Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

20170528. TÌNH HÌNH NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

ĐIỂM BÁO MANG
TRĂM NGÀN TỶ NỢ XẤU: ĐI TÙ KHÔNG SỢ CHẾT CHÌM
M.HÀ/ VNN 27-5-2017
nợ xấu ngân hàng, xử lý nợ xấu, tái cơ cấu ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước
Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vẫn rất lớn.
Còn rất nguy hiểm
Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cuộc chiến xử lý nợ xấu đã diễn ra rất quyết liệt, với hơn 610 ngàn tỷ đồng đã được xử lý trong giai đoạn 2012-2016, trong đó gần 57% được các tổ chức tín dụng (TCTD) xử lý thông qua đôn đốc thu nợ, phát mại tài sản, trích lập dự phòng, bán cho VAMC.
Tình hình nợ xấu đã qua thời kỳ tồi tệ nhất, hệ thống ngân hàng tránh được cú sốc đổ vỡ. Tuy nhiên, thực trạng nợ xấu được đánh giá vẫn còn rất nguy hiểm và nếu không được xử lý dứt điểm thì “cục máu đông” trong huyết mạch của nền kinh tế có trở thành một “khối u” rất nguy hiểm.
Ông Nguyễn Kim Anh, phó Thống đốc NHNN cho biết, nợ xấu đã được kiềm chế, tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 2/2017 về mức 2,56% tổng dư nợ cho vay. 
Đây là một tỷ lệ thấp hơn so với trung bình của thế giới (khoảng 3%). Tuy nhiên, nếu tính cả khoản nợ xấu bán cho VAMC mà chưa xử ly được, thì nợ xấu lên tới 5,8% và tỷ lệ đương nhiên sẽ cao hơn nếu tính cả nợ có khả năng trở thành nợ xấu (theo chuẩn quốc tế).
Với dư nợ cho vay của toàn hệ thống lên tới hàng triệu tỷ đồng, tổng số nợ xấu có thể lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng (tương đương hàng chục tỷ USD). Đây là một con số quá lớn đối với nền kinh tế. Nó chôn vùi một lượng vốn quá lớn không thể đưa vào để thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời, theo các chuyên gia, làm tăng chi phí của NH, làm tăng lãi suất cho vay ra nền kinh tế.
Ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội, cho rằng, nợ xấu của các TCTD dù đã được xử lý rốt ráo, nhưng nợ xấu hiện vẫn là lực cản lớn đối với sự phát triển và ổn định của hệ thống NH và nền kinh tế.
Ông Nguyễn Văn Thắng, chủ tịch HĐQT Vietinbank, thành viên Tiểu ban NH tiền tệ, cho rằng, tình hình nợ xấu hiện vẫn rất xấu và nếu xử lý chậm sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế. Còn nếu xử lý nhanh, thì có khoảng 10% dư nợ sẽ được đưa vào cung ứng vốn cho nền kinh tế tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế. Tăng trưởng GDP của Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng NH. Nếu nợ xấu không được xử lý thì chi phí NH tăng, kéo lãi suất tăng lên. Các DN giảm khả năng cạnh tranh, thậm chí phá sản.
Không dung túng sai phạm
Ông Nghiêm Xuân Thành, chủ tịch HĐQT Vietcombank, chia sẻ nỗi lo ngại về tình hình nợ xấu hiện tại. Theo đó, nợ xấu hiện vẫn như “cục máu đông”, nếu chưa tan thì gây hệ lụy rất lớn đối với nền kinh tế.
Theo ông Thành, bản chất nợ xấu NH thực chất là của khách hàng, của DN. Điều đáng ngại nhất là việc xử lý khối nợ xấu khổng lồ hiện vẫn rất chậm.
Nguyên nhân chủ yếu, theo các NH, chuyên gia và luật sư, là do NH không có được quyền sở hữu, quyền chủ nợ đối với các tài sản đảm bảo cho các khoản nợ đã trở thành nợ xấu. Hầu hết các trường hợp đều phải đưa ra tòa xử lý. Trong khi thời gian xử lý tranh chấp quá dài. 

Theo số liệu của NHNN, trong tổng số hàng trăm ngàn tỷ nợ xấu được xử lý, thì hình thức bán, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ ở mức khá thấp 17,1 ngàn tỷ đồng (chiếm 2,8% tổng nợ xấu được xử lý).
Ngay tại Vietcombank, một NH có tỷ lệ nợ xấu thấp thì thì xử lý nợ xấu cũng vẫn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi Luật Dân sự 2015 (có hiệu lực từ đầu 2017). Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Theo ông Thành, kể từ khi có luật Dân sự sửa đổi, riêng ở Vietcombank cũng đã có 790 vụ chuyển qua tòa án (cho dù ở VCB là rất rất ít so với các NH khác) và 98 vụ đã gửi qua tòa đã thụ lý nhưng chưa đưa ra xét xử. Thời gian giải quyết một vụ việc qua tòa án thường rất dài, vài ba năm, thậm chí có vụ 7 năm. Đó là chưa kể tới thời gian thi hành án.
Đa số đại diện NH, nhiều chuyên gia, luật sư và cả các đại biểu Quốc hội đều cho rằng cần có một Nghị quyết về xử lý nợ xấu được thông qua sớm để tránh tình trạng để việc xử lý nợ xấu vốn đang gặp rất nhiều khó khăn trở nên khó khăn hơn nếu luật cho phép con nợ có cơ hội chây ì, trong khi chủ nợ không có quyền sở hữu, quyền chủ nợ.
TS. Nguyễn Đức Hưởng, cố vấn cao cấp NH LienVietPostBank cho rằng, Nghị quyết xử lý cho cả nền kinh tế chứ không riêng hệ thống NH. Việc ra đời một nghị quyết như vậy là quá muộn, nhưng muộn còn hơn không và nó sẽ tạo thuận lợi cho việc xử lý tài sản bất động sản khi giá trị bất động sản đang tăng trở lại. Nghị quyết ra thời điểm này sẽ phá tan cục máu đông bất động sản để có vốn cho nền kinh tế.
Còn về vấn đề sai phạm dẫn tới nợ xấu, ông Hưởng khẳng định, NHNN đã chỉ đạo rất nghiêm, trong quá trình xử lý nợ xấu, nếu phát hiện sai trái sẽ xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
TS. Võ Trí Thành cũng cho rằng, đây không phải là sự ưu ái cho ngành NH mà sự cần thiết cho cả nền kinh tế. Vấn đề quan trọng là cần làm quyết liệt hơn đi đôi với giải trình, giám sát minh bạch. Người gây ra tội phải chịu trách nhiệm trước pháp luật một cách tường minh chứ không có sự bao che hay dung túng bất kỳ ai.
M. Hà

VIỆT NAM: 'CỨ RA NGHỊ QUYẾT LÀ NỢ XẤU BIẾN MẤT ? '
PHẠM CHÍ DŨNG/BVN 28-5-2017

clip_image002
Phạm Chí Dũng
Lần đầu tiên trong lịch sử tồn tại của mình, Quốc hội Việt Nam phải nhận lãnh một trách nhiệm liên đới mật thiết đến “sự tồn vong của đảng”: bắt buộc phải ban hành một nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
“Cục máu đông” chỉ 600 ngàn tỷ đồng?
Sự thể đang dồn ép dữ dội tại kỳ họp Quốc hội vào Tháng Năm, 2017.
Sát kỳ họp trên, con số mới nhất về nợ xấu ngân hàng, còn được mệnh danh là “cục máu đông”, được công bố: 600.000 tỷ đồng!
Dĩ vãng kiến tạo nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần là không thể chối bỏ. Nếu một chuyên gia phương Tây đã phải nêu triết lý “đầu tư, đầu tư ồ ạt cho đến lúc sụp đổ” đối với nền kinh tế Trung Quốc, hình ảnh này lại rất tương đồng và ứng nghiệm ở Việt Nam. Vô khối tiền bạc đã được khối ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp Việt đổ vào các thị trường chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm… từ thời kỳ đầu cơ mệt nghỉ những năm 2006-2010 để bắt đầu từ năm 2011 hậu quả kinh khiếp đã hiện hình: quá nhiều chủ đầu tư bị chôn vốn trong lúc các thị trường này lao dốc thảm thiết.
Nhưng sau sáu năm từ thời điểm 2011 khi thực hiện đề án xử lý nợ xấu, bất chấp vô số tuyên truyền một chiều của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và kể cả thời hậu Đại hội 12, cho tới nay nợ xấu ngân hàng không những không giảm đi mà còn tăng mạnh. Nếu vào năm 2015, số nợ xấu này được ước tính khoảng 500.000 tỷ đồng, thì nay đã đội thêm 100.000 tỷ đồng.
Song một số chuyên gia phản biện lại cho rằng 600.000 tỷ vẫn chưa phải là con số cuối cùng, bởi các ngân hàng thương mại cổ phần khi báo cáo nợ xấu của họ thường có khuynh hướng “thống kê không đầy đủ” để giữ “thành tích”.
Có thể so sánh thực trạng báo cáo – thực tế giữa nợ xấu và nợ công quốc gia.
Cho đến nay, chính phủ và các bộ ngành ở Việt Nam vẫn chỉ thừa nhận nợ công “sát ngưỡng nguy hiểm 65% GDP”. Nhưng từ năm 2011 đến nay, đã xuất hiện không ít phân tích và đánh giá của giới chuyên gia phản biện độc lập về thực trạng nợ công lên đến hàng trăm % GDP. Gần đây nhất, một chuyên gia phản biện độc lập là Tiến sĩ Vtũ Quang Việt – người có thâm niên lâu năm là vụ trưởng vụ thống kê của Liên Hiệp Quốc – đã ính toán rằng nợ công quốc gia Việt Nam phải lên đến 210% GDP, tức đến khoảng $450 tỷ.
Để nếu diễn ra một sự tương đồng cố ý về thực trạng báo cáo thống kê giữa nợ xấu và nợ công, con số nợ xấu thực nằm trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trở nên… vô cùng.
Cũng có một bằng chứng không thể phủ nhận về sự vô cùng trên: năm 2012, nhân vật nổi tiếng “báo cáo láo” – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình – đã báo cáo số liệu nợ xấu chỉ khoảng 150.000 tỷ đồng.
Nhưng cũng vào năm 2012, tỷ lệ nợ xấu đã bị Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia phát hiện chiếm đến 17% tổng dư nợ.
Hoàn toàn bế tắc
Tình hình chỉ chực chờ đổ vỡ.
Ngay cả việc chấp nhận con số 600.000 tỷ đồng nợ xấu hiện thời theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, người ta cũng nhìn thấy ngay một nan đề hoàn toàn bế tắc: trong đó có 207.876 tỷ đồng nợ xấu đã bán cho VAMC (công ty Quản Lý Tài Sản Các Tổ Chức Tín Dụng) nhưng chưa được xử lý. Nói trắng ra, sau hơn ba năm kể từ lúc thành lập VAMC, nợ xấu đã chạy đủ một đường vòng “đúng quy trình”: từ ngân hàng đến VAMC, rồi lại từ VAMC trở về ngân hàng. Giữa những khoảng trống vận động ấy, vẫn chưa có gì được lấp bù. Nghĩa là nợ xấu vẫn nguyên vẹn cùng lãi mẹ đẻ lãi con.
Cho tới tận giờ đây, hậu quả chôn vốn vẫn còn quá lớn. Các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước mới chỉ kịp thoái khoảng 50% vốn bị “ngâm,” trong khi hệ thống ngân hàng vẫn chưa biết làm sao để thu hồi được nợ vay từ các con nợ “tiềm năng” của mình…
Gần đây, một số tờ báo nhà nước tỏ ra hoan hỉ khi tuyên giáo rằng Quốc hội sắp ban hành một nghị quyết về xử lý nợ xấu, và do đó nợ xấu sẽ được giải quyết sớm. Tuy nhiên theo giới chuyên gia phản biện độc lập, nợ xấu hiện thời là vô phương cứu chữa vì các kênh tiêu thụ nợ xấu hầu cũng bế tắc. Trong khi thị trường ngoài nước vẫn chưa phát ra bất kỳ tín hiệu nào sẽ “xếp hàng mua lại nợ xấu của Việt Nam” như lối quảng cáo của giới quan chức mắc chứng “hoang tưởng” của Ngân hàng Nhà nước, và thực tế đến nay là đã không có bất kỳ phản hồi nào của các “đối tác nước ngoài” cho 500 bộ hồ sơ mà Ngân Hàng Nhà Nước phát đi để kêu gọi mua nợ xấu Việt Nam, thị trường trong nước cũng không hề khả quan hơn với lý do “chưa có khung pháp lý để mua nợ xấu.”
Nhiều chuyên gia trong ngành ngân hàng đã nói thẳng rằng khúc mắc lớn nhất không nằm ở hành lang pháp lý, mà chính bởi nhiều doanh nghiệp và ngân hàng không tìm thấy đầu ra nếu họ rước “của nợ” vào mình.
Mầm mống khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng bởi thế ngày càng lộ diện.
clip_image004
Một ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Quốc Hội nước này bắt buộc phải ban hành một nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. (Hình: Getty Images)
Ai phải “đổ vỏ?”
Tương lai hầu như không cần bàn cãi là nếu không sớm xử lý được khối nợ xấu ngân hàng, e rằng chẳng bao lâu nữa sẽ có một số ngân hàng loại nhỏ phải “đội nón ra đi,” và không loại trừ làn sóng này sẽ gây ra hiệu ứng domino đến một số ngân hàng hạng trung và cả ngân hàng loại lớn của nhà nước.
Vào cuối năm 2016, chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cùng Ngân hàng Nhà nước bắt đầu phát ra tín hiệu “tái cơ cấu hệ thống ngân hàng,” với một số ngân hàng thương mại mang trên mình gánh nợ xấu khổng lồ sẽ là trọng tâm phải “xử lý” trong năm 2017.
Đến Tháng Ba, 2017, Ngân Hàng Nhà Nước đã phải ban hành một thông tư “cấm đảo nợ” đối với các ngân hàng thương mại và con nợ của họ. Động tác này cho thấy đã đến lúc Ngân Hàng Nhà Nước và đương nhiên cả chính phủ của thủ tướng mới là ông Nguyễn Xuân Phúc phải tìm cách thoát khỏi mớ bòng bong nợ xấu để lại từ thời thủ tướng cũ là ông Nguyễn Tấn Dũng, cùng lúc phản ánh tâm thế của Thủ Tướng Phúc rất không muốn ông ta phải trở thành kẻ “đổ vỏ” cho những người “ăn ốc” trước đây.
Cần nhắc lại, vào năm 2012 đã có một quyết định của Ngân Hàng Nhà Nước cho phép “vay để đảo nợ” và do đó giúp cho các ngân hàng thương mại được chuyển khoảng 250.000 tỷ đồng nợ xấu từ hai nhóm 4 và 5 (những nhóm có nguy cơ nặng nề về khó thu hồi vốn, không thể thu hồi vốn và mất vốn cho vay) lên các nhóm cao hơn (an toàn). Tuy thế, tất cả vẫn chỉ là đảo nợ trên giấy tờ, trong khi không một đồng nợ xấu nào được xử lý thực chất.
Tác giả của quyết định cho đảo nợ vào năm 2012 là Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Văn Bình – nhân vật bị quá nhiều tai tiếng về những khuất tất trong chiến dịch “thâu tóm ngân hàng,” liên quan các nhóm lợi ích về vàng và ngoại tệ…, nhưng lại bất ngờ “nhảy lên” Bộ Chính Trị tại đại hội 12 trong khi “chủ cũ” của ông Bình là Nguyễn Tấn Dũng thậm chí còn bị loại khỏi Ban Chấp Hành Trung Ương.
Còn bây giờ là thời của ông Lê Minh Hưng – thống đốc mới của Ngân Hàng Nhà Nước. Có vẻ cũng tương tự tâm trạng của thủ tướng Phúc, ông Hưng không muốn trở thành kẻ phải “đổ vỏ,” nhất là phải lãnh cái đống nợ xấu đang trở thành quốc nạn mà có thể làm sụp đổ một phần nền kinh tế quốc gia và cả chân đứng chế độ còn hiện hành.
Nhưng muốn thoát cảnh “đổ vỏ” lại không hề đơn giản. Có lẽ quá bí, Thủ tướng Phúc và Ngân Hàng Nhà Nước đang muốn “kéo” Quốc hội của Nữ Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân cùng liên đới trách nhiệm, trên danh nghĩa “cả hệ thống chính trị vào cuộc xử lý nợ xấu”.
Vậy ngay trước mắt là Quốc hội sẽ làm gì để “xử lý nợ xấu?” Liệu một bản nghị quyết của cơ quan này – tiếp theo căn bệnh nghị quyết khó cứu chữa của đảng – có làm biến mất khối nợ xấu khổng lồ?
Trong thực tế, rất khó tin vào năng lực xử lý nợ xấu của Quốc Hội. Bởi có một sự thật khôi hài nhưng đáng tủi hổ là ngay cả với bản nghị quyết xử lý nợ xấu, Quốc Hội – cơ quan mang trên mình chức năng soạn thảo các văn bản pháp luật – còn không tự sáng tác được mà phải để các cơ quan của chính phủ dự thảo theo cách “cơm dâng tận miệng…”.
P.C.D.

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

20170527. NGHĨ VỀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TỔNG THỂ

ĐIỂM BÁO MẠNG
LIÊN QUAN TỚI VẬN MỆNH QUỐC GIA, DÂN TỘC, HÃY NHÌN RỪNG ĐỪNG NHÌN CÂY
XUÂN DƯƠNG/ GDVN 25-5-2017
Áp dụng chương trình tổng thể từ năm 2018, vội vã hay là duy ý chí? (Ảnh minh họa: VOV)
Bài viết này không nhằm đi vào nội dung chi tiết các phần của dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể vì như phóng viên Thùy Linh đã tổng kết trong bài “Ban soạn thảo Chương trình giáo dục phổ thông mới đã tiếp thu những góp ý nào?” (Giaoduc.net.vn ngày 23/5/2017), có tới 200 bài viết và khoảng 400 ý kiến chia sẻ, cả 63/63 Sở Giáo dục và Đào tạo đã góp ý…
Vấn đề người viết muốn bàn là cách thức chúng ta tiến hành xây dựng dự án, cách đặt vấn đề ở tầm vĩ mô và chiến lược “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” được hiện thực hóa như thế nào.
Năm 2000, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 40/2000/NQ-QH10 “Về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”.
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, có thể thấy những gì mà ngành Giáo dục làm được chưa đáp ứng mong đợi của người dân và cũng không mang lại những chuyển biến rõ nét cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước nhà.
Bằng chứng là sau Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Phải mất ba năm, đầu năm 2017 Chính phủ mới kiện toàn hai cơ quan quan trọng là Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực, Ủy ban Quốc gia đổi mới giáo dục đào tạo.Bằng chứng là sau Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Dành thời gian tìm hiểu thông tin từ Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực, Ủy ban Quốc gia đổi mới giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội không thấy nơi nào công bố thành phần “Ban soạn thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”.
Cũng không thấy công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng quyết định của cơ quan nhà nước cử Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết làm “Tổng Chủ biên chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” (Chương trình tổng thể)
Tìm hiểu thêm được biết, ngày 8/12/2016 Ngân hàng Thế giới mới có thư chấp thuận Tổng chủ biên Chương trình tổng thể, ngày 14/3/2017 mới có thư của Ngân hàng Thế giới chấp thuận thành viên các Ban Phát triển Chương trình môn học. [1]
Người Việt khá bức xúc việc vay vồn đầu tư từ Trung Quốc bởi kèm theo vốn là công nghệ lạc hậu và đội ngũ lao động chân tay được “cài cắm” vào các công trình xây dựng.
Vay Ngân hàng Thế giới vẫn phải trả cả gốc lẫn lãi, đây không phải là viện trợ không hoàn lại, thế nhưng lại không được tự chủ về nhân lực, phải được họ chấp thuận từ thành viên đến Tổng Chủ biên?
Nếu biết rằng hàng chục dự án với nguồn vốn lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng bị “đắp chiếu” thì mới thấy vì sao chỉ có 80 triệu USD mà chúng ta lại phải phụ thuộc người ta đến như vậy.
Như Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết trả lời phỏng vấn: “Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mãi tới ngày 4/11/2016 mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Chưa có Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân thì chưa thể xây dựng chương trình giáo dục phổ thông”. [1]
Sau khi có Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, việc xây dựng chương trình tổng thể được tiến hành ngay lập tức là không khả thi vì chưa được Ngân hàng Thế giới chấp thuận Tổng Chủ biên và các Ban Phát triển Chương trình môn học.
Cứ cho rằng danh sách Ban soạn thảo và Tổng Chủ biên đã được nhà nước thông qua và đã hoạt động từ trước khi Ngân hàng Thế giới chấp thuận thì hoặc là chúng ta “soạn thảo chui” hoặc là danh sách thành viên không quan trọng, nếu Ngân hàng Thế giới không chấp thuận thì thay tên người khác còn nội dung dự thảo vẫn như cũ?
“Chưa có Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân thì chưa thể xây dựng chương trình giáo dục phổ thông” vậy thì nhờ đâu ngày 12/4/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có và công bố dự thảo Chương trình phổ thông tổng thể mới?
“Tháng 8 năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo Chương trình tổng thể để lấy ý kiến nhân dân.
Bản dự thảo đã được các tầng lớp nhân dân, trong đó có các chuyên gia giáo dục đóng góp nhiều ý kiến.
Dự thảo lần này là sự kế thừa dự thảo trước, đồng thời được hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân, các chuyên gia…” - trích ý kiến Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết.
Nếu chương trình mới dựa vào dự thảo Chương trình tổng thể công bố tháng 8 năm 2015 thì có nên tách bạch bao nhiêu phần trăm là mới, bao nhiêu phần trăm “dựa vào”?
Điều này quan trọng để có sự đánh giá minh bạch về tài chính, nếu chủ yếu là “dựa vào” thì có cần vay số tiền 77 triệu USD - hơn 1.700 tỷ đồng cộng thêm vốn đối ứng 3 triệu USD của nhà nước?
Một vấn đề lớn, liên quan đến hàng chục triệu học sinh, giáo viên, đến 100% các gia đình người Việt, đến tương lai, vận mệnh quốc gia, dân tộc hình như được tiến hành hơi vội vã nếu không gọi là rất chủ quan!
Theo thông lệ, các dự án đầu tư, xây dựng bao giờ cũng có đánh giá tác động, nếu là đầu tư xây dựng cơ bản, các cơ sở kinh tế, kỹ thuật thì ngoài tác động đến môi trường còn cần đánh giá tác động đến dân sinh, hiệu quả kinh tế của dự án,…
Vốn đầu tư hơn 1.700 tỷ đồng là không lớn, tuy vậy không thể xem đây là số tiền nhỏ.
Điều quan trọng là nó tác động đến một số lượng hàng chục triệu công dân nên không thể không đánh giá tác động, không thể xem những gì mà Ban soạn thảo đưa ra chỉ có “lỗi kỹ thuật” chứ hoàn toàn khoa học, sáng tạo và vì thế cần cho thực thi ngay từ năm 2018.
Sự vội vã trong việc biên soạn chương trình kéo theo vội vã áp dụng đại trà với lớp 1 ngay năm học 2018 có phải để đáp ứng Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội hay là đã được chuẩn bị công phu, bài bản?
Theo đề xuất mới nhất, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới sẽ được áp dụng đại trà trong năm học 2018 - 2019 ở lớp 1 nghĩa là không cần thí điểm rút kinh nghiệm?
Muốn thế trong vòng chưa đến 1 năm ngành Giáo dục cần hoàn thành việc bồi dưỡng giáo viên, biên soạn xong sách giáo khoa và chuẩn bị cơ sở vật chất: trường lớp, đồ dùng giảng dạy và học tập,…
Trong các khâu này quan trọng nhất là giáo viên, với chủ trương trong dự thảo “tích hợp cao ở cấp dưới (tiểu học, trung học cơ sở), phân hóa cao ở cấp trên (trung học phổ thông)” thì rõ ràng phải có đội ngũ “giáo viên tích hợp cao” để dạy lớp 1 và sau này là tiểu học.
Liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo có chắc chắn sẽ đào tạo được đội ngũ “giáo viên tích hợp cao” trong vòng vài tháng tới hay vừa làm vừa “rút kinh nghiệm”?
Không có đội ngũ giáo viên đủ trình độ chuyên môn, mọi ý tưởng dù hay đến mấy, khoa học đến mấy trong dự thảo cũng thành vô dụng.
Giáo dục đã chậm nhiều năm rồi, đã tụt hậu nhiều rồi, nhanh hay chậm thêm một năm phải dựa vào sự hoàn thiện của nội dung chương trình chứ không phải để đáp ứng thời hạn đã đề ra.
Người viết không có cơ sở nào để tin, rằng chỉ trong vòng vài tháng (sau khi có Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân), các chuyên gia của chúng ta có thể hoàn thành và hoàn thành rất tốt một dự án tầm cỡ quốc gia như “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”.
Trên tinh thần đó, người viết cho rằng Quốc hội nên bàn bạc, tham khảo ý kiến nhân dân để lùi lại thời hạn áp dụng, để Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ban soạn thảo nhận thêm ý kiến đóng góp, hoàn thiện nội dung từng phần và tổng thể.
Trước khi “đổi mới toàn diện nền giáo dục” cần phải cân nhắc những “đổi mới” đó có mối quan hệ thế nào với pháp luật hiện hành.
Nếu các điều khoản trong luật không phù hợp thì phải thay đổi các đạo luật.
Chẳng hạn chủ trương bãi bỏ “viên chức giáo dục” sẽ tác động thế nào đến đội ngũ giáo viên dạy lớp 1 hiện tại, hoặc có nên quy định trình độ chuẩn của giáo viên tất cả các cấp là cử nhân hay không.
Nếu trình độ chuẩn là cử nhân thì hệ thống trường Cao đẳng Sư phạm sẽ xử lý ra sao?.
Tóm lại, người viết rất mong các nhà hoạch định chính sách hãy nhìn rừng, trước khi nhìn cây, tránh vết xe “thấy cây mà chẳng thấy rừng”.
Tài liệu tham khảo:
Xuân Dương

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

20170526. 4 LÝ DO TRUNG QUỐC LIÊN TỤC TRÚNG THẦU Ở VIỆT NAM

ĐIỂM BÁO MẠNG
TRUNG QUỐC LIÊN TỤC TRÚNG THẦU Ở VIỆT NAM: BỘ KH-ĐT TIẾT LỘ LÝ DO
LƯƠNG BẰNG / VNN 26-5-2017
nhà thầu trung quốc, vốn vay trung quốc, bộ kế hoạch và đầu tư, dự án nghìn tỷ
Dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông dùng vốn vay và nhà thầu Trung Quốc chậm tiến độ, đội vốn. Ảnh: L.Bằng
Thời gian qua, có nhiều ý kiến phản ánh việc các nhà thầu Trung Quốc liên tục được nhận các công trình quan trọng của Việt Nam, mặc dù chất lượng không đảm bảo. Các ý kiến đề nghị rà soát và đánh giá chất lượng, hiệu quả những dự án do Trung Quốc trúng thầu, kể cả nguồn vốn vay từ Trung Quốc để tránh bị phụ thuộc vào kinh tế nước này.
Trả lời vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa nhận đúng là nhiều nhà thầu Trung Quốc đã trúng thầu các dự án quan trọng của Việt Nam, trong quá trình thực hiện đã xuất hiện một số tình trạng như: thi công chậm tiến độ; chất lượng của hàng hóa, công trình sau khi hoàn thành không cao, xuống cấp nhanh sau khi hết hạn bảo hành... 
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng liệt kê một loạt nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nhà thầu Trung Quốc trúng thầu.
Một là sử dụng vốn vay của Trung Quốc. Để vay vốn Trung Quốc thì Việt Nam phải chấp nhận nhà thầu Trung Quốc thực hiện gói thầu như một điều kiện vay.
“Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc nhà thầu Trung Quốc trúng thầu nhiều ở Việt Nam”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định.
Hai là, chất lượng lập, phê duyệt dự án còn thấp, chưa xác định được một cách tương đối chính xác về công nghệ, khối lượng cũng như tổng mức đầu tư của dự án dẫn đến phát sinh khối lượng khi thực hiện.
Ba là phê duyệt tổng mức đầu tư thấp dẫn đến các nhà thầu chào công nghệ tiên tiến, xuất xứ từ các quốc gia phát triển đều không trúng thầu do vượt tổng mức đầu tư. 
Bốn là chất lượng công tác lập hồ sơ mời thầu của các chủ đầu tư còn yếu, chưa đưa ra được rào cản kỹ thuật để loại nhà thầu Trung Quốc.
Để khắc phục tình trạng này, trước tiến cần tự chủ được nguồn lực tài chính, thu hút vốn đầu tư tư nhân, nước ngoài; tăng cường các dự án hợp tác công - tư PPP; nâng cao chất lượng lập, phê duyệt dự án, đấu thầu lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án.  
Ngoài ra, nhiều ý kiến phản ánh các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu các dự án trọng điểm tại nước ta nhưng triển khai chậm, thi công kém chất lượng gây lãng phí, bức xúc trong nhân dân (như dự án sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông,... ).
Các ý kiến đề nghị có biện pháp chặt chẽ, quyết liệt để khắc phục tình trạng trên.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: Luật Đấu thầu không quy định chọn thầu theo giá rẻ mà chỉ quy định những nhà thầu đã được đánh giá đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật mới được xem xét, xác định giá đánh giá. Nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, có giá đánh giá thấp nhất mới được xem xét, đề nghị trúng thầu.
Tuy nhiên, do hạn chế về năng lực, kinh nghiệm nên trong hồ sơ mời thầu, các chủ đầu tư Việt Nam chưa đưa ra được rào cản kỹ thuật để loại bỏ những hàng hóa có chất lượng thấp; chưa đưa ra được công thức xác định giá đánh giá phù hợp nhằm lựa chọn được các nhà thầu có thực lực, có kỹ thuật tốt.
Để nhằm hạn chế và dần khắc phục tình trạng nhà thầu Trung Quốc trúng thầu, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, biện pháp cần thực hiện là “Việt Nam phải tự chủ về vốn, tránh việc vay vốn Trung Quốc quá nhiều”.
Ngoài ra, theo Bộ này, người có thẩm quyền, chủ đầu tư phải nâng cao ý thức, trách nhiệm, năng lực trong việc tổ chức lập, phê duyệt dự án, đặc biệt là những dự án/gói thầu phải tổ chức đấu thầu quốc tế, trong đó tổng mức đầu tư của dự án phải phù hợp với công nghệ và xuất xứ của hàng hóa, thiết bị mong muốn;
Các chủ đầu tư phải nâng cao năng lực, đạo đức và trách nhiệm khi thực thi nhiệm vụ để bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật về đấu thầu góp phần lựa chọn được nhà thầu đáp ứng yêu cầu.
“Đặc biệt phải quy định nội dung đánh giá về uy tín của nhà thầu trong việc thực hiện các hợp đồng trước đó. Theo đó, trường hợp nhà thầu tham dự thầu đã có lịch sử không hoàn thành hợp đồng thì sẽ bị đánh giá là không bảo đảm uy tín và hồ sơ dự thầu của nhà thầu sẽ bị loại”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất.
Lương Bằng