Thứ Năm, 30 tháng 1, 2020

20200130. BÀN VỀ PHÁT TRIỂN LOGISTICS QUỐC GIA

ĐIỂM BÁO MẠNG

LOGISTICS VÀ GIẤC MƠ CẠNH TRANH VỚI TRUNG QUỐC
GS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO/ ĐV 28-1-2020

(Thị trường) - Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển logistics nhưng để trở thành một trung tâm sản xuất mới, có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc thì...

Ngày 26/10/2019, tại Hội thảo quốc tế “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống Logistics quốc gia và Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”, logistics được nhận định là “mỏ vàng” thúc đẩy sự phát triển của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề. Bộ Công thương còn lạc quan tin tưởng rằng, sự phát triển của ngành vận tải và logistics sẽ tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng trở thành một trung tâm sản xuất mới trong khu vực, có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc.
Tham vọng cạnh tranh với các nước trong khu vực và vươn tầm cạnh tranh với Trung Quốc và thế giới là rất đáng hoan nghênh. Bởi từ tham vọng mới có động lực để thúc đẩy ngành logistics trong nước phát triển.
Tuy nhiên, để khai thác được đúng giá trị, tiềm năng của “mỏ vàng” logistics, để logistics thật sự trở thành thế mạnh giúp Việt Nam có thể cạnh tranh với Trung Quốc hay thế giới, thì ngoài tiềm năng sẵn có, logistics trong nước phải xây dựng được một nền tảng vững chắc, tạo đà cho nền kinh tế vươn tiếp.
Như vậy, vấn đề quan trọng nhất lúc này là phải định vị cho được những giá trị đích thực của ngành logistics cũng như vị trí của logistics Việt Nam đang ở đâu so với các nước trong khu vực và thế giới. Muốn cạnh tranh được với các nước thì logistics Việt Nam đã có được gì và sẽ phải làm thế nào để cạnh tranh?
Quan sát rất nhiều diễn đàn, hội thảo về logistics, có thể thấy logistics có rất nhiều tiềm năng nhưng cách thức phát triển còn nhiều hạn chế, nhiều khâu trong hoạt động logistics đi ngược thế giới. Có thể nhận diện từ những hạn chế sau đây.
Logistics va giac mo canh tranh voi Trung Quoc
Ảnh chụp một góc của Trung tâm logistics Brement Cộng hòa Liên bang Đức cách cảng Bremenhaven gần 40km với diện tích 1500ha (ảnh chụp năm 2013)
Hiểu chưa đúng về logistics
Luật Thương mại 2005 đề cập tới 8 Điều quy định về các dịch vụ logistics, Nhà nước đã ban hành một số văn bản quản lý hoạt động logistics, quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030…  nhưng đến nay thông tin chuyển tải tới các cấp, ngành, địa phương và người dân để hiểu cho đúng về logistics, từ đó có những vận dụng logistics vào phát triển kinh tế cho hiệu quả lại chưa rõ ràng, đầy đủ, hiệu quả chưa cao.
Từ các cơ quan quản lý nhà nước là Bộ Công thương cho tới các địa phương đều hiểu logistics một cách không thống nhất và không đầy đủ. Trong suốt các hội thảo từ năm 2017 cho tới các hội thảo gần đây vẫn coi logistics thuần túy như một dịch vụ vận tải hoặc như một dịch vụ giao nhận hàng hóa, thậm chí theo Quyết định 27/QĐ-TTg ngày 6/7/2018 về ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam thì logistics chỉ là “hoạt động lập kế hoạch, tổ chức và hỗ trợ vận tải, kho bãi và phân phối hàng hóa”. Thực tế, vận tải chính là thực hiện hành trình lưu thông hàng hóa, do đó việc phân phối, lưu thông hàng hóa được tối ưu hóa chính là logistics.
Như vậy, nếu hiểu đầy đủ và rộng hơn, logistics phải là các hoạt động tối ưu hóa (dòng vận động hàng hóa, tiền tệ, thông tin), liên kết, hợp tác trong các ngành, các địa phương và doanh nghiệp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, còn góc độ ngành dịch vụ, logistics là một chuỗi các dịch vụ vận tải, kho bãi, hải quan, bán buôn, bán lẻ và các dịch vụ giá trị gia tăng khác liên quan đến quá trình cung ứng hàng hóa… Việc nâng cao nhận thức logistics, trước hết của đội ngũ cán bộ quản lý ở các ngành, các địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành logistics phát triển, tránh tư tưởng cục bộ, địa phương, lợi ích nhóm, lợi ích dự án, giúp các doanh nghiệp hoá giải bài toán đầu vào, đầu ra trong sản xuất, kinh doanh một cách hiệu quả, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, từ đó tăng năng suất, hiệu quả, đóng góp cho tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh cho cả vùng và nền kinh tế.
Logistics va giac mo canh tranh voi Trung Quoc
Các chuyên gia đều cho rằng, Việt Nam giàu tiềm năng logistics
Tình trạng mỗi địa phương, một cảng biển
Chúng ta có tiềm năng vận tải biển rất lớn, lợi thế bờ biển dài, riêng với Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung trải dọc theo bờ biển dài 609km có vị trị đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh đối với cả khu vực Duyên hải miền Trung.
Chúng ta sở hữu một hệ thống cảng biển quan trọng như: Chân Mây, Tiên Sa, Kỳ Hà, Dung Quất và Quy Nhơn… cùng hệ thông sân bay quốc tế, đường sắt xuyên quốc gia, hệ thống đường bộ gắn với nhiều hành lang kinh tế trong vùng… Đây chính là những tiền đề quan trọng cho phát triển logistics nói chung và xây dựng các trung tâm logistics nói riêng, như là một mô hình kinh doanh mới, hiện thực hóa liên kết kinh tế giữa các địa phương.
Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện ý đồ đó lại chưa thực hiện được bao nhiêu. Cụ thể là, hệ thống cảng biển hiện nay nằm trong tình trạng đầu tư phân tán, thu hút đầu tư cảng biển theo kiểu “phân lô, chia nền”, một cảng biển khoảng hơn chục hec-ta mà có tới 5-6 nhà đầu tư cùng vào, rồi phân chia mỗi nhà đầu tư nắm giữ một vài hec-ta chứ không phải để đầu tư cảng biển. Nếu cứ giữ tư duy làm cảng biển như hiện nay, thời gian tới muốn xây dựng cảng biển lớn của khu vực và thế giới thì cảng biển Việt Nam lại phải đi theo bài học nông nghiệp Việt Nam “thu gom đất làm cánh đồng mẫu lớn”.
Câu chuyện mắc kẹt của cảng Tiên Sa đã cho thấy những bất cập lộ rõ trong quy hoạch phát triển cảng biển tại Đà Nẵng nói riêng, cũng là phát triển cảng biển nói chung của Việt Nam.
Đà Nẵng đã có một cảng Tiên Sa với vị trí, điều kiện hạ tầng sẵn có lại mới được mở rộng đầu tư, rất thuận lợi để phát triển làm cảng nước sâu, nhưng lại không được chú ý quy hoạch bài bản từ đầu, thay vào đó để các nhà đầu tư bất động sản nhảy vào, sân sau của cảng Tiên Sa biến thành khu du lịch, nắm giữ hàng loạt diện tích lớn để rồi lại tính phương án xây dựng thêm cảng Liên Chiểu bên cạnh cảng Chân Mây với mức đầu tư rất tốn kém cho nạo vét, xây cầu, kè… gần 35 nghìn tỷ đồng  gây nhiều ý kiến!
Trực tiếp khảo sát khu vực dự tính làm cảng Liên Chiểu mới và trung tâm logistics hạng 1 tại xã Hòa Nhơn trên nền ICD của khoảng 20 ha, có thể thấy những bất cập trong quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng logistics hiện nay. Với dự tính xây dựng trung tâm logistics hạng 1, mức tổng đầu tư gần 15 nghìn tỷ đồng, nhưng diện tích mới có khoảng 20 hec-ta, nếu giải phóng mặt bằng tối đa cũng chỉ thu được khoảng 50 hec-ta. Với diện tích trên nếu đặt yêu cầu của một trung tâm logistics loại 1 và theo quy hoạch 1012/QĐ/TTg giai đoạn 2 lên trên 70 ha thì lấy đâu ra đất? Ngoài ra, triển vọng nguồn hàng trung chuyển và qua cảng Đà Nẵng từ hành lang kinh tế Đông –Tây hay từ các tỉnh vùng kinh tế miền Trung là không thực tế về vị trí và hiệu quả đầu tư. Trên thế giới, quy hoạch tầm nhìn cho một trung tâm logistics hạng 1 tầm cỡ khu vực và thế giới phải lên tới hàng trăm, hàng nghìn hec-ta!
Đó là chưa nói tới tình trạng cảng biển kết nối rất kém với hệ thống giao thông quốc gia, đặc biệt là hệ thống đường sắt. Chính vì thế áp lực vận tải cho đường bộ không được giảm tải, tai nạn, ùn tắc liên tiếp xảy ra trong khi hệ thống đường sắt bị bỏ lãng phí, đường thủy không khai thác được, hàng loạt các phương tiện vận tải ra vào cảng bị ùn tắc nghiêm trọng và về đêm nằm la liệt trên các tuyến phố vào cảng gây nhếch nhác, tai nạn giao thông và ô nhiễm môi trường. Như vậy, để phát triển và phát huy được lợi thế của Việt Nam trong lĩnh vực cảng biển, tiềm năng biển thì phải có tầm nhìn dài hạn, không thể tư duy manh mún, kiểu mỗi địa phương một cảng biển được, hay mỗi nhà đầu tư lớn vào địa phương đều có cảng biển của riêng mình.
Logistics va giac mo canh tranh voi Trung Quoc
GS.TS.NGƯT Đặng Đình Đào chụp hình tại Trung tâm logistics trên hành lang tuyến cao tốc Đức – Hà Lan năm 2013

 Quy hoạch trùng lặp, chồng chéo
Tại Diễn đàn logistics Việt Nam 2019 vừa tổ chức tại Đà Nẵng, những thông điệp nhấn mạnh tới yêu cầu tận dụng logistics, khai thác triệt để lợi thế trên hành lang kinh tế Đông – Tây, nhưng điều kiện hay mô hình để khai thác được những lợi thế từ hành lang kinh tế này thì lại chưa có gì.
Như đã nói, khâu kết nối vận tải Việt Nam quá kém khiến hàng hóa ra vào cảng và về các địa phương bị mất nhiều thời gian, chi phí đội lên cao, chưa nói tới những chi phí không chính thức, những rào cản về thủ tục hành chính, thanh tra, kiểm tra khiến hàng hóa ngại ra vào.
Đó là lý do vì sao, kỳ vọng thu hút nguồn hàng từ vùng Đông Bắc Thái Lan và Lào… qua hành lang kinh tế Đông - Tây về cảng Đà Nẵng, Chân Mây không được bao nhiêu, chưa nói là rất thấp, nhiều sản phẩm nông nghiệp trong vùng khi được mùa phải bỏ mặc ngoài đồng; con tôm đưa từ biển lên vùng núi Việt Nam chi phí còn cao hơn vận chuyển từ Ecuado về Việt Nam…
Tiếp nữa, các quyết định phê duyệt về xây dựng cơ sở hạ tầng logistics như quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến 2030 và hệ thống cảng cạn hiện nay còn nhiều bất cập, trùng lặp và chồng chéo. Do vậy, cần điều chỉnh và bổ sung, thậm chí tích hợp các văn bản này để các Quyết định 1012/QĐ-TTg ngày 3/7/2015 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics và Quyết định 2072/QĐ-TTg ngày 22/12/2017 về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng cạn phù hợp hơn với thực tiễn logistics hiện nay và kinh nghiệm quốc tế, đồng thời tránh lãng phí trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng logistics và đầu tư lại thêm lãng phí cho ngân sách nhà nước và các địa phương.
Trong khi đó, các trung tâm logistics được coi là mô hình kinh doanh mới trong chiến lược khai thác các hành lang kinh tế nhưng suốt dọc hàng nghìn cây số đường quốc lộ và đường cao tốc không có một trung tâm logistics. Điều này dẫn tới tai nạn, xung đột giao thông, nảy sinh các điểm nghỉ cưỡng bức, quán ăn vỉa hè, giao thông nhếch nhác. Chưa hết, tình trạng đường tới đâu dân nhào tới đó, mỗi lần mở đường là phải đền bù cho dân, rồi lại nảy sinh bức xúc, mâu thuẫn, lại kéo dài thời gian.
Vì thế, cần sớm xây dựng quy hoạch và có chính sách cụ thể đầu tư xây dựng các trung tâm logistics để kết nối 5 địa phương của Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, khai thác hiệu quả 5 tuyến hành lang kinh tế trên địa bàn, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, xuất nhập khẩu và tiêu thụ sản phẩm cho các ngành và địa phương. Các trung tâm logistics cần được xây dựng tại các điểm có khả năng kết nối các loại phương tiện vận tải mà địa phương, vùng đang sở hữu như đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không… và phải được quy hoạch với tầm nhìn 50 năm đến cả 100 năm, xây dựng với quy mô như các khu công nghiệp hiện nay đối với trung tâm logistics (hạng 1), không nên chỉ đơn thuần là mở rộng thêm một số chức năng của các ICD hiện có, để thu hút các tập đoàn logistics của khu vực, thế giới, các doanh nghiệp logistics trong nước vào đầu tư, kinh doanh.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực logistics vừa yếu lại vừa thiếu. Quy mô các doanh nghiệp logistics còn nhỏ li ti, chưa đi vào quy mô, chất lượng. Chính sách thu hút nhân lực logistics chất lượng cao và đẩy nhanh công tác đào tạo nguồn nhân lực logistics cho Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, trước hết là cho các trung tâm logistics vẫn chưa có chính sách rõ ràng. Chương trình đào tạo logistics, đưa môn học logistics vào chương trình đào tạo kinh tế và quản trị kinh doanh chưa được quan tâm đúng mức.
Việc phân định các hoạt động kinh tế logistics, doanh nghiệp logistics, nhân lực logistics, hệ thống logistics cũng chưa có được đánh giá đầy đủ, chính xác. 
               
Một điểm quan trọng khác là nhu cầu sử dụng logistics tại Việt Nam chưa cao. Chi phí logistics quá lớn trong khi các khâu đoạn thiếu kết nối, đứt quãng, khiến doanh nghiệp trong nước không mặn mà. Vì thế, nếu muốn ngành logistics phát triển, luôn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thì cần xây dựng cho được một môi trường logistics phát triển. Chỉ như vậy logistics mới trở thành “mỏ vàng” tạo ra những lợi thế vượt trội, tạo sự tăng trưởng, phát triển bền vững đúng nghĩa; tạo sự gia tăng giá trị của sản phẩm; mở rộng giao lưu, phát triển kinh tế hàng hóa của 63 tỉnh thành, không có tình trạng sản phẩm bỏ mặc ngoài đồng.
Với tất cả hiện trạng logistics Việt Nam đang có, nếu muốn tính tới chuyện cạnh tranh được với các nước trong khu vực thì phải kiến tạo được một môi trường logistics ngang tầm khu vực bao gồm từ chính sách, thể chế, cơ sở hạ tầng logistics, hệ thống doanh nghiệp logistics, thị trường logistics cho tới nguồn nhân lực trước. Khi kiến tạo được một môi trường đứng được ngang tầm với các nước trong khu vực, lúc đó mới tính tới việc cạnh tranh với Singapore, Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác.
GS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2020

20200129. BÀN VỀ KINH TẾ ĐẦU XUÂN CANH TÝ

ĐIỂM BÁO MẠNG
LUẬN MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN

HUỲNH THẾ DU/ KTSG 26-1-2020

(TBKTSG Xuân) - Trải qua hàng ngàn năm tiến hóa bộ gen của con người chỉ thay đổi rất ít. Do vậy, những hành xử của chúng ta không khác nhiều ngày xưa. Những lý luận nền tảng về nhà nước và xã hội ngày nay, về cơ bản được dựa trên những lý thuyết của những nhà tư tưởng cổ xưa, đặc biệt là ba triết gia Hy Lạp gồm: Socrates, Plato và Aristoteles. Lật lại những lập luận nền tảng từ xưa và so với thực tiễn có thể soi rọi rất nhiều điều.
Dân chủ và Quả đầu
Hai mô hình tổ chức nhà nước kinh điển trên thế giới: dân chủ và quả đầu (thiểu số tinh hoa) cùng những biến thể của chúng được Aristoteles nêu ra trong “Chính trị luận” cách đây 2.400 năm. Theo nguyên bản của Aristoteles thì sự khác biệt giữa quả đầu và dân chủ là ở chỗ giàu và nghèo (có và không có tài sản). Tuy nhiên, nhìn từ lăng kính ngày nay, dân chủ là chế độ theo phổ thông đầu phiếu; trong khi quả đầu là chế độ mà ở đó xã hội được lãnh đạo bởi tầng lớp ưu tú (thiểu số tinh hoa) và mỗi người cần phải thỏa mãn những điều kiện hay có những “tài sản” nhất định để có thể được chọn vào một vị trí nào đó trong hệ thống.
Aristoteles cho rằng dân chủ hay quả đầu đều có thể thích hợp cho các bối cảnh khác nhau và mô hình nào cũng quyết định dựa trên đa số; và “những chính quyền nào mà quan tâm đến phúc lợi chung của mọi người là những chính quyền được thiết lập đúng theo công lý, hiểu theo nghĩa nghiêm nhặt nhất, và đó là những chính quyền đúng đắn; còn những loại chính quyền nào chỉ lo quyền lợi của kẻ cai trị là những loại chính quyền đầy rẫy khuyết điểm và bại hoại...”.
Với phân tích của Aristoteles thì mô hình được xem là đúng đắn, và mô hình chính quyền tối hảo phải do những người tài ba nổi trội hơn những người khác (tài năng và đức hạnh) cai trị. Ông cũng đã chỉ ra những trục trặc của dân túy mà nó đang rất đúng trong thời đại ngày nay.
Trên thực tế, không có chế độ dân chủ hay quả đầu một cách thuần túy. Ví dụ, mô hình dân chủ kiểu Mỹ cũng có nhiều yếu tố quả đầu và mô hình quả đầu của Singapore cũng có nhiều yếu tố dân chủ. Do vậy, lập luận chỉ có mô hình này đúng và phù hợp và mô hình kia không phù hợp với tất cả các nước là không có cơ sở. Mô hình nào phù hợp là tùy điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước và “mô hình chính quyền tốt nhất là một chính quyền trong đó mọi người, bất kể là ai, đều có thể sinh hoạt theo đúng khả năng cao nhất của họ và sống một đời sống hạnh phúc” như Aristoteles phân tích.
Trục trặc của mô hình dân chủ gắn với kinh tế thị trường thuần túy
Trong bài viết Trả lại vai trò của Cộng đồng, trên Project-Syndicate - trang tin thảo luận của những học giả hàng đầu thế giới, Dani Rodrik - giáo sư Đại học Harvard, một học giả đi đầu trong phát triển chỉ ra rằng không thể phủ nhận kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều thành quả cho sự phát triển, nhưng rõ ràng nó đang có những trục trặc nghiêm trọng. Sự chia rẽ về kinh tế và xã hội ở nhiều nơi đang gây ra những xáo trộn, từ Mỹ, Đức, Ý đến các nước đang phát triển như Philippines và Brazil. Những biến động chính trị này cho thấy cách nhìn nhận về vai trò của kinh tế thị trường không còn hoàn toàn phù hợp. Kinh tế thị trường thuần túy và dân chủ mỗi người một lá phiếu đang có những trục trặc nghiêm trọng được thể hiện trong ba vấn đề dưới đây.
Thứ nhất, bất bình đẳng và phân chia những thành tựu của loài người không đồng đều. Nhà kinh tế học người Pháp Piketty đã phân tích rất rõ vấn đề này trong tác phẩm “Tư bản ở thế kỷ 21” với bất đẳng thức nổi tiếng của ông là tốc độ tăng giá trị của cải của những người nắm giữ chúng cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu kể từ sau khi kết thúc Thế chiến thứ 2 đến nay. Tổ chức Oxfarm đã chỉ ra rằng phần của cải của 1% nhân loại đã nhiều hơn của 99% còn lại từ năm 2016.
Thứ hai, thị trường bị chi phối bởi số ít doanh nghiệp. Bài viết với tiêu đề Cạnh tranh: Cuộc cách mạng tư bản tiếp theo trên tờ Economist ngày 15-11-2018 đã chỉ ra điều này. Các doanh nghiệp đang có được những khoản lợi nhuận bất thường khổng lồ. Chỉ những doanh nghiệp ít liên quan đến ngoại thương thì khoản này đã lên đến 660 tỉ đô la Mỹ, bằng gần 3 lần GDP Việt Nam. Toàn cầu hóa và mở rộng thị trường đã không tạo ra cạnh tranh lành mạnh, để giảm lợi nhuận bất thường của các doanh nghiệp mà là ngược lại.
Thứ ba, sự biến hình của mô hình dân chủ phổ thông. Trong bài viết Liệu Dân chủ Mỹ có thể quay trở lại? trên Project-Syndicate ngày 6-11-2018, nhà kinh tế đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz đã nhận xét rằng: “Những điều lý tưởng của người Mỹ về tự do, dân chủ và công lý cho tất cả mọi người chưa bao giờ trở thành hiện thực. Dân chủ đã trở thành của, do và vì một số ít; và công lý chỉ cho tất cả những người, da trắng và có khả năng có nó”. Mục tiêu mỗi người một phiếu và mọi người bình đẳng như nhau đã không thể đạt được mà mô hình dân chủ này đang bị lũng đoạn bởi những chính trị gia dân túy gây chia rẽ và sự thù hằn.
Ông Lý Quang Diệu đã rất thẳng thắn: “Ngược với những gì giới bình luận chính trị Mỹ nói, tôi không tin vào chế độ dân chủ nhất thiết sẽ dẫn tới phát triển... Dân chủ dẫn đến những điều kiện vô kỷ luật và thiếu trật tự rất có hại cho sự phát triển...”.
Thu hút tài năng - nhân tố thành công của mô hình quả đầu
Góc nhìn của ông Lý Quang Diệu về nhà nước hay chính quyền trong thời hiện đại rất giống với những gì mà Aristoteles đã chỉ ra các đây 2.400 năm. Ông Lý cho rằng:
Thử nghiệm căn bản đối với giá trị của một hệ thống chính trị là liệu hệ thống ấy có giúp cho xã hội đó thiết lập được những điều kiện để cải thiện sức sống của đa phần người dân, cộng thêm việc có tối đa được các quyền tự do cá nhân phù hợp với các quyền tự do của những người khác trong xã hội hay không...
Không có cách nào khác để vận hành một đất nước tốt hơn là dùng người giỏi nhất cho công việc khó khăn nhất...

Với Singapore, thách thức cơ bản vẫn chưa thay đổi: trừ phi chúng tôi liên tục có nhiều người có năng lực cao để đảm nhận cương vị Thủ tướng và Bộ trưởng, nếu không điểm đỏ nhỏ bé Singapore sẽ trở thành một chấm đen bé xíu... Để tìm được những con người có năng lực, tận tụy, chính trực và sẵn sàng cống hiến giai đoạn sung sức nhất của mình, và dám vượt qua quá trình bầu cử đầy rủi ro, chúng tôi không thể trả lương thấp cho các vị bộ trưởng và nói phần thưởng duy nhất của họ chính là sự đóng góp của họ cho lợi ích chung được.
Người ta nói con người nghĩ cho bản thân. Nói một cách trung thực thì bạn có tin rằng một gã không học hết tiểu học lại biết rõ kết quả lựa chọn của mình khi gã trả lời theo bản năng câu hỏi về ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo không. Nhưng chúng tôi biết kết quả. Chúng tôi sẽ chết đói, chúng tôi sẽ bị xung đột sắc tộc. Chúng tôi sẽ tan rã.
Để có một chính phủ tốt, bạn phải có những con người giỏi trong chính phủ. Suốt 40 năm qua, tôi quan sát thấy rằng ngay cả với một hệ thống chính phủ kém nhưng có những con người giỏi giang thì người dân vẫn có một chính phủ tạm ổn với mức tiến bộ kha khá. Mặt khác, tôi đã thấy nhiều hệ thống chính quyền lý tưởng bị thất bại.
Hai nước Anh và Pháp đã viết hơn 80 bản hiến pháp cho các thuộc địa khác nhau của mình. Chẳng có gì sai với các bản hiến pháp, các thiết chế, vấn đề chi tiêu và các cán cân cả. Thế nhưng xã hội lại không có những nhà lãnh đạo vận hành được các thiết chế đó và cũng không có những con người tôn trọng các thiết chế đó... Một dân tộc đánh mất niềm tin vào các thiết chế dân chủ của mình bởi vì họ không tìm thấy người đủ năng lực để điều hành họ, cho dù hệ thống đó rất tốt thì dân tộc đó sẽ suy tàn. Cuối cùng, chính người dân mới vận hành hệ thống để cho nó đi vào cuộc sống.
Không chỉ Singapore mà thu hút tài năng vào các vị trí của nhà nước cũng là chìa khóa thành công của các nền kinh tế Đông Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Đây cũng là nhân tố tạo ra sự thành công của Trung Quốc trong mấy thập kỷ qua. Điều cần lưu ý là tất cả các nơi đã thành công đều có một chính quyền trung ương mạnh được lãnh đạo và vận hành bởi những người tài năng và đức hạnh. Tuy nhiên, rắc rối đã xảy ra khi quyền lực tập hợp vào tay một số ít nhóm hoặc cá nhân có đặc quyền, quan hệ thân hữu, như từng xảy ra ở các nước trong khu vực, mà không tạo điều kiện cho các tài năng tham gia vào chính quyền.
Sự tương phản của hai mô hình
Tất cả các nước thành công và trở nên phát triển trên thế giới hiện nay đều dựa trên nền tảng kinh tế thị trường và hầu hết đều có nhiều nhân tố của mô hình dân chủ. Tuy nhiên, đây chỉ là những kết quả cuối cùng, trong khi các nước được xem là có nền dân chủ vững chắc như Mỹ chẳng hạn, đang gặp phải những vấn đề hết sức nghiêm trọng. Thêm vào đó, ít nhất là từ sau Thế chiến thứ 2 đến nay, chưa có nước đi theo mô hình dân chủ phổ thông ngay từ đầu có thể trở nên thịnh vượng.
Trái lại, các nước thành công đều trải qua một giai đoạn tập trung quyền lực cần thiết vào nhà nước và số ít lãnh đạo quốc gia (các dạng mô hình quả đầu) để có thể định hướng và dẫn dắt các chính sách theo hướng có lợi cho quốc gia với việc khơi gợi được khát vọng vươn lên. Nhưng, khi sự tập trung quyền lực vào số ít mà quốc gia thiếu khát vọng, không có áp lực vươn lên, thường dẫn đến trục trặc. Do vậy, đây là một quá trình có sự tương tác một cách hữu cơ để đi đến một xã hội dân chủ và cởi mở hơn chứ không phải duy ý chí, áp đặt một mô hình cố định nào đó ngay từ ban đầu, nhất là các mô hình nhập khẩu từ bên ngoài không phù hợp.
Như vậy, trong trường hợp như Việt Nam, việc chọn cái đích dân giàu nước mạnh dân chủ công bằng văn minh là đúng. Việc quan trọng là lựa chọn cách đi hợp lý để đạt được mục tiêu này trên cơ sở hiểu rõ những xu hướng của thời đại, đặc điểm và tình hình của quốc gia, của dân tộc. Hơn thế, đây là một quá trình động nên cần linh hoạt điều chỉnh sao cho các kết quả được liên tục và phù hợp với tình hình thực tiễn. n
(*) Các trích dẫn trong bài của Aristoteles là trong Chính trị luận và của Lý Quang Diệu là trong "Lý Quang Diệu bàn về Trung Quốc, Mỹ và Thế giới" của Allison và Blackwill (2015)

ĐẦU XUÂN, BÀN VỀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ CỦA ĐỔI MỚI 2.0
NGUYỄN SĨ DŨNG/ VnF 27-1-2020

(VNF) - “Bắt ở trần phải ở trần - Cho may ô mới được phần may ô” là câu thơ chẳng biết do ai sáng tác, nhưng phản ánh khá chân thực đời sống của xã hội ta trước thời kỳ đổi mới (trước năm 1986). Đây là thời kỳ cơ chế thị trường không được chấp nhận, Nhà nước đứng ra lo gần như tất cả và phân phối gần như tất cả - từ băng vệ sinh cho chị em phụ nữ, đến bàn chải cạo râu cho các đấng nam nhi”.

Đầu Xuân, bàn về cải cách thể chế của Đổi mới 2.0
Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp là mô thức vận hành xã hội chủ yếu trước năm 1986. Đây là cơ chế một mặt bóp nghẹt các quyền tự do của người dân đặc biệt là tự do kinh doanh, tự do kế ước, mặt khác làm cho Nhà nước luôn luôn phải tất bật lo toan mọi thứ và bị quá tải nặng nề.
Đỉnh điểm của khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 1985 -1986 trực tiếp là do chính sách giá-lương - tiền sai lầm gây ra, sâu xa là do cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đã bóp nghẹt đời sống kinh tế của đất nước và năng lực sáng tạo của người dân.
Thực ra, nếu quyền tự do được bảo đảm, người dân sẽ có “một ngàn lẻ một” cách để xử lý những vấn đề phát sinh và mưu cầu một cuộc sống no đủ hơn. Mang tính biểu tượng sâu sắc là câu chuyện về một giáo sư nuôi lợn trên căn hộ tập thể của mình. Một giáo sư (nhiều người cho rằng đó là giáo sư Văn Như Cương) nuôi lợn trên căn hộ của mình tại khu tập thể và bị công an lập biên bản phạt vi cảnh. Anh cảnh sát khu vực nói với vị giáo sư: “Thưa giáo sư, ông bị phạt vì nuôi lợn trên căn hộ tập thể”. Vị giáo sư đã ôn tồn trả lời: “Tôi đồng ý nộp phạt nếu như anh chứng minh được là tôi nuôi lợn chứ không phải lợn nuôi tôi. Toàn bộ lương tháng của tôi chỉ mua được 1,5 kg thịt lợn. Trong lúc đó con lợn này mỗi tháng tăng trọng được 6 kg. Nó làm ra nhiều tiền gấp 4 lần tôi đấy!”.
Cho dù giáo sư nuôi lợn không phải là một sự phân công lao động hợp lý, thì ví dụ nói trên vẫn cho thấy sự năng động của cá nhân là một nguồn lực to lớn để thúc đẩy kinh tế phát triển. Tạo ra không gian rộng lớn hơn cho sự năng động này chính là bản chất sâu xa của những cố gắng cải cách được triển khai sau Đại hội lần thứ VI của Đảng. Thuật ngữ được dùng để chỉ những cố gắng cải cách nói trên chính là Đổi mới. (Trong bài viết này tôi gọi đó là ĐỔI MỚI 1.0).
Thật to lớn là những thành tựu của đất nước sau hơn 30 năm đổi mới bắt đầu từ năm 1986! Từ một nước thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới. Từ một nước nghèo đói, Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình với tỷ lệ người nghèo theo chuẩn quốc tế năm 2018 chỉ còn 5,35%. Từ một nước kết nối khó khăn, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ người dân tiếp cận internet thuộc hạng tăng nhanh trên thế giới, đạt 52% năm 2015. Kể không hết là những thành tựu của 30 năm đổi mới!
Tuy nhiên, thách thức đang đặt ra sau hơn 30 năm đổi mới lại không hề nhỏ. Thách thức đầu tiên là cạnh tranh quốc tế. Bên cạnh tự do hóa, hội nhập quốc tế là một định hướng chính sách lớn của Đổi mới 1.0. Càng tự do hóa bao nhiêu chúng ta càng hội nhập sâu với thế giới bấy nhiêu. Nếu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ/GDP năm 1985 đạt 18,2%, thì năm 2000 là 96,5%, năm 2013 là 153,9% và năm 2019 là trên 200%. Điều này có nghĩa là độ mở của nền kinh tế của chúng ta rất lớn; là phần lớn sự giàu có của chúng ta đang đến từ ngoài biên giới quốc gia; là cạnh tranh đang gõ cửa từng nhà, từng thiết chế cấu thành nên nền quản trị quốc gia của chúng ta.
Cạnh tranh thì không chỉ là giữa những người dân việt Nam với những người dân của các nước khác, giữa những doanh nghiệp Việt Nam với những doanh nghiệp của các nước khác, mà quan trọng nhất là giữa nền quản trị quốc gia của Việt Nam với nền quản trị quốc gia của các nước khác.
Áp lực phải cải cách nền quản trị quốc gia đến không chỉ từ cạnh tranh quốc tế, mà còn từ đòi hỏi của đời sống nội tại. Trong 30 năm qua, những bước phát triển vượt bậc của đất nước đều gắn liền với những cải cách rất quan trọng liên quan đến mô thức quản trị quốc gia. Tự do hóa nông nghiệp chính thức bắt đầu từ Khoán 10 (năm 1988) đã biến nước ta từ nước thiếu ăn trở thành nhà xuất khẩu gạo (và nhiều nông sản khác) đứng hàng đầu thế giới. Việc mở rộng quyền tự do kinh doanh và từ bỏ độc quyền ngoại thương của Nhà nước, đặc biệt là từ khi có Luật công ty (năm 1990), Luật doanh nghiệp tư nhân (năm 1990), đã giúp các lĩnh vực khác của nền kinh tế phát triển vượt bậc, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt thành tựu ít quốc gia đang phát triển nào sánh kịp. Việc gia nhập WTO (năm 2007) và hội nhập với thế giới cũng đã tạo ra bước phát triển mới trên mọi lĩnh vực giúp nước ta thoát khỏi địa vị của nước có thu nhập thấp trở thành quốc gia có thu nhập trung bình.
Tuy nhiên, những khó khăn và suy giảm trong mấy năm vừa qua cho thấy động lực mà những cải cách trước đây tạo ra đã bắt đầu suy cạn. Đây là lúc chúng ta cần có nguồn động lực mới để tiếp tục phát triển lâu bền hơn và với chất lượng cao hơn. Nguồn động lực đó sẽ đến từ đâu nếu không phải từ những cải cách thể chế, mà quan trọng nhất là cải cách nền quản trị quốc gia.
Áp lực phải cải cách nền quản trị quốc gia còn đến từ sự bùng nổ của cách mạng thông tin và truyền thông. Chỉ tính riêng internet, hiện nay, nước ta có đến gần 50 triệu người truy cập và sử dụng, và con số này vẫn đang tăng lên hết sức nhanh chóng hàng ngày. Điều đặc biệt đáng lưu ý ở đây là tuyệt đại đa số những người sử dụng internet đều thuộc về thế hệ trẻ, thế hệ đang và sẽ đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển cũng như vận mệnh của đất nước.
Tiếp cận với internet nghĩa là có cả thế giới trên 10 đầu ngón tay. Cơ hội của hàng chục triệu người dân mở rộng kiến thức, khám phá sự thật và so sánh với những chiêm nghiệm thực tế là động lực to lớn để phát triển, nhưng đồng thời cũng là thách thức không kém phần to lớn, nếu chúng ta không có được những cải cách tương ứng và kịp thời.
Nếu tự do hóa là linh hồn của những cải cách được tiến hành từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, thì chuyên nghiệp hóa phải là linh hồn của những cải cách từ nay trở đi. Đây chính là ĐỔI MỚI 2.0.
Cải cách theo hướng tự do hóa là không dễ, khi di sản chúng ta thừa kế là một nền quản trị tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, cải cách theo hướng chuyên nghiệp hóa sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Tự do hóa thì đơn giản là như thế này: trước đây không cho phép, thì bây giờ cho phép; trước đây cho phép ít hơn thì bây giờ cho phép nhiều hơn.
Còn chuyên nghiệp hóa thì phải có hiểu biết, có kỹ năng mới có thể làm được. Tự do hóa chỉ tạo ra khuyến khích. Chuyên nghiệp hóa mới tạo ra đẳng cấp. Và đây chính là điều kiện tiên quyết giúp chúng ta vượt qua bẫy thu nhập trung bình, rủi ro mà nhiều người cho rằng chúng ta sẽ khó lòng tránh khỏi.
Chuyên nghiệp hóa bắt đầu từ việc phân công lao động một cách hợp lý giữa các thiết chế cấu thành nên thể chế của chúng ta. Quan trọng nhất là khắc phục sự trùng lặp, sự chồng chéo giữa Đảng với Nhà nước; giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức xã hội; giữa trung ương với địa phương.
Một trong những cải cách có lẽ không thể trì hoãn thêm được nữa là việc nhất thể hóa giữa Đảng với Nhà nước. Cải cách này sẽ tạo ra sự đột phá trong việc hiện đại hóa và nâng cao chất lượng của nền quản trị quốc gia. Nó cũng làm cho quá trình hoạch định chính sách trở nên ngắn ngọn, mạch lạc, chế độ trách nhiệm được xác lập rõ ràng. Đồng thời, nó còn cắt giảm đáng kể nguồn nhân lực có thể đang bị phân bổ trùng lặp.
Ngoài ra, cải cách thể chế còn cần hướng tới việc tuyển chọn cho được những người tài. Một cơ chế cạnh tranh lành mạnh và minh bạch phải là linh hồn của những cố gắng cải cách ở đây. Có hai cách để tuyển chọn người tài có thể phù hợp cho giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam.
Một là tranh cử trong Đảng, hai là thi cử để tuyển chọn người tài. Tranh cử trong Đảng là cách thức đáng tin cậy hơn cả để lựa chọn ra những chính khách tài giỏi của đất nước. Thi tuyển nghiêm ngặt là cách thức đáng tin cậy hơn cả để tuyển chọn những công chức và viên chức tài giỏi cho nền hành chính - công vụ quốc gia.
Cải cách nền quản trị quốc gia là một công việc to lớn và khó khăn. Công việc này đòi hỏi không chỉ những đổi mới mang tính đột phá về tư duy, mà còn cả một sự thống nhất ý chí, một sự đồng thuận rất cao trước hết là trong Đảng và sau đó là trong xã hội. Mà như vậy, thì chúng ta cần phải có thời gian hơn để nghiên cứu, trao đổi và thống nhất ý kiến với nhau. Tạo ra đồng thuận là không thể thiếu để có thể tiến hành cải cách thành công.