Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2023

20230828. NGHĨ VỀ CON ĐƯỜNG TIẾN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

   ĐIỂM BÁO MẠNG

NHỮNG KẺ MÙ DẪN ĐƯỜNG
NGUYỄN THÔNG/FB 20~>24-8-2023


KY1
Đất An Nam ta, suốt bao năm trở lại đây, lúc nào cũng sôi sùng sục, hết chiến tranh, nội chiến, lại quay ra đấu đá nhau với danh nghĩa "chống tham nhũng". Chỉ thích đánh nhau, tiêu diệt. Dân tình không lúc nào được yên để sống, để làm ăn, "mưu cầu hạnh phúc", cứ bị cuốn vào cái vòng xoáy khốn nạn đó.
Chống tham nhũng? Kể từ khi họ bắn đại tá Trần Dụ Châu, viên đạn mở màn cho chống tham nhũng, năm 1950, cũng xa rồi. Gần đây nó được khơi lên từ năm 2012 khi "ngài lý luận" ngoi lên nắm quyền, cũng đã hơn chục năm, chống mãi, càng chống càng nát bét. Có mà chống vào mắt, ông hàng xóm nhà tôi bảo vậy. Vì sao? Bởi cái thể chế này sinh ra nó. Như con rắn tự ăn đuôi mình, nó có chống vạn năm tỉ năm cũng thế thôi.
Nhìn ra thiên hạ, tham nhũng nơi đâu chả có, trên thiên đình của Ngọc Hoàng, cõi phật của Như Lai đều lộ cả, nhưng chẳng nơi đâu chống loạn thế này. Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Úc, Canada, Qatar... có tham nhũng không, chắc cũng, chỉ có điều chả bao giờ nghe điều tiếng về tham nhũng, mà chỉ nghe về những phát triển, thành tựu, hạnh phúc, nụ cười, niềm vui...
Tại sao ta khác họ? Tại vì cái thể chế chết tiệt - cội nguồn, mạch đất sinh ra tham nhũng.
Đám cai trị xứ này cũng không hẳn là mù mắt, nhưng sự mù đầu mù óc, mù tư duy, suy nghĩ thì quá rõ. Như các cụ xưa bảo, đường quang chẳng đi lại đâm quàng bụi rậm. Quờ quạng cây gậy lý luận khua khoắng dò đường, chỉ đâm vào ngõ cụt.
Ấy là tôi nói đến đám đang lãnh đạo xứ này, những kẻ mù nhận trọng trách dẫn đường.
Điều dễ nhận ra, với hệ thống báo chí truyền thông độc quyền, cứ vài ba bữa họ lại nức nở ca ngợi chủ nghĩa xã hội, đề cao con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là gần đây tán dương bài viết của ông tổng bí thư, xem nó như thứ ánh sáng chỉ lối soi đường, đuốc thời đại rọi tới tương lai. Rồi ông nọ bà kia, từ ông trẻ Thưởng, tới những bác già giáo sư tiến sĩ lập thân nuôi xác bằng chủ nghĩa Mác-Lênin, cả đám nhãi ranh Đối diện bắt mũi chưa sạch nữa, kéo nhau lên tivi, lên báo chí để lập ngôn, dạy dỗ, trấn an, đe nẹt, nhưng tất cả đều chỉ là thứ lý luận suông, giả dối, xiên xẹo, lập lờ, lảng tránh sự thật. Họ biết cả đấy, nhưng họ phải lờ đi bởi nếu nói đúng sự thật thì chả khác gì tự xé toạc mặt nạ, bóc trần bản chất tệ hại của mình.
Hôm qua, tôi coi đoạn phóng sự người Đức nhắc lại ngày 9.11.1989 đập bỏ bức tường ô nhục Berlin, vừa buồn vừa rùng mình, nhớ chuyện cũ.
Ngược dòng lịch sử, ngày 7.11.1917, dân Nga bị sự lôi kéo của mấy anh theo chủ thuyết Mác-Lênin làm cuộc cách mạng lật đổ đế chế Nga, xây dựng một xã hội mới mà họ gọi là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, lấy đấu tranh giai cấp làm động lực. Trong hơn 70 năm Liên Xô tồn tại, thực chất nó như thế nào thì nhiều người đã biết. Một chế độ háo thắng, thích đánh nhau, tồn tại bằng vũ lực, bóc lột sức dân, vẽ ra những mục đích không tưởng, lôi kéo nhiều nước vào cuộc đấu đá-chiến tranh “ai thắng ai” bằng miếng mồi tình quốc tế vô sản, bị cai trị bởi những kẻ độc tài xấu xa dưới vỏ đồng chí…
Không phải bàn luận tranh cãi nhiều, chỉ cần nhìn vào thực tế, nếu chế độ (xã hội chủ nghĩa) ấy, đường lối ấy tốt đẹp thì không lý gì sụp đổ cái ầm, bị chôn vùi, vứt vào sọt rác. Cả phe xã hội chủ nghĩa vỡ tan như bọt nước trong cơn sôi sục của dân chúng vốn bị kìm nén suốt hơn nửa thế kỷ. Tốt đẹp thì phải giữ, phải tồn tại, cớ gì lại tan, bị ném vào hố rác? Bản thân câu hỏi đã là câu trả lời, không cần giải thích. Bây giờ, ngay cả những nơi đã sinh ra ông tổ của chủ nghĩa xã hội-chủ nghĩa cộng sản, những nơi từng là lô cốt, thành trì của học thuyết này, người ta cũng không thèm nhắc tới, nếu có gợi lại cũng chỉ coi nó như thứ quá khứ đau buồn, cần quên đi vĩnh viễn.
Toàn thế giới hiện có 204 quốc gia (nước) lớn nhỏ. Thử đếm xem có bao nhiêu nước chọn con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Xin thưa, chỉ vừa đủ số ngón tay của một bàn tay. Chả nhẽ 199 nước kia ngu đục dốt nát cả.
Những quốc gia giàu nhất trên thế giới, đất nước phát triển, cuộc sống sung túc, dân chúng đầy đủ hạnh phúc, không có nước nào theo chủ nghĩa xã hội. Đốt đuốc tìm không ra.
Những nước, những miền đã từng phát triển, từng có vị thế, thứ hạng trên thế giới, sau khi theo chủ nghĩa xã hội, hoặc bị cưỡng bách theo chủ nghĩa xã hội, ngả vào chủ nghĩa xã hội, bị lừa vào chủ nghĩa xã hội... ngay lập tức hoặc lún dần vào sự nghèo đói, kiệt quệ, dân rơi vào cảnh bần cùng, dân tộc không ngóc đầu lên nổi, rõ nhất là Cuba, Triều Tiên, miền Nam Việt Nam, Venezuela. Ăn cái bánh vẽ có bao giờ no.
Phe xã hội chủ nghĩa từng có 13 nước, sau khi tan rã chỉ còn 4 nước “kiên định đói nghèo”, những nước kia sau khi tự cởi trói đã chấm dứt sự nghiệp giảm nghèo bền vững, mau chóng đem lại đời sống ấm no cho dân chúng.
KỲ 2
Trong phần 1, tôi có nhắc tới nước Đức và bức tường Berlin, nó sụp đổ ngày 9.11.1989 cách nay 34 năm. Nước Đức thống nhất đoàn tụ một cách vĩ đại xét dưới góc độ nhân văn chứ không phải góc nhìn chiến tranh. Đem xương máu dân tộc, nhân dân nướng vào cuộc chiến tranh ý thức hệ tàn bạo, đúng nghĩa chiến tranh ủy nhiệm "ta giữ cho ai mảnh đất này", "hãy kiêu hãnh trên tuyến đầu chống Mỹ" dưới danh nghĩa giải phóng, không có gì là vĩ đại cả, không có gì đáng ca ngợi cả (chuyện này sẽ nói sau trong một bài khác).
Lứa chúng tôi sinh ra giữa thập niên 50, khi miền Bắc chính thức xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội, về lý thuyết rất đẹp, đẹp tốt hơn bất kỳ thể chế nào. Và nó cũng đẹp trong văn nghệ, thơ ca. "Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa", "Con tàu đưa tôi đến Trung Hoa/Bốn hướng mênh mông bao la trời đất/Ồ tất cả của ta đây, sướng thật", "Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan/Đường bạch dương sương trắng nắng tràn" "Em ạ, Cu Ba ngọt lịm đường/Mía xanh đồng bãi biếc đồi nương", "Ngói mới trăm nơi cùng cửa sổ/Xây lên không khí những tòa gương"... tất cả được vẽ lên như cảnh thiên thai để che phủ những nghèo đói, kìm kẹp. Nó đẹp từ mồm những người lãnh đạo, từ báo chí, đài phát thanh. Nó chỉ không đẹp, thậm chí chứa đầy xấu xa tệ hại, xấu hơn tệ hơn so với xã hội trước nó, là ở thực tế. Giữa lý luận và hiện thực là vực sâu thăm thẳm. Những người sống ở miền Bắc từ thập niên 50 tới 80 biết rõ điều này.
Phe xã hội chủ nghĩa/cộng sản khi tồn tại gồm 13 nước. Bất kỳ đứa học trò nào trải qua trường phổ thông ở miền Bắc đều nhớ nằm lòng những con số, chi tiết như vậy. 13 nước ấy gồm Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Mông Cổ, Cuba, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Bulgaria, Romania, Albania, Đức. Nam Tư đã sớm rời bỏ, còn Lào mãi sau này mới bị xúi gia nhập, nên không tính. Con số 13 cực xấu, bản thân nó đã chứa đầy nguy cơ tan vỡ, chiến tranh, nội chiến, đói nghèo, lạc hậu, lại cộng thêm bản chất chủ nghĩa xã hội với những độc tài, giả dối, phản dân chủ… nữa, nên nó tồn tại được trong gần nửa thế kỷ là đã quá nhiều. Nhẽ ra nó phải bị diệt vong sớm hơn. Trong giai đoạn cuối của nó, thêm mấy anh có "tiềm năng thế mạnh" về nghèo đói, nội chiến nhảy vào khối càng làm cho nó mau chóng lăn xuống huyệt, những Angola, Congo, Afghanistan, Mozambique, Somalia, Yemen, Etiopia, Nicaragua. Điều đó càng chứng tỏ nghèo đói, chiến tranh và chủ nghĩa xã hội là một, dễ tìm tới nhau. Nếu chủ nghĩa xã hội tốt đẹp, sao không thấy trong đội ngũ nó những Thụy Điển, Đan Mạch, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunei…, thậm chí Thái Lan, Mã Lai.
Khi chúng tôi, đám con em nông dân học lớp 10, thi tốt nghiệp phổ thông, ước mơ lớn nhất là được đi học nước ngoài. Dĩ nhiên trên báo đài cũng có những anh “điển hình” chỉ ao ước được ra trận, “đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Tôi nói rằng “trên báo đài” bởi trong thực tế, các bạn cùng khóa với tôi không có anh nào ước ra trận cả, ra đi là do bắt buộc thôi. Chỗ của con nông dân là chiến trường, mặt trận, hầm hào, đánh nhau, chết chóc. Đặc quyền đi học nước ngoài dành cho con em cán bộ lãnh đạo. Sẽ có ai đó bảo nói thế không đúng, vẫn có những con em ông to bà lớn đi bộ đội, ra chiến trường, hy sinh đó sao. Đành là vậy, đâu có phủ nhận, nhưng chỉ là cực kỳ ít ỏi trong cái tỷ lệ phân chia quyền lợi.
Trong số 13 nước “thiên đường” kể trên, nếu được đi nước ngoài, người ta cũng chỉ mong được học ở Đông Đức, sau đó là Ba Lan, Tiệp Khắc, chứ không phải Liên Xô, lại càng không phải Triều Tiên, Mông Cổ, Cuba… Người Đức vốn sẵn sự thông minh, giỏi giang, lại thêm sát nách Tây Đức, nên đời sống khá nhất, sang đó thực hiện “cứu nước cứu nhà” dễ nhất. Đông Đức về mức sống đứng đầu phe chủ nghĩa xã hội, là niềm ao ước, là đỉnh của cả phe, tuy nhiên so với Tây Đức chưa là gì cả. Thực tế cho thấy dòng người chạy trốn, vượt tường, đào thoát, tìm miền đất mới chỉ có một chiều từ Đông Đức sang Tây Đức chứ không theo chiều ngược lại bao giờ. Và cũng chỉ có người từ các nước xã hội chủ nghĩa, phe thiên đường trốn sang các nước tư bản giãy chết, phe địa ngục, chứ không trốn ngược lại. Bây giờ cũng thế, con ông to bà nhớn xứ này du học và định cư ở Mỹ, Nhật... chứ có đứa nào mò sang Triều Tiên, Cuba. Đó là sự thực, phải mở to mắt ra mà nhìn, bung não ra mà nghĩ, chứ không thể lý luận suông một cách lú lẫn được.
Sự chênh lệch giàu nghèo, tốt xấu, hay dở do thể chế không chỉ bộc lộ ở hai miền nước Đức, mà những nơi khác tương tự cũng vậy. Hãy ngẫm lại hai miền Nam - Bắc Việt Nam suốt thời gian hơn 20 năm (nên bỏ ngay thứ lý sự lý luận bảo rằng miền Nam ăn viện trợ của Mỹ, bơ thừa sữa cặn, phồn vinh giả tạo), rồi Hàn Quốc - Triều Tiên từ thập niên 50 tới tận bây giờ, rồi Cuba trước và sau thời điểm 1959 cách mạng vô sản, rồi những nước đã tháo phăng cái áo chủ nghĩa xã hội lạc hậu, chật chội, từ đói nghèo vươn lên hạnh phúc như Mông Cổ, Ba Lan, Czech, Bun… để hiểu chủ nghĩa xã hội tốt hay xấu, có đáng chọn, đáng theo, đáng "kiên định" hay không. Khi chiếc áo đã rách tả tơi thì phải chấp nhận thay, ném vào sọt rác, chứ không thể chắp vá níu giữ tạm bợ, đánh lừa dân và tự lừa mình bằng chiêu trò “đổi mới”. Biết nó xa vời, ảo tưởng, khó khăn không tới được thì đừng có lú lẫn đâm đầu mãi vào như con đà điểu chúi đầu trong cát, rốt cục sẽ chả đi tới đâu ngoài đem về mấy cái bánh vẽ cho dân.
KÝ 3
Suốt nhiều thập niên ở miền Bắc, cũng như ở miền Nam sau “giải phóng”, đám học sinh sinh viên “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa” luôn được quán triệt rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại hạnh phúc cho con người, chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại, "Miền Bắc thiên đường của các con tôi".
Cùng với đó, tất nhiên ngược chiều, người ta tuyên truyền nhồi nhét rằng chủ nghĩa tư bản cực kỳ ghê tởm, đáng ghét, xấu xa, chỉ bóc lột, làm giàu trên xương máu, mồ hôi nước mắt, công sức của người lao động. Xã hội tư bản, dù có phát triển mấy đi chăng nữa cũng chỉ phồn vinh giả tạo, về cơ bản vẫn là xã hội bóc lột, cần phải bị tiêu diệt. Công nhân, người lao động trong xã hội đó không có quyền làm chủ tập thể, không khác gì cái máy. Vì thế phải tiến hành đấu tranh giai cấp trên phạm vi toàn thế giới, phải chôn vùi tư bản, để xây dựng thế giới đại đồng. “Bao giờ thế giới đại đồng/Chúng ta sẽ thoát khỏi vòng gian truân”.
Thậm chí họ còn vẽ ra tương lai “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, “Nước Nga có chuyện lạ đời/đem người nô lệ thành người tự do/sung sướng thay thợ thuyền Nga/những ngày nghỉ việc đều là ăn lương”, v.v..
Tất cả những điều tôi biên ra đây đều có trong lý luận về chủ nghĩa xã hội, không đứa sinh viên nào hồi thập niên 70 - 90 không biết, không thuộc. Ai không tin, cứ vào thư viện, tìm đọc cuốn “Dưới lá cờ vẻ vang của đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” của ông Lê Duẩn, in lần đầu năm 1976, sau đó tái bản mấy chục lần, hàng chục vạn cuốn, không khác gì Mao tuyển, trước tác của Mao bên Tàu. Sinh viên thời ấy, không thuộc cuốn này, cầm chắc rớt môn chính trị-kinh tế học. Tháng 10.1976, lứa chúng tôi trước khi tốt nghiệp phải thi môn bắt buộc ấy. Đề thi đương nhiên lấy từ nội dung “Dưới lá cờ vẻ vang…”. Khá nhiều người tài giỏi chuyên môn nhưng bị trượt bởi món "vẻ vang" này.
Thôi thì cái thời tranh tối tranh sáng, đắm chìm trong vòng ngu muội nó thế đã đi một nhẽ. Không có bất kỳ kênh nào để mở mang đầu óc, để tự giải phóng nên đành tin báo Nhân Dân, tin đài tiếng nói Việt Nam, tin rằng chủ nghĩa xã hội đã trong tầm tay, lấp ló ở ngoài ngõ rồi, chỉ còn quá độ chút xíu là tới, tin chủ nghĩa cộng sản đang vẫy gọi phía đằng xa.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, thày bu tôi đã được tuyên truyền miền Bắc đang bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Góp hết cả đất đai, ruộng vườn, trâu bò vào hợp tác xã để… tiến lên. Tiến mãi, chủ nghĩa xã hội chửa thấy đâu, cũng chả biết khi nào mới hết quá độ, mà chỉ thấy phú quý giật lùi trong từng miếng cơm manh áo. Hơn hai chục năm sau, chúng tôi con của thày bu lăn vào đời kiếm sống, lại tiếp tục được các ông bà cán bộ giác ngộ rằng đất nước ta đang thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lại quá độ, lại tiếp tục tiến lên. Tận mắt chứng kiến đánh tư sản, bao cấp, ngăn sông cấm chợ, đổi tiền, ăn bo bo, vượt biên, không còn phú quý để mà giật lùi nữa. Có lúc nghĩ mình đã chạm đáy rồi, không còn vực nào sâu hơn. Nghe cái câu “quá độ tiến lên” sao mà cay đắng. May là thông tin đã nhiều kênh hơn, sự bưng bít dần bị phá bỏ, chợt hiểu rằng tất cả chỉ là sự lừa dối có hệ thống, là nghệ thuật cho nhau ăn bánh vẽ.
Giờ lại đến đời con tôi, tức là đời cháu của thày bu tôi, sau thêm nửa thế kỷ nữa, vừa rồi lại nghe ông trùm đảng công phu hệ thống lại lý luận và khẳng định đất nước ta vẫn trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ông bảo cuối thế kỷ này (thế kỷ 21) cũng chưa chắc thành công, chả biết nói trong lúc say hay khi bản tính thật thà trỗi dậy, không giấu diếm nữa. Giời ạ, quá độ gì mà dài thế, lòng thòng thế, hở ông. Thày bu tôi đã khuất núi sau chặng dài quá độ, chưa hề biết mùi chủ nghĩa xã hội nó như thế nào. Tôi đời thứ hai cũng chả hy vọng gì thấy đất nước thoát khỏi thời kỳ quá độ. Mà ngay thằng con đời thứ ba, cũng đã sống nửa đời người, vẫn quá độ, không một chút ánh sáng nào cuối đường hầm để nó phấn khởi tin tưởng. Lý luận nhiều khi cũng khôi hài phết.
Trong bài viết được công bố vào tháng 5.2021, ông tổng bí thư lại một lần nữa thừa nhận điều đó. Ông bảo “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội” (trích chính xác nguyên đoạn).
Thưa ông, ông không nóng vội (bởi có thể các ông đã tới đích) chứ dân chúng sốt ruột lắm rồi. Nhà tôi 3 đời quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội mà chưa ai biết biết hình dong, mặt mũi nó thế nào đấy, ông ạ. Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày, sống trăm tuổi là hết kiếp hết một đời, có ai sống được vài ba kiếp, tái sinh như phượng hoàng, mọc đầu như Phạm Nhan để chờ hưởng thụ chủ nghĩa xã hội của các ông đâu mà bảo không thể nóng vội. Đã biết nó khó khăn, sao không chọn con đường khác như người ta, mà lại cứ đâm đầu vào.
Tôi kể cho ông nghe chuyện này. Năm 2012, đầu xuân, khi xảy ra vụ đầm Vươn ở Tiên Lãng (HP), tôi có dịp chầu hầu lão trượng Đào Trọng Khánh. Bác Khánh là NSND, đạo diễn nổi tiếng, một con người lịch duyệt, trên hiểu thiên văn dưới thông địa lý. Cuộc bia đang vui, có ai đó buột mồm nhắc đến chủ nghĩa xã hội. Bác Khánh cười bảo, lừa, lừa cả đấy. Cũng chả khác gì đám chúng ta ra vệ đường bắt xe đi Hà Nội. Thấy một thằng chạy tới, nó hỏi các bác đi đâu đới. Bảo chúng tao đi Hà Nội. Nó vồn vã xoắn xuýt, đây đây, xe đi Hà Nội đây, lên đi, lên đi. Trên xe, nó xoen xoét cái mồm Hà Nội đẹp thế này, Hà Nội tốt thế kia. Bọn ta gật gà gật gù mơ tưởng, ai dè nó chở tuốt tới rừng xanh núi đỏ ngoài Quảng Ninh, đẩy xuống, rồi phóng vụt mẹ nó mất. Cái đám lôi chủ nghĩa xã hội về, kiên định chủ nghĩa xã hội là vậy. Lừa cả thôi.
KỲ 4
Lại nói, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” được công bố hồi tháng 5.2021, ông tổng bí thư khẳng định/cảnh báo/nhắc nhở rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp vĩ đại, khó khăn, không thể nóng vội. Hình như ông cả đã nhận ra sự bồn chồn, nghi ngờ, mất lòng tin, không chỉ ở nhân dân mà còn khá phổ biến ở đám cán bộ, đảng viên, và nhất là tầng lớp lãnh đạo. Ổng, trùm lý luận, gọi tình trạng này bằng thuật ngữ "tự chuyển hóa", "suy thoái".
Sực nhớ ông anh họ tôi, một thầy giáo làng nhưng kiến thức thì "không phải dạng vừa", hồi còn sống có lần bảo rằng mấy ông cộng sản chỉ thích làm những thứ vĩ đại, làm đếch gì cũng gắn mác vĩ đại, đem bao nhiêu sức lực, của cải, thời gian ném vào đó, không cần biết nó sẽ đem lại gì cho dân chúng, đất nước. Ngẫm nhời của ông anh, thấy đúng thật.
Thứ chủ nghĩa xã hội bánh vẽ vĩ đại mà các ông bà ấy theo đuổi tới nay đã hai phần ba thế kỷ rốt cục chỉ đem lại nghèo đói, lạc hậu, bất công, "kẻ ăn không hết người lần không ra", "nghèo bền vững", nội chiến, chiến tranh, xâu xé đất đai, tan rã rường mối xã hội, dân chúng bất hạnh, kìm hãm đất nước chậm tiến hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm so với cả rất nhiều quốc gia khác… Nếu nó (chủ nghĩa xã hội) có đem lại chút gì “tích cực” thì chính ở chỗ đã tạo được cuộc sống đế vương cho tầng lớp lãnh đạo, mà trường hợp xơi thịt bò dát vàng là ví dụ rõ nhất.
Ăn bánh vẽ thì làm sao no mà bảo không thể nóng vội. Các ông bà “cửa son rượu thịt để ôi” thì mới đủng đỉnh, chứ dân chúng nóng vội sốt ruột lắm rồi. Nếu ai cũng như các ông các bà nhà cao cửa rộng, biệt thự xa hoa, xe công miễn phí cả tài xế lẫn xăng, mua bán thì những Tôn Đản - Nhà Thờ, bệnh tật nằm phòng riêng thì những Việt Xô - 108, chết chôn nghĩa địa riêng, con cái được tập ấm cha truyền con nối để giữ “hồng phúc của dân tộc”… vậy sốt ruột làm gì cho nặng đầu khổ tâm. Ông giỏi lý luận, ông phải nói ra được cái điều liên quan tới vận mệnh của dân chúng cần lao, của cả dân tộc, của trăm triệu người, chứ không thể chỉ loanh quanh liên quan tới đám vua chúa quần thần, hoặc tự sướng ngạo nghễ kiểu "chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời làm ta mê say". Đừng như kẻ làm vua xưa, khi được nghe tâu dân ngay cả cháo cũng không có mà ăn lại phán rằng sao họ không ăn thịt.
Tôi, kẻ viết những dòng này, đã đọc không sót một chữ trong bài lý luận đặc sệt của ông tổng bí thư. Ổng khen chủ nghĩa xã hội và vạch ra những khiếm khuyết, tệ hại của chủ nghĩa tư bản, rồi chốt lại: xứ ta dứt khoát, kiên định tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Vậy tôi xin hỏi ông và các đồng chí của ông:
Trái đất này hiện hơn 200 quốc gia (nước), có bao nhiêu nước đang “tiến lên chủ nghĩa xã hội”? Tất cả những nước giàu có, phát triển vượt bậc, dân chúng ấm no hạnh phúc, có nước nào “tiến lên chủ nghĩa xã hội” không? Trung Quốc trong vài chục năm qua đã phát triển nhanh, mèo trắng hay mèo đen miễn là bắt được chuột, có phải nó vỏ chủ nghĩa xã hội mà ruột tư bản không? Mỗi khi cần thu hút đầu tư nước ngoài, các ông thường mời gọi những nước tư bản hay chủ nghĩa xã hội? Các ông thích làm ăn với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đức, Úc… hay với Triều Tiên, Cuba, Lào, Venezuela…, thậm chí Nga? Giá trị đồng tiền của những nước tư bản và xã hội chủ nghĩa, thứ nào hơn? Con cái các ông gửi đi học, đi rèn luyện để về làm quan nối gót các ông, có chọn Triều Tiên, Cuba làm lựa chọn hàng đầu không? Đi du lịch, ăn chơi, các ông và người nhà có tới Cuba, Triều Tiên, Lào, Venezuela không? Xe các ông đi, là xe Đức, Nhật, Mỹ hay xe chủ nghĩa xã hội? Đồ sinh hoạt các ông xài, thậm chí thực phẩm, nước uống hằng ngày, có do Cuba, Triều Tiên cung cấp hay từ nơi nào, nước nào? Tiền trong túi các ông, là đô la, mác, yen, hay tiền kip, won, peso? Khi bị bệnh, nhất là nan y, các ông mò tới Triều Tiên, Cuba hay Nhật Bản, Singapore?... Có thể hỏi một ngày cũng chưa hết câu hỏi, còn trả lời thì không tới một giây bởi các ông bà sẽ ngậm hột thị, ú ớ, không trả lời được, trừ trường hợp cãi cùn. Cho mấy đứa Đối diện ra nhảy múa loạn ngôn, nói thật, dân không chấp.
Cứ trả lời được những câu đơn giản ấy thôi là đã rõ, chưa cần phải hỏi: Trong các nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, nơi đâu giàu có phát triển nhanh nhất bền vững nhất, nơi đâu người dân được quyền dân chủ và được sống hạnh phúc nhất, nơi đâu cột điện tự nhổ gốc về đâu nhiều nhất?
KỲ 5
Đừng có lừa mị, cả vú lấp miệng em. Tôi thấy trên hệ thống báo chí truyền thông của các ông bà cầm quyền, trên mồm các giáo sư tiến sĩ lý luận Mác - Lê rặt những lời xưng tụng bài viết của ông đứng đầu, nào là sáng suốt, đổi mới, đột phá, soi đường... Thôi, giọng mấy ông giáo sĩ sống bằng lý luận như Hoàng Chí Bảo, Đức Dũng, Tạ Ngọc Tấn hoặc đám Đối diện nhố nhăng không nói làm gì, họ không khen thì chính họ có mà đói rã họng.
Còn những lời có cánh khác là của ai? Của ông tổng bí thư đảng cộng sản Thụy Sĩ, của ông trưởng ban tuyên giáo Cuba, ông tổng bí thư đảng lao động Mexico, ông trưởng ban tuyên huấn Lào, ông cựu đảng viên cộng sản Đức, ông công an Lào từng học ở Việt Nam, của tay giáo sư lý luận đảng cộng sản Trung Quốc, của tay cộng sản Nga chuyên nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội…
Nói tóm lại, của đồng hội đồng thuyền, của đám anh em chung chiến hào tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, diệt suốt bao năm nay mà không diệt được. Giời ạ, nếu đám ấy thấy chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp như ông cả nói, sao chúng không kêu gọi nhân dân nước chúng phất cờ tiêu diệt chủ nghĩa tư bản ngay trên nước chúng đi, xây dựng thiên đường ngay trong nhà mình đi, lại cứ đứng ngoài ăn bơ sữa xúi người khác đói nghèo bền vững. Chúng có giỏi, cứ làm cách mạng xã hội chủ nghĩa ngay trên nước chúng, đâu có cái thói hồn trương ba da hàng thịt, thân xác hưởng thụ thành quả tư bản, còn đầu óc hướng về chủ nghĩa xã hội. Đám giáo sư tư tưởng lý luận ở Đức, Nga kia, không mở to mắt nhìn ngay vào thực tế đất nước mình, lại cứ đi khen đểu, xúi người khác đâm đầu vào ngõ cụt.
Cũng xin ghé tai ông cả nói nhỏ điều này, lý luận của ông nếu là tuyệt vời về hướng đi cho nhân loại, sao không thấy bà Merkel, ông Lý Hiển Long, các thủ tướng Nhật, Úc, Canada, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, thậm chí cả Putin, lên tiếng ngợi khen, xin copy về áp dụng cho xứ sở họ, hở ông.
Mà rất buồn cười, sự đúng sai thế nào, người đời biết cả, nhưng các vị lại lợi dụng quyền lực, bạo lực, "súng đẻ ra chính quyền", tự cho mình là luôn đúng, là chân lý, kim chỉ nam, rồi lên án người khác là "quan điểm sai trái". Nếu không thích người ta thì cứ vu cứ kết là "phản động", "thù địch", chứ dâu có cái thói cứ ai khác mình là bảo người ta sai trái. Mặt trời sáng lòa còn có vết đen nữa là. Các ông đã bằng mặt trời chưa mà nói người ta sai. Còn nếu có trái, chỉ trái với các ông, chứ với dân là thuận. Các cụ xưa dạy "trung ngôn nghịch nhĩ", lời nói thẳng thường khó nghe, nhưng nghe, dám nghe thì mới biết tự sửa mình. Đắm chìm miên man trong những lời nịnh bợ, ve vuốt, khen đểu, có khác chi tự cầm xẻng đào hố chôn mình. Tôi bảo thật.
Tôi chỉ đề xuất, nếu các ông thích kiên định tiến lên chủ nghĩa xã hội, "tiến lên ta quyết tiến lên", chả ai cấm. Các ông cứ chọn lấy vài tỉnh, thậm chí nửa nước, tụ họp hết những người cùng chí hướng vào đó, để cùng nhau xây dựng thiên đường của các ông. Lâu hay mau, khó hay dễ, nóng vội hay không nóng vội, tự các ông chịu. Làm tốt thì các ông hưởng, không ai giành phần, gây chiến, đòi giải phóng các ông làm gì. Phần còn lại, để người dân được lựa chọn đường đi cho mình. Chắc sự "khắc xuất" chẳng bao lâu rồi lại "khắc nhập" thôi, mà kết quả thế nào thì ngay bây giờ đã biết.
Thói đâu có thói cứ bắt mọi người phải cúi đầu lon ton đi theo mình mù lòa trên con đường vô định.

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2023

20230827. CHỌN AI ĐÁNH TRỐNG KHAI GIẢNG?

  ĐIỂM BÁO MẠNG

NHẮC MẤY HIỆU TRƯỞNG
MẠC VĂN TRANG/ FB 24-8-2023


Sắp khai giảng năm học mới rồi đấy. Các hiệu trưởng nhớ, đừng có ngu dại mời mấy tay quan chức đến đánh trống khai trường. Gương tầy liếp đầy như rác đó. Nếu có quan chức nào có con học ở trường, đến dự khai giảng thì hãy để ngồi như phụ huynh bình thường, đừng có xun xoe xấu hổ lắm, mất tư cách lắm.
Việc đánh trống khai trường hiệu trưởng hãy thực hiện một cách thiêng liêng và trách nhiệm đạo đức. Nếu không đủ tin vào nhân cách của mình, thì tốt nhất mời một thầy giáo, hay cô giáo có uy tín nhất trong trường, được các giáo viên và học sinh yêu quý tin cậy để đánh trống khai trường.
Như vậy mới đúng tiếng trống trường mang giá trị giáo dục Chân Thiện Mỹ, chứ không dành cho những kẻ đạo đức giả làm ô uế nhà trường, tác hại đến niềm tin, tâm hồn trong trắng của con trẻ.

TRẢ CHIẾC DÙI TRỐNG LẠI CHO NHÀ TRƯỜNG
THÁI HẠO/ NN 25-8-2022
[Bài này tôi đăng trên báo NN đúng 1 năm trước, gửi đến BVN vì tính thời sự còn nguyên]


Mạng xã hội lại chia sẻ ngập tràn hình ảnh những vị lãnh đạo cấp cao trong “quá khứ gần” từng đánh trống khai giảng ở các trường học trên nhiều địa phương, nhưng bây giờ đang ngồi tù vì đủ các loại tội danh. Trong những hình ảnh ấy, không chỉ có sự mỉa mai, phê phán, mà hơn hết, là một nỗi xót xa.
Tuy nhiên, vấn đề ở đây không chỉ dừng lại nơi việc đòi hỏi tìm được đúng những vị lãnh đạo có đủ “tâm – tầm – tài” để đánh tiếng trống trang trọng cho ngày đầu năm học mới; mà quan trọng hơn, nó đặt ra câu hỏi: vì sao lãnh đạo của các cơ quan hành chính lại là người đánh trống chứ không phải thầy hiệu trưởng?
[Bài liên quan: Giáo viên, để đừng trở thành thợ dạy]
Khai giảng (tên gọi cũ là khai trường) là chuyện của ngành giáo dục, chuyện của thầy cô và người học, chứ không phải nơi chốn của những người quản lý hành chính.
Từ bao giờ các quan chức lại đến trường đánh trống khai giảng? Ai đang thực sự là “trung tâm” trong nhà trường, học sinh hay người khác?
Sự hiện diện của quan chức trong bộ máy công quyền vào ngày khai giảng (và trong giáo dục nói chung) nên dừng lại ở mức độ khách mời và như một cam kết về nghĩa vụ chăm lo các điều kiện về chính sách cho giáo dục, chứ không phải là “lãnh đạo” giáo dục. Ngày nay, việc họ đứng lên “chỉ đạo” trong môi trường tri thức mà ở đó họ thường không có thẩm quyền chuyên môn và cũng ở đó quan hệ thầy trò là thiêng liêng và thuần khiết, đang khiến chúng ta nhìn thấy những bất ổn trong phân chia quyền lực, nếu không nói là đảo lộn.
Khi quyền lực hành chính ngự trị trong môi trường giáo dục, nó làm phát sinh hàng loạt những vấn nạn: cửa quyền hoành hành, sự thật bị bóp méo, giáo dục thành giáo điều.
Tôi còn nhớ như in một kỷ niệm, đó là trong dịp khai giảng của trường tôi cách đây vài năm. Khi đó, trường mời được lãnh đạo từ huyện đến tỉnh về dự và sẽ “phát biểu chỉ đạo”. Học sinh và giáo viên cầm cờ đứng xếp hai hàng từ ngoài cổng vào đến sân khấu từ sáng sớm để đón lãnh đạo. Được lệnh từ trước của hiệu trưởng, khi có vị lãnh đạo nào bước vào thì tất cả phải tươi cười vẫy cờ; khi lãnh đạo vào tới lễ đài thì tất cả giáo viên phải đứng dậy chạy lại bắt tay mừng rỡ… Trong buổi họp hội đồng đầu năm sau lễ khai giảng ấy, một số giáo viên đã bị nêu tên và “phê bình” gay gắt vì đã “thiếu nhiệt tình” khi không chủ động lại chào lãnh đạo.
Đó là một một nỗi ê chề của những người làm thầy, đó cũng là bằng chứng sinh động cho tình trạng nhà giáo bị coi thường, bị bắt nạt và khiến hai chữ “tôn sư” trở thành rỗng nghĩa và thành hình thức suông. Trong môi trường giáo dục mà nhà giáo không được tôn trọng đến mức ấy thì thử hỏi làm sao việc dạy dỗ có thể mang lại kết quả gì tốt đẹp?
Chừng nào giáo dục còn chưa có được một vị trí độc lập xứng đáng, chừng nào nhà giáo còn chưa được tôn trọng và đề cao, chừng ấy chúng ta còn phải chứng kiến đủ thứ bệnh trạng mà các biện pháp “cải cách” đủ loại khó lòng mà mang lại một sự thay đổi đáng kể nào.
Cần phải trả chiếc dùi trống lại cho nhà trường, trả sự tôn nghiêm lại cho quan hệ thầy trò, trả sự trong sáng lại cho môi trường giáo dục…, lúc ấy mới mong giáo dục sẽ thay da đổi thịt.
T.H.
Tác giả gửi BVN


Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2023

20230826. NGHIÊN CỨU NGỤY BIỆN ĐỂ CHỐNG NGỤY BIỆN

 ĐIỂM BÁO MẠNG

CẦN NGHIÊN CỨU VỀ 'NGỤY BIỆN' ĐỂ CHỐNG NGỤY BIỆN
NGÔ THẾ BÍNH/ ngothebinh's blog 12-8-2015


Ngụy biện (sophisticate ) là cách trình bày những phán đoán, nhận xét, chứng minh, kết luận không tuân theo những quy tắc logic dẫn đến làm sai lệch bản chất thật của hiện tượng sự vật có liên quan.
Ngụy biện là thuật ngữ của logic học, mà sự ra đời gắn liền với tên tuổi của nhà tư tưởng và triết học cổ đại Aristotle (384-322 TCN). Ông là người đầu tiên phát triển các quy tắc và hệ thống suy luận, được đặt tên là “logic” và chỉ ra nhiều lỗi lầm trái với quy tắc đó, nay gọi là “ngụy biện”.
Kẻ ngụy biện (Sophist ) có thể là bất cứ ai, chừng nào có sử dụng ngôn ngữ (bao gồm cả chữ viết, ký tự khoa học, thuật toán) như là công cụ để truyền bá tư tưởng, nhận thức, tranh luận trong khoa học, viết và bảo vệ luận văn luận án, phê bình - tự phê bình và cả trong sinh hoạt đời thường.
Căn cứ vào mục đích, kẻ ngụy biện (KNB) được chia làm 2 loại: KNB cố ý và KNB không cố ý. KNB cố ý là kẻ biết lỗi logic nhưng cố tình sử dụng nhằm đạt được mục đích thuyết phục đối tượng tiếp nhận, dù có thể là xấu xa như lừa dối, che dấu sự thật, đổi sai thành đúng, đề cao hạ thấp quá mức ai đó, phá bĩnh tranh luận nghiêm túc để đi đến chân lý v.v…KNB không cố ý là kẻ không biết lỗi logic nhưng ngụy biện, đơn thuần là không có kiến thức về logic và lĩnh vực có liên quan. KNB không cố ý còn được GS Nguyễn Đình Cống gọi là “kẻ ngộ biện”.[10 ]. Tuy không cố ý, nhưng KNB không cố ý cũng có thể gây tác dụng xấu như KNB cố ý. KNB không cố ý thường xuất hiện trong lớp người ít học; lười biếng trong suy nghĩ (kể cả người tự cho là trí thức), thích nói theo sao chép; cả tin vào chủ thuyết, giáo lý, những nhân vật nổi tiếng, có quyền uy v.v…
Nhìn chung các “tác phẩm” ngụy biện là có tác dụng tiêu cực, nhưng trong một số trường hợp “tác phẩm”ngụy biện lại tạo ra tiếng cười sảng khoái vì nó mắc sai lầm quá ngớ ngẩn, ví dụ: “ Bác Hồ nói thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua, anh không đăng ký thi đua là không yêu nước”. Những thuật toán ngụy biện, chứng minh những “sai” hiển nhiên thành “đúng”, ví dụ 2=1, 4=5, 5=7, góc tù bằng góc vuông v.v…lại có ích cho ai say mê toán học tìm ra những lỗ hổng kiến thức bản thân để làm toán tốt hơn.
Để chống ngụy biện trước hết cần phải có kiến thức về logic, nhưng không phải ai cũng nắm vững. Để thuận lợi cho chống ngụy biện các nhà logic học sau Aristotle (tiêu biêu như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer) đã để công sưu tầm, hệ thống hóa các lỗi ngụy biện thành các nhóm loại. Việt Nam cũng có không ít người nghiên cứu quan tâm tới chủ đề ngụy biện và vận dụng nó trong công tác phản biện xã hội, phản biện khoa học. GS Nguyễn Văn Tuấn đã hệ thống lỗi ngụy biện thành 7 nhóm bao gồm 45 kiểu mà người Việt hay mắc phải, cùng những phân tích xác đáng về nguyên nhân.[2]. Các tài liệu tham khảo về chủ đề ngụy biện có thể tìm theo các links dưới bài.
Tôi cho rằng nghiên cứu ngụy biện là cần thiết cho tất cả những ai mong muốn tìm kiếm sự thật và chân lý trong mọi lĩnh vực của đời sống ngày nay.
Tài liệu tham khảo
1-ngụy biện – Wiktionary tiếng Việt
2. Ngụy biện và cách đối phó - Facebook- Nguyễn Văn Tuấn
3. Các lỗi ngụy biện thường gặp trong tranh luận – VLOS
4. Phê pháp phép ngụy biện/Ngụy biện là gì? – VLOS
5. Văn hóa tranh luận và vấn đề ngụy biện – VLOS
6. Giới thiệu về Ngụy Biện
7. Logic Và Ngụy biện - Thanh Niên Xa Mẹ
8. Lựa chọn của nhân dân (BVN 12/8/2015)- Nguyễn Văn Tuấn
9.Tây Mĩ nó cũng thế(tuan's blog 12/8/2015)- GS Nguyễn Văn Tuấn
10. CHỐNG NGỤY BIỆN VÀ NHẦM LẪN VỀ CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN (BVN 8/8/2015)- Nguyễn Đình Cống
THÓI NGỤY BIỆN Ở NGƯỜI VIỆT
GS NGUYỄN VĂN TUẤN/ tuan's blog 5/2010

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.
Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.
Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.
Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quen với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.
Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.
Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.
Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v... chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là "tranh luận" thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là ... uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những "tranh luận" và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác "trí thức" hay "có học". Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác "có học" đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.
Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.
Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:
 Đánh tráo chủ đề
 Lợi dụng cảm tính và đám đông
 Làm lạc hướng vấn đề
 Qui nạp sai
 Nhập nhằng đánh lận con đen
 Phi logic
 Các nhầm lẫn khác
Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề
1. Công kích cá nhân(ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.
Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”
2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam).Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.
3. Lợi dụng nặc danh.Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”
4. Lợi dụng tác phong.Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.
5. Luận điệu cá trích.Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”
6. Luận điệu ngược ngạo.Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!
Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông
7. Dựa vào bạo lực(ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”
8. Lợi dụng lòng thương hại(ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”
9. Lợi dụng hậu quả(ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)
10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.
11. Dựa vào quần chúng(ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”
Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề
12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”
13. Lí lẽ ngờ nghệch(ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.
14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”
15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”
16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”
Nhóm 4. Qui nạp sai
17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”
18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”
19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”
20. Lí lẽ quanh co.Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.
21. Đảo ngược điều kiện.Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”
22. Lợi dụng rủi ro.Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”
23. Lợi dụng trường hợp cá biệt.Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”
24. Kết luận lạc đề.Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”
25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”
Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo
26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”
27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)
28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.
29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.
30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.
31. Nguyên nhân sai(Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”
Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận
32. Phi logic.Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”
33. Loại bỏ tiền đề.Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.
34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”
35. Ngụy biện tứ ngữ.(Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.
35. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.
Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác
37. Dẫn chứng bằng giai thoại.Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.
38. Lợi dụng cổ tích.Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”
39. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.
40. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”
41. Điệp khúc(ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.
42. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”
Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”
44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”
45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.
Nhận xét
Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.
Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.
Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.
Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.
Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.
Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.
Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.
Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.