Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

20160307. THẾ NÀO LÀ "THOÁT TRUNG" ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
THOÁT TRUNG: THỬ HÓA GIẢI LỜI NGUYỀN ĐỊA LÝ 
FB TRƯƠNG NHÂN TUẤN/ BVB 6/3/2016
Thế nào là “thoát Trung” ? Nếu là để thoát khỏi “ảnh hưởng” của Trung Quốc thì, theo tôi, không hẳn chỉ là các vấn đề thuộc về văn hóa, kinh tế hay “lời nguyền địa lý” như nhiều học giả VN đã và đang bàn luận.
Thử lấy thí dụ Nhật Bản, Đài Loan và Đại Hàn. Văn hóa (nếu không nói là văn minh) của ba nước này, trên nhiều mặt của xã hội hiện nay vẫn thể hiện sâu đậm màu sắc của văn hóa Khổng giáo. Về chữ viết đã đành.
Thử xem một vài phim tình cảm xã hội của Đại Hàn, Đài Loan hay Nhật sản xuất. Ta thấy sao mà quen thuộc quá. Nếu bỏ qua những đường nét, khung cảnh hiện đại của những thành phố tiên tiến trong một quốc gia phát triển, thì ta tưởng đó là phim xã hội VN. Khung cảnh trong gia đình của một người Đài Loan, Đại Hàn, thậm chí Nhật, đều giống nhau, như Việt Nam (nhứt là VNCH trước kia). Đó là mô hình của một xã hội ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh. Dĩ nhiên là văn hóa này đã giảm thiểu nồng độ cực đoan, đến từ việc du nhập văn hóa bao dung và tự do của Tây phương. Ta không còn thấy cảnh thân phận người phụ nữ bị bó rọ trong “tam tòng, tứ đức”, cũng không thấy người đàn ông với những tín điều cứng nhắc “tam cương, ngũ thường”…
Câu hỏi đặt ra, nếp sống gia đình ở Nhật, ở Đài Loan, ở Hàn quốc, có tốt hơn nếp sống gia đình ở VN hay TQ hiện nay, ảnh hưởng chủ thuyết duy vật của Mác Lê Nin hay không ?
Câu hỏi tiếp theo, là các nước Nhật, Hàn quốc, Đài Loan… về phương diện địa lý, cũng có “lời nguyền” về “địa chính trị” không khác lắm với Việt Nam. Vậy sao họ “cách biệt”, nếu không nói là “thoát và vượt Trung” hàng thế hệ về tiến bộ văn hóa, khoa học kỹ thuật ?
Còn về vấn đề kinh tế, liên thuộc kinh tế giữa Trung Quốc với các nước Nhật, Hàn, và Đài Loan hết sức là gắn bó keo son. TQ đã, đang và sẽ mãi là đối tác quan trọng hàng đầu của ba nước này. TQ nhờ tư bản và kỹ thuật các nước này đầu tư nên mà kế hoạch “hiện đại hóa” thành công. Các nước này nhờ TQ mà kinh tế tăng trưởng đều đặng. Vậy họ có cần “thoát” lẫn nhau không ?
Các nước trên, về phương diện chữ viết, cũng như VN trước thời Pháp thuộc, đến hôm nay cũng vẫn giữ nguyên tắc cơ bản chữ Hán. Nhưng VN, có lẽ vì muốn “khác người”, nhứt là phải khác (và vượt trội) VNCH, do đó có khuynh hướng xóa bỏ các từ Việt gốc Hán. Một số kinh nghiệm sau 1975 với các ngôn từ ngây ngô, như từ “xưởng đẻ” để thay thế cho “nhà hộ sinh”. Bệnh viện Từ Dũ ở Sài Gòn có lúc đổi tên là như vậy. Lại còn các từ như “máy bay lên thẳng”, “lính thủy đánh bộ”, “giặc lái”…
Việc sử dụng từ gốc Hán không có gì phải mặc cảm. Người Nhật, người Hàn… xem ra còn lệ thuộc vào chữ Hán còn hơn VN. Bên Châu Âu cũng vậy, chữ viết các xứ này đều bắt nguồn từ Latin, Grec… Những từ khoa học các nước Âu Mỹ hầu hết đều có gốc Latin hay Grec. Các nước này đâu thấy ai lên tiếng than phiền là lệ thuộc, tỏ ý muốn “thoát Trung” hay “thoát Grec (hay Latin)” đâu ?
Lệ thuộc hay không là do mình. Ta thấy một lượng lớn từ ngữ chuyên môn (học thuật hay khoa học) Hán Việt bắt nguồn từ Nhật, do các học giả Nhật phát minh ra. Chỉ số chất lượng về đời sống, về văn hóa, về kinh tế… trên mỗi con người của Nhật, Hàn, Đài Loan hơn xa Trung quốc. Trong khi thành quả các tiến bộ về văn hóa, khoa học, kỹ thuật… Trung Quốc cũng bị các nước Nhật, Hàn… đã bỏ xa hàng vài thập niên. Như thế, ta thấy việc ảnh hưởng văn hóa Hán (chữ viết) không hề ảnh hưởng lên việc phát triển quốc gia.
Về kinh tế cũng vậy, sự liên thuộc về kinh tế giữa hai nước Nhật, Hàn và Đài loan với Trung Quốc không chừng còn quan trọng hơn quan hệ giữa TQ với Hoa Kỳ và UE cộng lại. Trong các quan hệ này, ta dùng từ “liên thuộc” chứ không phải “lệ thuộc”. Nếu chỉ tính từ thập niên 80, TQ luôn nhập siêu từ Hàn quốc và Nhật. TQ cần các mặt hàng có tính khoa học kỹ thuật cao của hai nước này để phát triển đất nước. Trong khi Nhật và Đại Hàn cũng cần đến TQ để phát triển kinh tế. Cho dầu Nhật và TQ có những mâu thuẫn sâu sắc về chủ quyền quần đảo Senkaku (Điếu Ngư), nhưng TQ chưa hề dám đe dọa dùng vũ khí kinh tế đối với Nhật.
Như vậy, dựa trên hai yếu tố văn hóa và kinh tế để “thoát Trung”, (như các học giả VN đã và đang hô hào) rõ ràng Nhật và Đại Hàn đang có khuynh hướng ngược lại : “nhập Trung” thay vì “thoát Trung”.
Nhưng quan hệ kinh tế hai bên Việt-Trung, số kim ngạch trao đổi hai bên cán cân luôn thặng dư về phía TQ. Việc thâm thủng này ngày mỗi tăng. Điều quan trọng là quan hệ kinh tế giữa VN và TQ, trong chừng mực, là quan hệ “thực dân – thuộc địa về kinh tế”. Nếu đọc lại các bản tuyên bố chung của hai bên được công bố gần đây, ta thấy VN đã nhượng cho TQ quá nhiều đặc quyền, đến đỗi các việc này có thể đe dọa nền độc lập của quốc gia. Không nói quá, mọi huyết mạch của kinh tế VN hiện nay đều do TQ kiểm soát.
Điều này đến từ các quyết định chính trị chứ không phải là những lựa chọn bắt buộc. Tức là VN vẫn có thể thoát khỏi tình trạng lệ thuộc kinh tế nếu lãnh đạo có can đảm về chính trị.
Vì vậy, theo tôi, thoát Trung hay không là một vấn đề “chiến lược” chứ không hẵn là kinh tế hay văn hóa.
Một lý do thường thấy nhiều người VN nại ra, ngại khi quay lưng lại với Trung quốc, là vấn đề “địa chiến lược”, nước xa không cứu được lửa gần.
Ta thấy các nước như Nhật, Đại Hàn, Thái Lan, Phi… (nếu không nói Đài Loan) đều ở kế “vách” với TQ, nhưng họ đâu sợ TQ. Các nước này, phần lớn, là các nước dân chủ, thịnh vượng.
Để xóa bỏ nỗi ám ảnh (chính đáng) “nước xa không cứu được lửa gần” của một số người VN hiện nay, ta cần nhắc lại một số điều cơ bản của các lý thuyết về địa chiến lược (mà lãnh đạo TQ bị ảnh hưởng).
Theo tôi, lý thuyết “Địa Chiến lược – Không gian sinh tồn” của Friedrich Ratzel (xuất bản năm 1902) có ảnh hưởng sâu sắc lên các lớp lãnh đạo (then chốt) của TQ, làm thay đổi bộ mặt của nước này, đó là : Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.
Bảy định luật của thuyết này là :
- Không gian (sinh tồn) của một dân tộc được mở rộng đồng thời với văn minh của dân tộc đó. Một dân tộc có nền văn minh tiến bộ sẽ đồng hóa các dân tộc kém văn minh hơn.
- Lãnh thổ quốc gia sẽ phát triển theo tỉ lệ thuận với sức mạnh kinh tế và đội ngũ thương buôn của quốc gia cũng như chủ thuyết phát triển quốc gia. Việc bành trướng vì thế chỉ tùy thuộc vào ý chí và phương tiện.
- Việc bành trướng của cường quốc được thực hiện qua phương cách “hấp thụ và tiêu hóa” các nước nhỏ.
- Đường biên giới quốc gia không xác định (biên giới linh động – frontière vivante). Biên giới xác định chỉ có giá trị tạm thời, chỉ để đánh dấu giữa hai giai đoạn bành trướng.
- Trong quá trình bành trướng, lãnh thổ (bây giờ là biển) là mục tiêu chiếm hữu.
- Các quốc gia yếu kém ở kế cận là mục tiêu bành trướng. Sự bành trướng của cường quốc không thể tiến triển nếu quốc gia lân bang cũng là cường quốc.
- Hiện tượng bành trướng có khuynh hướng lan rộng do việc tranh dành lãnh thổ của các quốc gia.
Bảy định luật của Ratzel đã hoàn toàn chứng nghiệm cho dân tộc Hán từ lập quốc đến ngày hôm nay.
Định luật 1 : Nền văn minh Hán Tộc đã đồng hóa tất cả các dân tộc khác, kể các các dân tộc dũng mãnh đã chiếm hữu và trị vì Trung Quốc. Lúc đầu lập quốc, dân tộc Hán chỉ có một vùng đất nhỏ, nhưng sau đó bành trướng ra, đồng hóa các dân tộc chung quanh. Văn hóa các dân tộc Mãn Châu, Mông Cổ, Liêu, Kim… đã không còn dấu vết ở Trung Quốc.
Định luật 2 : Hiện đang thích ứng cho tình trạng TQ hiện nay. Sự vượt trội về kinh tế, cho phép nước này hiện đại hóa quân đội. Những hành vi khẳng định chủ quyền của TQ ở biển Đông, hay lên tiếng tranh chấp với Nhật ở quần đảo Senkaku, cho thấy ý chí của nước này.
Định luật 3 : Định luật này cùng với định luật 1 đã được dân tộc Hán áp dụng từ thời mới lập quốc và còn đang tiếp tục cho đến hôm nay. Dân tộc Hán luôn bành trướng và tiêu diệt (hay Hán hóa) tất cả các dân tộc khác. Hiện nay việc đồng hóa đang được thực hiện ráo riết tại Tây Tạng.
Định luật 5 cho thấy vẫn chưa lỗi thời, TQ đặt ra mục tiêu chinh phục Biển Đông (Hoàng Sa và Trường Sa) đồng thời dành lại quần đảo Điếu Ngư (Senkaku). Nhưng định luật này cần cập nhật thêm, vì chủ đích của việc chinh phục là vùng biển, qua hai mặt: chiếm hữu và xây dựng các đảo nhỏ ở HS và TS thành một “bức trường thành” nhằm mục đích phòng vệ lục địa, sau đó là tài nguyên.
Định luật 6 phản ảnh rõ rệt thái độ bành trướng của Trung Quốc ngày hôm nay : VN và Phi, hai nước yếu, nằm trong tầm nhắm của TQ. Trung Quốc không bao giờ muốn thấy một Việt Nam giàu mạnh. Một nước Việt Nam giàu, mạnh sẽ ngăn cản sức bành trướng của Trung Quốc. TQ đã sử dụng nhuần nhuyễn “quyền lực mềm” để kiểm soát VN, qua các mặt: ý thức hệ chính trị, văn hóa và kinh tế. Ta thấy trên thực tế, đảng CSVN là một bộ phận của đảng CSTQ. Về văn hóa, phim ảnh, sách vở… của TQ thống lĩnh trên các chương trình truyền hình VN. Người VN thuộc sử TQ hơn cả người TQ. Còn về kinh tế, hàng hóa TQ tràn ngập thị trường. Hàng hóa TQ len lõi nhập lậu vào VN, khiến nền công kỹ nghệ tư nhân VN chết đứng. Ngoài ra, các công trình xây dựng ở VN hiện nay hầu hết đều do nhà thầu TQ phụ trách. Nhìn thành quả đường xe điện ở Hà Nội, với đường rầy uống lượn nhấp nhô như “rồng”, ta thấy ngay sự buông thả, vô trách nhiệm của lãnh đạo VN. Đó cũng là cách áp dụng uyển chuyển của lý thuyết “không gian sinh tồn”, biến VN thành một chư hầu kinh tế.
Từ định luật 6, ta thấy cuộc chiến giữa TQ và Nhật chắn chắn sẽ xảy ra. TQ không thể trở thành đại cường nếu có nước Nhật mạnh ở kế bên (và ngược lại).
Định luật 7 cho thấy có nhiều điều cần điều chỉnh lại. Đất đai không còn là mục tiêu tranh chấp mà là việc tranh dành vùng biển, tranh dành thị trường, vùng ảnh hưởng. Ngoài ra là những xung đột giữa các nền văn minh (Thiên chúa – Hồi giáo) như hiện nay (theo thuyết của Samuel P. Huntington).
Theo tôi, quan trọng nhất trong các định luật trên là định luật 6. “Thoát Trung” là thoát lệ thuộc chính trị, thoát u mê ý thức hệ, thoát mù quáng tình đồng chí anh em, thoát cám dỗ “4 tốt 16 chữ vàng”…
Thoát ra được hay không là do lãnh đạo VN có bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước, tính can đảm và ý chí dám hy sinh (quyền lợi bản thân và đảng phái) hay không.
Ta thấy định luật 6 chứng nghiệm cho các nước Nam Mỹ. Do gần với nước Mỹ, vì lý do “sinh tồn” của nước Mỹ, các nước này phải là là những nước nghèo (hay chỉ mới phát triển). (Ngoại trừ Canada, vì có cùng văn hóa và lý tưởng với Mỹ).
Trong khi những nước Nhật, Đại Hàn, Đài loan… là những nước kế cận TQ, mà TQ là địch thủ tiềm tàng của Mỹ, do đó bằng mọi cách Mỹ phải giúp các nước này để họ luôn giàu và mạnh hơn TQ (để không ngả về TQ). Điều này cũng đúng cho các nước Tây Âu trong thời chiến tranh lạnh, để các nước này có khả năng chống lại Liên Xô.
Vì thế, ở kế cận TQ không hẳn là điều xấu. Cũng như ở kế cận nước Mỹ chưa chắc là điều tốt. Nếu Nhật, Đại Hàn, Đài Loan… do nhờ ở kế cận TQ mà được Mỹ giúp phát triển đất nước giàu có, hùng mạnh, thì VN cũng có thể trở nên giàu và mạnh như vậy.
Thoát Trung do đó là vấn đề thuộc phạm vi lựa chọn: lựa chọn đồng minh, lựa chọn “ý thức hệ chính trị”. Đó cũng là tầm nhìn “chiến lược” của lãnh đạo, chứ không phải là văn hóa hay kinh tế.
(FB Trương Nhân Tuấn)/TTHN

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

20160306. VÌ SAO VĂN HÓA VIỆT NAM XUỐNG CẤP ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
LỄ HỘI VÀ SỰ XUỐNG CẤP CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM
TS NGUYỄN HƯNG QUỐC/ BVB 4/3/2016
Lễ hội Cổ Loa tại huyện Đông Anh, Hà Nội.
Ở Việt Nam, đặc biệt ở miền Bắc, mỗi năm có cả hàng ngàn lễ hội, nhưng những lễ hội quan trọng và thu hút đông đảo người tham dự nhất là những lễ hội được tổ chức sau Tết Nguyên đán.
Đọc những bài tường thuật trên báo chí trong nước cũng như trên các diễn đàn mạng, người ta nhận thấy hai điều; Thứ nhất, lễ hội nào cũng đông người dự, thường là cả mấy ngàn người, thậm chí, cả mấy chục ngàn người; người nào cũng đầy thành tín với ước mong được nhiều may mắn trong năm mới. Thứ hai, trái ngược hẳn với sự thành tín ấy, không khí lễ hội lại rất nhếch nhác và hỗn loạn. Người ta chen lấn nhau; chửi bới nhau, thậm chí ẩu đả nhau. Người ta trèo lên cả bàn thờ để ngắt hoa, lấy đồ cúng hoặc sờ vào các bức tượng thần và Phật để lấy…lộc. Trong ‘hội phết’ ở Hiền Quan, Phú Thọ, sau khi hành lễ, vị tiên chỉ tung sáu quả phết (làm bằng gỗ với đường kính khoảng 35cm) lên cao. Với niềm tin là ai cướp được ‘quả phết’ ấy thì không những bản thân mình, gia đình mình mà còn cả làng mình sẽ được phước lộc cả năm, hàng ngàn thanh niên nhào đến giành giật. Người này giành được lại bị người khác giật mất. Cứ thế. Cả hàng ngàn người, trong đó có nhiều người ở trần trùng trục xông vào nhau, giẫm đạp lên nhau, đánh đấm nhau, quyết tâm giành cho được quả phết. Đó là chưa kể chung quanh lễ hội: Hầu như tất cả các hàng quán đều nâng giá lên cao vòi vọi, một hiện tượng mà người trong nước gọi là “chặt chém”.
Mô tả khung cảnh của những buổi lễ như thế, trên báo chí, người ta dùng những từ ngữ nặng nề như “náo loạn”, “hỗn loạn”, “ẩu đả”, “hỗn chiến”, “bát nháo”, “thô tục”, “bạo liệt”, “phản cảm”, “không thể tưởng tượng được”, v.v… khiến mọi người thấy “rùng mình”, “ngao ngán” và “xấu hổ”. Một số người còn lưu ý là những cảnh tượng nhếch nhác như vậy chỉ có ở miền Bắc. Trong Nam, như ngày hội Tết ở Bình Dương, cũng quy tụ cả hàng chục ngàn người, không hề có những sự chen lấn, giẫm đạp lên nhau cũng như những sự giành giật xô bồ và tồi tệ như vậy. Nhiều người đi đến kết luận: văn hoá Việt Nam đang xuống cấp trầm trọng.
Thật ra, văn hoá Việt Nam đã xuống cấp từ lâu. Xuống cấp trong học đường: học sinh hành hung nhau và không tôn trọng thầy cô giáo; các thầy cô giáo thì chỉ xem việc dạy học như một sinh kế, ở đó, người ta tận dụng nhiều thủ đoạn, phổ biến nhất là trong việc dạy thêm, để có thật nhiều tiền. Xuống cấp trong gia đình: cha mẹ không làm gương hoặc chỉ làm gương xấu cho con cái; con cái cũng không còn hiếu đễ đối với cha mẹ cũng như giữa anh em với nhau. Xuống cấp trong xã hội: người ta chỉ biết chạy theo quyền lợi, bất kể đạo lý, mất cả nhân nghĩa và lòng tự trọng; cái gọi là tình hàng xóm, tình đồng bào và tình người trở thành một cái gì hết sức hiếm hoi. Xuống cấp trong phạm vi quốc gia: giới lãnh đạo chỉ chạy theo quyền lợi riêng, việc làm không đi đôi với lời nói, nạn tham nhũng tràn lan, sự dối trá lên ngôi. Tuy nhiên, tất cả những sự xuống cấp như vậy đều khá chung chung. Không có biểu hiện nào cụ thể về sự xuống cấp ấy cho bằng hình ảnh các lễ hội sau Tết.
Lễ hội nào cũng bao gồm hai khía cạnh: lễ và hội. Lễ là tế lễ, cúng kiếng, nghi thức; hội là sinh hoạt. Lễ là phần thiêng liêng, hội là phần giải trí. Lễ nối con người với thế giới tâm linh, hội gắn kết con người lại với nhau. Phần lễ làm cho phần hội gắn liền với quá khứ và truyền thống, từ đó, có ý nghĩa văn hoá. Chính vì vậy, lễ hội trở thành một phần của văn hoá, văn hoá dân gian.
Việc cả ngàn, thậm chí, hàng chục ngàn người tham gia vào các lễ hội chứng tỏ người ta không những mê thích các trò tiêu khiển mà còn rất quan tâm đến thế giới tâm linh. Người ta tin vào thần thánh, tin vào số phận, tin vào những ân lộc may mắn đến được từ sự nguyện cầu. Thế nhưng, tại sao, ở chỗ linh thiêng như vậy, người ta lại hành xử một cách trần tục và thô tục như giành giật nhau, giẫm đạp lên nhau, xô xát nhau như vậy? Chẳng lẽ là người ta tin thần thánh sẽ phù hộ cho họ khi người ta trèo lên bàn thờ để giật hoa quả và đồ cúng cũng như ẩu đả nhau như vậy?
Từ lâu, người ta đã nói tín ngưỡng làm cho con người hướng thượng hơn, bao dung hơn, nghĩ về người khác nhiều hơn, thế nhưng, qua những gì người ta chứng kiến được trong các lễ hội, rõ ràng là niềm tin vào thần linh không làm cho người ta trở thành tốt đẹp hơn. Tại sao?
Lý do chính dĩ nhiên không xuất phát từ tín ngưỡng. Tín ngưỡng nào ít nhiều cũng đều có mặt tốt. Lý do chính, theo tôi, là người ta không tín ngưỡng thật. Người ta chỉ mê tín. Người ta không nghĩ đến khía cạnh đạo đức của lễ hội mà chỉ xem đó như chỗ để người ta cầu an và cầu may. Người ta chỉ xem thần thánh như những con buôn, với họ, người ta có thể mua chuộc và đút lót.
Thái độ ấy chủ yếu xuất phát từ tâm lý bất an. Người nghèo, cả ngày quần quật kiếm sống, được ngày nào hay ngày ấy, hoàn toàn bất an về tương lai: Họ cần một điểm tựa về tinh thần. Cả người giàu có và có quyền chức cũng bất an: Tất cả tiền bạc và địa vị của họ không đến từ tài năng và công sức chân chính mà chỉ đến nhờ chạy chọt và tham nhũng, bởi vậy, người ta rất sợ bị mất. Đến với thần linh, người ta hy vọng sẽ tiếp tục được may mắn.
Trong một xã hội mà cả người giàu lẫn người nghèo, cả người thống trị lẫn người bị trị, đều bất an, không có giá trị nào thực sự vững chắc cả. Nhiều người cho vấn đề trầm trọng nhất của xã hội Việt Nam hiện nay là sự loạn chuẩn, đúng hơn, sự biến mất của các chuẩn mực đạo đức. Ranh giới giữa cái tốt và cái xấu, cái cao thượng và cái thấp hèn, cái nên làm và cái không nên làm đều bị xoá nhoà. Khi mất ranh giới ấy, người ta cũng mất cả ý thức hướng thiện và, quan trọng hơn, mất cả sự hổ thẹn.
Khi sự hổ thẹn không còn, đạo đức cũng sẽ không còn. Đó mới chính là điều đáng lo lắng nhất cho xã hội Việt Nam hiện nay. Chế độ độc tài một lúc nào đó sẽ sụp đổ. Nhưng những con người không biết hổ thẹn và không có ý niệm đạo đức sẽ còn mãi.
Còn, như một tai hoạ cho tương lai.
(Nguyễn Hưng Quốc Blog)

XẤU XÍ MÙA LỄ HỘI
SONG CHI /RFA Blog 26-2-2010
VN có đến hàng ngàn lễ hội lớn nhỏ mỗi năm. Mùa lễ hội nhộn nhịp nhất là vào tháng Giêng, sau Tết cho tới tháng Hai, tháng Ba. Vào mùa này tin tức về các lễ hội tràn ngập trên các trang báo và dường như năm nào tình hình cũng giống nhau.
Thử điểm qua một loạt bài báo về lễ hội năm nay: “Hỗn loạn cướp lộc chùa Phúc Khánh sau lễ cầu an”, báo VietnamNet, (chùa Phúc Khánh ở phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, Hà Nội); “Hỗn loạn ở lễ hội cướp phết Hiền Quan”, báo Thanh Niên, “Phú Thọ: Giẫm đạp nhau đến đổ máu để cướp phết cầu may”, báo Pháp Luật VN (nói về hội cướp phết ở Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ); “Dân cướp phết, quan tranh lộc”, báo Thanh Niên; “Rùng mình với những hình ảnh xấu ở lễ hội tháng Giêng”, báo Gia đình; “Chặt, chém ở lễ hội đền Trần”, báo Người Lao Động, (lễ hội Khai ấn đền Trần, tỉnh Nam Định), “Đau đớn cảnh xẻ thịt trâu chọi sống bán với giá "cắt cổ", báo VietnamNet, (lễ hội chọi trâu truyền thống xã Hải Lựu, Lập Thạch, Vĩnh Phúc) v.v…
Qua những bài báo, kèm những hình ảnh minh họa sống động, người không đi dự cũng có thể hình dung được không khí tại các lễ hội ở VN là như thế nào. Toàn những cảnh rất phản cảm như chen chúc nhau đi lễ hội, tranh nhau cướp phết, cướp ấn, xô đẩy, trèo cả lên bàn thờ cướp đồ lễ, ẩu đả, thừa cơ hội chọc ghẹo, sàm sỡ phụ nữ, rồi nào lễ hội chém lợn đẫm máu, lễ hội chọi trâu với những con trâu điên cuồng lao vào nhau trong tiếng reo hò cổ vũ của người xem, sau đó con trâu giành giải nhất sẽ được đem đi xẻ thịt sống bán với giá cắt cổ, mọi người tranh nhau mua để lấy lộc…Tại những ngôi chùa, phía bên ngoài người ta thản nhiên bày các loại thịt rừng ra bán tràn lan, người đi chùa đua nhau sờ tượng Phật lấy hên, đua nhau rải tiền lẻ khắp nơi, cảnh ăn uống xả rác bừa bãi…
Điều đáng nói là những cảnh chặt, chém, cướp, ẩu đả, hỗn chiến, giẫm đạp, máu me-máu người và máu những con vật bị chém, bị xẻ thịt…thường chỉ xảy ra tại các lễ hội ở các tỉnh thành phía Bắc, một phần cũng vì đa số lễ hội mùa này là ở miền Bắc.
Một không khí rất phàm tục, kém văn minh.
Trước hết, nói về việc đi chùa, đi đền đầu năm. Chùa chiền là nơi tôn nghiêm, thì nay lại tràn ngập một tinh thần mê tín dị đoan, thực dụng, người đi chùa xì xụp khấn vái, hào phóng bỏ tiền ra phóng sinh, làm công đức nhưng chẳng qua chỉ là để cầu may mắn, cầu tài lộc về cho mình và cho gia đình.
Nhiều nhà tâm lý học, xã hội học, nhà giáo…cũng đã từng phân tích về hiện tượng mê tín dị đoan này, nó phản ánh tâm trạng chung của đa số người Việt bây giờ.
Khi phải sống trong một xã hội rối ren, đạo đức con người bị tha hóa, cái xấu cái ác ngày càng lan tràn, luật pháp thì lỏng lẻo và không phải lúc nào cũng đứng về phía người tử tế, lương thiện nhưng thấp cổ bé họng; một xã hội không có công bằng cũng không có chế độ an sinh xã hội bảo đảm cho con người cơ hội được học hành tử tế, được chăm lo khi ốm đau, khi tai nạn hay khi về già không còn sức lao động…Con người tất nhiên sẽ cảm thấy tương lai bấp bênh, mọi chuyện không còn chỉ phụ thuộc vào việc mình có năng lực, sống đàng hoàng lương thiện, tuân thủ theo luật pháp nữa; cảm thấy mất niềm tin vào bản thân, vào xã hội, chính quyền, luật pháp…và nếu thiếu hiểu biết, sẽ dễ dàng trở nên mê tín dị đoan, cứ phải bám víu, cầu khấn Trời, Phật cho mình được bình an, may mắn, đời sống được khấm khá hơn.
Và cũng dễ thấy, không chỉ người nghèo, ít may mắn mới tìm đến chùa chiền cầu may, những người giàu có, đang ăn nên làm ra, quan chức ngồi trên đầu trên cổ dân cũng siêng năng đi chùa, phóng sinh, cầu an, cầu may. Vì tuy họ đang giàu có, ăn sung mặc sướng nhưng phần đông có được sự giàu có, chức tước đó không phải bằng năng lực thật của bản thân, chưa kể những kẻ làm giàu bằng con đường bất chính, qua mặt luật pháp, họ thừa biết một ngày nào đó nếu bị lộ ra, nếu phe cánh của mình bị thất sủng, hoặc nếu chế độ này sụp đổ thì họ sẽ mất hết…Nên càng giàu, càng leo cao thì càng không an tâm, càng phải đi xem bói, đi chùa cầu may, giải hạn…Cả xã hội cứ như lên đồng trong cơn mê tín dị đoan, từ đi thi, làm nhà, lấy vợ, mở cửa hàng làm ăn, mua chức, lên chức…bất cứ cái gì cũng tin vào may rủi, cầu khấn, cúng kiến.
Còn về lễ hội, đành rằng đây là phong tục tập quán, là văn hóa lâu đời nhưng phong tục tập quán hay lễ hội là do con người đặt ra từ hàng trăm năm nay, tất sẽ có những cái lạc hậu, thậm chí dã man (như cướp vợ, chém lợn, chọi trâu…) không còn hợp với xã hội văn minh tiến bộ nữa, sao không loại bỏ đi hoặc thay thế bằng những hình thức văn minh, nhân bản hơn?
Bên cạnh đó, những chuyện tranh cướp, hỗn loạn tại các lễ hội này năm nào cũng diễn ra, năm nào báo chí và dư luận cũng phản ánh, phàn nàn, tại sao chính quyền địa phương và các cơ quan tổ chức lại không rút kinh nghiệm? Nếu kiên quyết chấn chỉnh, kết hợp tuyên truyền giáo dục với những biện pháp ngăn ngừa, phạt nặng nếu để xảy ra nạn cướp giật, chặt chém…thì chắc cũng bớt đi phần nào.
Nếu cho đó là văn hóa VN, thì có thể hiểu tại sao cái văn hóa thực dụng, nặng tính tranh cướp, coi trọng cái ăn, coi trọng tài lộc, hoàn toàn thiếu vắng tính nhân bản ấy cộng với những hệ quả tệ hại, tha hóa về đạo đức xã hội, nhân tính con người do chế độ độc tài độc đảng gây nên đã hình thành nên những nét xấu trong tính cách người Việt như hiện tại.
Cứ thử nhìn trong xã hội VN bây giờ, những hành vi thiếu văn minh, thiếu tình người diễn ra khắp nơi. Nhưng tựu trung lại có thể thấy rõ nhất những nét sau: Một là không có thói quen nhường đường, nhường chỗ, luôn luôn cứ phải tranh giành, lấn lướt từ chạy xe ngoài đường, xếp hàng mua một cái gì đó, cho tới trong lễ hội cũng vậy. Hai là tham lam, hám lợi lộc. Không phải ai cũng thiếu thốn nhưng cứ hễ cái gì phát không, cho không là người ta tranh nhau lấy, từ một món hàng khuyến mãi cho tới “lộc”, ấn may mắn…tại các lễ hội. Người Việt thường chỉ nghĩ cho mình, ít khi nghĩ cho người. Nhà mình thì sạch nhưng con hẻm chung hay con đường đi chung thì bẩn thỉu, người ta vô tư xả rác ra đường, kể cả trong đền, chùa…Và cuối cùng là sự thiếu vắng lòng nhân ái, tính nhân bản trong đời sống hàng ngày. Người ta có thể vô tư đứng xem cảnh chém lợn, chọi trâu cũng như đứng nhìn một cảnh đánh nhau đổ máu giữa bàn dân thiên hạ…
Dân tộc nào cũng có những thói xấu bên cạnh những tính tốt. Xã hội nào khi còn ở thời chưa văn minh, chưa phát triển thì cũng có những phong tục, hủ tục lạc hậu, những cách hành xử man rợ. Cứ nhìn xã hội châu Âu thời Trung Cổ, thời phong kiến hay nước Mỹ thời mới lập quốc cho tới đầu thế kỷ XX xem. Chỉ có điều bây giờ đã là thế kỷ XXI, cần phải đau lòng, xấu hổ vì những hiện tượng mê tín dị đoan hay tranh giành, hỗn loạn tại các lễ hội vẫn cứ diễn ra ở nước ta!
Và cũng đừng quên rằng một mô hình thể chế chính trị tiến bộ, tự do dân chủ, công bằng, thượng tôn pháp luật, để cao những giá trị nhân bản, sẽ giúp cho xã hội ấy phát triển tốt đẹp hơn, những cái ác cái xấu sẽ giảm dần và triệt tiêu, những cái thiện cái đẹp sẽ sinh sôi nảy nở. Điều bất hạnh là dân tộc VN vừa thoát khỏi thời thực dân phong kiến thì lại phải chịu đựng một chế độ độc tài độc đảng cộng với ảnh hưởng của một cái thứ chủ nghĩa cộng sản Mác Lênin vô thần, ca ngợi bạo lực, đấu tranh giai cấp, kích động hằn thù…cho nên người Việt bây giờ mới tệ hại đi nhiều như vậy.
Vẫn còn đó những con người tử tế, những hành vi đẹp, nhân ái như ánh lửa trong đêm làm ấm lòng người nhưng nếu chế độ này càng kéo dài thì mức độ tàn phá xã hội, hủy hoại nhân tính càng nặng nề, và những đốm lửa đó sẽ chỉ càng hiếm hoi, hiu hắt mà thôi.


Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016

20160305. HÌNH ẢNH ẤN TƯỢNG VỀ DÂN SỐ TRUNG QUỐC




ĐIỂM BÁO MẠNG
DÂN TQ ĐÔNG ĐẾN MỨC NÀO !?
REUTERS/ email TƯ 3/3/2016
Hiện tại, dân số của Trung Quốc đang ở mức 1,4 tỉ người mặc dù đây là năm thứ 45, Trung Quốc áp dụng sinh đẻ có kế hoạch.
Là đất nước đông dân nhất thế giới, mật độ dân số của Trung Quốc đặc biệt cao ở các thành phố lớn. Mặc dù đã có những chính sách hạn chế gia tăng từ cách đây 45 năm, nhưng dân số của đất nước này vẫn chưa ngừng tăng lên.
Với chính sách mỗi gia đình chỉ được sinh 1 con, nhưng do nhưng quan niệm phương Đông, rất nhiều trường hợp đã "vượt chỉ tiêu" để kiếm 1 người con trai nối dõi. Điều này đã khiến dân số của Trung Quốc tăng thêm 400 triệu người trong 35 năm qua.
Mới đây, trang Reuters đã đưa ra 20 bức ảnh, được coi là điển hình về vấn đề dân số tại Trung Quốc. 
1. Những thí sinh đang chờ đợi trước khi vào phòng thi lên cao học. Được biết, trong kì thi năm 2013, đã có tới 1,8 triệu thí sinh tham gia vào kì thi này tại Trung Quốc.
2. Hình ảnh 1700 học sinh tại tỉnh Thiểm Tây đang làm bài thi ngoài sân trường. Bức ảnh này được chụp lại hồi đầu năm nay, lí do cho việc này là không có đủ chỗ trong nhà để thực hiện kì thi tập trung này.
 

 3. Rất nhiều quần áo được phơi tại kí túc xá 1 trường đại học ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc.
4. Ảnh chụp từ trên cao, hàng chục phụ huynh đang phải nằm chiếu trên sàn phòng tập thể dục để chờ đợi con cái họ làm bài thi trong kì thi đại học.
5. Bãi gửi xe đạp, nơi người dân gửi xe để đi tàu điện ngầm tại Thủ Đô Bắc Kinh.

6. Những chiếc thang cuốn vô cùng chật chội.
7. Rất đông người đang chờ đợi tại Nhà ga Trịnh Châu vào dịp Quốc Khánh Trung Hoa. Theo Viện du lịch Trung Quốc, có tới 480 triệu lượt hành khách có nhu cầu di chuyển trong đợt nghỉ lễ này.
8. Hàng dài taxi nối đuôi nhau đón khách tại sân bay quốc tế Bắc Kinh mới được đưa vào hoạt động.
9. Hơn 50.000 người đã tham gia vào 1 hội chợ việc làm tại thành phố Trịnh Châu, Hà Nam. Hàng dài người xếp hàng như ảnh dưới đây để kiếm được 1 công việc.
10. Một hình ảnh khác về các hội chợ xin việc tại Trung Quốc. Hàng ngàn người đã cố gắng tìm kiếm việc làm tại hội chợ này ở Trùng Khánh.

11. Hơn 1000 cảnh sát bán chuyên tham gia 1 buổi tập huấn ở tỉnh Giang Tô.

12. Chợ rau sáng sớm tại Bắc Kinh.
13. Rất đông người tham gia vào lễ hội đèn lồng đỏ đầu năm mới ở Bắc Kinh, Trung Quốc.

14. Bãi biển kín người ở Liêu Ninh. Thời tiết quá nóng khiến nhiều người đổ về các bãi biển để nghỉ mát.
15. Bể bơi này không còn dù chỉ 1 chỗ trống.
16. Khung cảnh hoành tráng tại lễ hội té nước đầu năm mới.

17. Người dân Vũ Hán nối nhau vào chùa vào ngày mùng 5 Tết âm lịch. Hàng năm, các nước phương Đông đều đón tết âm lịch và có truyền thống đi chùa vào đầu năm.

18. Nhiều người hiếu kì xếp hàng để xem thủy triều tăng đột biến bên bờ sông Tiền Đường ở Hàng Châu. Đó là đợt thủy triều cực cao hồi tháng 9 vừa qua.
19. Đèn điện tráng lệ tại Thượng Hải, một con phố hàng với hàng chục ngàn người đang mua sắm.

20. Quang cảnh Bắc Kinh vào giờ cao điểm nhìn từ trên cao.