Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2018

20180428. QUANH CHÍNH SÁCH NÂNG TUỔI HƯU VÀ SIM CHÍNH CHỦ

ĐIỂM BÁO MẠNG
NÂNG TUỔI HƯU VÀ CÂU CHUYỆN VỀ 'HỌC GIẢ' CỦA ÔNG BỘ TRƯỞNG  ĐÀO NGỌC DUNG

TRÚC GIANG/VNTB/ BVN 26-3-2018

Bảo hiểm xã hội Việt Nam ưu việt khi đóng ít nhưng hưởng nhiều (!?)

Thời Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền, đã một lần Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội gửi tờ trình Chính phủ đề xuất sửa đổi Bộ Luật Lao động theo hướng tăng thêm tuổi lao động đến 62với nam, và 60 với nữ. Khi ấy Quốc hội đã không thông qua.

Nay thì đến đời Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, lại tiếp tục đề xuất kịch bản cũ về tăng tuổi nghỉ hưu cho nam là 62 và 60 với nữ. Lý do chung của tăng tuổi nghỉ hưu là tránh vỡ quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH).

Theo nhiều chuyên gia tài chính thì điểm chung nữa của chuyện 2 đời bộ trưởng đều trung thành với đề xuất tăng tuổi hưu, có thể là từ khả năng quản trị còn nhiều hạn chế của người đứng đầu Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền. 
Ảnh: báo Điện tử Chính phủ

Trình bày đề án cải cách BHXH hôm 23-4 trước Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đưa ra những con số thống kê rằng tính đến cuối năm 2017, cả nước có 13,6 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 5,67% so với năm 2016.

“Trên thế giới hiện không có nước nào chính sách BHXH lại thông thoáng như Việt Nam. Đó là đóng ít nhưng hưởng nhiều, đóng thời gian ngắn nhưng lại hưởng dài, ngoài hưởng phần mình đóng lại còn hưởng thêm phần nhà nước hỗ trợ. Rồi người lao động đóng BHXH xin rút một lần, đến một thời gian sau có việc mới lại đóng và lại xin rút một lần”... - Bộ trưởng Dung trình bày.
[http://bit.ly/2Fa6GUV]

Tuy nhiên Bộ trưởng Dung không lý giải được vì sao với ưu việt của “đóng ít hưởng nhiều”, nhưng người lao động và người sử dụng lao động vẫn không mặn mà chuyện tham gia BHXH bắt buộc này?

Con số báo cáo của Bộ trưởng Dung thì hiện có khoảng 230.000 doanh nghiệp đóng BHXH cho người lao động. Tuy nhiên, phía cơ quan thuế (Bộ Tài chính) lại đưa ra con số cả nước có tới 600.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Như vậy vẫn còn trên 300.000 doanh nghiệp chưa tham gia BHXH bắt buộc. Nếu quả tình đúng như lời của Bộ trưởng Dung “đóng ít nhưng hưởng nhiều, đóng thời gian ngắn nhưng lại hưởng dài”, thì chắc chắn người lao động sẽ biểu tình đình công nếu như chủ sử dụng lao động cố tình trốn tránh khoản BHXH bắt buộc này.

Nhà chức trách công hãy tạo ra thật nhiều việc làm

PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện, phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế - Luật, nói rằng đúng là có những nước đã thành công trong việc bảo vệ Quỹ BHXH nhờ biện pháp kéo dài tuổi lao động. Có nước thậm chí không đặt ra độ tuổi hưu trí bắt buộc, như Úc, đến một độ tuổi nào đó do luật ấn định, người lao động có quyền nghỉ ngơi và hưởng lương hưu; nếu không thích nghỉ thì cứ tiếp tục làm việc bình thường. Quỹ BHXH không chịu áp lực lớn do việc chi trả lương hưu và luôn dồi dào, từ đó có điều kiện bảo đảm cho người thụ hưởng những phúc lợi tốt nhất có thể.

“Tuy nhiên, hầu hết những nước ấn định tuổi hưu trí cao đều có một điểm chung là dân số không đông và có nhiều việc làm. Việt Nam hiện đang thiếu cả 2 yếu tố đó. Cứ hình dung: Việc kéo dài độ tuổi lao động thì tất yếu sẽ dẫn đến sự phổ biến tình trạng một người giữ một vị trí vị làm trong khoảng thời gian dài hơn. Người lao động trẻ buộc phải tìm một việc làm khác và nếu không tìm được thì sẽ lâm vào cảnh thất nghiệp”. PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện phân tích.

Vấn đề chính ở đây, Quỹ BHXH được tạo ra là để bảo đảm cho những người tham gia sự chăm sóc vật chất cần thiết, đặc biệt là bảo đảm điều kiện sinh sống bình thường trong trường hợp không còn đủ sức lao động để tạo thu nhập. Mặt khác, vấn đề đối với nhà chức trách công - người chịu trách nhiệm tổ chức vận hành quỹ - là làm thế nào để nguồn quỹ luôn được dồi dào. Điều chắc chắn là càng có nhiều người có việc làm thì càng có nhiều thành viên tham gia đóng góp vào Quỹ BHXH.

Quỹ BHXH đang bị thất thoát!!

“Suy cho cùng, để giải quyết vấn đề bảo đảm nguồn thu cho quỹ BHXH, đồng thời vẫn thực hiện được mục tiêu đề ra đối với quỹ này, cách tốt nhất và bền vững nhất là tạo ra thật nhiều việc làm chứ không phải là tăng tuổi hưu. Nói cách khác, cần có chính sách và biện pháp thích hợp nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh; kích thích nhu cầu sử dụng lao động trong các khu vực, ngành nghề. Trách nhiệm chính trong việc xây dựng, thực hiện những chính sách, biện pháp ấy thuộc về nhà chức trách công.

Bên cạnh đó, cần xây dựng khung pháp lý chặt chẽ cho việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào Quỹ BHXH của người sử dụng lao động, của doanh nghiệp. Đặc biệt, phải có biện pháp chế tài mạnh và nghiêm khắc đối với các trường hợp trốn tránh nộp phí bảo hiểm, nợ phí bảo hiểm dây dưa. Nếu hệ thống luật pháp hoàn chỉnh và hữu hiệu, lại vừa có nhiều việc làm, đồng thời tuổi lao động được kéo dài thì tất nhiên Quỹ BHXH sẽ thu được nhiều nhưng lại chi ít, do đó sẽ luôn có điều kiện nảy nở, tăng trưởng và lớn mạnh; xã hội sẽ được hưởng lợi”. PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện, biện giải.

Quá tầm cho nhà chức trách công Đào Ngọc Dung?

Người viết tin rằng những vấn đề mà PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện đặt ra, đều quá tầm xử lý của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung. Lý do: ông Đào Ngọc Dung không được học hành tử tế, từng bị bắt quả tang quay cóp trong kỳ thi tuyển sinh sau đại học tại Học viện Hành chính Quốc gia. [http://bit.ly/2FcOA4B] Tuy nhiên sau đó vụ việc này lại được ‘đổ thừa’ giám thị “nặng tay” vì “thí sinh Đào Ngọc Dung có sử dụng giấy nháp không có chữ ký của giám thị phòng thi, tờ giấy nháp phẳng, không bị gấp” - có nghĩa đây không phải là ‘phao’.

Sau đó, Ban Chấp hành TƯ Đảng quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách và phân công công tác khác đối với ông Đào Ngọc Dung, Uỷ viên TƯ Đảng, Bí thư thứ nhất TƯ Đoàn. [http://bit.ly/2HQBwai] Tháng 12 năm 2006, ông Dung được Bộ Chính trị chuyển về công tác tại Ban Cán sự Đảng Ngoài nước và giữ chức Bí thư, Trưởng ban. Ông Dung vẫn tiếp tục là Ủy viên Trung ương Đảng.

Trên cổng thông tin điện tử Chính phủ, phần giới thiệu lý lịch Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, cho thấy dường như ông không theo học hệ đào tạo tập trung chính quy của trường đại học nào, vì từ năm 18 tuổi (1980) đến năm 20 tuổi, ông Dung là cán bộ Huyện đoàn Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Ninh.
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đương nhiệm Đào Ngọc Dung

7 năm kế tiếp, ông lần lượt trải qua các chức vụ Ủy viên Ban Chấp hành, Ủy viên Ban Thường vụ huyện Đoàn Lý Nhân rồi Phó Bí thư Huyện đoàn, Phó Chủ tịch Ủy ban Thiếu niên nhi đồng huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Ninh. Trước tuổi 30, ông Dung lần lượt ngồi vào ghế Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, Trưởng ban Tổ chức - Kiểm tra Tỉnh đoàn Hà Nam Ninh rồi tỉnh Nam Hà (sau tách tỉnh), Phó Bí thư Thường trực Tỉnh đoàn; Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Hà khóa IV; Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Hà…

Với lý lịch chức vụ như vậy nên chắc hẳn ông không còn quỹ thời gian nào để có thể theo đuổi các chương trình đào tạo chính quy của trường đại học, mà chỉ có thể theo học hệ tại chức, hay còn gọi là hệ đào tạo vừa học vừa làm.

Tuy vậy có lẽ ông Dung tư chất thông minh, bởi theo đăng tải trên trang web của Chính phủ, trong bề bộn chức vụ của một nhà chức trách công, ông Đào Ngọc Dung vẫn kịp có học vị Thạc sỹ quản lý hành chính công, và Cử nhân lý luận chính trị. [http://bit.ly/2Hkztob]

T.G.
VNTB gửi BVN.

KHI KHÁCH HÀNG MUỐN 'DẮT' NHÀ MẠNG RA TÒA

HÒA TÂN/TBKTSG 27-4-2018

Mấy ngày qua khách hàng đổ dồn đến cập nhật thông tin theo Nghị định 49/2017/NĐ-CP tại các cửa hàng của công ty viễn thông, các cửa hàng luôn trong tình trạng quá tải. Ảnh: Thành Hoa.
(TBKTSG Online) - “Trong hợp đồng với nhà mạng, không có điều nào buộc chụp hình, hoặc bổ sung cái gì khi Chính phủ bổ sung quy định. Vậy thì ta kiện được”, một facebooker đã viết như vậy và hơn 2 tuần qua, trên mạng xã hội và các bình luận trên báo mạng, không ít người đòi “dắt” nhà mạng ra tòa.
Không ít facebooker lập luận có lý khi nói hợp đồng với nhà mạng là căn cứ pháp lý để có thể khởi kiện. Điển hình như hợp đồng với nhà mạng MobiFone không có bất cứ điều khoản nào ràng buộc rằng khi nào nhà mạng yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung, thì khách hàng bắt buộc phải cung cấp, nếu không sẽ cắt. Hợp đồng cũng không có điều khoản nào quy định, khi Nhà nước có luật mới, Chính phủ có thêm quy định, là khách hàng buộc phải theo các yêu cầu của nhà mạng thực hiện các quy định bổ sung.
“Từ đây cho thấy, việc phải có ảnh chân dung bổ sung vào hồ sơ thuê bao là trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ chứ không phải trách nhiệm của khách hàng”, một facebooker viết.
Bằng các lập luận pháp lý từ chính các điều khoản theo hợp đồng mẫu của nhà mạng, không ít facebooker cho rằng khách hàng có quyền khởi kiện nhà mạng nếu nhà mạng tự động buộc khách hàng đến cửa hàng chụp ảnh bổ sung thông tin, mà lẽ ra nhà mạng phải đàm phán và tìm cách nào đó để có thông tin của khách hàng.
Thậm chí ngay cả cái gọi là sim “rác”, khách hàng cũng có thể kiện nhà mạng ra tòa nếu chủ sim “rác” chứng minh đó là số điện thoại của mình trước tòa án.
Có facebooker còn nói sẵn sàng kiện nếu bị cắt liên lạc, dù kiện không thắng cũng quyết làm cho doanh nghiệp “chừa cái thói làm ăn cửa quyền đi!”.
Facebooker có tên Huỳnh Tuấn K, viết: “Tôi cũng kiện ra tòa nếu cắt số của tôi, vì khi ra đăng ký sử dụng trả trước tôi đã cung cấp bản sao chứng minh nhân dân, các giấy tờ khác theo như nhà mạng yêu cầu, nay bắt tôi cung cấp thêm ngoài phạm vi hợp đồng là sao?”.
Một người có tên Đoàn đã bình luận trên một tờ báo mạng: “Hiện tại các điểm hỗ trợ của nhà mạng làm việc quá cứng nhắc. Các thuê bao đã đăng ký chính chủ. Có chứng minh nhân dân rồi thì bây giờ ra kiểm tra lẽ ra chỉ cần chụp thêm ảnh chân dung thôi để bổ sung là được, đằng này ra bắt ngồi ghi vào tờ khai như kiểu mất sim đi đăng ký lại, quá mất thời gian. Tôi sử dụng 5 sim. Trong đó 3 sim MobiFone và 2 sim Viettel. Mất 1 ngày mới làm được 2 sim. Trong khi kiểm tra thì chỉ thiếu ảnh chân dung. Bắt ngồi ghi ra 5 đến 10 số thường gọi hoặc nhắn tin của mỗi thuê bao không biết để làm gì?”.
Chuyện người dùng điện thoại di động dọa kiện các nhà mạng là có thật trên mạng xã hội 2 tuần nay trước cảnh chen chúc chụp ảnh chân dung cho nhà mạng, để lại quá nhiều bức xúc trong khách hàng.
Có người còn than phiền nhà mạng bắt buộc thuê bao phải nộp 20.000 đồng để chụp hình trong khi nhu cầu này không phải của các chủ thuê bao. Có người nghe theo hướng dẫn trên trang web của các nhà mạng, tải ứng dụng rồi úp hình cả buổi không được, lúc báo bận, lúc nâng cấp, lúc không hoạt động. Có khách hàng kể gửi hồ sơ online trên ứng dụng một nhà mạng mà 1 tuần vẫn trong trạng thái chờ duyệt. “Chắc là nhà mạng duyệt theo kiểu thủ công chăng”, facebooker này nói vui.
Cũng có không ít người cho biết ở Mỹ, Singapore, Malaysia người ta vẫn yêu cầu thông tin khi đăng ký sim điện thoại ban đầu, chỉ có điều ở Việt Nam ngay từ đầu không làm vậy, các nhà mạng đua nhau, tranh nhau phát triển thuê bao, nên bây giờ nhà mạng yêu cầu thì sẽ gây ra sự xáo trộn không ít.
Chiến dịch dọn dẹp sim “rác” mấy năm trước và nay là chụp ảnh chân dung, bổ sung thông tin đã làm khổ không ít khách hàng sử dụng điện thoại di động mà lỗi nào phải thuộc về khách hàng. Do vậy, chuyện khách hàng lôi hợp đồng ra và đòi “dắt” nhà mạng ra tòa cũng là điều dễ hiểu.

BƯỚC LÙI CỦA 'CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN'

ĐỖ THÀNH NHÂN /BVN 28-4-2018
Mở đầu

Số điện thoại 0913.470250 được hợp đồng thuê bao với Vinaphone từ những ngày mới có mạng điện thoại di động ở những vùng đô thị với 9 số ban đầu là 091470250; từ đó đến nay cũng chỉ duy nhất một chủ sử dụng liên tục, tính ra cũng đã hơn 20 năm.

Ngày 21/4/2018 nhận được thông báo (hình 1, nhập dấu tiếng Việt):

“(TB) Theo Nghị định 49/2017/NĐ-CP của Chính Phủ thuê bao (TB) của quý khách (QK) cần bổ sung thông tin, ảnh chụp chân dung. Để đảm bảo TB tiếp tục hoạt động sau ngày 24/4/2018 theo quy định, kính mời QK mang CMTND hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đến cửa hàng VinaPhone (Mở cửa đến 21h00) hoặc qua kênh Online tại http://my.vinaphone.com.vn để bổ sung thông tin. Kiểm tra tình trạng thông tin TB: soạn TTTB gửi 1414. Để biết chi tiết và tìm cửa hàng VinaPhone gần nhất xin liện hệ 18001091 (0 d). Nếu QK đã thực hiện, vui lòng bỏ qua tin nhắn này. Trân trọng cảm ơn QK!”

Chủ thuê bao không thể bỏ số điện thoại đã gắn bó hơn 20 năm, nên đành phải vào website http://my.vinaphone.com.vn để cập nhật thông tin theo hướng dẫn và nhận được tin nhắn (hình 2, nhập dấu tiếng Việt):

“Thông tin của Qúy Khách đã được VinaPhone chuyển tới bộ phận phê duyệt. VinaPhone sẽ thông báo tới Qúy Khách kết quả phê duyệt trong thời gian sớm nhất. Trân trọng cảm ơn!”

Cập nhật xong thông tin, nhưng tình trạng quyền sở hữu, sử dụng tài sản của chủ thuê bao vẫn phải chờ “kết quả phê duyệt” của nhà mạng! Hệ lụy của Nghị định 49/2017/NĐ-CP sẽ dẫn đến nhiều vấn đề vĩ mô khác nữa, tôi xin được phân tích qua bài viết dưới đây.

Thứ nhất: lãng phí

Như giới thiệu ở phần “Mở đầu”, chọn phương án đơn giản là tự chụp ảnh CMND mặt trước, mặt sau; ảnh chân dung; cập nhật thông tin cá nhân, mục đích sử dụng, cam kết: làm đúng theo từng bước hướng dẫn, tổng thời gian 30 phút (nếu được nhà mạng phê duyệt).

Tạm tính cả nước có khoảng 110 triệu thuê bao điện thoại di động, giả sử tất cả các nhà mạng đều buộc phải đăng ký thông tin như Vinaphone.

Tổng thời gian mất đi nếu đăng ký online: 3,3 tỷ phút = 55 triệu giờ = 6.875.000 ngày công lao động (8 giờ). Bình quân ngày công là 200.000 đồng. Có nghĩa là xã hội phải chi ra số tiền lên đến 1.375 tỷ đồng.

Thực tế con số chi ra lớn hơn nhiều lần, bởi vì: (1) nhiều người phải đến trực tiếp nhà mạng để đăng ký lại thông tin, thêm thời gian, chi phí đi lại; (2) nhà mạng phải bố trí thêm nhân lực để phục vụ đăng ký lại; (3) nhà mạng phải đầu tư thiết bị và chương trình để xử lý một khối lượng dữ liệu hình ảnh 330 triệu file, dung lượng khoảng 110 TB (3 ảnh / 1MB).

Thứ hai: không phù hợp với tinh thần “Cách mạng 4.0” của “Chính phủ kiến tạo phát triển”

Thủ tướng luôn kêu gọi xây dựng một “Chính phủ kiến tạo phát triển” trong xu thế hội nhập với “cách mạng 4.0”. Theo tinh thần đó thì những chính sách vĩ mô Chính phủ ban hành sẽ chủ động thiết kế ra một hệ thống pháp luật tốt, những chính sách tốt, thể chế tốt để nuôi dưỡng nền kinh tế phát triển, giảm thiểu thủ tục hành chính, tối ưu hóa quản lý nhà nước và xã hội bằng công nghệ thông tin và mục đích cuối cùng là giảm thiểu chi phí xã hội.

Hiện nay, đi kèm với số CMND và ảnh chân dung từng người, chúng ta đã có ít nhất là 2 cơ sở dữ liệu (CSDL) bao phủ ở tầm quốc gia:

1. CSDL Chứng minh nhân dân / Thẻ căn cước do cơ quan công an lưu giữ. Tất cả mọi người từ 14 tuổi trở lên phải có CMND và tối đa 15 năm phải đổi lại.

2. CSDL Giấy phép lái xe do Bộ Giao thông vận tải quản lý cho người từ 18 tuổi. Giấy phép lái xe hạng A1-A3 không thời hạn, nhưng hạng A4 trở lên có thời hạn từ 5 năm đến 10 năm phải đổi lại.

Chưa kể CSDL về Hộ chiếu cũng có hình ảnh, CMND và thời hạn đổi lại. CSDL người vi phạm pháp luật v.v…

Các Bộ Công an, Giao thông Vận tải, Thông tin Truyền thông đều thuộc quyền quản lý, điều hành của Chính phủ. Với công nghệ xử lý số liệu “big data” hiện nay, thì Bộ Thông tin Truyền thông là hoàn toàn có khả năng chia sẻ thông tin ảnh chân dung, nơi cư trú theo số CMND của chủ thuê bao điện thoại từ các Bộ Công an, Giao thông Vận tải vô cùng đơn giản, thời gian chương trình thực hiện chưa đầy 1 giây!

Thứ ba: không khả thi

Tôi không biết, mục đích của Thủ tướng khi ký Nghị định 49 buộc người sử dụng điện thoại chụp ảnh để làm gì? Nhưng khi ảnh chân dung gắn với thuê bao điện thoại thì Chính phủ phải ban hành thêm nhiều văn bản pháp luật nữa. Như: quy định thời gian tối đa phải đăng ký lại thuê bao; khi thay số CMND do chuyển vùng, đổi chỗ ở, thay nơi đăng ký hộ khẩu, thay đổi đối tượng sử dụng trong gia đình cũng phải đăng ký lại; trách nhiệm chủ thuê bao khi mất điện thoại (có sim) mà không báo với cơ quan chức năng v.v… Liệu Chính phủ có quản lý nổi biến động thông tin nhân thân của hàng trăm triệu chủ thuê bao điện thoại?!

Với một món hàng là sim điện thoại giá trị 50.000 đồng nhưng buộc hai bên mua bán phải thực hiện nhiều thủ tục: tạo lập hợp đồng, số hóa CMND, đăng ký hộ khẩu thường trú, chụp ảnh chân dung, về lâu dài là không khả thi. Người mua ngại thủ tục, người bán (nhà mạng) cạnh tranh với nhau và tất nhiên sẽ lách nhiều cách để bán được hàng. Và, thực tế điều đó đang diễn ra.
Liệu các doanh nghiệp viễn thông có bảo mật được CSDL khách hàng?, lấy gì bảo đảm là doanh nghiệp viễn thông không sử dụng thông tin khách hàng để làm lợi riêng? trước tình trạng luật pháp thiếu chế tài và chuẩn mực đạo đức kinh doanh ở mức thấp.

Với người cố tình vi phạm pháp luật thì sử dụng nhân thân của một người khác để đăng ký sim điện thoại cũng không phải là khó khăn; sim đã kích hoạt có tiền thì mua được.

Vĩ thanh

Như phân tích ở trên, Nghị định 49 đã tạo ra một sự lãng phí không đáng có, đi ngược lại xu thế phát triển, về lâu dài cũng không khả thi. Có lẽ Chính phủ nên cho dừng thực hiện để giảm bớt thiệt hại cho xã hội, phù hợp với tư duy “Chính phủ kiến tạo phát triển” và tiến trình của “Cách mạng 4.0”.

Nếu phải quản lý sim thì chỉ cần số CMND / căn cước là đủ; tình trạng sim rác, sim không chính chủ là do lỗi nhà mạng, nhưng lại bắt chủ thuê bao phải chịu là không bình đẳng. Với những chủ thuê bao liên tục trên 2 năm thì xác định nhân thân chủ thuê bao rất đơn giản, không nhất thiết phải tạo một áp lực lớn cho xã hội đến nỗi hàng triệu người chen lấn đăng ký cập nhật thông tin.

Điều quan trọng là Nghị định 49 tạo tiền lệ cho các ngành nghề, lĩnh vực khác buộc khách hàng phải đưa ảnh chân dung để quản lý, chẳng hạn như:

- Ngân hàng trước tình trạng mất tiền sẽ đề xuất khách hàng chụp ảnh chân dung đối chiếu mỗi lần giao dịch.

- Công an quản lý xe chính chủ sẽ đề xuất chủ xe dán ảnh chân dung vào giấy chứng nhận đăng ký xe.

- Bộ Tài nguyên môi trường sẽ đề xuất đưa ảnh của những người là chủ sử dụng đất in luôn trong sổ đỏ để tránh giao dịch lừa đảo.

- Giấy đăng ký kết hôn in luôn hình hai vợ chồng, cứ 5-10 năm đăng ký lại một lần để nhân viên khách sạn dễ quản lý! v.v…

Đ.T.N.
Tác giả gửi BVN.

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018

20180427. QUANH SỰ KIỆN 30/4/1975

ĐIỂM BÁO MẠNG
NGÀY 30 THÁNG 4: TỪ 'MỘT GÓC NHÌN KHÁC'

XUÂN THỌ/ BVN 26-4-2018

Ông Stephan Köster (áo đen - cameraman của IK, CHLB Đức) trong ngày 01/5/1975 ở Sài Gòn (ảnh do tác giả cung cấp)

Chàng Việt cộng gốc Đức

Tôi tuổi Mão, nên chiều mồng hai tết Ất Mão đầu năm 1975, một bất ngờ lớn đã đến với tôi. Ông Huỳnh Văn Tiểng, phụ trách Truyền hình Việt Nam giao cho tôi đi Hải Phòng đón hai “đồng chí Tây Đức” và đoàn xe truyền hình lưu động.
Tổ chức cánh tả Tây Đức “Ủy ban sáng kiến ủng hộ ngành điện ảnh và truyền hình Việt Nam” (Initiativkommittee zur Unterstützung des Film-und Fernsehwesens der DR Vietnam) viết tắt là IK, cử hai sinh viên năm cuối ngành khoa học sân khấu điện ảnh, đại học Cologne, lênh đênh trên biển 6 tuần, áp tải 3 chiếc xe truyền hình lưu động sang tặng Truyền hình Việt Nam. Từ đó tôi kết bạn với họ và với nhiều thành viên IK khác.

Ở một xứ sở mà kết bạn với đồng chí Liên Xô còn gặp khó khăn thì chơi với bạn Tây Đức vô cùng nguy hiểm. Tôi đã khốn khổ một thời vì tình bạn này. Nhưng tôi không bao giờ bỏ bạn bè, và họ cũng chẳng bao giờ quên tôi.

Những gì xảy ra sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc đã làm thất vọng, thậm chí tạo lên những chấn thương tâm lý cho hầu hết các thành viên IK khiến không ai muốn nhắc đến quá khứ, đến các tư tưởng họ đã đi theo. Vì vậy tôi đã không viết về họ.

Đầu tháng Tư năm nay, Stephan Köster, một bạn cũ của IK đến thăm tôi ở Cologne. Vợ tôi đãi các món mà Stephan đã được thưởng thức cùng Xuân, vợ chưa cưới của anh tại Sài Gòn mùa hè 1975.

Rồi Stephan nói về những ngày cuối của cuộc chiến ở đó. Nhận định của anh ta nghe rất lạ tai, rất khác với những gì người Việt hay nói về ngày 30 tháng Tư.
Tại sao Stephan lại có mặt Sài Gòn vào thời điểm lịch sử này?

Sau khi nhận ba chiếc xe truyền hình lưu động do IK tặng, tôi được phân công giúp đoàn IK làm phim ở Việt Nam. Hôm 30/3/1975, một ngày sau khi Quân Giải phóng chiếm Đà Nẵng, tôi đưa phái đoàn IK đến phỏng vấn Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng.

Sau màn chào hỏi xã giao và phỏng vấn, Chủ tịch IK xin gặp riêng ngài Thủ tướng. Hai người sang phòng bên cạnh nói với nhau bằng tiếng Pháp. Về sau anh bạn Chủ tịch IK kể cho tôi qua thư là trong khi bàn bạc, anh có hỏi ông Đồng: “Bao giờ các đồng chí sẽ lấy Sài Gòn?” Câu trả lời là ‘Cuối tháng 4/1975’, như anh nhớ lại.

Bên IK nói sẽ gửi một phóng viên vào Sài Gòn để làm phim về sự kiện này. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cảm ơn và hứa sẽ báo cho các cơ quan hữu quan.
Ngày 31/3/1975, đoàn IK bay về Đức với rất nhiều tư liệu về Việt Nam mà lúc đó UPI, AFP, AP hay Reuters nằm mơ cũng không thể có.

Rồi IK tìm người đi Việt Nam và họ chọn Stephan Köster, chàng quay phim 27 tuổi. Lý do chính là Stephan sinh ra trong một gia đình ngoại giao lâu đời ở Đức, đã theo bố mẹ rong ruổi khắp thế giới. Anh thông thạo 6 ngoại ngữ và đã từng có những tiếp xúc với du kích Nam Mỹ khi còn ở Bolivia.
Ngày 26/4/1975, Stephan nói bố mẹ là đi Tây Ban Nha, nhưng đáp máy bay đi Bangkok.

Ngày 27/4, khi những chiếc máy bay đầy ắp người di tản khỏi Việt Nam đến Bangkok thì chỉ mình Stephan bay ngược về Sài Gòn. Vì lý do an toàn, Stephan không mang bất cứ một giấy tờ gì có thể lộ ra rằng anh là người của “Việt Cộng”. Trong va-li chỉ có máy quay phim, máy ảnh và cơ số phim đủ cho hai tháng.

Thế là Stephan bỗng trở thành nhân chứng lịch sử của một sự kiện mà anh tưởng rằng sẽ là ngày tận thế của chủ nghĩa đế quốc, bỗng yêu một người con gái Việt từ ‘phía bên kia của Cách mạng’…

Nhân chứng “ngày tận thế”

Stephan bị Sài Gòn quyến rũ ngay khi vừa đặt chân đến, dù trong buổi hoàng hôn của Việt Nam Cộng Hòa. Chiều ngày 27/4, thành phố vẫn yên tĩnh, bất chấp các tin chiến sự, tin thay đổi nội các, các lệnh giới nghiêm được Đài phát thanh liên tục phát đi. Cảnh sát vẫn điều hành các ngã tư, mọi mệnh lệnh từ trên xuống vẫn được thi hành.

Khách sạn Caravelle đề nghị người nước ngoài phải nộp ảnh để làm giấy tạm trú theo lệnh thiết quân luật. Trong tiệm chụp ảnh, Stephan bị thôi miên bởi ánh mắt của một cô gái đang nhìn mình. Xuân, cho đến lúc này vẫn còn là xướng ngôn viên đài truyền hình Sài Gòn của VNCH, đang chờ chụp ảnh để làm visa xuất ngoại. Bố mẹ Xuân đang chờ cô ngoài tàu sân bay. Vì vướng mấy chương trình lên sóng nên giờ cô mới lo đến việc xuất ngoại.

Xuân có cảm tình ngay với chàng trai Đức đang thì thầm với chủ tiệm bằng tiếng Pháp rất êm. Cô nghĩ đến chiếc xe VW của Đức vừa dễ thương vừa rất đáng tin cậy mà cô dùng lâu nay. Tình yêu sét đánh! Chiếc xe VW màu trắng bỗng trở thành phương tiện vận chuyển của Stephan trong hơn hai tháng sau đó, với Xuân trong vai tài xế, phiên dịch và trợ lý đạo diễn. Xuân tìm thấy ở Stephan chàng hiệp sỹ của đời mình và cô sao nhãng những cố gắng xuất cảnh, yên tâm phụ giúp chàng trong mọi hoạt động. Lúc đầu, Stephan không biết Xuân là người của đài Truyền hình Sài Gòn, còn Xuân chỉ biết anh là phóng viên Tây Đức chứ đâu ngờ là anh làm việc cho những người cộng sản đang bao vây thành phố.

Trong phim, Stephan nhận mình là người cộng sản, nhưng trong thực tế các thành viên IK không chấp nhận đảng Cộng sản Đức (DKP). Mặc dù cùng chia sẻ với nhau các quan điểm thiên tả: chống chiến tranh Việt Nam, chống lại trật tự kinh tế TBCN… nhưng IK rất ghét mối liên hệ chặt chẽ giữa DKP với nước CHDC Đức. Đối với trí thức thiên tả, nhà nước XHCN ở miền Đông là biểu tượng của nền chuyên chế, độc tài. Stephan thấy những chàng trai, cô gái Việt Cộng đội mũ tai bèo, quấn khăn rằn, cầm AK47 mới là đại diện cho cuộc chiến tranh giải phóng, vì tự do, chống lại chuyên chế.

Ngày 28/4, số ít ỏi phóng viên nước ngoài còn ở khách sạn Caravelle quyết định chuyển sang khách sạn Continental, nơi có đông người phương tây hơn, để tạo thành một căn cứ nhỏ bảo vệ lẫn nhau. Buổi tối, Xuân và Stephan không dám ngủ trong phòng khách, mà thường chui vào phòng tắm không có cửa sổ để tránh đạn lạc. Khách sạn Continental dùng lưới thép bọc toàn bộ các cửa sổ và chặn cửa ra vào bằng hàng rào thép để tránh bị tấn công.

Tại đây Stephan gặp các phóng viên Đức đang ở lại Sài Gòn, đó là Börries Gallasch, phóng viên tạp chí Tấm gương (Der Spiegel), phóng viên nước ngoài duy nhất chứng kiến việc tướng Dương Văn Minh đọc lệnh ngừng bắn tại Đài phát thanh Sài Gòn trưa 30/4/1975; Dieter Mummende, phóng viên ảnh của nhật báo Thế giới (Die Welt) người cùng đi với Stephan ra xa lộ Biên hòa để quay phim các phòng tuyến chống cự của quân lực VNCH. Nhưng trên đường ra, cả hai chỉ chứng kiến các đoàn xe chở bộ đội Bắc Việt tiến vào thành phố; và Tiziano Terzani, phóng viên thường trú báo Tấm Gương (Spiegel) là người đã quay những thước phim về chiếc xe tăng T54 húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập.

Stephan Köster đã gặp Börries Gallasch, phóng viên tạp chí Tấm gương (Der Spiegel), người mà trong ảnh này ngồi bên cạnh Tướng Dương Văn Minh tại Đài Sài Gòn và là nhà báo nước ngoài duy nhất chứng kiến việc tướng Minh đọc lệnh ngừng bắn trưa 30/4/1975

Tất cả họ, không ai biết Stephan đang làm việc cho “Việt Cộng”, kể cả “Việt Cộng”. Có lẽ vì mê cuộc chiến tranh giải phóng của “Việt Cộng”, vì yêu một người con gái của phía bên kia và luôn có nàng bên mình như một tấm bùa hộ mệnh mà Stephan cảm thấy vững tin trong tác nghiệp, không hề cảm thấy sợ hãi khi tiếp xúc với binh lính từ cả hai bên.

Hoàng hôn của chiến tranh

Người phương Tây còn kẹt lại tại Sài Gòn biết dân chúng rất ghét người Mỹ, đã bỏ rơi họ, đẩy họ vào tình thế này. Ai cũng lo một vụ tàn sát người Mỹ có thể xảy ra. Quảng trường trước mặt khách sạn Continental luôn xuất hiện các toán binh sỹ VNCH mệt mỏi rã rời, nét mặt vô vọng, nhưng trang bị đến tận răng, tiểu liên cầm tay, lựu đạn quanh hông.

Stephan (X) chụp ảnh tại Hạ Nghị Viện SG trưa 30.4.1975

Đám phóng viên ngoại quốc nấp ở bên trong hàng rào thép nhìn ra sợ hãi, chỉ sợ đám lính vô kỷ luật, không còn gì để mất kia dùng súng chống tăng phá hàng rào thép để vào khách sạn trả thù. Ngày 29/4, khi trực thăng còn quần đảo trên bầu trời, có một thanh niên Mỹ không biết say rượu hay hoảng loạn, cứ cởi áo, đứng múa may quay cuồng trước nhà thờ Đức Bà. Stephan sợ cậu ta sẽ bị người Việt xúm lại tùng xẻo. Tất cả những nỗi hãi hùng đó đều không xảy ra.
Từ tối 29/4 và sáng 30/4, trước khi xe tăng của Bộ đội chủ lực tràn vào Sài Gòn, Stephan đã nhìn thấy Biệt động nội thành của Việt Cộng xuất hiện vài nơi. Trên trời trực thăng vẫn tiếp tục di tản người ra khỏi thành phố, nhưng các “Việt cộng” này chỉ ngước nhìn lên, không hề nghĩ đến chuyện bắn hạ, dù việc đó dễ như trở bàn tay. Binh lính Cộng hòa rất oán ghét các tướng lĩnh vô trách nhiệm, bỏ mặc họ cho số phận để leo lên trực thăng tháo chạy. Súng trong tay nhưng họ chỉ nhìn theo máy bay chửi đổng. Không ai còn thích đổ máu nữa!

Kể đến đây, Stephan trầm ngâm:

“Từ khi bước chân đến Việt nam, tớ đã cảm thấy một dân tộc khao khát hòa bình. Cuộc chiến tranh tàn bạo nhất thế kỷ 20 kết thúc êm như một điều thần kỳ chính vì ý nguyện của tất cả những người trong cuộc. Cả một dân tộc đã nhận ra rằng đến lúc phải thôi bắn giết!

“Điều thần kỳ này không phải do đám chính trị làm nên, không hề vì thắng lợi của cách mạng, chẳng phải vì bọn cường quốc đánh cờ trên lưng Việt Nam, chẳng phải vì ai bán đứng ai cả. Hãy nhìn về nước Đức. Chiến tranh được kết thúc bởi sự đầu hàng của một bên, bằng sự căm thù của bên kia, bằng hiệp định của tứ cường đã bi thảm ra sao? Chắc cậu còn nhớ đến nạn hãm hiếp hàng trăm ngàn phụ nữ Đức, đến những cuộc hành quyết lính Đức đào ngũ do SS thực hiện sau ngày 8/5 chứ?”

Đây quả là một cách nhìn mới về ngày 30 tháng Tư mà tôi chưa được nghe từ người Việt Nam nào. Tôi hỏi:

“Cậu nghĩ sao về ý nguyện của dân tộc này, khi chính cậu, chỉ vài tháng sau đó đã bất hạnh về những đau khổ mà người Việt phải chịu đựng, về những cơ hội bị bỏ lỡ?”

“Đó chính là bi kịch của mỗi dân tộc. Người ta có thể tạo ra cái kết đẹp của một cuộc chiến để rồi lao vào một khởi đầu xấu cho nền hòa bình. Cũng như trong đời người, hai chúng tớ đã vượt qua tất cả mọi rào cản để có một mối tình đẹp như mơ, nhưng lại không biết giữ nó, để tuột khỏi tay!”

Mối tình buổi bình minh


Bà Xuân - người yêu của nhân vật chính trong câu chuyện tình 43 năm trước.

Stephan coi Xuân là tình yêu buổi bình minh của anh. Hai người thuê một căn hộ trong phố để ấp ủ tương lai. Xuân luôn ở bên anh trong mọi hoạt động và họ chẳng còn giấu nhau điều gì nữa. Stephan biết Xuân từng là gương mặt của cỗ máy tuyên truyền bên kia, có họ với hoàng đế Bảo Đại, sống trong nhung lụa. Stephan gọi Xuân là “cô bé mơ mộng” và lúc nào cũng nâng niu cô như một bông hồng, chỉ sợ nó rụng cánh. Trả lời câu hỏi của Xuân: “Anh là cộng sản à?”, Stephan nói: “Đúng vậy, nhưng chỉ khi nào cách mạng Việt Nam thành công trọn vẹn!”
Sau khi tình hình tạm ổn định, Stephan đến thăm đài “Truyền hình Sài Gòn giải phóng” ở đường Hồng Thập Tự. Giám đốc đài là thủ trưởng cũ của tôi, ông Huỳnh Văn Tiểng từ Hà Nội vào. Ông được thông báo về ý đồ của IK nên biết là sẽ có phóng viên Đức vào Sài Gòn trước 30.4, nhưng chưa rõ là ai. Nay nghe Stephan tự giới thiệu “Tôi là người của IK cử sang để sát cánh cùng các bạn”, ông mừng lắm. Stephan nộp cho ông các vũ khí mà anh nhặt được để tự phòng thân trong mấy ngày qua và khuyên ông cử người đến khách sạn thu gom những thiết bị điện ảnh bị các phóng viên phương Tây bỏ lại.

Từ giờ phút này, chính quyền biết Stephan là ai. Ông “Tây phe ta” được tiếp xúc với đại diện của “Lực lượng thứ ba”: Luật sư Ngô Bá Thành, Bác sỹ Dương Quỳnh Hoa, Ni sư Huỳnh Liên và các thủ lĩnh sinh viên nội thành khác. Đối với anh, đó là những “Việt Cộng”, ai cũng trí thức, cũng đáng yêu, rất con người. Xuân cảm thấy gần gũi họ hơn, đem chuyện cưới xin ra hỏi bà Ngô Bá Thành. Stephan hạnh phúc ngây ngất và cả hai quyết định cưới.


Ông Stephan Köster cùng người yêu - bà Xuân (trái) 
và Luật sư Ngô Bá Thành (phải) vào năm 1975

Chính quyền quân quản không ngăn cản, cũng không đồng ý, chỉ nói chờ đã. Xuân rất khó chịu. Nhưng Stephan nói là cách mạng mới thành công, còn trăm công nghìn việc hãy thong thả chờ. Xuân biết ngày về Đức của Stephan không xa nữa, chỉ có giấy kết hôn mới đưa cô ra khỏi xứ này… Họ hờn rỗi nhau, rồi làm lành, lại cưng nhau.

Giấc mơ của Stephan về một nước Việt Nam hòa bình, tự do, bác ái bắt đầu rạn nứt: Chỉ qua đêm hàng loạt loa phóng thanh được lắp ngoài đường chĩa vào nhà làm anh khó chịu. Các em bé ăn mặc chỉnh tề thắt khăn quàng đỏ diễu hành ngoài đường làm anh nhớ đến chế độ Đông Đức. Rừng cờ đỏ ngợp trời ngày đầu làm anh hứng khởi, nay được thay thế bằng các khẩu hiệu đủ kiểu khiến anh liên tưởng đến chủ nghĩa Mao… Anh tự bào chữa: đó chỉ là sự ấu trĩ của những cán bộ ít học. Các trí thức mà anh quen biết rồi sẽ giúp cho họ hiểu, thế nào là văn hóa, là cách mạng.

Nhưng rồi anh thấy những “Việt Cộng” dễ thương cứ vắng dần đi, thay vào đó là các cán bộ lạnh lùng ngoài Bắc vào, nói chuyện gì cũng phải qua Xuân phiên dịch... Phim của anh gửi về Đức cho IK ngày càng “kém chất lượng”, vì nó không toát lên được khí thế cách mạng mà các đồng chí bên đó mong đợi. Các câu hỏi anh đặt ra trong phim ngày càng khó chịu. IK liên tục gửi điện, giục anh phải về ngay Đức để làm bản “Báo cáo thành tích”.

Chính quyền bắt đầu đưa dần số phóng viên ngoại quốc ra khỏi Việt Nam. Vài ngày một lần, lại có một thông báo ai phải ra đi, dán trước cửa khách sạn.

Stephan nghĩ rằng, mình không nằm trong diện đó. Anh là đồng chí của họ cơ mà? Anh muốn ở lại vĩnh viễn với Xuân. Cơ số phim IK cấp cho, anh đã quay hết, đã gửi về đủ, coi như xong nhiệm vụ.

Đời đâu có đơn giản thế. Cuối cùng Stephan được chính quyền vui vẻ thông báo là anh sẽ phải rời khỏi Việt Nam. Mình không còn có ích cho họ nữa - Stephan nghĩ bụng - “Thế còn vợ tôi?”, anh hỏi.

“Chúng tôi sẽ giải quyết sau một năm!,” họ trả lời. Nghe vậy, Xuân la khóc: “Sao anh có thể tin người cộng sản?”

“Em chẳng đã từng bảo anh cũng là cộng sản sao? Hãy tin anh. Giờ anh đành phải về. Nhưng anh sẽ đưa em ra khỏi đây,” Stephan đáp.

Ngày 01/7/1975, 65 ngày sau khi đến Việt Nam, Stephan cùng một số nhân viên cứu trợ Liên Hiệp Quốc bước lên chuyến máy bay đi Vientian. Họ là những người ngoại quốc cuối cùng đã vào đây bằng thị thực của Việt Nam Cộng Hòa, nay phải rời Việt Nam. Xuân đứng như trời trồng ở sân bay nhìn theo chiếc phi cơ mất hút trên bầu trời.

Về đến nhà, Stephan bỏ mặc những bất đồng với ban lãnh đạo IK, với các bạn anh. Anh cũng chẳng quan tâm đến bản “Báo cáo thành tích” nữa. Anh chỉ lo chạy để đưa Xuân sang. Tòa đại sứ của VNCH khi xưa, nay đã cắm cờ đỏ sao vàng.

“Đồng chí cameraman, đồng chí thông cảm, chúng tôi mới ra khỏi chiến tranh, còn nhiều việc quan trọng hơn phải làm…”, nhân viên sứ quán nhiều lần lễ phép nói vậy.

Những bức điện tín của Xuân từ Sài Gòn gửi sang, càng ngày càng vô vọng… Đùng một cái, đầu tháng 5/1976, qua một người quen, Stephan biết Xuân đã sang đến Paris. Nhưng tại sao Xuân không báo cho Stephan?

Giấc mộng ‘đẹp’ và cái kết

Chuyện riêng tư của bạn tôi, tôi sẽ không bộc bạch! Chỉ biết là người Việt Nam đã giữ lời hứa. Rồi IK trải qua những năm tháng vật vã trong quan hệ với Việt Nam. Những tin xấu: Trại cải tạo, đánh tư sản, đốt sách vở, thuyền nhân chết trên biển... làm cho tất cả họ sụp đổ.

Đầu 1982, sau khi đã hồi phục tinh thần, Stephan sang Paris thăm Xuân. Cuộc gặp gỡ cảm động đó đã bình thường hóa quan hệ của cặp vợ chồng chưa cưới ngày nào về cấp bạn bè.

Trở về Đức, anh làm bộ phim tư liêu 60 phút “Bản báo cáo thành tích” (Erfolgsbericht) để tặng người tình cũ và giãi bày lòng mình. Phim phát trên ZDF và được giải đặc biệt của liên hoan phim Berlinale 1983 về thể loại phim “Sân khấu TV nhỏ”, được coi là tạo bước ngoặt về kịch bản với các yếu tố tự sự, thơ và kể chuyện kết hợp trong mối tình có một không hai.

Năm 2006, Stephan tặng tôi cuốn phim, tôi giữ kín. Nay anh nói tôi hãy dịch ra tiếng Việt và phổ biến cho đồng bào mình xem. Stephan buồn bã: “Tình yêu bình minh của chúng tớ cũng ngắn ngủi như giấc mộng đẹp về cuộc cách mạng ở Việt Nam!”

Bài viết trong loạt bài đánh dấu 43 năm sự kiện 30 tháng Tư kết thúc Chiến tranh Việt Nam, bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một tu nghiệp sinh tại CHDC Đức từ năm 1967 - 1971 và cựu kỹ sư tại Đài truyền hình Việt Nam (VTV), hiện đang sinh sống tại Cologne, CHLB Đức.

Phim có phụ đề tiếng Việt xem tại đây:https://www.youtube.com/watch?v=XMGjEE5LW5s
X.T.
Nguồn: http://www.bbc.com/vietnamese/forum-43849846

NGÀY CỦA HÒA BÌNH THỐNG NHẤT

LÊ HỌC LÃNH VÂN/ TBKTSG 26-4-2018

(TBKTSG) - Nếu hiểu câu nói “một triệu người vui và một triệu người buồn” của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt theo nghĩa một triệu người ủng hộ miền Bắc và một triệu người ủng hộ miền Nam thì chắc tôi không thuộc về một triệu người nào hết trong ngày 30-4-1975. Tôi nghĩ mình thuộc vào đa số thầm lặng, mong muốn cuộc sống hòa bình và no ấm trong một nước Việt Nam thống nhất.
Hai người lính miền Bắc và miền Nam choàng vai nhau tại biên giới chia đôi hai miền đất nước vào một ngày tháng 3-1973. Ảnh: CHU CHÍ THÀNH, tienphong.vn
Tuy nhiên, tôi đã rất vui sướng trong những ngày đó. Niềm vui sướng tới mức bây giờ nhớ lại tôi vẫn nghĩ mình khó tìm được thời khắc như vậy trong cuộc đời. Có thể nói ngày 30-4 năm ấy đã cho tôi tất cả niềm vui ngất ngây, bừng sáng, hy vọng, tin yêu trong lứa tuổi hai mươi. Đất nước từ nay không còn chia cắt, không còn từng ngày “bom cày đạn xới”! Chiến tranh chấm dứt mà không có tàn sát, các thành phố lớn của miền Nam còn nguyên vẹn. Cũng không có cảnh rút móng tay, bắt các cô gái miền Nam làm vợ... như tin đồn thời gian trước đó. Việc chính quyền thuộc về ai thì tôi không bận tâm lắm, vì nghĩ người Việt nào nắm chính quyền cũng được, khi đất nước đi vào ổn định ai nắm chính quyền cũng phụng sự dân tộc, tổ quốc, nếu không dân chúng sẽ chọn người khác! 
Sau vài ngày náo động, ba mẹ tôi dự đoán cuộc sống sẽ khó khăn hơn trong những ngày tới. Tuy nhiên, “khó khăn chỉ vài tháng, nửa năm thôi. Đất nước mình giàu có, tiền của miền Nam còn nhiều, tài nguyên dồi dào chắc không đói kém lắm đâu. Hòa bình rồi một hai năm sau sẽ khá lại, năm bảy năm nữa giàu có. Thế giới đổ vô đầu tư. Tương lai các con chắc rồi sung sướng hơn ba mẹ”.
Với niềm tin đó, với sự khuyến khích của gia đình, tôi lao vào các sinh hoạt ổn định xã hội theo kêu gọi của chính quyền quân quản. Chúng tôi và một số bạn bè chỉ ngó tới tương lai trong niềm vui Nam - Bắc một nhà. Sau ngày 30-4-1975, trên hè phố Sài Gòn xuất hiện nhiều đống rác lớn. Chúng tôi cùng nhau dọn dẹp không ngại dơ bẩn, hôi thúi. Chúng tôi dọn dẹp những bãi dài quân trang quân dụng quân sĩ miền Nam vất bỏ, không hề có tí gì ý muốn tơ hào hay gom về nhà làm của riêng...
Thấm thoắt 43 năm bay qua nhanh, bay luôn vài thế hệ đàn anh của tôi và cũng bay đi khá nhiều ước mơ của họ, của tôi ngày đó. Những ngày đầu tháng tư năm 2018 này lòng tôi chùng xuống niềm cảm động thấy dân chúng chuyền nhau tấm ảnh 45 năm trước. Tấm ảnh cho thấy hai người lính miền Bắc và miền Nam choàng vai nhau tại biên giới chia đôi đất nước một ngày tháng 3-1973, sau khi hiệp định đình chiến Paris được ký kết. Chúng ta cùng nhớ sau hiệp định Paris hai năm là Việt Nam thống nhất.
Ông Chu Chí Thành, phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam, người chụp tấm ảnh này cho biết: “Một nhóm bộ đội miền Bắc ra vẫy tay gọi í ới vào chốt của quân đội miền Nam ở bên kia ranh giới, mời mấy anh em qua bên này uống nước chè xanh. Mấy phút sau một nhóm bốn năm người lính cộng hòa kéo dây ranh giới để qua chốt của quân giải phóng. Những người lính phía miền Nam nói giọng miền Nam cũng mang sang một chai rượu nếp đen làm quà cho bộ đội miền Bắc”.
Ông Thành chụp ảnh hai người lính choàng vai nhau mà “trân người đến mức quên mất chuyện hỏi tên tuổi của hai người lính”. Ông đã quá cảm động: “Nhìn cái cách mà hai người lính ấy choàng tay nhau, tôi biết rằng ngày đất nước thống nhất đã sắp đến”.
Những ai từng sống qua thời khắc lịch sử đó chắc hiểu tại sao tấm ảnh gây xúc động tới vậy! Tôi thấy cảm nhận của ông Chu Chí Thành, rằng “ngày đất nước thống nhất đã sắp đến”, là chính xác. Tôi, người sống tại Sài Gòn những năm tháng 1973 đó, có cùng cảm nhận như vậy khi quan sát đời sống đô thị chung quanh: quả thật lòng rất nhiều người dân lúc đó mong ước đất nước hòa bình và thống nhất. Hòa bình và thống nhất là hai điều người dân thời đó thiếu thốn nhất, nên được lòng dân ước muốn khát khao nhất. Sống ở miền Nam, chỉ biết lòng dân miền Nam, nhưng tôi đoán lòng người miền Bắc lúc đó cũng vậy!
Ước muốn đó của lòng dân, theo tôi, có vai trò rất lớn để cuộc chiến 20 năm chấm dứt vào ngày 30-4-1975 mà các thành phố lớn của miền Nam gần như nguyên vẹn, mà tình người Nam - Bắc như anh em trở về gặp lại nhau! Không có ước muốn đó của lòng dân, cuộc chiến vẫn có thể kết thúc, nhưng trong cảnh đất nước điêu tàn, đổ nát!
Bức ảnh hội ngộ 45 năm sau. Ảnh: DPV, tienphong.vn
Từ lâu rồi, tôi thường tự hỏi: ý nghĩa của ngày 30-4 là gì? Chắc chắn rằng hơn chín mươi triệu con dân nước Việt phải có nhiều quan điểm khác nhau. Trong hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi lọc ra ba ý nghĩa được nhiều người nhắc tới: thống nhất, hòa bình, giải phóng.
Trong khi mỗi ý nghĩa đều có giá trị riêng của nó, ý nghĩa “thống nhất”, “hòa bình” được gần như mọi người chấp nhận. Tôi chưa từng nghe ai nói ngược lại hai ý nghĩa này. Tháng 4 năm nay, chúng ta cùng nghe hai anh lính trong tấm ảnh đó nói về hòa bình, thống nhất mà chắc cũng là nỗi lòng của đại đa số chúng ta:
“Bọn lính tráng tuổi 20 chúng tôi hồi đó đâu có quan tâm nhiều đến chính trị, nghe tin ngừng bắn chỉ biết mừng, đúng nghĩa là “mừng chết đi sống lại””…
“Tôi thật sự không nghĩ gì, coi họ (những người lính miền Bắc) như anh em, bạn bè, cùng trải qua khói lửa vào sống ra chết như mình. Khác chiến tuyến là do hoàn cảnh”…
“Tôi nhận ra họ cũng là những chàng trai 20 tuổi, đầy ước mơ tương lai như mình, cùng là những người lính khao khát hòa bình bằng cả mạng sống như mình”…
“Chiến tranh đã kết thúc, đất nước đã thống nhất, đấy là điều tuyệt vời rồi”…
43 năm, đứa bé sinh ngày hòa bình, thống nhất nay đã quá nửa đời người. Cuộc sống cứ trôi theo dòng chảy của nó bất chấp thế hệ đã trưởng thành ngày 30-4-1975 suy nghĩ gì về ý nghĩa của ngày đó. Tuy nhiên, một suy nghĩ hướng về sự đồng thuận cộng đồng, đoàn kết dân tộc sẽ thúc đẩy sự vận động xã hội về hướng tích cực nhanh hơn. Chúng ta có thể hy vọng được không, rằng sự tôn vinh ý nghĩa “thống nhất”, “hòa bình” của ngày 30-4 sẽ khiến cả xã hội ngày càng bớt đi số người buồn và càng tăng số người vui chung? Do đó, càng tăng số người cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chung? Cùng hóa giải những mối nguy cơ hiển hiện đối với nền tự chủ của dân tộc?

THUYẾT ÂM MƯU HỎI NGÀY NÀO ĐEN: 1/11/1963 HAY 30/4/1975 ?

TRẦN MINH THẢO/ 26-4-2018

Đấy là ý kiến thấy trên mạng xã hội nhân ngày 30/4/2018. Ý kiến này có vẻ sinh ra từ thuyết âm mưu nhưng có những khía cạnh rất đáng phải quan tâm do đất nước ngày càng bị Trung Quốc khống chế.
Thử tìm hiểu xem ‘thuyết âm mưu’ này nói gì về ‘tháng tư đen’ (“Tháng tư đen” hay “quốc hận” là cách nói của ‘bên thua cuộc’ về ngày 30/04/1975. Bên thắng cuộc thì gọi là “ngày giải phóng thống nhất đất nước”, “chiến thắng của hai ngọn cờ: chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc”).

1/ Mỹ vào, Mỹ ra

Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam là nhằm làm cho VNCH thua cuộc chiến (!?). Cuối năm 1964, Mỹ đưa quân chiến đấu vào miền Nam, một năm sau khi Chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ bởi cuộc đảo chính 01/11/1963, anh em ông bị giết chết.
Tháng 3/1973 Mỹ rút hết quân chiến đấu khỏi miền Nam, 30/4/1975 đệ nhị VNCH sụp đổ. Việt Nam lại thống nhất nhưng cả nước bị Trung Quốc khống chế. Có một số cá nhân, phe nhóm trong đảng, nhà nước XHCN muốn thoát ly khỏi TQ nhưng không thành. Việt Nam vẫn là thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc.
“Mỹ vào - Mỹ ra” đánh dấu 2 nền cộng hòa phía Nam sụp đổ và Trung Quốc chiếm thêm được phần lãnh thổ Việt Nam làm thuộc địa kiểu mới.
Tuy vậy, Mỹ vào miền Nam không phải để thắng cuộc chiến. Mỹ rút khỏi miền Nam không phải vì thua trận. Mỹ vào Việt Nam không để đánh Việt Nam mà để phá nát liên minh XHCN (đứng đầu là liên minh Xô-Trung), đẩy lùi, xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lê. Khi đã chắc thắng, Mỹ rút quân.
Mỹ thắng đối thủ nào? Làm chảy máu đến suy kiệt Hệ thống XHCN và tạo mâu thuẩn đối kháng Trung-Xô bằng món quà miền Nam Việt Nam cho Mao Trạch Đông? Chiến tranh biên giới Trung Xô năm 1969 là bằng chứng Mao bày tỏ với Mỹ lập trường không tuân phục Liên Xô và không hậu thuẫn phe XHCN (trừ Việt Nam dân chủ cộng hòa - miền Bắc).
Mỹ rút quân để hơn 15 năm sau cả khối XHCN sụp đổ. Thế là Mỹ thắng tức là Thế giới tự do, chủ nghĩa tư bản thắng. Cuộc cờ chống chủ nghĩa cộng sản của Mỹ và phương Tây có thắng lợi lớn, giải thoát hằng tỷ người khỏi ách cai trị của đế quốc Nga và tay sai nhân danh chủ nghĩa xã hội Mác-Lê nhưng có thêm gần 30 triệu người Việt miền Nam lọt vào ách thống trị của Trung Quốc. (Nghe nói có tổng thống Mỹ phê bình việc Mỹ rút để mất VNCH bị cho là nước mắt cá sấu).
Bằng chứng Trung Quốc quay lưng với Liên Xô và khối XHCN để được Mỹ đồng ý rút lực lượng vũ trang sát bên hông, thâu tóm luôn Việt Nam Cộng hòa thì có nhiều.
Việt Nam thống nhất hiện nay chỉ ngúng nguẫy tí chút để chứng tỏ có độc lập, tự chủ nhưng người Việt thử đụng đến lợi ích của Đại Hán trên đất-biển-đảo Việt Nam xem thử có bị trừng trị nặng tay không thì biết (Trên biển thì ngư dân Việt bị đâm va đến chết, trên đất liền thì có án tù nặng, lưu đày viễn xứ vì Formosa, nhiệt điện, đất, rừng, ô nhiễm, thực phẩm độc hại...).
Nhưng dù thế nào thì chế độ đệ nhất Việt Nam Cộng hòa và cá nhân ông Ngô Đình Diệm đã để lại những bài học đắt giá. Việt Nam hiện nay cần phải học hỏi, nghiên cứu giai đoạn 1954-1963.
Mừng 30/4/1975 thực chất là mừng hệ thống XHCN và Liên Xô sụp đổ? Hay mừng cả Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của bành trướng Đại Hán?

2/ -Học được gì từ đệ nhất VNCH và TT.Ngô Đình Diệm?

Gần 10 năm dưới chế độ VNCH thứ nhất, miền Nam Việt Nam đã xây dựng được một xã hội phát triển lành mạnh nhiều mặt, văn minh, có tầm văn hóa cao. Nếu ông Ngô Đình Diệm không phạm sai lầm thì VNCH thua gì Đại Hàn, Đài Loan và cả Nhật Bản? Nhưng tại sao chế độ ấy sụp đổ?
Ít nhất có 4 điều phải rút ra bài học cho sự sụp đổ đó:
a/ Gia đình trị, địa phương chủ nghĩa: Đấy là nguyên nhân ‘nhà Ngô’ sớm bị phê phán, phản đối. Chế độ này để lộ ra là chỉ tin người nhà và người cùng địa phương (Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống do người quê Quảng Bình thống lĩnh). Ngày nay, người cộng sản không chịu học bài học lịch sử này khi nói: “Việc con em lãnh đạo được giao trọng trách quản lý là điều hạnh phúc của dân tộc, không có gì phải nghi ngại”. Trị nước chỉ nghe anh em trong nhà, dùng người ưu tiên cùng quê, tệ phe nhóm còn là căn cứ để người dân suy diễn là do người nhà nên ông Diệm kỳ thị tôn giáo (anh em ruột là chức sắc đạo Công giáo).
b/ Kỳ thị tôn giáo: Có cáo buộc “Việt Cộng nằm vùng” trong các chùa Phật giáo dưới lốt áo cà sa. Cáo buộc này của Chính quyền Ngô Đình Diệm có thể đúng trong một số trường hợp nhưng không vì vậy mà nói Phật giáo là cộng sản rồi nặng tay, đàn áp tràn lan trên diện rộng, ép buộc người dân bỏ đạo này theo đạo khác. Cũng có cáo buộc một số nhà sư thân Pháp, chống Diệm, ủng hộ Việt Cộng. Có bằng chứng cho những cáo buộc đó nhưng đối sách của chính quyền không phù hợp. Cũng có nhận xét nói Trung Quốc tác động vào chính sách tôn giáo, kích hoạt kỳ thị Phật giáo thông qua nhóm Hoa kiều do TQ cài cắm ở Chợ Lớn nhằm tạo mâu thuẩn đối kháng, làm suy yếu VNCH để thôn tính luôn miền Nam Việt Nam.
Cũng do sai lầm này mà ngày 1/11/1963 được nhiều người miền Nam tán đồng, được tôn vinh là ngày cách mạng, chọn làm ngày quốc khánh thay cho ngày 26/10.
Ngày nay thì sao? Việt Nam có kỳ thị, phá hoại, đàn áp tôn giáo, chủ trương đa thần giáo, thờ cúng lung tung kiểu Tàu, Biến người dân thành thứ nô lệ ma quỷ, bảo sao nghe vậy? Ngu dân bằng mê tín?
c/ Không có một xã hội dân sự, dân chủ đa đảng đúng nghĩa: Gia đình trị và kỳ thị tôn giáo thay cho chính sách dân chủ, tôn trọng xã hôi dân sự đã cô lập chính quyền với xã hội trong khi đảng chính trị của TT Ngô Đình Diệm không thu hút được dân do không có đường lối thuyết phục được đa số dân. (Ông Bùi Kiến Thành-bạn thân của gia đình họ Ngô có nhận xét trong cuộc phỏng vấn của đài RFA năm 2015: “Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức. Còn ông Nhu thì rất uyên thâm về vấn đề học thuật, ông học rất giỏi về tổ chức thư viện, ông nghiên cứu rất tốt nhưng không có tài năng tổ chức lực lượng chính trị... cái Đảng Cần lao của ông Nhu không có tổ chức tốt còn cái “Phong trào cách mạng quốc gia” mà ông Bác sĩ Tín làm chủ tịch sáng lập thì nó cũng chỉ là phong trào thôi. Sau một phong trào rồi thì nó lặng im. Quyền chính trị trong nước là ở trong đảng, mà Đảng Cần Lao không được tổ chức tốt vì vậy cho nên chế độ Ngô Đình Diệm không tồn tại được vì không có tổ chức chính trị nòng cốt để làm việc… Chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được, không xây dựng được một đảng chính trị thật sự của dân, do dân và vì dân vì vậy cho nên không đứng vững được”.
Không có xã hội dân sự thực chất, không có dân chủ đa đảng lành mạnh, đảng cầm quyền không thật sự của dân, do dân, vì dân thì không đứng vững hoặc chỉ tạm đứng được bằng nhà tù, bạo lực súng đạn, tha hóa con người, xã hội, ngu dân, lừa dân… Điều tệ hại này đang diễn ra trong xã hội Việt Nam ngày nay.
Nếu có xã hội dân sự đúng nghĩa, có đảng đối lập mạnh để cọ sát, sửa sai thì chế độ Ngô Đình Diệm không mắc các sai lầm rất ấu trĩ và cũng không có ngày 01/11/1963.
d/ Quyền dân tộc tự quyết:
Trong cuộc phỏng vấn đã dẫn ở trên (“Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?”), Chuyên gia Bùi Kiến Thành nói:
“Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4 nghìn năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được.
Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi…”.
Đấy là phẩm chất chính trị vô giá cần phải đề cao của ông Ngô Đình Diệm: thà chết cũng không chịu cúi đầu tuân lệnh ngoại bang.
Phong trào đấu tranh đô thị miền Nam trước 1975 bị cáo buộc thân Cộng vì có một bộ phận đòi người Mỹ tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của nhân dân miền Nam - lực lượng thứ 3 - thứ mà người Mỹ không muốn khi ngoảnh mặt với ông Diệm.
Giai đoạn ‘Mỹ vào - Mỹ rút’ là giai đoạn miền Nam không có quyền tự quyết định việc nước.
Ông Ngô Đình Diệm mắc nhiều sai lầm phải trả giá bằng chế độ dày công vun đắp và bằng chính sinh mạng của anh em ông. Nhưng lòng tự trọng dân tộc, ý thức chính trị vì độc lập, chủ quyền đất nước của ông thì muôn đời phải học tập nếu người Việt muốn có một tổ quốc độc lập, thống nhất, thịnh vượng.
Một số ý kiến có mùi vị thuyết âm mưu nêu trên cần có bằng chứng nhưng mọi thứ liên quan còn bị che khuất nên cần có tranh luận với nhiều tiết lộ từ các kho tư liệu mật của các bên, hoặc tiết lộ vô tư, khách quan của người trong cuộc còn sống (như trả lời phỏng vấn của ông Bùi Kiến Thành).
Liệt kê mấy việc cần tranh luận nhân ‘ngày đen, ngày đỏ’ năm nay:
- Ngày nay, Việt Nam độc lập, thống nhất đã trở thành nước “bảo sao làm vậy” của Trung Quốc?
- Các nước lớn (Trung Quốc, Mỹ, Nga…) vẫn chơi trò biến Việt Nam thành món hàng thương lượng?
- Làm sao để nước nhỏ không trở thành món hàng trao đổi của cường quốc, giử được quyền dân tộc tộc tự quyết định vận mệnh của mình dù phải chết như ông Ngô Đình Diệm?
- Trung Quốc đã “đưa quân” vào Việt Nam. Sau chiến tranh biên giới 1979, sau bình thường hóa Trung-Việt, Trung Quốc đưa các loại “quân đội” vào Việt Nam bằng nhiều cách: du khách, công nhân, mua nhà đất (dư luận nói đa số là quân giải phóng nhân dân, thậm chí là tù hình sự cởi áo tù, lính cởi áo lính mặc áo dân sự. Lực lượng này mai phục khắp nơi khi hữu sự thì cầm súng (có sẵn mọi nơi) là dùng được ngay (Formosa, bauxite Tây Nguyên, các nhà máy, các khu đất rừng cho thuê dài hạn, các phố người Tàu…).
- Thà mất nước cho Tàu nhưng còn độc quyền cai trị vì có Tàu làm chỗ dựa lưng? Theo Mỹ thì phải dân chủ đa đảng có nguy cơ mất quyền cai trị?
- Chống tham nhũng nhưng vẫn thuộc Tàu thì sao?
- Việt Nam cùng nhân loại tiến bộ phải làm cho Trung Quốc có dân chủ, phát triển lành mạnh, bền vững để có láng giềng có văn hóa, giàu mạnh, văn minh cách nào?
- Cần bao gồm trong khái niệm người Việt Nam: người Việt trong nước và người Việt nước ngoài.
- …
Cố học giả Nguyển Hiến Lê khuyên Việt Nam nên học theo Israel (Do Thái), một số khác thì cho là nên học theo các nước nhỏ ở Bắc Âu.
Học theo ai cũng tốt nhưng có bài học ông Ngô Đình Diệm để lại phải nằm lòng: lòng dân, quyền dân, xã hội dân sự, dân chủ đa đảng, tự do tôn giáo, quyền dân tộc Việt tự quyết định vận mệnh của chính mình.
T.M.T.
Tác giả gửi BVN.
(*) Bauxite Việt Nam đăng tải trên tinh thần tôn trọng văn phong và luận điểm của tác giả.