Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

20150603. TRANH LUẬN VỀ DỰ ÁN SÂN BAY QUỐC TẾ LONG THÀNH

ĐIỂM BÁO MẠNG
NHỮNG SAI SÓT VÀ THIẾU SÓT TRONG BÁO CÁO  DỰ ÁN SÂN BAY LONG THÀNH
Bài của  TS NGUYỀN THIỆN TỐNG * / NĐT 1/6/2015
TS Nguyễn Thiện Tống
Phần phân tích tài chính và phân tích kinh tế của Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành còn sơ sài, thiếu sót, không chặt chẽ, không chính xác, không có tính hiện giá ròng tài chính FNPV, không có tính chỉ số nội hoàn tài chính FIRR cho dự án, không tính hiện giá ròng kinh tế ENPV, chỉ số nội hoàn kinh tế EIRR cho dự án không đáng tin cậy. Báo cáo Đầu tư dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành không đạt yêu cầu về nghiên cứu tiền khả thi.
Đối với dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành có tầm quan trọng và quy mô rất lớn thì việc nghiên cứu tiền khả thi là rất cần thiết nhằm trả lời câu hỏi về khả năng thỏa mãn các điều kiện cơ bản của việc đầu tư, đảm bảo các điều kiện cần để quyết định tiếp tục bỏ vốn nghiên cứu khả thi một cách toàn diện và đầy đủ về dự án hay loại bỏ để nghiên cứu chọn lại phương án đầu tư dự án khác. Nếu nghiên cứu tiền khả thi cho thấy dự án sân bay Long Thành không có hiệu quả tài chính, không chắc có hiệu quả kinh tế, không phù hợp với điều kiện hiện tại của đầu tư công cũng như khả năng vốn của nhà nước, không có khả năng thực hiện đạt mục tiêu cảng hàng không trung chuyển quốc tế của khu vực thì không cần phải tốn kém một khoản tiền lớn đầu tư cho bước nghiên cứu khả thi.
Vì nghiên cứu khả thi là nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc tất cả các khía cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính, kinh tế, quản lý với nhiều phương án khác nhau nhằm thực hiện ý đồ dự án với lợi ích cao nhất, là bước cuối cùng của công tác chuẩn bị đầu tư. Cho nên trong trường hợp dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành quy mô rất lớn, chi phí nghiên cứu khả thi khoảng 3000 tỷ đồng.
Qua các Tóm tắc Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành (tháng 6 năm 2013, tháng 9 năm 2014, tháng 3 năm 2015), Tờ trình xin phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành của Bộ GTVT gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 12/9/2014, phần phân tích khả thi tài chính hầu như không có gì.
Chỉ riêng Báo cáo Giải trình bổ sung về Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành của Chính Phủ gửi Quốc Hội ngày 27/10/2014 mới có phần đề cập đến phân tích tài chính đối với hạng mục nhà ga hành khách (nguồn vốn doanh nghiệp, công ty cổ phần, PPP) với kết quả tính toán cho chỉ số nội hoàn tài chính FIRR là 13,9% xem xét cho thời hạn 25 năm (tr. 21 Báo cáo Giải trình bổ sung).
Đây là hạng mục có khả năng cho lãi suất cao nhất được chọn để tính toán với dự báo lạc quan về nhu cầu hành khách nhằm đưa ra chỉ số nội hoàn tài chính FIRR cao là 13,9%, tuy nhiên đối với những hạng mục khác cần đầu tư từ nguồn vốn xã hội (tư nhân) mà có khả năng cho lãi suất thấp hơn thì chỉ số nội hoàn tài chính FIRR chắc chắn sẽ thấp hơn 13,9%. Nhiều hạng mục có chỉ số nội hoàn tài chính FIRR thấp hơn 10% thì sẽ không hấp dẫn nhà đầu tư và như thế khả năng huy động nguồn vốn tư nhân cũng sẽ không có.
Mặt khác phân tích khả thi tài chính cho toàn thể dự án hay cho giai đoạn 1 của dự án là nghiên cứu quan trọng nhất của nghiên cứu tiền khả thi mà Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành không có thực hiện gì cả thì làm sao đạt yêu cầu về nghiên cứu tiền khả thi.
Có thể như TS Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright từng phát biểu “Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành tính toán tài chính cách nào cũng lỗ” cho nên chủ đầu tư là Tổng Công ty cảng hàng không Việt Nam cố tình tránh né không thực hiện phân tích tính toán tài chính.
Để trả lời câu hỏi về nhu cầu vốn đầu tư cho dự án, báo cáo nghiên cứu tiền khả thi phải thể hiện ngân lưu tài chính (dòng tiền) qua từng năm của thời gian thực hiện dự án, cũng như cho biết khả năng vốn của chủ đầu tư (Tổng Công ty cảng hàng không Việt Nam) và khả năng huy động nguồn vốn tư nhân cùng nhu cầu bù lỗ của nhà nước cho từng năm là bao nhiêu và cho toàn thể là bao nhiêu.
Phân tích tính toán về kinh tế trong các Báo cáo đầu tư Dự án vừa quá sơ sài vừa sai lệch cả về chi phí và lợi ích. Tóm tắc Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành lần đầu (tháng 6 năm 2013) đưa ra chỉ số nội hoàn kinh tế EIRR là 22,1%, rồi lần thứ hai (tháng 9 năm 2014) thì EIRR là 29,8%, và lần thứ ba (tháng 3 năm 2015) lại là 24,5%.
Trong khi đó số vốn đầu tư cho giai đoạn 1 lúc đầu là 7,8 tỷ USD cho diện tích sân bay 2.565 ha với 2 đường băng cất hạ cánh và nhà ga hành khách 400.000 m2 để đạt năng suất 25 triệu khách/năm, nay trong Tóm tắc Báo cáo đầu tư Dự án vào tháng 3 năm 2015, số vốn đầu tư cho giai đoạn 1 rút xuống còn 5,2 tỷ USD cho diện tích 1.165 ha với chỉ 1 đường băng cất hạ cánh và nhà ga hành khách 400.000 m2 để đạt năng suất 25 triệu khách/năm. Vốn đầu tư cho giai đoạn 1 giảm đi 1/3 như thế chủ yếu là do giảm 1.400 ha diện tích sân bay và giảm 1 đường băng cất hạ cánh trong khi năng suất vẫn đạt 25 triệu khách/năm. Những thay đổi lớn như thế về vốn đầu tư sẽ làm thay đổi nhiều về kết quả tính toán tài chính và kinh tế. Điều này chứng tỏ thêm rằng số liệu của Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành là không đáng tin cậy và cần có thời gian để nghiên cứu kiểm chứng độc lập trước khi Quốc Hội quyết định.
Tóm lại phần phân tích tài chính và phân tích kinh tế của Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành còn sơ sài, thiếu sót, không chặt chẽ, không chính xác, không có tính hiện giá ròng tài chính FNPV, không có tính chỉ số nội hoàn tài chính FIRR cho dự án, không tính hiện giá ròng kinh tế ENPV, chỉ số nội hoàn kinh tế EIRR cho dự án không đáng tin cậy. Báo cáo Đầu tư dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành không đạt yêu cầu về nghiên cứu tiền khả thi.
(*)Tiến sĩ Kỹ thuật Hàng không, Đại học Sydney, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không, Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM.
PHẢN BIỆN VỀ SÂN BAY LONG THÀNH: ĐA SỐ ĐỀU GẬT ĐẦU
Bài của TƯ GIANG / TBKTSG 1/6/2015
Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng tai Diễn đàn. Ảnh TG
(TBKTSG Online) - Hầu hết các học giả, các chuyên gia kinh tế hàng đầu đất nước đều ủng hộ Chính phủ xây dựng sân bay Long Thành – một dự án gây nhiều tranh cãi – tại một diễn đàn khoa học được tổ chức sáng nay (1-6) tại Hà Nội.
Diễn đàn này do Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức lần đầu tiên nhằm hiện thực hóa Quyết định số 501/QĐ-TTg ngày 15/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó, khuyến kích giới trí thức tham gia hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nói: “Quan điểm của tôi là Việt Nam cần có một sân bay quốc tế hiện đại. Chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển, hội nhập, có điều kiện bùng nổ kinh tế nên cần sân bay lớn.”
Theo ông Thiên, ở bình diện quốc tế trong tương lai gần sẽ có nhiều chuyển động, khi Thái Lan và Trung Quốc gần đạt được thỏa thuận mở kênh đào qua lãnh thổ Thái Lan. Bên cạnh đó, tuyến đường sắt nối Bà Rịa – Vũng Tàu với Myanmar theo sáng kiến của ADB cũng đang trong lộ trình thực hiện.
Trao đổi thêm với TBKTSG Online, ông Thiên nói, cần đặt sân bay Long Thành trong tầm nhìn hội nhập quốc tế, trong kết nối với hệ thống Cảng biển quốc tế Cái Mép – Thị Vải mới thấy sự cần thiết của một tổ hợp dịch vụ trung chuyển cho Việt Nam.
“Việt Nam có định trở thành (điểm) nút của hội nhập không? … Nếu Việt Nam muốn hội nhập đẳng cấp thì cần một sân bay trung chuyển quốc tế chứ không thể (chỉ) duy trì một nhà ga hàng không,” ông nói.
Tiến sĩ Lương Hoài Nam, Tổng giám đốc Hàng không Hải Âu, nói: Theo quy hoạch, tại Long Thành sẽ hình thành tụ điểm giao thông đa phương tiện lớn nhất Việt Nam gồm hàng không, đường bộ, cao tốc, cảng biển, sông...
“Khi tôi trình bày với đại biểu Quốc hội tháng 12 năm ngoái, tôi đã nhắc đến yếu tố này,” ông Nam nói với ý ủng hộ dự án Long Thành.
“Nếu không làm sân bay này, làm sao tận dụng hiệu quả được các đường cao tốc giao thông đã làm hiện tại?” ông Nam nói và so sánh với các đường giao thông đã trở nên quá tải quanh sân bay Tân Sơn Nhất.
Ông Nam khẳng định, sân bay Tân Sơn Nhất hiện cũng đã quá tải. Ông nói: “Dự án Sân bay Long Thành triển khai hơi chậm, giá như làm 10 năm trước thì tốt hơn nhiều.”
Tiến sĩ Trần Du Lịch, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, cho biết trong vai trò đại biểu Quốc hội, ông đã nghe rất nhiều ý kiến do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tập hợp.
“Chúng tôi (đại biểu Quốc hội) chỉ có trách nhiệm bấm nút thông qua chủ trương đầu tư… không ai bài bác dự án này,” ông Lịch khẳng định.
Ông Lịch nói thêm: “Tôi là người tham gia về quy hoạch vùng kinh tế miền Nam, chúng tôi luôn mơ rằng sẽ có một sân bay tầm cỡ như Long Thành, chứ không phải chỉ như Tân Sơn Nhất”. Tuy nhiên, ông Lịch cho biết ông cũng lo ngại vấn đề nợ công lớn, tham nhũng trong triển khai dự án.
Theo tiến sĩ Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, một nghiên cứu của cơ quan này kết luận là dự án Long Thành sẽ khả thi về mặt kinh tế xã hội vì tác động lan tỏa lớn của nó.
Tuy nhiên, ông Thành cảnh báo, về mặt tài chính thì rất khó khăn với các nhà đầu tư tư nhân khi tỷ suất sinh lợi chỉ là 4%.
“Vì thế, nếu Nhà nước không bỏ đồng tiền nào vào, thì tư nhân khó đầu tư vì dự án không khả thi về mặt tài chính,” ông Thành nhận định.
Ông Thành thậm chí đi xa hơn khi gợi ý rằng, trong giai đoạn 2030-2036 cần nghiên cứu đóng cửa sân bay Tân Sơn Nhất để tập trung mở rộng Long Thành thì tính khả thi về kinh tế và tài chính sẽ cao hơn.
Trong khi đó, chuyên gia phản biện Nguyễn Thiện Tống vẫn giữ nguyên quan điểm khi ông khẳng định: “Chúng tôi đã kiến nghị Quốc hội khoan làm Long Thành và phải nghiên cứu kỹ hơn.”
“Báo cáo tiền khả thi không đạt yêu cầu. Tôi nói thật nếu đem báo cáo này cho sinh viên thì họ sẽ cười…”, ông nói.
Ngồi nghe từ đầu đến cuối buổi Diễn đàn, Bộ trưởng Giao thông-Vận tải Đinh La Thăng tỏ vẻ vui mừng khi nghe hàng loạt ý kiến của các đại biểu.
Ông nói: “Tuyệt đại đa số đại biểu ủng hộ Long Thành. Kể cả giáo sư Nguyễn Thiện Tống dù không ủng hộ, nhưng trong phân tích cũng nói là cần xây Long Thành khi Tân Sơn Nhất quá tải.”
Ông Thăng cam kết: “Tôi khẳng định, trong tất cả các văn bản chúng tôi đều nói không có chuyện đóng của sân bay Tân Sơn Nhất… Không hề có chuyện đóng cửa Sân bay Tân Sơn Nhất”.
Ông nói, về vốn sẽ có khoảng 60% là huy động từ vốn tư nhân, 40% còn lại là vốn ngân sách nhà nước và vốn ODA.
Thứ Năm tuần này, ông Thăng sẽ điều trần trước Quốc hội về dự án Sân bay Long Thành.
XIN MỜI "PHÁI LONG THÀNH" GIẢI BÀI TOÁN "TÂN SƠN NHẤT"
Bài của NGUYỄN ĐÌNH ẤM/ BVN 3/6/2015
Việc Bộ GTVT đưa ra phương án khai thác song song TSN và LT chỉ là che đậy nguyên nhân vô lý giảm vốn đầu nhằm “lách” sự băn khoăn của Quốc hội về số tiền cho LT quá lớn trong khi nền kinh tế đang chao đảo mà thôi.
Từ mấy năm nay, lực lượng vận động xây sân bay Long Thành (xin gọi nôm na là phái Long Thành) đưa ra rất nhiều con số, phương án và cả những hiện tượng ra vẻ ngẫu nhiên… để ủng hộ xây sân bay Long Thành (LT). Thực chất hầu hết lý sự của họ chỉ là ngụy biện kiểu “con rắn vuông” để hợp lý hóa một sự đã rồi (sân golf Tân Sơn Nhất đã xây xong không thể bỏ, đất LT đã, đang bán đợt 2,3…).
Nhiều nhà khoa học cũng như tôi đã bác bỏ những “lý sự cùn” của họ về “Tân Sơn Nhất quá tải, ô nhiễm môi trường, công suất LT đến 100 triệu khách…” một cách không thể chối cãi qua các bài: Nỗi đau sân bay, Sân golf đuổi sân bay, Những phát ngôn liều, dối trá, cơ hội về dự án Long Thành…
Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải trình, tranh luận, các báo cáo… của phái LT hầu như không  nói đến phương án sử dụng Tân Sơn Nhất (TSN) khi đã xây LT mà cũng không thấy Quốc hội, cơ quan nào đề cập đến. May sao, ngày 1/6/2015 báo VN Express đăng ông bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng mới thông báo là sẽ thay mặt chính phủ báo cáo về LT với Quốc hội ngày 6/6 tới, trong đó có đoạn:
“…lần này có những điều chỉnh quan trọng như tổng mức đầu tư giảm 2,6 tỷ USD cho giai đoại một, dự án cũng chỉ xây dựng một đường hạ, cất cánh thay vì hai như ban đầu” và “… sau khi có LT… phương án khai thác là LT đảm nhận 90% khách quốc tế và 20% khách nội địa; TSN đảm nhận 10% khách quốc tế, 80% khách quốc nội”.
Một cán bộ điều hành bay lâu năm ở Hàng không Việt Nam (HKVN) kinh ngạc nói với tôi:
- Không thể hiểu nổi mấy ông này lại phát ngôn như thế. Sẽ rất phức tạp để xếp khách nào có nhu cầu đến TSN, khách nào đến LT để đưa vào các chuyến bay A, B, C khi yêu cầu gấp gáp của họ về thời gian… Việc này các ông ấy không quan tâm, nhưng với một hãng vận chuyển người ta phải nghĩ đến sự thuận tiện nhất cho hành khách... Đặc biệt, với khách quá cảnh, không ai có thể yên tâm bay đến Long Thành để lại đi 40 km nữa về TSN  và ngược lại (vì 20% khách nội địa đến LT, 10% khách quốc tế đến TSN (?)) để đáp chuyến bay đi nơi khác trong tình trạng đường sá hay tắc nghẽn và bao nhiêu sự cố trên đường có thể xảy ra làm trễ chuyến bay tiếp của họ. Ngay tại sân bay Nội Bài này, khách nội địa, quốc tế đều ở đây, nhưng khi không có băng chuyền đi lại, khách quá cảnh phải qua lại từ ga quốc tế sang ga nội địa và ngược lại chỉ mấy trăm mét họ đã kêu trời, nay xa những 40 km… thì khách nào chịu nổi?! Không ai trên thế giới làm như thế…
Điều mà nhiều cán bộ ở ngành HKVN quan tâm hơn cả đó là phương án sử dụng LT và TSN song song như báo cáo của bộ GTVT sẽ là “cực kỳ thất sách”. Vì khi LT xây xong một nhà ga, một đường băng khai thác nghĩa là, mỗi sân bay “gánh” 1/2 số chuyến bay, khách. Như vậy cả TSN, LT chỉ sử dụng 1/2 công suất nhưng phải duy trì, đầu tư hai nguồn trang, thiết bị, hai bộ máy quản lý và đội ngũ nhân viên vận hành như nhau. Chỉ riêng với số lượng mỗi sân bay cỡ hàng nghìn CBNV là không thể tưởng tượng nổi (vì các sân bay phải có đủ các bộ phận như nhau dù to hay nhỏ). Lại nữa, nhà ga nội địa TSN trị giá hàng nhiều nghìn tỷ sau nhiều lần sửa chữa, nâng cấp rộng 22.000 m2 với công suất 15 triệu khách/năm, nhà ga quốc tế đầu tư 260 triệu USD (vay ODA của Nhật) 95.920 m2 với công suất 15-17 triệu khách/năm (khi mở rộng thêm) cũng sẽ chỉ sử dụng hơn 1/2 công suất. Lại nữa, việc “chia đôi” lượng khách như thế thì hiệu quả kinh doanh phi hàng không (nhà hàng, hàng miễn thuế, siêu thị, đổi tiền…) ở đâu?
Không chỉ như vậy, theo ước tính của một số chuyên gia HKVN thì tổng giá trị tài sản (không tính đất) của TSN để duy trì hoạt động một sân bay như vậy (đường băng, nhà ga hành khách, trang thiết bị, công trình không thể tháo dỡ, tháp điều hành không lưu, cơ sở sửa chữa, bảo dưỡng, hệ thống viễn thông, đèn chiếu sáng…) không dưới 3,5 - 4 tỷ USD đều chỉ sử dụng 1/2 công suất và khi tất cả hàng không dân dụng chuyển về LT thì 80% giá trị đó (không thể tháo dỡ chuyển đi) bị “hoang phế”, vì hiện tại ngoài hàng không dân dụng hoạt động máy bay quân sự khai thác hầu như không đáng kể với “mấy chuyến bay AN26 và trực thăng trong tuần, thậm chí tháng”. Đó là chưa nói đến thương hiệu “vàng” của TSN đã quen thân với khắp năm châu từ hơn 70 năm qua.
Cũng không loại trừ TSN sẽ chung số phận như Gia Lâm, Bạch Mai… Đó là từ sau khi HKDD Gia Lâm rút lên Nội Bài đến nay, hầu hết quỹ đất dự trữ sân bay đã bị biến thành nhà ở, nhà xưởng làm kinh tế, sân golf, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi…, đẩy nhà công vụ đến sát đường lăn mặc dù sân bay vẫn nằm trong quy hoạch hệ thống sân bay quốc gia được chính phủ mới phê duyệt những năm gần đây. Riêng sân bay Bạch Mai thì phần lớn quỹ đất đã được làm nhà ở, văn phòng, nhà hàng… kinh doanh.
Có thể khẳng định: Việc bộ GTVT đưa ra phương án khai thác song song TSN và LT chỉ là che đậy nguyên nhân vô lý giảm vốn đầu nhằm “lách” sự băn khoăn của Quốc hội về số tiền cho LT quá lớn trong khi nền kinh tế đang chao đảo mà thôi.
N.Đ.A.
Tác giả gửi BVN
* Bài đã đăng trên trang Việt Nam Thời Báo – Diễn đàn Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam
TIẾN SĨ PHẢN BIỆN  RỒI ĐƯỢC GÌ? 
Bài của NGÂN AN / VNN 31/5/2015

Bộ GD-ĐT, Bộ GTVT, trần Đình Bá, tiến sĩ

Ảnh minh họa từ Internet

 - Trong tuần qua, một người tự xưng là “tiến sĩ” vừa bị lãnh đạo của một bộ đề nghị “thẩm tra, cung cấp thông tin công khai” về độ chính xác của học vị.
Lý do mà lãnh đạo Bộ này đưa ra để đòi hỏi xem xét là do vị “tiến sĩ” kia đã nêu ý kiến phản biện “không chính xác” trên một số tờ báo.
Trong buổi gặp mặt giữa GS Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với 20 giáo sư thuộc các hội khoa học kỹ thuật vào ngày 6/9/2014 - GS Trần Đình Long đã phát biểu rằng: "Việc coi trọng khoa học công nghệ ở Việt Nam vẫn chỉ là vấn đề lý thuyết" với ví dụ “Hơn 10 năm qua vai trò phản biện của các nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp hầu như không có".Không bàn tới những cách xử lý đúng đắn nhất trong trường hợp vị tiến sĩ thực sự đưa ra thông tin không chính xác, câu hỏi đặt ra ở đây là sự phản biện trong đời sống xã hội hiện nay đang được tiếp nhận như thế nào?
Cũng trong cuộc gặp mặt này, GS Phạm Ngọc Đăng, phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Tài nguyên - Môi trường đặt vấn đề: “Trên thực tế, giới trí thức chưa được tôn trọng, nhà khoa học chưa được các cấp lãnh đạo lắng nghe”.
“Nhiều hội đồng khoa học lập ra để phản biện nhưng lại toàn những người có chức quyền ở các bộ, không phải các nhà khoa học độc lập thì thử hỏi họ có dám thẳng thắn bày tỏ ý kiến khách quan của mình, có dám phản biện, phản đối những vấn đề bất cập không?”.
Có lần trao đổi với một phó vụ trưởng Bộ GD-ĐT về một văn bản khá quan trọng đang được đưa ra lấy ý kiến, vị này “thật thà” cho biết chưa nhận được góp ý nào dù văn bản đã được đăng tải công khai trên mạng và gửi tới các nhà trường và chỉ còn hai ngày nữa là hết thời hạn góp ý.
Hiện tượng này không phải là cá biệt, cũng không phải chỉ diễn ra trong ngành giáo dục, khi không ít văn bản chỉ đến khi đã trở thành quy định chính thức mới lại ồn ào lên những ý kiến phản đối.
Trong các cuộc hội thảo lấy ý kiến góp ý của ngành giáo dục mà tôi hay được dự, người phát biểu đa phần là những gương mặt đã rất quen thuộc, và đã khá lớn tuổi. Rất ít người mới, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ, góp mặt trong những cuộc góp ý liên quan tới tương lai của thế hệ con cháu mình. Rất nhiều người – có học hàm, học vị hay những thành tích chuyên môn rất đáng ghi nhận - từ chối khi được đề nghị đưa ra ý kiến về chính lĩnh vực họ đang nghiên cứu. Lý do thường được đưa ra là “Không muốn lên báo rồi bị ảnh hưởng”.
Sự lo ngại của họ không hẳn là vô cớ. Nhận định của GS Phạm Ngọc Đăng đã tiếp tục được minh chứng với không ít sự việc diễn ra trong thời gian gần đây.
Điển hình nhất là ngày 27/3 vừa qua, Trường ĐH Lâm nghiệp Việt Nam ra văn bản thông báo “sẽ tiến hành các bước kiểm điểm, rút kinh nghiệm và thi hành kỷ luật theo quy định nếu có vi phạm" nhân sự việc một số cán bộ viên chức của nhà trường đã trả lời phỏng vấn báo chí về việc chặt cây xanh ở Hà Nội. Mặc dù sau đó 2 ngày, nhà trường cho biết đây là "lỗi soạn thảo văn bản" và sẽ xử lí cá nhân có liên quan, nhưng trao đổi với VietNamNet ngày 27/3, ông Nguyễn Vũ Lâm, Trưởng phòng Hành chính tổng hợp xác nhận việc ban hành công văn này có liên quan đến việc phát ngôn của hai tiến sĩ của hai viện thuộc trường. "Do hai vị phát ngôn nhưng lãnh đạo các viện không nắm được" - ông Lâm nói. 
Rồi tới vụ việc đề nghị “Bộ GD-ĐT xem xét thẩm tra, cung cấp thông tin công khai về độ chính xác của học vị Tiến sĩ” lần này...
Góp ý đúng phải thừa nhận
PGS Văn Như Cương, một người nổi tiếng là “hay nói”, bình luận: "Nói chung, có nhiều cách để giải quyết sự việc đó. Nhưng việc đề nghị thẩm tra lại bằng cấp là một kiểu vì tức khí chuyện này lại lôi chuyện khác ra “xử” là không hay".
Tuy nhiên, theo ông Cương, “Những người hiểu biết, định góp ý một cách chân thành sẽ không vì sự việc lần này mà ngại đâu”.
“Sự xem trọng của bằng cấp trong việc lấy ý kiến đóng góp là có. Tôi biết không ít trường hợp  người nghiệp dư, ảo tưởng góp ý không đâu vào đâu. Những chuyện như vậy cũng thường xảy ra. Vì vậy, các bộ ngành cũng thận trọng, muốn người đóng góp ý kiến có bằng cấp để chứng tỏ họ có trình độ, không lại mất thì giờ cho những việc không đâu. Dĩ nhiên, không phải ai có bằng cấp cũng có góp ý xác đáng. Và người không có bằng cấp nhưng góp ý đúng thì vẫn phải thừa nhận”.
GS Đào Trọng Thi nhìn nhận về cơ bản hành động này thực sự không gây ảnh hưởng tới việc các nhà khoa học chân chính tiếp tục có ý kiến phản biện xã hội. “Phải phân biệt đây là hai việc khác nhau. Một việc là những nhà khoa học, kể cả người dân góp ý các bộ ngành cần phải nghiên túc nghiên cứu. Những ý kiến xác đáng phải tiếp thu. Điều này không liên quan đến bằng cấp.
Mặt khác, cơ quan nhà nước cũng phải xử lý một cách tế nhị. Có thể lật tẩy việc giả mạo để dư luận hiểu, nhưng phải giải trình rõ ràng sự vạch mặt này không liên quan đến việc tiếp thu ý kiến đóng góp. Cần phải chỉ rõ lý do không tiếp nhận ý kiến bởi những lý luận thuyết phục, chứ không phải chỉ vì người ta không có học hàm học vị”.
Ông Thi phân tích thêm, “giả sử như người góp ý tự xưng là tiến sĩ hay nhà khoa học khi sự thật không phải như vậy thì không chấp nhận được, bởi trong khoa học yếu tố trung thực được đặt lên hàng đầu. Việc sử dụng danh xưng sẽ làm cho nhiều người nhầm tưởng bởi đương nhiên, khi có học hàm, học vị, các ý kiến đóng góp sẽ được tiếp nhận và nghiên cứu khác, vì người nhận đóng góp có sự tin tưởng vào trình độ của người góp ý. Dư luận bị đánh lừa bởi danh xưng cũng sẽ nhìn nhận ý kiến đó với sự tin tưởng khác”.
“Biết mà không nói vì lý do cá nhân, quyền lợi riêng là thiếu trách nhiệm với xã hội. Biết nhưng chưa tin tưởng, nghiên cứu tiếp để có kết quả xác đáng hơn mới nói, là đáng trân trọng. Người biết mình biết gì, đóng góp như thế nào mới là người thông minh, góp ý có trách nhiệm, dễ thuyết phục hơn những người đao to búa lớn. Ít góp ý chưa chắc đã phải là kém, thiếu kinh nghiệm, mà chính bởi họ từng trải nên thận trọng, cân nhắc” – ông Thi nhấn mạnh.
“Tuổi trẻ không quan tâm đến những vấn đề xã hội là đáng lo. Quan tâm nhưng chán không muốn nói vì thấy nói chẳng được lợi ích gì thì đáng lo hơn, thậm chí là quan điểm nguy hiểm, bởi không động viên được suy nghĩ của mọi người cho sự phát triển của đất nước” – PGS Văn Như Cương.

  • Ngân An
 LONG THÀNH LÀM SÂN BAY TRUNG CHUYỂN QUỐC TÊ: MỤC TIÊU KHÔNG KHẢ THI
Bài của TS. NGUYỄN THIỆN TỐNG */ NĐT 2/6/2015

Sân bay trung chuyển là nơi chuyển nhiều hành khách từ các chuyến bay này sang các chuyến bay khác chứ không phục vụ như là điểm đến cuối cùng. Phần lớn khách quốc tế đi từ một thành phố của điểm đầu tiên rồi trung chuyển ở các sân bay này để đến một thành phố khác của điểm cuối cùng mà không đi ra thành phố có sân bay trung chuyển. Các sân bay Singapore, Bangkok, Hong Kong là các sân bay trung chuyển quốc tế của khu vực quanh Việt Nam hiện nay. Sự thành công của các sân bay trung chuyển quốc tế này nhờ đóng góp hết sức quan trọng từ lúc đầu của các hãng hàng không quốc gia mỗi nước như Singapore Airlines, Thai Airways, Cathay Pacific Airways.
Ở trang 10 của Tóm tắc Báo cáo đầu tư dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành có viết “ICAO cũng nhận định xu thế phát triển cơ bản của hàng không dân dụng thế giới là sự hình thành các liên minh giữa các hãng hàng không lớn, cùng với việc tạo lập các trung tâm trung chuyển hàng không theo xu thế chuyển đổi từ mô hình khai thác điểm tới điểm (point to point) sang mô hình khai thác trục nan (hub and spoke), hình thành nên các cảng hàng không trung chuyển (airport hub) là xu thế tất yếu của chính sách tự do hóa đối với hoạt động vận chuyển hàng không”. Ở trang 8 của Tóm tắc Báo cáo cũng có viết “Về xu thế phát triển của ngành hàng không trong khu vực, vùng phía Nam Việt Nam đã được ICAO đánh giá có khả năng hình thành cảng hàng không trung chuyển để phục vụ chi Liên minh Hàng không Sky Team mà Vietnam Airlines đang tham gia.”
Ý kiến của ICAO được viện dẫn ở trên không có gì vững chắc cả.
Sân bay Changi của Singapore tiếp tục phát triển vị trí trung chuyển quốc tế. Ảnh: TL 
Việc sân bay Tân Sơn Nhất hay Long Thành trở thành sân bay trung chuyển quốc tế trong khu vực là vô cùng khó khăn, một khi đã có những sân bay trung chuyển khác được thiết lập từ trước. Việc có hàng chục hãng hàng không sử dụng cùng một sân bay tạo ra “hiệu quả mạng lưới” vì hành khách có thể thực hiện nhiều kết nối ở sân bay đó để bay đến nơi khác. Mỗi hãng hàng không đều có lợi khi có nhiều hãng hàng không khác cũng đến cùng một sân bay. “Hiệu ứng mạng lưới” được phát triển dần dần qua nhiều năm từ quyết định của từng hãng hàng không vì lợi ích của chính mình. Tại sao một hãng hàng không lại phải quyết định sử dụng một sân bay vốn không phải là đích đến cuối cùng khi có rất ít những kết nối khác? Tại sao một Liên minh Hàng không lại thay đổi vị trí hub trung chuyển của mình từ sân bay Singapore, Bangkok, Hong Kong đến sân bay Tân Sơn Nhất hay Long Thành khi việc đó không có lợi so với việc duy trì hub hiện có?
Malaysia đã xây dựng sân bay mới cách xa thủ đô Kuala Lumpur 60 km với ý định trở thành đầu mối trung chuyển quốc tế nhưng đã không thành công, dù tính phí máy bay rất ít và phải trợ cấp hàng năm đến 250 triệu USD. Trong khi đó Singapore với dân số chỉ 5,5 triệu vẫn tiếp tục phát triển vị trí trung chuyển quốc tế của sân bay Changi, với phí máy bay thấp mà hoạt động sân bay vẫn có lãi.
Công nghệ mới của ngành hàng không sẽ quyết định loại hình sân bay. Ảnh: TL
Khuynh hướng thị trường máy bay trong những năm gần đây cho thấy các loại máy bay “theo mô hình điểm đến” như Boeing 777/787 và Airbus 330/350 được các hãng hàng không ưa chuộng hơn, mua nhiều hơn các loại máy bay siêu lớn “theo mô hình đầu mối trung chuyển” như A-380 hay Boeing 747. Những máy bay tầm xa, số lượng khách nhỏ hơn, tần suất bay nhiều hơn được hành khách ưa chuộng hơn để bay thẳng một chuyến theo mô hình điểm tới điểm. Khuynh hướng này dẫn đến việc các máy bay siêu lớn như A-380 hay Boeing 747 sẽ giảm dần rồi không còn được sử dụng nhiều trong 10, 15 năm nữa. Vì thế, các sân bay mới xây dựng sẽ không cần có đường băng cất hạ cánh dài 4.000 m. Sân bay thứ hai cho Sydney bắt đầu xây dựng năm 2015 có thiết kế hai đường băng cất hạ cánh chỉ dài 3.700 m trên diện tích 2.000 ha mà năng suất là 80 triệu khách/năm. Sân bay Long Thành với bốn đường băng cất hạ cánh dài 4.000 m trên diện tích 5.000 ha là rất lãng phí.   
Như thế chính công nghệ mới của ngành hàng không cùng với sự thiết lập từ trước các sân bay trung chuyển của khu vực như Singapore, Bangkok, Hong Kong sẽ làm cho mục tiêu trở thành cảng hàng không trung chuyển quốc tế của Long Thành không khả thi, nếu không muốn nói chỉ là ảo tưởng.  
Do đó, để có thể được Quốc hội xem xét và quyết định chủ trương thì quy mô dự án xây dựng sân bay Long Thành cần thu hẹp lại trong giai đoạn I với một đường băng cất hạ cánh dài 3.700 m trên diện tích 1.000 ha để có năng suất 25 triệu khách/năm, nhằm đáp ứng mục tiêu thực tế và vừa sức của cảng hàng không quốc tế bình thường có nhiệm vụ san sẻ áp lực quá tải cho sân bay Tân Sơn Nhất trong tương lai.
Nguyễn Thiện Tống
(Tiến sĩ Kỹ thuật Hàng không, Đại học Sydney; Thạc sĩ Quản trị Hành chánh công, Đại học Harvard;Nguyên Giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright; Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không, Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM) 

Loạt bài của TS Nguyễn Thiện Tống về Dự án sân bay Long Thành:

Tin, bài liên quan:

NHẮC LẠI BÀI VIẾT CŨ NHÂN QUỐC HỘI SẮP BẤM NÚT  SÂN BAY LONG THÀNH
Bài của MẠC VĂN TRANG/ BVN 4/6/2015
NHẤN NÚT VÀ ĐỘNG CƠ
Lời dẫn của tác giả: Bài viết này tôi đã gửi cho một số đại biểu Quốc hội và đã gửi đăng trên trang Bauxite Việt Nam ngày 18/06/2010, trước khi Quốc hội ấn nút biểu quyết về việc làm đường sắt Cao tốc Bắc Nam. Phúc cho dân ta, hồi đó đa số các đại biểu đã nhấn “Không tán thành”, dẹp tan cái “Quyết tâm chính trị” của nhóm nào đó! Nay Quốc hội sắp ấn nút về SÂN BAY LONG THÀNH, tôi xin đăng lại bài này, may ra có đến các ĐBQH trước khi ấn nút!
Không hiểu sao sắp đến thời điểm (chiều 19/6/2010) các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) nhấn nút về đại dự án đường sắt tàu cao tốc Bắc Nam (TCT), tôi cứ thấy thấp thỏm, bồn chồn chờ xem kết quả. Tâm lý con người quả là lạ thật. Mình không phải ĐBQH, không chắc sống đến ngày nhìn thấy TCT, chỉ là kẻ về hưu, phó thường dân, vậy sao cứ thắc thỏm!
Cũng biết rằng, những ĐBQH có cái “quyết tâm chính trị” như ĐB Trần Tiến Cảnh đã phát ngôn thì chắc chẳng quan tâm đến hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bài viết đăng trên các báo chí đầy đủ lý lẽ và tâm huyết của bao nhiêu nhà khoa học, nhà chuyên môn ở trong và ngoài nước đã tha thiết trình bày. Cái “quyết tâm chính trị” ấy đã thao tác hóa việc bấm nút trong tư duy rồi, chỉ chờ tín hiệu là phản ứng!
Kỳ lạ thật, chỉ một động tác nhấn nút, một động tác xảy ra trong tích tắc mà chứa đựng cả hai trường phái Tâm lý học đối lập nhau, đụng độ nhau lớn nhất của thế kỷ XX: Tâm lý học hành vi và Tâm lý học hoạt động.
Tâm lý học hành vi (Behaviourism) thì cho rằng, người ta nghĩ gì, muốn gì, thích gì, tin gì… ở trong đầu như cái hộp đen, làm sao biết được và cũng chẳng cần biết, chỉ cần khi ra lệnh (kích thích) đối tượng hành động (phản ứng) đúng như ta mong muốn là “tốt”. Cái lý thuyết kích thích – phản ứng (S-R) của J. B. Watson sau này được E. C. Tolman bổ sung, được B. F. Skinner nhấn mạnh vào hành vi tự tạo và ứng dụng vào xã hội thì về cơ bản vẫn thế. Hành vi phản ứng “tốt” được thưởng sẽ được củng cố, lần sau thấy tín hiệu kích thích là tích cực phản ứng và chờ thưởng… (1) Phần thưởng càng lớn thì “tính tích cực” càng hăng. Phản ứng “không tốt” thì trừng phạt để răn đe. Đó là nguyên tắc huấn luyện thú làm xiếc, huấn luyện công nhân, binh lính, dạy học chương trình hóa… Nhưng phạt chưa tới ngưỡng răn đe thì không hiệu quả và phạt nhiều lần sẽ nhờn thuốc (kiểu “phạt cho tồn tại”, “kiểm điểm nghiêm khắc”, “xử lý nội bộ”…) chẳng còn tác dụng. Tóm lại, thuyết hành vi chỉ quan tâm mỗi việc: anh có nhấn đúng cái nút tôi mong đợi hay không, còn những gì đằng sau nó, ngoài nó, anh không cần quan tâm, đã có “trên” chịu trách nhiệm… Tôi vẫn nhớ câu chuyện về một phi công Mỹ minh chứng cho điều này. Viên phi công lái B52 ném bom xuống Hà Nội đêm 26 tháng 12/1972, bị bắn rơi máy bay, bị bắt. Khi bị hỏi: tại sao anh dã man, tàn bạo ném bom giết hại dân lành…? Viên phi công nhún vai, trả lời: là một quân nhân, tôi được lệnh đến tọa độ đó là nhấn nút, tôi phải hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao, còn xảy ra chuyện gì ở dưới đất là trách nhiệm của những người ra lệnh, những nhà chính trị, tôi không quan tâm!… Nhưng sau đó những viên phi công này được dẫn đến phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai để họ thấy cái nhấn nút vô cảm của họ đã giết hại bao nhiêu đàn bà, trẻ em, bệnh nhân và tàn phá tan hoang những mái nhà dân lành như thế nào. Viên phi công nọ đã ôm mặt khóc. Họ nói, họ đã bị lừa dối để nhúng tay vào tội ác. Lương tâm họ còn bị dày vò suốt cả cuộc đời cho cái động tác bấm nút trong một tích tắc… Đó chính là điểm yếu của Tâm lý học hành vi để Tâm lý học hoạt động tấn công: con người không phải cái máy nhấn nút, nó còn có lương tâm, ý thức…
Tâm lý học hoạt động, cũng có những tên tuổi lớn như L. X. Vygoxki, X. L. Rubinstein, A. N. Leonchiep… (2). Lý thuyết này cho rằng hành vi của người khác về chất với động vật. Cái nhấn nút là một hành vi chứa đựng cả lịch sử – văn hóa người. Đối với mỗi cá nhân, cái nhấn nút được điều chỉnh bởi toàn bộ nhân cách của người đó, mà tiêu điểm là ý thức về động cơ bấm nút. Thế động cơ là gì? Động cơ là cái vì nó mà người ta nhấn nút. Người theo thuyết hành vi liền bắt bẻ: vì cái gì mà người ta nhấn nút làm sao anh đo đếm, biết được? Anh chỉ có thể biết cái kết quả nhấn nút mà thôi! Nếu anh biết được động cơ của người ta thì chả còn ngoại tình, gián điệp, tham nhũng… Người theo thuyết hoạt động thấy bí, chỉ còn trông chờ vào cái… động cơ của người nhấn nút xem “vì cái gì” để luận bàn, dự báo…
Hơn 2500 năm trước Khổng Tử đã cho rằng: động cơ là chỗ vi diệu nhất của hành động, là sự hiện ra trước của điềm lành dữ vậy. (Cơ giả động chi vi kiết hung chi tiên hiện giả dã); động cơ là chỗ “cùng sâu”, có hiểu nó mới “thông được cái chí trong thiên hạ” (3)… Đức Phật thì nói, bố thí có đến mười mấy loại động cơ khác nhau: bố thí vì muốn khoe của, vì sĩ diện, vì ban ơn, vì muốn làm vừa lòng người khác, vì cầu tài, cầu lộc, cầu phúc, giải hạn, chuộc lỗi lầm, vân vân… Trong tất cả những động cơ của việc bố thí như vậy, chỉ có một động cơ chân chính đích thực là: bố thí vì lòng từ bi hỉ xả – thương người như thể thương thân!
Vậy các ĐBQH nhấn nút vì cái gì? Có thể vì cái “quyết tâm chính trị” nào đó; vì sức ép, lo sợ; vì lợi quyền cá nhân; vì lợi quyền phe nhóm; vì không hiểu lắm nhưng cứ nhấn; vì trách nhiệm trước nhân dân, sau khi đã lắng nghe dân, tìm hiểu kỹ các ý kiến phản biện, cân nhắc kỹ và nhấn nút… Trong các lý do trên, chỉ lý do sau cùng là động cơ chân chính, đích thực của ĐBQH. Vì cái gì mà đa số ĐBQH nhấn nút đã báo trước điềm lành dữ của quốc gia, dân tộc.
Người ta có trăm mưu ngàn kế để che đậy động cơ bất chính, nên thật giả có thể lẫn lộn. Vì thế dân ta mới nói: “Sông sâu còn có kẻ dò/ Lòng người nham hiểm ai đo cho tường”. Nhưng dân cũng mách bảo: “…Ở lâu mới biết lòng người có nhân”, hay “Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra” và “Vải thưa không che được mắt thánh” (của nhân dân), vì dân có thể “đi guốc trong bụng” (các ĐBQH)… Dân biết mà không ngăn được thì đành: “… Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!”…
Thế đấy, nhấn nút chỉ là một động tác, trong tích tắc, nhưng vì cái gì mà ĐBQH nhấn nút lại báo trước điềm lành – dữ của cả đất nước hôm nay và mai sau!
16/6/2010
M.V.T.
___________ 
Chú thích :
Bài viết đã gửi đến một số Đại biểu QH trước ngày nhấn nút bỏ phiếu về Dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, dự chi hơn 50 tỉ USD.
(1) Xem B. D. Smith, H. J. Vetter, Các học thuyết về nhân cách, bản tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, HN., 2005.
(2) Xem Tâm lý học Liên Xô, nhiều tác giả, bản tiếng Việt, NXB Tiến bộ M.,1978
(3) Xem Hồ Thích, Trung Quốc Triết học sử, bản tiếng Việt, NXB Khai trí, Sài Gòn, 1970, Chương 4, tr. 199.

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

20150602. PHÂN TÍCH CÓ LÝ VỀ VẤN ĐỀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
VÌ SAO TRUNG QUỐC THÁCH THỨC CẢ THẾ GIỚI TRONG CUỘC TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY?
Bài của NGUYỄN TRỌNG BÌNH/ Viet-Studies 30/1/2015
  1. Câu chuyện biển Đông lại một lần nữa nóng lên kể từ khi Mỹ điều máy bay do thám và công bố những hình ảnh bồi đắp, cải tạo xây dựng các đảo mà trước đây họ đã dùng vũ lực cướp từ tay Việt Nam. Việc làm này của Trung Quốc hiện đang bị dư luận và cộng đồng thế giới lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ. Tuy vậy, có thể thấy không riêng gì lần này, mỗi khi bị cộng đồng thế giới chỉ trích thì gần như ngay lập tức Trung Quốc phản ứng lại với một thái độ và tâm thế không hề nao núng (nếu không muốn nói là rất tự tin và đầy kiêu hãnh). Tại sao như vậy? Tại sao Trung Quốc dù nghe hết, biết hết những gì dư luận thế giới nói về mình nhưng họ vẫn cứ làm với thái độ bất chấp tất cả?
Đặt ra vấn đề trên để thấy rằng, lâu nay, trong cuộc tranh chấp ở biển Đông với Trung Quốc, đa phần chúng ta chỉ xem xét vấn đề ở phương diện nào có lợi cho ta nhất mà thôi. Điều này là đương nhiên. Tuy vậy, nếu như thế có khi nào là chủ quan và duy ý chí vì như người xưa nói “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”?
Lịch sử và văn hóa Trung Quốc cho thấy họ là bậc thầy của chiêu thức “binh bất yếm trá”. Vì vậy một tinh thần cảnh giác thường trực và cao độ với Trung Quốc sẽ không bao giờ thừa. Đặc biệt, đừng bao giờ chủ quan cho rằng“không ai hiểu Trung Quốc bằng Việt Nam” hay như có người phát biểu“tôi không bất ngờ về việc làm của Trung Quốc hiện nay”. Thực ra, nói như thế là ngụy biện vì nếu đã hiểu rõ bộ mặt thật họ vậy sao cứ chơi và xem họ là “bạn thân”, là “đồng chí tốt”? “Bạn” và “bạn thân” là hai vấn đề, hai quan điểm, hai lập trường rất khác nhau chứ? Ai đời đã biết cái đứa năm lần bảy lượt đâm sau lưng mình mà vẫn kết thân với nó? Nói ra điều này chỉ càng làm cho người bên ngoài họ cười vào mặt mình mà thôi.
Nói cách khác, trong bất cứ mọi thời điểm mọi hoàn cảnh, cần thiết chúng ta phải tự đặt ra thật nhiều giả thiết và tự phản biện lại tất cả các giả thiết ấy để thấy rõ hơn đâu là điểm mạnh đâu là điểm yếu của mình. Có như vậy mới không bị động và may ra mới tìm được giải pháp tối ưu nhằm đối phó với sự ranh ma của Trung Quốc.
  1.  Vì sao Trung Quốc luôn tỏ thái độ xem thường và thách thức Việt Nam và cộng đồng thế giới trong vấn đề tranh chấp trên biển Đông? Để trả lời câu hỏi này nhất định chúng ta phải tự đặt mình vào lập trường và quan điểm của họ để phân tích, xem xét. Ở đây tôi thử phân tích và lý giải một số căn nguyên như sau:
 Thứ nhất, về mặt chiến lược “đối nội”, trong khi Việt Nam đến giờ vẫn còn loay hoay không biết tuyên truyền; “giải thích” làm sao cho dân chúng trong nước hiểu và đồng thuận; thậm chí Nhà nước hiện này còn rất “kiên định” cấm dân chúng biểu lộ sự bất bình trước thái độ hung hăng của Trung Quốc (vì “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”) thì ngược lại, từ lâu Trung Quốc đã có một chiến lược dài hơi để tuyên truyền cho toàn dân họ rất bài bản và kỹ lưỡng. Nói cách khác, trong khi “lòng dân” và “ý Đảng” ở Việt Nam vẫn còn chưa gặp nhau thì ngược lại, dân chúng Trung Quốc riêng về vấn đề biển Đông từ trước tới nay vẫn luôn ủng hộ chính sách ngoại giao cứng rắn và không nhân nhượng Việt Nam của chính quyền ông Tập Cận Bình.
Về vấn đề này, mới đây tác giả Đoàn Công Lê Huy trong bài viết “Bàn cờ chín khúc biển Đông của Trung Quốc” trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 28/5/2015 đã khái quát và chỉ ra rất cụ thể rằng như sau:
 “Như kỳ thủ đánh cờ nghĩ trước trăm nước, qua hàng thế kỷ họ luôn xuất kỳ có chủ ý. Họ chuẩn bị chu đáo và thực hiện từng nước đi. Toàn quân, toàn dân, toàn diện, được chỉ huy từ trên cao, bằng một cây gậy nhất quán. Họ luôn hát vang giai điệu chính và làm sao để gần 1,4 tỉ người không lạc điệu. Trên biển dẫu có lúc lộn xộn, có đến năm “lực lượng chấp pháp”, năm con rồng cùng quấy phá biển Đông - ngũ long nộ hải - thì cũng không bao giờ họ lạc giai điệu chính. Có nghĩa là chiến lược vẫn nhất quán dù chiến thuật có thể lúc thế này lúc thế kia. Mao Trạch Đông hay Tưởng Giới Thạch dù có khác nhau về phe phái thì bản đồ vu vơ đường lưỡi bò chín đoạn vẫn được đồng thuận xài chung. Họ vẫn cùng nhau hát đúng giai điệu chính trên căn bản này”.
          Thứ hai, về đối ngoại, thời gian qua chính quyền Trung Quốc hoàn toàn yên tâm vì họ biết quan điểm và lập trường của Việt Nam là không kiện họ ra tòa án quốc tế như Philippines; Việt Nam cũng không liên minh với nước nào để chống lại họ. Và điều quan trọng hơn cả là Mỹ, Nga (hai cường quốc trên thế giới) đều tuyên bố không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp này.
Thứ ba, về mặt pháp lý nhất là việc nhìn nhận và giải thích luật quốc tế, nếu như Việt Nam đang có chút lợi thế là bộ sưu tập các bản đồ cổ (trong đó chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thuộc chủ quyền của Trung Quốc) và các học giả quốc tế cũng không chấp nhận ranh giới “đường lưỡi bò” thì ngược lại Trung Quốc có ưu thế hơn thông qua một “bằng chứng lịch sử” khác. Đó là cái công hàm oan nghiệt do ông Phạm Văn Đồng  thay mặt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký và “trân trọng” gửi cho họ vào năm 1958 (mà mọi người đã rất nhiều lần tranh luận trước đây). Dù muốn dù không chúng ta phải thừa nhận, Việt Nam rất khó ăn khó nói với bạn bè thế giới về nội dung ghi trong cái mảnh giấy (tuy chỉ có mấy chữ nhưng tác hại rất khủng khiếp) này.
Cho nên, thời gian qua nếu Việt Nam nói “chúng tôi có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” thì phía ngược họ cũng đường hoàng, dõng dạc tuyên bố giống hệt như vậy. Và khi chúng nói họ “hung hăng”, “ngang ngược” thì họ cũng đáp trả lại Việt Nam là kẻ “lật lộng”, “phản bội”...
          Thứ tư, nhiều chuyên gia luật hiện nay chỉ tập trung phân tích việc Trung Quốc cải tạo các đảo đá ngầm hiện nay thành đảo nhân tạo thì về mặt pháp lý căn cứ vào các điều khoản của “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) họ sẽ không được công nhận chủ quyền. Điều này là không có gì sai. Tuy nhiên, đáng tiếc là Trung Quốc hiện nay không quan tâm đến vấn đề ấy. Điều họ quan tâm là phải làm sao bằng mọi cách nhanh chóng kiểm soát tất cả những đảo mà họ đang xây dựng để từng bước kiểm soát cả biển Đông. Trên cơ sở đó làm bàn đạp từng bước dùng sức mạnh “nước lớn” của mình để áp đặt “luật chơi” mới lên các “nước nhỏ” nhằm phân chia lại trật tự thế giới với Mỹ ở Thái Bình Dương. Tóm lại, mục tiêu của họ là kiểm soát trên thực địa chứ không phải chuyện công nhận hay không công nhận của UNCLOS. Đừng nghĩ rằng, họ không sợ “mất mặt”, “mất uy tín” với bạn bè quốc tế. Thực ra, họ biết hết những chuyện ấy nhưng điều quan trọng là họ tin rằng sau khi độc chiếm biển Đông; trở thành bá chủ họ sẽ tạo dựng và lấy lại uy tín còn mạnh mẽ hơn nữa. Nói cách khác đây là chiêu“tiên hạ thủ vi cường/ Hậu thủ vi tai ương” trong Binh pháp Tôn Tử mà họ đương nhiên sành sỏi hơn chúng ta rất nhiều.
          Cuối cùng, những ngày qua, kể từ khi Mỹ đưa máy bay vào do thám và công bố những hình ảnh Trung Quốc đang cải tạo đảo, dư luận lại bắt đầu làm sống lại giả thuyết “chiến tranh Trung - Mỹ” sắp nổ ra. Dĩ nhiên chúng ta nhất định cũng cần đặt ra tình huống giả định này để nhìn nhận vấn đề cho thật thấu đáo. Tuy vậy, như nhiều chuyên gia khác cũng nhận định, kịch bản Trung - Mỹ xảy ra chiến tranh trên biển Đông trong tương lai gần ít có khả năng xảy ra hơn kịch bản Trung Mỹ “bắt tay” và thương lượng với nhau. Câu nói của ông Tập Cận Bình khi gặp ngoại trưởng Mỹ John Kerry mới đây:“Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Trung Quốc và Mỹ” ít nhiều đã ngầm nói lên điều này. Và nếu như kịch bản này xảy ra thì chắc chắn Việt Nam khi ấy chỉ là một quân cờ để hai cường quốc thế giới mang ra “cân, đo, đong, đếm” mà thôi.
  1. Từ những phân tích trên có thể nói, hiện nay nhìn toàn cục Trung Quốc đang nắm thế chủ động hơn so với Việt Nam và các nước khác tuyên bố chủ quyền ở Biến Đông. Đó chính là lý do thời gian qua mặc cho Philipines kiện họ ra tòa quốc tế và mặc cho Bộ ngoại giao Việt Nam liên tiếp gửi các công hàm phản đối nhưng họ vẫn chẳng coi ra gì.
Từ đây, trên phương diện nhận thức chung, để đối phó và tạo ra ưu thế cho mình trong cuộc đối đầu này, Việt Nam, theo tôi nhất định phải tập trung vào các nhóm vấn đề quan trọng sau đây:
Một, phải thay đổi tư duy trong cách tiếp cận vấn đề, tức là điều quan trọng bây giờ là phải hết sức cảnh giác đồng thời tập trung mọi nguồn lực nhằm giữ vững các đảo hiện tại đang nắm quyền kiểm soát. Nói cách khác vấn đề bây giờ là không để mất thêm đảo nào nữa vào tay Trung Quốc chứ không phải nói như ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam dạo nào:“Đời tôi và các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ đòi lại”.[1] Thử hỏi tại sao bây giờ không quyết liệt đòi, không tự tin sẽ đòi lại được mà nhắn gửi, dặn dò con cháu như thế? Nói như thế khác nào đã công khai thừa nhận sự thất bại của mình hiện nay đồng thời đẩy quả bóng trách nhiệm cho thế hệ mai sau? Và phải chăng thế hệ lãnh đạo trước đây cũng từng suy nghĩ như vậy, cũng từng “trăn trối” và nhắn gửi thế hệ lãnh đạo của ông Phó Thủ tướng hôm nay nhưng các ông cũng làm được gì đâu!?
Hai, cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ thay Việt Nam “bảo vệ nguyên tắc luật pháp quốc tế trên biển Đông”[2]  và ngăn chặn Trung Quốc quân sự hóa các đảo mà họ đang kiểm soát. Điều đó cũng có nghĩa trong hoàn cảnh hiện nay nếu còn chần chừ không thể hiện rõ ràng dứt khoát, lập trường quan điểm của mình chắc chắn Việt Nam mãi mãi chỉ là con tốt không hơn không kém trên bàn ngờ ngoại giao một khi Trung Quốc “bắt tay” với Mỹ bằng chiến thuật lùi một bước để tiến nhiều bước...
Và quan điểm và lập trường ở đây không phải là Việt Nam nên “theo ai” hay “ngã về bên nào” mà là cần nhanh chóng chấm dứt trò chơi “đu dây” đầy mạo hiểm với việc lấy cảng Cam Ranh ra để giữ thăng bằng. Hay tệ hơn nữa là tâm lý “tọa sơn quan hổ đấu”!
Ba, về mặt đối nội Đảng, Quốc hội Việt Nam cần nhanh chóng ra Nghị quyết nhằm tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về tình hình biển Đông hiện nay, đặc biệt nội dung bản Nghị quyết phải thể hiện rõ tinh thần hiệu triệu như lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây. Tức là “chúng ta càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới vì họ muốn cướp đảo của ta lần nữa...” Theo tôi, mọi chuyện đã đến nước này thì không còn gì mà giấu giếm, úp mở với nhân dân hay ngụy biện vì là chuyện “nhạy cảm”, “tế nhị” nên Quốc hội chỉ “họp kín”. Nếu ra được Nghị quyết lúc này về trước mắt sẽ ổn định được lòng dân còn về lâu thế hệ con cháu mai sau còn có cái để mà “ăn nói” với Trung Quốc (hay nếu như muốn tiếp tục “đòi lại” các đảo bị Trung Quốc cướp mất như lời dặn dò của ông Phó Thủ tướng mà tôi vừa đề cập ở trên). Và nhất là để lịch sử mai sau còn viết vào đó lại vài dòng ghi nhận công lao của thế hệ lãnh đạo hôm nay chứ không phải là không là những lời nguyền rủa nhu nhược, hèn kém.
            Cuối cùng, Việt Nam cần kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế như Philippines đã làm. Cho dù Trung Quốc hiện nay không coi luật pháp quốc tế ra gì nhưng cần phải kiện họ vì chỉ có cách này cộng đồng quốc tế mới tin tưởng và ủng hộ Việt Nam nhiều hơn. Khi ấy Mỹ và các đồng minh Nhật, Úc... mới có “cơ hội” giúp Việt Nam ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc. Hiện nay, chính vì Việt Nam cứ ỡm ờ, không dám kiện nên cộng đồng quốc tế họ hoài nghi. Mình cứ nói “chính nghĩa” và “lẽ phải” thuộc về mình nhưng lại không cho thấy quyết tâm bảo vệ “chính nghĩa” và “lẽ phải” đến cùng thì làm sao người ta tin những gì mình nói.
Ngoài ra, khởi kiện bây giờ cũng là phòng tránh một sự lật lọng của Trung Quốc về sau. Tức là trong trường hợp sau khi hoàn thành việc cải tạo các đảo hiện nay, với sức mạnh và sự ảnh của một “nước lớn” có thể họ sẽ kiện ngược lại Việt Nam. Khi ấy với tư cách là “bị đơn” lại là “nước nhỏ”, Việt Nam rất khó thoát ra khỏi sự điều khiển của họ.
Cần Thơ, 30/5/205
NTB
[2] “Cần tích cực giúp Mỹ bảo vệ các nguyên tắc luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. http://nhantuantruong.blogspot.com/2015/05/can-tich-cuc-giup-my-bao-ve-cac-nguyen.html
 Tác giả gởi cho viet-studies ngày 30-5-15

TỪ SHANGRI-LA NHỚ TỚI MỘT BÀI HỌC
Bài của NGUYỄN NGỌC TRÂN/ Viet-Studies 1/6/2015
“Tình hình Nam Hải ổn định, không có vấn đề gì về tự do hàng hải”, “Trung Quốc xây công trình trên một số đảo và bãi đá trong vùng biển chủ quyền của mình, cũng là để thực hiện các nghĩa vụ quốc tế”. Trung Quốc (TQ) có thành lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên biển Đông hay không? “Vấn đề này tùy thuộc vào việc an ninh hàng không và hàng hải của Trung Quốc có bị đe dọa hay không”.
Thái độ của TQ tại Diễn đàn Sangri-La 2015, trịch thượng, thay đổi trắng đen, xấc xược và thách đố, đã khiến dư luận thất vọng, cảm thấy bất lực và phẩn uất.
Tuy nhiên, suy cho cùng thái độ này có cơ sở.
Trước tiên, TQ xem việc cơi nới xây dựng trên các đảo, bãi đá ở Biển Đông là việc đã rồi, là đương nhiên, không có gì phải bàn cải, các nước sẽ buộc phải chấp nhận, dù muốn hay không.
Thứ hai, bối cảnh quốc tế hiện nay là cơ hội để TQ bành trướng và độc chiếm Biển Đông. Thứ ba, trong bối cảnh này, TQ đánh giá khả năng can thiệp của các nước trước sự việc đã rồi này rất giới hạn.
Mặc cho chiến lược xoay trục sang Châu Á, những can dự của Hoa Kỳ trên thế giới làm cho khả năng phản ứng của nước này không đi xa hơn những gì hai Bộ trưởng Quốc phòng đã tuyên bố năm 2014 và 2015 tại chính Diễn đàn này. Mặt khác, HK và TQ còn những thỏa thuận hợp tác ưu tiên khác. Có lẽ trong thâm tâm của TQ, hình tượng “con hổ giấy” vẫn còn đúng. Vậy thì đôi co mà làm gì?
Thái độ của Nhật bản cũng rõ ràng đối với tình bất hợp pháp của việc cơi nới và xây dựng trên các đảo, nhưng khả năng can thiệp, theo TQ, cũng không đi xa. Úc cũng thế, chưa kể TQ là một bạn hàng kinh tế hàng đầu của nước này. Vậy thì có cần tranh luận không?
Châu Âu xa vời quá. Lại còn Ucraina và Liên bang Nga là những mối quan ngại cận kề. Rồi còn bản thân sự tồn tại của vùng đồng euro và những xáo trộn nếu Vương quốc Anh rời bỏ EU.
Tuyên bố của Hội nghị Ngoại trưởng G7 tại Lubeck gần đây cho thấy khả năng và mức độ phản ứng của các nước trên đây.
Phản ứng của chính các nước ASEAN mới là nỗi thất vọng lớn đối với dư luận, đồng thời là sự khích lệ đối với TQ.  
Từ Shangri-La 2015, tôi nhớ đến sự trỗi dậy của Hitler và Đức Quốc xã cuối thập kỷ 1920, đầu thập kỷ 1930. Rất cần nhớ những bài học về sự nhân nhượng, có thể nói là nhu nhược, lúc đó đã đưa nhân loại từng bước đến thảm họa Thế chiến thứ hai như thế nào. Một ngạn ngữ nói rằng “Một sai lầm được cảnh báo trước, trách nhiệm sẽ nặng gấp đôi”!
Nguyễn Ngọc Trân

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

20150601. NGHĨ VỀ CHUYỆN VÀO BIÊN CHẾ CỦA GIỚI TRẺ

ĐIỂM BÁO MẠNG
LỌT "CỬA" BIÊN CHẾ MỚI CÓ TƯƠNG LAI
Bài của LƯU MINH SANG / TVN 1/6/2015
Tôi từng hỏi rất nhiều sinh viên về nghề nghiệp và tương lai của họ. Không ít trong số đó luôn nghĩ về sự ổn định của 2 từ “biên chế”.
Bằng giả, bằng thật và những cánh cửa
Câu chuyện về hậu duệ, đồng tiền và trí tuệ dường như chưa bao giờ có hồi kết ở xứ mình.
Mới đây thôi, dư luận lại có dịp xôn xao khi báo Thanh Niên đăng bài về triệt phá đường dây làm bằng giả với quy mô lớn tại tại vùng đất được mệnh danh “địa linh nhân kiệt” – TP. Vinh, Nghệ An. Hàng loạt bằng cấp giả, từ phổ thông đến đại học bị tịch thu, mà nghe đâu những thứ giả dối ấy chỉ được rao bán với giá 1-2 triệu đồng.
Bằng giả tất phải mua bằng tiền. Nhưng có bằng thật cũng không có gì đảm bảo xin việc không mất tiền, khi mà không ít “cánh cửa” chỉ mở ra nếu có thủ tục “đầu tiên” trong hồ sơ ứng tuyển.
Trong kết quả khảo sát về chỉ số quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PIPA) ở Việt Nam công bố vào tháng 4 vừa rồi, có đến 50% trong số 13.500 người dân được chọn hỏi ngẫu nhiên trên toàn quốc, cho biết họ phải “chạy tiền" mới có được việc làm trong khu vực nhà nước.
Còn mới đây, một giáo sư danh tiếng cũng phải nhận định: “cử nhân tốt nghiệp muốn xin được việc làm tốt mà không mất tiền là chuyện lạ”.
Không thể phủ nhận xã hội hiện tại đang tồn tại những khuyết tật, khi đồng tiền và sự giả dối dường như mang sức mạnh chi phối lớn. Đồng tiền có thể “vẽ” ra một phông nền học thức cao vời vợi chỉ bằng một giao dịch rẻ bèo. Đồng tiền có thể quyết định nghề nghiệp tương lai và chi phối số phận bao người. Trong vòng xoáy ấy, người may thì có việc dù chưa biết tương lai ra sao, người rủi thì mất tiền mà cũng chẳng có việc.
Hệ lụy của tình trạng này, hẳn ai cũng có thể hình dung. Trong đó, nguy hiểm hơn cả là nó sẽ để lại “vết hằn” trong suy nghĩ, tầm nhìn của giới trẻ - thế hệ sẽ nắm trong tay vận mệnh đất nước.
công chức, biên chế, sinh viên, đại học, bằng giả
Đội nắng, xếp hàng nộp hồ sơ thi công chức Thuế ở Hà Nội. Ảnh: Khám phá
Cách đây vài ngày, tôi đọc được những lời chia sẻ của một số bạn đọc báo Tuổi trẻ trong những bài viết mang tiêu đề đầy cảm thán: “Cay đắng mới ra trường tìm việc: mấy trăm triệu cho vừa?”, “Miệt mài đến đâu cũng không có biên chế cháu ạ”, “Khi quê hương không có chỗ cho người trẻ”. Tác giả đều là thanh niên tuổi đôi mươi, vừa bước chân khỏi cổng trường đại học.
Vậy người trẻ nghĩ gì?
Đọc những dòng ấy, tôi mừng khi các bạn trẻ ấy vẫn không ngừng tâm tư, trăn trở về chính tương lai họ và của đất nước. Họ dám nói những điều họ nghĩ từ những gì họ thấy, bằng một cách thức văn minh.
Nhưng mặt khác, tôi cũng không khỏi lo lắng cho cách nhìn nhuốm màu tiêu cực của họ.
Một bạn trẻ đã viết: “Hỏi thử cần bao nhiêu tiền để xin được một công việc có lương bằng 2,34x1,15 triệu, thì số tiền cũng biến thiên khá rộng, một trăm triệu có, bốn năm trăm triệu cũng có”; “Trong thâm tâm tôi lúc nào cũng mong muốn chứng minh cho những người “lắm tiền” kia rằng, tôi không cần tốn trăm triệu vẫn được làm một công chức, viên chức nhà nước, vẫn tìm được một công việc như ý. Nhưng không biết cái ước mơ ấy tới chừng nào mới thực hiện được”.
Viết ra những dòng này, có lẽ họ đã không còn niềm tin mình có thể thay đổi số phận và thay đổi xã hội.
Tôi từng hỏi rất nhiều sinh viên về nghề nghiệp và tương lai của họ. Một phần không nhỏ luôn nghĩ về sự ổn định của 2 từ “biên chế” cùng với số tiền ba mẹ họ đã chuẩn bị cho những bước đầu đời. Dường như họ nghĩ rằng đó là con đường duy nhất có thể đi để đạt được sự “ổn định”.
Không hiếm những sinh viên có suy nghĩ học cho lắm cũng chỉ có tấm bằng và bằng loại nào mà chẳng giống nhau, vì đều phải cần tiền mới có được việc. Từ đó, các em coi thường sự học, xem giảng đường là chốn tạm bợ chỉ để có được tấm bằng.
Dường như khi phải chạm mặt với những tiêu cực, rối ren của xã hội, một số người trẻ chọn cách “thuận dòng”, chấp nhận việc đồng tiền đang chi phối trong rất nhiều thứ. Đồng nghĩa họ tự triệt tiêu trí tuệ ra khỏi hệ giá trị của cuộc sống.
Khi đánh mất niềm tin, người ta sẽ trở nên ích kỷ hơn, dễ thỏa hiệp và chấp nhận số phận. Họ chấp nhận tiền lệ đang tồn tại, chạy đua theo nó và bỏ quên bản lĩnh, lý tưởng của chính mình.
Rõ ràng đang tồn tại một vòng tròn luẩn quẩn - tiêu cực xã hội hình thành tư duy tiêu cực của con người, trở thành khởi nguồn của những hành động tiêu cực, và chúng tác động ngược trở lại xã hội.
Để hóa giải vòng tròn đó, chắc chắn cần những giải pháp mang tính tổng hòa của nhiều công cụ, từ luật pháp, cơ chế chính sách, hiệu quả thực thi công lực đến nền giáo dục nói chung.
Nhưng chính giới trẻ, trong khả năng của mình, cũng cần chủ động định hình lại tư duy của bản thân. Tại sao lại mãi bám đuổi theo con đường “ổn định từ biên chế” cũ kỹ lỗi thời? Tại sao phải bất chấp để bám lấy những mảnh đất công chật hẹp và còn thiếu minh bạch.
Tại sao không nhìn xa ra để thấy mảnh đất rộng lớn của khu vực dân doanh vẫn đang khát khao nguồn nhân lực bằng thật, học thật và chất lượng thật. Thực tế, đã và đang có hàng triệu người đứng rất vững vàng bằng năng lực của mình.
Dù ảnh hưởng bên ngoài là không thể phủ nhận, nhưng trước tiên, người trẻ nắm trong tay quyền lựa chọn cho số phận cuộc đời mình. Không có một con đường duy nhất cho tương lai, sự ổn định và thành công. Và chẳng phải họ chính là những người sẽ định hình bộ mặt của tương lai đất nước sao?
Lưu Minh Sang