, phổ điểm được phân tán tương đối rộng, đánh giá đúng năng lực của các thí sinh, giảm thiểu đáng kể hiện tượng đoán mò trong các bài thi trắc nghiệm khách quan.

Đặc biệt, với kết quả phân tích điểm nói lên tính khách quan, trung thực, công bằng trong công tác tổ chức thi quốc gia năm 2017. Đồng thời đây cũng là một kênh thông tin để phân loại chất lượng giáo dục phổ thông ở các vùng miền.

Đánh giá tổng quát, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng từ dạng phổ điểm của các bài thi, môn thi cho thấy tính phân hóa, phân loại rõ rệt của từng môn thi.
Phân tích sâu hơn về phổ điểm sẽ là cơ sở tiếp tục xây dựng, hoàn thiện ngân hàng câu hỏi thi chuẩn hóa, phục vụ kì thi quốc gia những năm tiếp theo ngày càng tốt hơn.

Dưới đây là phổ điểm của từng bài thi. XEM CHI TIẾT TẠI ĐÂY.

CẢ NƯỚC CÓ HƠN 4000 BÀI THI ĐẠT ĐIỂM 10: ĐỀ QUÁ DỄ HAY HỌC TRÒ QUÁ GIỎI ?

THÙY LINH /GDVN 7-7-2017

Cả nước có hơn 4.000 bài thi đạt điểm 10: Liệu có phải do đề thi quá dễ? (Ảnh: Thùy Linh)
Đến 17h00 ngày 6/7 tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cả nước đều hoàn thành việc công bố kết quả thi trung học phổ thông quốc gia năm 2017.

Thống kê sơ bộ từ 63 tỉnh, thành cho thấy có hơn 4.000 bài thi đạt điểm 10, gấp nhiều lần con số của năm 2016.

Đánh giá về số lượng điểm này, trao đổi với báo chí vào chiều tối 6/7, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bùi Văn Ga cho rằng:
“Không phải số bài thi điểm 10 tăng cao có nghĩa là đề quá dễ hoặc coi thi không nghiêm túc. Bởi lẽ, bên cạnh một số em đạt điểm 10 thì cũng có rất nhiều em đạt điểm 0, điểm 1, do đó, đề thi không phải là dễ”.
Theo Thứ trưởng, để đánh giá một cách chỉnh chu về kết quả thi năm 2017 và so sánh với năm 2016 thì cần phân tích sâu về cơ sở dữ liệu; cần có phổ điểm cụ thể. 

“Nếu điểm 10 cao vọt lên mà điểm 0; 1; 2 quá ít thì mới là sự vô lý. Nếu phân bố đều, hình chuông, điểm 0; 1 ít, điểm 10 cũng ít thì đó là bình thường.
Đánh giá kết quả thi và chất lượng đề thi phải dựa vào phổ điểm, đừng lọc ra bao nhiêu em đạt điểm 10 để đưa ra nhận định phiến diện”, Thứ trưởng Ga nêu cụ thể. 
Được biết, hiện nay, các tổ kĩ thuật của Bộ đang phân tích kết quả đối với từng môn thi và kết quả các tổ hợp xét tuyển đại học.
Bộ sẽ sớm công bố các kết quả phân tích này để thí sinh nghiên cứu quyết định việc điều chỉnh nguyện vọng đăng ký xét tuyển của mình.

Dự kiến ngày 12/7, Hội đồng điểm sàn sẽ họp công bố ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào.

Thứ trưởng Ga khẳng định: “Khi có số liệu đầy đủ để phân tích thì sẽ hình dung được điểm trúng tuyển vào các trường, điểm chuẩn vào các ngành khác nhau. Điều này phụ thuộc vào phổ điểm tổng hợp của 3 môn mà trường lựa chọn”.

Nếu việc phân bố đều, không bị dốc thì việc chọn điểm chuẩn sẽ thuận lợi hơn. Bởi vì khi tăng hoặc giảm nửa điểm thì số lượng thí sinh không tăng hoặc không giảm nhiều. Đó là điều mà các trường rất mong muốn để chọn được thí sinh phù hợp.

Trong trường hợp phổ điểm bị “dốc” thì các trường buộc phải sử dụng các tiêu chí phụ để chọn học sinh sẽ vất vả hơn một chút.
“Theo tôi, phổ điểm năm nay sẽ không “dốc”. Bởi số thí sinh đạt điểm 10 nhiều, nhưng cũng nhiều em đạt điểm 0; 1 và phổ điểm tập trung chủ yếu ở vùng trung bình, tức là điểm từ từ 4 đến 6”, Thứ trưởng Ga dự đoán. 

Trước tình trạng “cơn mưa điểm 10” trong kì thi trung học phổ thông quốc gia năm nay, nhiều ý kiến lo ngại rằng điểm cao sẽ làm khó các trường đại học trong công tác tuyển sinh.

Ông Kiều Xuân Thực -  Trưởng phòng đào tạo Đại học Công nghiệp Hà Nội cho rằng, về mặt lý thuyết, điểm cao sẽ ảnh hưởng đến việc tuyển sinh. Điểm thi cao thì điểm trúng tuyển sẽ phải tăng lên. Hiện chưa có phổ điểm nên trường chưa bàn đến tuyển sinh.

Trong khi đó, Thạc sĩ Đinh Đức Hiền – giáo viên luyện thi môn Sinh học cho rằng, mặc dù Bộ chưa công bố phổ điểm nhưng với tình trạng nhiều điểm 10 như hiện nay cho thấy điểm thi của các thí sinh sẽ tăng cao.

“Điều này sẽ gây khó khăn cho các trường trong việc xét tuyển, kéo theo điểm chuẩn tăng, các trường có lẽ sẽ phải xây dựng rào cản tiêu chí phụ, hay ưu tiên nguyện vọng để tuyển theo đúng chỉ tiêu đã đăng ký trước đó với Bộ Giáo dục và Đào tạo" - Thạc sĩ Hiền nêu quan điểm. 
Thùy Linh

Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2017

20170707. NHẬN DIỆN MỘT SỐ NHÓM LỢI ÍCH

ĐIỂM BÁO MẠNG
NHẬN DIỆN MỘT SỐ NHÓM LỢI ÍCH ĐANG THÁCH THỨC CP NGUYỄN XUÂN PHÚC

PHẠM VIẾT ĐÀO/ BVB 6-7-2017

Ong Nguyen Xuan Phuc lam Thu tuong - Anh 1

Tuy mới đảm nhận nhiệm kỳ hơn 1 năm, trong ứng xử và phương thức điều hành nhất là trong các hoạt động giao tiếp đối ngoại, có vẻ như người đứng đầu Chính phủ có lúc, có khi còn tỏ ra vụng về, lúng túng, chưa thật chuyên nghiệp, chưa ngang tầm với vị thế của người đứng đầu bộ máy Chính phủ của một quốc gia suýt soát trăm triệu dân…
Việt Nam, một quốc gia có vị thế và tiềm năng đang được một số cường quốc hàng đầu, các nhóm lợi ích lớn của thế giới kiềng nể, mong muốn bắt tay hợp tác làm ăn và liên minh…Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã bộc bạch trong chuyến đi Nhật: Đoàn của Thủ tướng đạt được thành quả nọ kia là nhờ vào vị thế của Việt Nam, của dân tộc Việt Nam…Đó là phát biểu chân thành và “biết người biết ta” của TT Nguyễn Xuân Phúc khi nói về quan hệ giữa người dân và Chính phủ chứ không nhận thức theo kiểu: Mất mùa là tại thiên tại; Được mùa là bởi thiên tài của ta…
Để bù cho sự thiếu hụt, và chưa chuyên nghiệp trong phong cách ứng xử giao tiếp đối ngoại; trong hoạt động đối nội: Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có được một số ứng xử, quyết sách nhạy bén, bám sát lòng dân, biết nghe báo chí, có thái độ cầu thị, chân thành và nhạy cảm trước dư luận trái chiều nên bước đầu đã gầy dựng được lòng tin và thiện cảm của dân chúng…
Tóm lại, có vẻ như tỷ lệ tín nhiệm của dân chúng đối với Chính phủ của Nguyễn Xuân Phúc tuy chưa cao, theo người viết bài này, nhưng lòng tin và thiện cảm của người đang được gầy dựng và nâng lên theo từng tháng, từng quý…tuy lòng tin này cũng đang phập phù… khá gieo neo.
Rất mong bộ máy của Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc biết đoàn kết, có thái độ chân thành, cầu thị biết sàng lọc tiếng nói của người dân, trí thức; bằng nỗ lực của tập thế sẽ vượt qua giai đoạn vượt vũ môn đầy thử thách cam go này, thiết lập được một Chính phủ kiến tạo như TT tuyên bố…
Qua những gì thông tin báo chi đã nêu, người dân cũng đã nhận ra: hiện tại đang có một số nhóm lợi ích có những hành vi đối phó, đối đầu làm nhằm làm suy yếu Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, làm giảm uy tín đang lên của bộ máy Chính phủ, nhằm vô hiệu, đẩy lùi một số quyết sách hợp lòng dân của Chính phủ…
Để rộng đường dư luận, xin nêu ra đây một số dữ kiện để phân tích, mổ xẻ và để mọi người cùng tham gia bàn thảo…và nên có hình thức ủng hộ Chính phủ tích cực, hiệu quả…
1/ Nhóm lợi ích quốc phòng có đang tìm cách hoãn binh, đẩy lùi, vô hiệu chủ trương Quân đội không làm kinh tế của Chính phủ ?
“Tại buổi làm việc của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với lãnh đạo TP.HCM sáng 23.6, thượng tướng Lê Chiêm, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định chủ trương của Bộ Quốc phòng là quân đội sẽ không làm kinh tế mà chỉ tập trung xây dựng quân đội vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ bảo vệ Đảng, nhân dân 
Quan điểm này là quan điểm của thường vụ, của Quân ủy Trung ương. Hiện nay Bộ Quốc phòng có chủ trương là quân đội không làm kinh tế nữa mà tập trung cho xây dựng quân đội vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại để bảo vệ Đảng, nhân dân. Quân đội sẽ không làm kinh tế nữa. Tất cả các doanh nghiệp quân đội sẽ cổ phần hóa, thoái vốn hết. Cái nào của quốc phòng chỉ để phục vụ cho quốc phòng chứ không có lăn tăn gì hết. Quân đội sẽ không làm kinh tế vì như thế sẽ không thể hiện sức mạnh quân đội”…
"Tất cả các doanh nghiệp quân đội sẽ cổ phần hóa, thoái vốn hết. Cái nào của quốc phòng chỉ để phục vụ cho quốc phòng chứ không có lăn tăn gì hết. Quân đội sẽ không làm kinh tế vì như thế sẽ không thể hiện sức mạnh quân đội”, ông Chiêm khẳng định.”
Ý kiến của Thứ trưởng, Thượng tướng Lê Chiêm: quân đội thôi không làm kinh tế được một loạt báo đưa tin trừ báo Quân đội nhân dân ?
Ngày 3/7/2017, người đọc ngỡ ngàng thấy báo Quân đội nhân dân, tờ báo chủ quản là Bộ Quốc phòng lại đưa ý kiến của Thượng tướng TRẦN ĐƠN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cũng nhân danh Quân ủy TW đã có bài phát biểu với nội dụng nhắc lại một số quyết sách từ năm 2002; Những ý kiến của Thứ trưởng Trần Đơn ngược hoàn toàn với ý kiến của Thứ trưởng Lê Chiêm, một cú phản pháo hy hữu hay đây là một sự cải chính bất đắc dĩ:
“Trước nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, những năm gần đây, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa hai nhiệm vụ chiến lược và đường lối của Đảng, ban hành nhiều nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Trọng tâm là Nghị quyết số 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới-tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội”; Nghị quyết số 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Thông tư số 69/2017/TT-BQP ngày 3-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và có bước phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về KT-XH và quốc phòng-an ninh. Nổi bật là, quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế-quốc phòng (KTQP), tham gia xây dựng, phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng-an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng. Đến nay, quân đội đã xây dựng 26 khu KTQP trên các địa bàn chiến lược, vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh. 
Để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới, đòi hỏi quân đội cùng với tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, cần tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, đóng góp nhiều hơn nữa vào phát triển KT-XH, tăng cường tiềm lực, sức mạnh của đất nước. Thực hiện mục tiêu đó, toàn quân tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 520-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương; chú trọng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế. Đặc biệt, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc hơn nữa ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế trong giai đoạn hiện nay, thấy rõ vai trò nòng cốt của quân đội trong việc tham gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng và phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng-an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Toàn quân phải thống nhất nhận thức: Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một chức năng cơ bản, nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, thể hiện bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam. Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, là sự tiếp nối, phát huy tư tưởng, truyền thống quý báu “Ngụ binh ư nông”, “Tịnh vi nông, động vi binh” của dân tộc trong thời kỳ mới. Cùng với đó, chủ động, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về vấn đề này, nhằm hạ thấp uy tín của quân đội, chia rẽ quân đội và nhân dân, làm phai mờ bản chất cách mạng của quân đội, cổ súy cho việc xây dựng quân đội theo kiểu quân đội nhà nghề của các nước phương Tây…”
Phụ họa với ý kiến của Thứ trưởng, Thượng tướng Trần Đơn, Báo QĐND đăng thêm loạt bài trả lời phỏng vấn những ủng hộ quân đội nên tiếp tục tham gia làm kinh tế. Đó là ý kiến của nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Phạm Văn Trà” Kết hợp kinh tế với quốc phòng - Nhiệm vụ chiến lược lâu dài: Chủ trương lớn vẫn nguyên giá trị”…; Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và một loạt tướng lĩnh và các học giả mà nhiều người biết tên tuổi … 
Loạt bài này trên báo Quân đội nhân dân đểu có mục đích không tán thành ý kiến của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Lê Chiêm cho rằng: quân đội tham gia làm kinh tế là cần thiết để chuyên nghiệp hơn ?
Tại sao lại xảy ra tình trạng 2 ông thứ trưởng Bộ Quốc phòng đều mang hàm Thượng tướng, đều nhân danh Quân ủy Trung ương phát biểu những quan điểm trái ngược nhau như nước với lửa về vấn đề quân đội làm kinh tế ?
Như mọi người đều biết: hệ lụy của việc quân đội làm kinh tế đã dẫn đến hậu quả nhãn tiến của việc đất sân bay Tân Sơn Nhất được đem làm sân golf, nhà hàng, khách sạn, biệt thự; Trong khi đó sân bay này đang quá tải, đang thiếu đất mở rộng sân bay…
Rồi thì vụ tranh chấp đất Đồng Tâm dẫn tới những hệ lụy về an ninh, trật tự an toàn xã hội: Dân Đồng Tâm đã bắt như bắt con tin 38 chiến sĩ cảnh sát cơ động do việc tranh chấp đất giữa doanh nghiệp quân đội với dân Đồng Tâm…
Theo Luật đất đai 2003 và 2013 số đất được cấp cho các dự án quốc phòng phải được sử dụng đúng mục đích và do Thủ tướng quyết định ? Nếu không sử dụng hết phải trả lại chính phủ vì đất quốc phòng là đất miễn thuế…
Với trên 200 ha đất ở Đồng Tâm, Mỹ Đức Hà Nội được thu hồi từ năm 1980 để làm sân bay Miếu Môn, nhưng Bộ Quốc phòng đã không làm, có lúc đề nghị chính phủ liên doanh làm sân golf nhưng không được phê duyệt; lý ra Bộ Quốc phòng phải làm thủ tục trả lại cho chính phủ để Chính phủ trả lại cho dân canh tác…Vì đây là đất thuộc loại “ bờ xôi ruộng mật”…Thế mà ?
Khi dân nổi lên đấu tranh đòi lại quyền lợi chính đáng và hợp pháp thì lại bị vu cho là thế lực thù địch kích động, xúi bẩy nên một số người đã bị bắt giữ ?! Do việc nhân dân Đồng Tâm đoàn kết, nổi lên nên 4 người bị bắt giữ mới được thả; Cụ Lê Đình Kình bị đánh gãy chân mới được cứu chữa…
Vụ tranh chấp đất Đồng Tâm giữa các doanh nghiệp Bộ Quốc phòng với dân sở tại và vụ giải quyết chuyện sân golf ở đất sân bay Tân Sơn Nhât là hàn thử biểu đo hiệu lực và khả năng thực tế “ vượt vũ môn” của Chính phủ kiến tạo Nguyễn Xuân Phúc hay lại trở thành hiện tượng "Cao Biền dậy non" ?
Khi một Chính phủ mà bị nhóm lợi ích quân đội tìm cách chứng minh ngược lại một số quyết sách là hơi mệt đấy ?!?
 Còn nữa…
Phạm Viết Đào/(FB Phạm Viết Đào)