Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

20161128. SO SÁNH FIDEL CASTRO VÀ LÝ QUANG DIỆU

ĐIỂM BÁO MẠNG
CUBA CỦA FIDEL
FB MẠNH KIM/ BVN 28-11-2016
clip_image004
Đã có những bài viết nhìn lại thành tựu “xây dựng XHCN” của Fidel Castro. Việc Cuba có một chính sách giáo dục miễn phí “tuyệt vời” luôn được nhắc lại như một trong những ưu điểm nổi trội của đất nước này. Tuy nhiên, người ta không đặt ra một câu hỏi liên quan: tại sao nền giáo dục ấy không mang lại sự thịnh vượng cho đất nước Cuba? Cuba có một “nền y học xuất sắc” nhưng tại sao Cuba chỉ “xuất khẩu” được các bác sĩ thay vì có những công trình nghiên cứu cách mạng đột phá đóng góp cho y học thế giới? Để có cái nhìn rõ hơn, thử so sánh Cuba với Singapore, hay chính xác hơn là so sánh Fidel Castro với Lý Quang Diệu (ông Lý chết năm 2015 khi 91 tuổi; Fidel mới chết khi 90 tuổi).
Cả Fidel và Lý đều lên nắm quyền cùng năm 1959, thời điểm mà Cuba giàu hơn Singapore. Trong khi Singapore là một thương cảng nghèo, Cuba đã nổi tiếng với nền công nghiệp du lịch và giàu tài nguyên. Đó là thời điểm Cuba xếp hạng năm khu vực về thu nhập đầu người, hạng ba về tuổi thọ, hạng hai tỷ lệ đầu người sở hữu xe hơi, và hạng nhất về tỷ lệ đầu người sở hữu tivi. Sau hơn nửa thế kỷ, sự khác biệt giữa Cuba và Singapore chẳng có gì để bàn cãi. Nó cho thấy sự thành công và thất bại giữa hai mô hình kinh tế: kinh tế tập trung và thị trường tự do. Nó cũng cho thấy sự thất bại và thành công giữa hai mô hình chính trị: XHCN và tư bản tự do.
Năm 1959, khi Fidel lên nắm quyền, GDP đầu người Cuba là khoảng 2.067 USD/năm, so với 3.239 USD của Puerto Rico. Đến 1999, 40 năm sau, GDP Cuba gần như giậm chân tại chỗ với 2.307 USD; trong khi đó Puerto Rico là 13.738 USD. Từ 1965 đến 1990, năm mà họ Lý rời ghế thủ tướng, GDP Singapore tăng 2.800%, từ 500 USD lên 14.500 USD. Trong khi đó, Cuba dưới sự cai trị độc tài của Fidel, kinh tế quốc gia suy tàn, doanh nghiệp tư nhân bị xóa sổ và tỷ lệ nghèo vọt lên 26%. Chuẩn sống trung bình người dân tệ hơn trước thời Liên Xô sụp đổ. Tính đến năm 2015, trong số 11,3 triệu người Cuba, chỉ 5 triệu (không đến 45% dân số) là tham gia lực lượng lao động. Với Singapore (5,4 triệu dân), lực lượng lao động chiếm hơn 3,4 triệu người!
Xét về các chính sách thị trường tự do, Singapore hạng nhất thế giới trong danh sách các quốc gia có chính sách ưu đãi doanh nghiệp do Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank Group) xếp chọn. Tính đến năm 2015, Singapore đứng thứ hai liên tiếp trong 4 năm trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu do Diễn đàn kinh tế thế giới bình chọn. Tổ chức Heritage xếp Singapore hạng nhì thế giới trong danh sách Chỉ số tự do kinh tế 2015 (Index of Economic Freedom-IEF). Trong khi đó, Cuba được xếp hạng 177 trong danh sách IEF và bị đánh giá là nước có nền kinh tế “ít tự do nhất trong 29 quốc gia khu vực Trung Mỹ, Nam Mỹ và Caribê”. Cuba thậm chí không được xếp hạng trong danh sách 189 nền kinh tế của World Bank Group.
Người dân Cuba, với cái bụng lép, trong nhiều thập niên, vẫn phải gượng sức hô to những khẩu hiệu sáo rỗng và lặp đi lặp lại như cái máy hát rằng “XHCN là ưu việt”, là “con đường tất yếu của thời đại”, là “xu thế của loài người văn minh”. Tuy nhiên, Fidel đã thiết kế một mô hình xã hội khác khá xa với văn minh loài người. Ở đất nước ông, người dân không phải đóng thuế bất động sản hoặc trả tiền lãi cho nhà mua góp nhưng người dân cũng không được phép xây ngôi nhà của chính mình (mãi đến năm 2010 họ mới được phép làm điều này!). Ở đất nước ông, học sinh được miễn phí đi học. Tuy nhiên, miễn phí giáo dục không đồng nghĩa với tự do trong giáo dục và tự do trong tư duy.
Mãi đến năm 2008, Raúl Castro mới đề cập một “chủ trương” “chưa từng có” trước đó: lần đầu tiên, việc mua máy tính, đầu máy DVD và lò viba là có thể được hợp pháp hóa! Đó cũng là năm mà người dân Cuba được phép sử dụng điện thoại di động... Cuộc cách mạng “chấn động địa cầu” của Fidel đã đóng một dấu ấn lịch sử chính trị thế giới và nó ít nhiều từng “gây cảm hứng” cho một thế hệ “sôi sục cách mạng” của thời ông, nhưng di sản cai trị của ông đã để lại quá nhiều hậu quả bi thảm mà ảnh hưởng của nó không chỉ đối với một thế hệ người dân Cuba. Ông có thể được các “đồng chí XHCN” của ông nhìn nhận như là một nhân vật “tiên phong cách mạng” nhưng ông thật ra là một trong những người đi chậm nhất, lạc hậu nhất, và bảo thủ nhất, ngay cả trong chính thời đại của mình. Như nhiều lãnh tụ cộng sản khác, ông xây dựng nên một huyền thoại cho cá nhân mình hơn là tạo dựng ấm no và hạnh phúc thật sự cho người dân của ông.
clip_image002
So sánh Cuba và Singapore thập niên 1950 và ngày nay. Nguồn: internet
clip_image004
Hình ảnh thủ đô Havana. Nguồn: internet
FIDEL CASTRO -NHÀ CÁCH MẠNG CUỐI CÙNG
THỤY MY/ BVN 28-11-2016
Tổng hợp Le Figaro và Libération 26/11/2016
…Những năm tháng Fidel được ghi dấu với vô số vụ vi phạm nhân quyền. Nhưng trên trường quốc tế, Fidel Castro với bộ quân phục giản dị, râu quai nón lại chiếm được cảm tình, nhất là cánh tả phương Tây. Người dân Cuba không biết gì về đời tư lãnh tụ tối cao. Tại Matxcơva, báo chí tiết lộ cuộc sống xa hoa của Fidel Castro với ba du thuyền, 32 dinh thự và 9.700 cận vệ riêng…
clip_image002
Fidel Castro năm 1959.
Huyền thoại Fidel Castro, người thách thức chủ nghĩa tư bản đã qua đời hôm thứ Sáu 25/11/2016 tại La Habana ở tuổi 90. Chính người em ông là Raul, đương kim chủ tịch nước đã loan báo trên truyền hình quốc gia.
Lên nắm quyền năm 1959, cựu luật sư đã lãnh đạo đảo quốc với bàn tay sắt trong gần năm thập kỷ. Từ khi cơn bệnh buộc ông phải nhường quyền lại cho người em Raul năm 2006, Fidel bắt đầu bình luận thời sự thế giới qua các bài xã luận đăng trên tờ báo chính thức Granma, với đề mục Phản ứng của đồng chí Fidel. Tuy giới trẻ Cuba quá chán ngán những khẩu hiệu sáo mòn, gọi ông là “el loco” (kẻ điên), Fidel vẫn bướng bỉnh đóng vai trò “người da đỏ cuối cùng”.
Trói mình trong bức tường kiêu căng vòi vọi, Lider Maximo (lãnh tụ tối cao) không muốn nghe, không muốn thấy gì khác và nhất là những bức tường nứt nẻ của La Habana. Fidel đã trở nên một tượng đài cần phải chiếu sáng vĩnh cửu như là “ngọn đèn pha trước mắt toàn thế giới”. Nhằm để lại cho hậu thế hình ảnh một nhà cách mạng thuần khiết, Fidel Castro sẵn sàng buộc mọi người Cuba phải hy sinh.
clip_image006

Những thất bại liên tiếp

Fidel sinh năm 1926, trong một gia đình khá giả. Cha ông là Angel, từ Galice (Tây Ban Nha) sang đã mua được một đồn điền trồng mía nhờ làm ăn với người Mỹ. Fidel nhớ lại: “Cha hối lộ các quan chức, mời họ đến nhà, mở tủ trong phòng khách lấy ra những bao thư đầy tiền đưa cho họ”.
Ông Angel Castro qua mặt vợ, sưu tập vô số mối tình. Mẹ của Fidel, Lina Ruz, trước đó là người giúp việc gốc Créole trong gia đình, đã sinh cho ông Angel hai người con ngoài giá thú là Angela và Ramon, sau Fidel lại có thêm Juanita, Raul và Augustina. Cho đến khi được rửa tội năm 1935 và được cha nhìn nhận, Fidel vẫn mang họ mẹ.
clip_image007
Thời sinh viên
Fidel được gởi đi học nội trú tại Dòng Tên, từ tiểu học lên đến trung học. Trong một trận đấu bóng rổ giữa trường trung học Công giáo Bélen ở La Habana với trường Tin Lành La Progresiva, Fidel đem lòng yêu cô Mirta Diaz-Balart, lúc đó mới 15 tuổi. Năm 1943, Fidel Castro ghi danh học luật ở La Habana, trở thành Chủ tịch Liên đoàn sinh viên và dần dần tiêm nhiễm ý tưởng cách mạng.
Năm 1947, Fidel tổ chức một đoàn quân sang Cộng hòa Dominica để lật đổ tướng Trujillo nhưng thất bại, và một năm sau tham gia cuộc nổi dậy Bogota ở Colombia. Lider Maximo sau này kể lại: “Chúng tôi thời đó rất lãng mạn, tự do và không tưởng”.Fidel muốn người ta hiểu rằng ông chỉ trở thành người cộng sản do thái độ thù địch của “bọn Yankee”. Nhưng giả thiết đáng tin cậy nhất là Fidel đã được KGB tuyển mộ ngay từ thời học đại học.
clip_image008
Fidel bên cạnh người vợ Mirta Diaz-Balart và con trai Fidelito.
Mirta vẫn chờ đợi người tình cách mạng ở La Habana. Lễ cưới được tổ chức ngày 10/10/1048 tại một giáo đường ở quê vợ, sau đó cả hai lên đường sang Mỹ hưởng tuần trăng mật tại Miami rồi New York. Castro bị chinh phục bởi nước Mỹ trong vinh quang thời hậu chiến, thậm chí còn muốn định cư tại đây. Hai vợ chồng ba tháng sau mới trở về La Habana. Fidelito, người con trai duy nhất được Fidel Castro nhìn nhận, chào đời vài tháng sau.
Năm 1950 Fidel ra trường, mở văn phòng luật sư “để bảo vệ người nghèo”, nhưng công ty sập tiệm vì người dân không có tiền để kiện tụng. Hơn nữa, Fidel thích làm chính trị. Ông gia nhập Đảng Nhân dân Cuba và tham gia tranh cử Quốc hội, nhưng kết quả bị bác bỏ khi đại tá Fulgencio Batista đảo chính ngày 10/03/1952. Fidel Castro kiện lên Tòa Bảo hiến nhưng bị bác, bèn lao vào đấu tranh trực tiếp chống độc tài. Những người đối lập với Batista bị đàn áp, tệ nạn tràn lan, trên nửa triệu người Cuba thất nghiệp.
Suốt nhiều tháng trời, cặp vợ chồng sống dựa vào tiền chu cấp của người cha Fidel. Điện bị cúp thường xuyên vì không trả tiền (Công ty điện lực có vốn của Mỹ nằm trong số các công ty bị quốc hữu hóa đầu tiên sau cách mạng), nhưng Fidel Castro vẫn chi số tiền ít ỏi vào việc sưu tập các bài diễn văn và bài báo của nhà độc tài Benito Mussolini.
clip_image009

Người tù trên đảo Cây Thông

Cùng với người em Raul, Fidel Castro và khoảng 150 thanh niên khởi động cuộc tấn công vũ trang chống chế độ Batista ngày 26/07/1953, đánh vào căn cứ Moncada ở Santiago. Cuộc nổi dậy bị đàn áp đẫm máu, hai anh em thoát chết nhưng bị bắt. Đảng Cộng sản Cuba vốn không thích thú gì trước các hành động của những người trẻ này, tố cáo “các thanh niên trưởng giả phiêu lưu”. Trong phiên xử ngày 16/10, Fidel Castro tự biện hộ với câu nói nổi tiếng “Lịch sử sẽ miễn tội cho tôi”. Hai anh em Castro bị kết án 15 năm tù giam tại nhà tù trên đảo Cây Thông.
clip_image010
Lá thư viết cho cô bồ lại được gởi đến tay người vợ.
Trong thời gian chồng ở tù, Mirta bất ngờ phát hiện những cuộc tình vụng trộm của Fidel. Từ nhiều năm qua, Fidel vẫn lén lút đi lại với Naty Revuelta, một cô gái tóc vàng mắt xanh rất xinh đẹp làm thư ký cho Standard Oil Company ở La Habana. Từ xà lim, Fidel viết thư tình cho cả Mirta và Naty. Nhưng một hôm những người có trách nhiệm của trại giam đã ranh mãnh tráo thư, gởi cho người vợ hợp pháp lá thư dành cho cô bồ và ngược lại.
clip_image011
Người tình Naty
Mirta ngay lập tức tiến hành thủ tục ly dị. Sau đó cô tái giá với Emilio Blanco Nunez, con trai của đại diện chính quyền Batista tại Liên Hiệp Quốc và có hai con gái. Còn Naty sinh ra Alina, con gái duy nhất của Fidel, làm người mẫu ở Cuba một thời gian dài, sau đó cô tố cáo “người cha lãnh tụ độc tài” và năm 1993 sang Mỹ tị nạn.
clip_image012
Fidel Castro và con gái Alina.
Fidel Castro, được ân xá và trả tự do cùng với Raul năm 1955, sau cách mạng đã trả thù bằng cách hành quyết giám đốc nhà tù. Người phụ nữ thứ hai chính thức sống chung với Fidel là cô giáo Dalia Soto Del Valle, sinh cho ông năm con trai. Fidel Castro có tổng cộng ít nhất tám người con.
Không còn sự giúp đỡ của cha, bị gia đình vợ khinh ghét, và lo ngại trước các tay súng bắn tỉa của Batista, Fidel Castro trốn sang Mêhicô tháng 7/1955. Cùng một số người trung thành, ông thành lập Phong trào 26/7 (tức M26) tại đây, trong đó có một y sĩ cách mạng trẻ Achentina là Ernesto “Che” Guavara. Fidel quyên góp tại Hoa Kỳ, huấn luyện du kích ở Mêhicô.
clip_image013

Cách mạng thành công và Chiến tranh Lạnh

Ngày 25/11/1956, cuộc cách mạng Cuba được khởi động từ hữu ngạn dòng sông Tuxpan gần Vịnh Mêhicô, với 82 chiến binh hướng về Cuba trên chiếc tàu nhỏ tồi tàn Granma do Phong trào 26/7 mua. Castro kể lại: “Có ít chỗ đến nỗi những ai mập và to cao nhất phải ở lại đất liền”.
Hình ảnh những “barbudos” - du kích quân để râu và mặc quân phục màu ô liu chuyên phục kích quân chính phủ nhanh chóng chiếm được cảm tình trong dân chúng. Fidel giành hết chiến thắng này đến chiến thắng khác, nối kết với người dân nhờ nói với họ về tự do và công lý. Chế độ Fulgencio Batista sụp đổ vào tháng Giêng 1959. Sự thay đổi tại Cuba không làm các cường quốc lo ngại nhất là Hoa Kỳ, chuẩn bị công nhận chính quyền mới.
clip_image014
Sau trận đánh Santa Clara, Fidel Castro ca khúc khải hoàn, tiến vào La Habana trong không khí lễ hội. Vị tổng tư lệnh giữ kín ý đồ của mình, mời một chính khách tự do là bác sĩ Manuel Urrutia làm tổng thống và sang Hoa Kỳ để khẳng định vẫn duy trì căn cứ quân sự Mỹ ở Guantanamo, không đụng đến sở hữu tư nhân của người ngoại quốc và trung thành với các giá trị dân chủ phương Tây. Fidel Castro giải thích ông “không phải là người cộng sản”.
clip_image015
Nhưng đồng thời tại Cuba, “các kẻ thù của cách mạng” bị bỏ tù. Cả Che lẫn Castro đều không ngần ngại tham gia các cuộc hành quyết tùy tiện. Họ tung ra cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa các công ty hầm mỏ do người Mỹ làm chủ, và buộc Tổng thống Urrutia từ chức.
Quan hệ với Mỹ nhanh chóng xấu đi. Fidel muốn thương lượng giá bán đường, nhưng Washington từ chối cố định giá trong mùa thu hoạch. Castro tức giận, đe dọa sẽ bán cho nước khác. Tháng 2/1960, Liên Xô ký hợp đồng đổi dầu lửa lấy đường đầu tiên, và tám tháng sau, Hoa Kỳ tuyên bố cấm vận thương mại Cuba.
clip_image016
Fidel (dưới cùng) trong vụ Vịnh Con Heo.
Tháng 4/1961, John F.Kennedy, người đầu tiên trong số 11 Tổng thống Mỹ mà Castro lần lượt thách thức, cho tiến hành vụ đổ bộ vào Vịnh Con Heo do những người tị nạn Cuba được CIA hỗ trợ tiến hành, nhưng thất bại hoàn toàn. Fidel Castro trở thành ngọn cờ chống đế quốc.
Đang trong Chiến tranh Lạnh, Nikita Khrouchtchev nâng đỡ Fidel và cho bố trí các hỏa tiễn Liên Xô trên lãnh thổ Cuba. Kennedy lập tức huy động 150.000 quân dự bị, phong tỏa đường biển Cuba và đưa ra tối hậu thư cho Matxcơva. Ban đầu Khrouchtchev từ chối nhưng rốt cuộc đến ngày 28/10 đã chấp nhận rút đi các thiết bị quân sự, đổi lấy cam kết của Mỹ không tấn công đảo quốc.
Phẫn nộ trước thỏa thuận giữa hai đại cường, Fidel quay sang phía Bắc Kinh. Đảng của các tổ chức cách mạng chuyển đổi thành Đảng Cộng sản Cuba. Trên trường quốc tế, tuy đóng vai một quốc gia không liên kết nhưng lính đánh thuê Cuba do Matxcơva trả lương đi chiến đấu tại Angola, Ethiopia, Nicaragua, Surinam, Congo, Libya, Yemen, Guinée-Bissau nhân danh “tinh thần tương trợ quốc tế vô sản”.
clip_image017

Trốn khỏi “thiên đường” Cuba

…Tình hình kinh tế bi thảm khiến Cuba rơi hẳn vào vòng tay của Liên Xô vào đầu thập niên 70. La Habana lệ thuộc Matxcơva về thương mại đến trên 80%. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ, gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế mới.
Tuy từ năm 1959 đến 1989 Cuba đã làm Liên Xô hao tốn đến 100 tỉ đô la viện trợ, Fidel Castro vẫn có thể khoe khoang hệ thống giáo dục và y tế tốt đẹp, cũng như thành công của thể thao Cuba. Nhưng Perestroika mà Fidel từ chối áp dụng tại đảo quốc, đã lột trần bộ mặt cách mạng Cuba.
clip_image018
Không có viện trợ Liên Xô, tất cả suy sụp rất nhanh. Dầu lửa bắt đầu khan hiếm, và cả xà bông, rau quả, thịt… khiến Fidel Castro đành phải nhượng bộ chút ít cho tư bản chủ nghĩa, cho đến khi tìm được một đồng minh mới là Tổng thống Venezuela Hugo Chavez. Đồng đô la được lưu chuyển, du lịch được khuyến khích.
Giới ăn trên ngồi trước làm giàu, nhưng người dân quê vẫn không được quyền tự do bán sản phẩm của mình. Ngày càng nhiều người dân Cuba tìm cách vượt biên sang Hoa Kỳ. Các balsero (thuyền nhân) ra đi trên những chiếc tàu cũ kỹ. Fidel cho đánh chìm một số, hoặc làm lơ cho đi với hy vọng làn sóng boat people sẽ khiến Washington phải nới lỏng cấm vận.
clip_image019
Người Cuba tại Miami vui mừng trước tin Fidel qua đời, 26/11/2016.

Chế độ toàn trị và cuộc sống riêng xa hoa

Những năm tháng Fidel được ghi dấu với vô số vụ vi phạm nhân quyền: bắt bớ tùy tiện, những bản án tù nặng nề, đàn áp đối lập, đóng cửa các nhà sách, truy bức người đồng tính, thanh trừng, thiếu vắng các quyền tự do căn bản. Cả một hệ thống toàn trị nhằm ngăn ngừa phản kháng. Nhiều người bạn chiến đấu của Fidel Castro thời hàn vi đã bị trấn áp vì dám lên tiếng chỉ trích.
clip_image020
Nhưng trên trường quốc tế, Fidel Castro với bộ quân phục, râu quai nón và đôi giày thể thao lại chiếm được cảm tình, nhất là cánh tả phương Tây. Cho đến trước khi lâm bệnh năm 2006, Fidel là khách mời danh dự của nhiều diễn đàn trên thế giới. Huyền thoại này khi xuất hiện trước đám đông phóng viên ảnh và truyền hình, với những bài diễn văn hùng hồn luôn bảo đảm cho thành công của cuộc tập hợp.
clip_image021
Trên du thuyền với các cận vệ.
Phong cách giản dị của Fidel thu hút những người bảo vệ những kẻ bị áp bức, nhưng Lider Maximo thích bí mật. Người dân Cuba không biết gì về đời tư lãnh tụ tối cao, chẳng bao giờ thấy cảnh Fidel ăn uống. Ông cũng che giấu kỹ các bà vợ, các người tình và những đứa con. Không ai biết về các dinh cơ, cách sống và những lần di chuyển của Fidel. Tại Matxcơva, báo chí tiết lộ cuộc sống xa hoa của Fidel Castro với ba du thuyền, 32 dinh thự và 9.700 cận vệ riêng.
Huyền thoại Fidel đã chết, một trang sử của thế kỷ 20 đã được lật qua.

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2016

20161127. BÀN VỀ VĂN HÓA TRANH LUẬN VÀ PHẢN BIỆN

ĐIỂM BÁO MẠNG
XÂY DỰNG VĂN HÓA TRANH LUẬN VÀ PHẢN BIỆN
LS NGUYỄN VĂN THÂN/ BVN/ BVB 27-11-2016
Không thể chối cãi là trong vài trăm năm qua, sự tiến bộ vượt bực của khoa học kỹ thuật đã nâng cao đời sống của nhân loại rất đáng kể. Từ phương tiện sản xuất, máy móc đến hệ thống giao thông, y tế và thông tin liên lạc đã biến đổi đời sống làng xã, nông nghiệp thành những đô thị công nghiệp tân tiến. Thời nay, người ta có đủ phương tiện để đi vòng quanh thế giới. Thậm chí có thể thám hiểm cả vũ trụ. Tất cả là nhờ vào khoa học và phương pháp khoa học. Mà phương pháp khoa học căn bản là dựa trên văn hóa tranh luận và phản biện. Có nghĩa là các giả thuyết và lý thuyết khoa học phải trải qua một tiến trình trắc nghiệm để loại bỏ mọi khiếm khuyết đến nỗi có thể áp dụng trong đời sống thực tế một cách hiệu quả và đạt lòng tin hầu như tuyệt đối của tất cả mọi người.
Không chỉ trong khoa học thiên nhiên mà trong khoa học xã hội cũng vậy. Các giả thuyết hoặc lý thuyết về xã hội hoặc chính trị cũng phải trải qua một tiến trình cọ xát dưới một ánh mắt hoài nghi khoa học (scientific skepticism). Chân lý không tự nhiên xuất hiện mà là kết quả của một cuộc tranh luận và phản biện liên tục không ngừng nghỉ. Mọi ý tưởng hoặc lập luận được đối chiếu từ nhiều góc cạnh khác nhau. Nhờ vào phương tiện tranh luận và phản biện khoa học mà các quốc gia văn minh và dân chủ đã thành công trong việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân của họ rất nhiều. Nếu một dân tộc, chẳng hạn như dân tộc Việt Nam không tạo điều kiện cho văn hóa tranh luận và phản biện có cơ hội phát triển thì có nghĩa là dân tộc đó sẽ mãi tụt hậu và bị thế giới bỏ xa. Tranh luận và phản biện là nền tảng của một xã hội dân chủ, đa nguyên và sáng tạo. Một tập thể, tổ chức cộng đồng cũng không ngoại lệ. Thiếu tranh biện lành mạnh sẽ dẫn đến kết quả là tập thể đó chấp nhận những ý tưởng cũ kỹ giáo điều không phù hợp với thực tế. Hậu quả là tập thể đó ngày càng xa rời và tự đánh mất sự hậu thuẫn của quần chúng.
Tranh luận không phải là cãi bừa hoặc tranh chấp. Chữ ‘‘luận’’ có nghĩa là người ta thi đua bằng lý luận dựa trên kiến thức và lập luận khoa học. Phản biện không phải chỉ đơn thuần là phản đối mà mục tiêu là để hoàn thiện một giả thuyết hoặc ý tưởng nào đó. Trong thể chế dân chủ, tranh luận và phản biện được thiết chế hóa qua hệ thống Quốc hội đa đảng gồm có đảng nắm quyền và đảng đối lập. Dưới hệ thống thông luật (common law system), tranh biện hoặc phản biện (adversarial system) được coi là công cụ tốt nhất để tiếp cận sự thật và công lý. Ý tưởng và lập luận thi đua với nhau. Cái nào hợp lý có tính thuyết phục cao thì sẽ đứng vững. Cái nào không hợp lý hoặc thiếu căn cứ thì sẽ bị loại. Khi tranh luận, mọi người tham gia có cơ hội học hỏi lẫn nhau tựa như hai võ sĩ thi đấu có thể mang những chiêu thức mới ra thử nghiệm xem có hiệu quả hay không. Tranh luận và phản biện khoa học là điều kiện khơi thông tư duy sáng tạo và sáng kiến. Không có tranh luận và phản biện, theo lời của GS Ngô Bảo Châu, thì “xã hội đã chết lâm sàng”.
Nguyên nhân chính mà đất nước Việt Nam tụt hậu là vì Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành độc quyền chân lý. Chính sách của Đảng ban ra chẳng khác gì chiếu chỉ của vua. Ban Tuyên giáo có nhiệm vụ đúc kết các chiếu lệnh này và biến chúng thành giáo điều. Người nào tranh luận hoặc phản biện thì sẽ bị chụp cho cái mũ ‘‘phản động’’ hoặc ‘‘tự diễn biến’’ rồi bị Đảng bắt bỏ tù dưới những điều luật hình sự phi lý được gọi là “tuyên truyền chống nhà nước’’ trong khi Đảng kiểm soát hết tất cả các cơ quan và hệ thống truyền thông. Thật ra đây là tội khi quân của thời phong kiến xa xưa mà bây giờ Đảng áp dụng thành tội ‘‘khi Đảng’’.
Nhưng văn hóa Khổng Nho là đồng minh hữu hiệu nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và cũng đối thủ nguy hiểm nhất ngăn cản một nước Việt Nam phát triển văn minh và tiến bộ. Dưới triều đại của Đảng và đạo Khổng, chân lý được áp đặt từ trên xuống dưới. Tranh luận và phản biện là hỗn xược và trái với đạo lý ‘‘quân, sư, phụ’’. Trong gia đình, cha mẹ chỉ bảo cho con cái và ‘‘con cãi cha mẹ trăm đường con hư’’. Trong giáo dục, thầy cô phán sao là vậy. Không có thắc mắc hoặc chất vấn. Hơn 2000 năm trước đây, triết gia Aristotle đã từng nói rằng ‘‘thầy rất đáng kính nhưng chân lý còn đáng kính trọng hơn thầy’’. Trong khi đó, văn hóa phong kiến và gia trưởng đề cao sự tuân phục tuyệt đối. Không được phép nói trái ý vua, trái ý cha mẹ, trái ý thầy hoặc trái ý Đảng.
Hoàn cảnh xã hội và địa lý cũng ảnh hưởng đến tâm lý con người. Người Việt quen sống chung gần gũi trong đại gia đình gồm có ông bà, cha mẹ, anh chị em và cô chú bác nên đề cao truyền thống ‘‘dĩ hòa vi quý’’. Phong cảnh hữu tình với những cây đa, con đò, cái cầu tre làm cho người Việt rất giàu tình cảm. Theo Hà Thị Thùy Dương, văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa duy tình thể hiện qua câu nói ‘‘một trăm cái lý không bằng một tý cái tình’’. Bởi vậy, khi nghe những ý kiến trái nghịch thì dễ làm chúng ta cảm thấy rất khó chịu hoặc bị xúc phạm, tức giận rồi mặt đỏ tía tai. Tư duy gia trưởng và duy tình ăn sâu vào nếp sống và lối suy nghĩ của mọi người rồi trở thành thói quen. Từ đó dẫn đến tâm lý tránh né các vấn đề nhạy cảm. Hoặc khi tranh luận không dằn được cảm xúc đến nỗi sử dụng ngôn từ nặng nề biến cuộc tranh luận trở thành chửi lộn rồi đào sâu chia rẽ và hận thù thay vì cùng hướng dẫn nhau đi tìm chân lý.
Thật ra trong quá khứ đã từng có những cuộc tranh luận giữa các nhà Nho rất tao nhã và đẹp mắt. Điển hình là cuộc bút chiến qua 24 bài thơ xướng họa giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị. Nổi bật nhất là bài ‘‘Tôn phu nhân quy Thục’’. Chúng ta hãy thưởng thức một màn ‘‘đánh lộn’’ của các cụ nhà Nho thời xưa:
Bài xướng của Tôn Thọ Tường:
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng
Bài họa của Phan Văn Trị:
Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông.
Ngút tỏa trời Ngô un sắc trắng,
Duyên về đất Thục đượm mầu hồng.
Hai vai tơ tóc ngang trời đất,
Một gánh cương thường nặng núi sông.
Anh hỡi, Tôn Quyền, anh có biết
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng!
Đây là một cuộc tranh luận quyết liệt và không tương nhượng về chính kiến giữa hai nhà Nho yêu nước. Quan điểm và lập luận hoàn toàn đối nghịch với nhau. Một bên thân Pháp và bên kia chống Pháp. Nhưng lời lẽ thể hiện thái độ nho nhã, bặt thiệp đưa nghệ thuật văn chương lên đến đỉnh cao làm cho đối thủ phải tâm phục khẩu phục.

Ngụy biện

Kẻ thù lớn nhất của văn hóa tranh luận và phản biện là ngụy biện. Có nhiều hình thức ngụy biện nhưng phổ biến nhất và nguy hiểm nhất là công kích cá nhân hoặc ‘‘bỏ bóng đá người’’. Thay vì đưa ra những luận điểm đối chiếu với những điều của tác giả thì người sử dụng hình thức ngụy biện này tìm cách hạ thấp tác giả bằng hình thức sỉ nhục, chửi rủa hoặc mạ lỵ hoặc mang một điểm tiêu cực gì khác không liên quan tới vấn đề để hạ thấp uy tín của tác giả.
Một hình thức ngụy biện khác là xuyên tạc. Có nghĩa là trích dẫn một đoạn hoặc một phần ý tưởng của tác giả rồi diễn giải khác đi và có lúc hoàn toàn ngược lại để vu khống và chụp mũ tác giả. Hoặc đánh lạc hướng bằng cách đánh tráo đề tài hoặc khái quát hóa thái quá (quơ đũa cả nắm). Những người cộng sản thuộc về bậc thầy của ngụy biện. Nhưng cũng có những người sống trong một xã hội dân chủ nhưng có tư tưởng độc tài hoặc độc đoán thường hay sử dụng những hình thức ngụy biện để áp đặt quan điểm của họ thay vì sử dụng lý lẽ hoặc lập luận khoa học để thuyết phục người khác.
Truyền thông đóng một vai trò quan trọng trong nỗ lực xây dựng văn hóa tranh luận và phản biện khoa học và lành mạnh. Hầu như tất cả mọi người làm truyền thông đều theo đuổi một lý tưởng xây dựng một xã hội tốt đẹp hướng tới các giá trị chân-thiện-mỹ. Những nhà truyền thông Việt Nam chân chính còn mang một trách nhiệm nặng nề đối với Tổ quốc là góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam dân chủ, phát triển và nhân bản dựa trên những giá trị vĩnh cửu là tôn trọng sự thật, tính khách quan và công bằng. Chúng ta không thể tranh đấu cho sự thật bằng cách sử dụng một hình thức dối trá hoặc ngụy biện này để đánh đổ một hình thức dối trá hoặc ngụy biện khác. Không thể tranh đấu cho công lý bằng cách đối xử bất công hoặc kỳ thị đối với thành phần hoặc quan điểm thiểu số trong xã hội hoặc tập thể cộng đồng.
Trong thời đại internet hiện nay, bất cứ ai cũng có thể làm một nhà truyền thông. Có nhiều diễn đàn hầu như không có chủ bút hoặc chủ quản. Thiên hạ tha hồ phát biểu ý kiến trong đó có cả nhiều ngôn từ tục tĩu, vô văn hóa cùng với vô số hình thức ngụy biện. Do đó, không chỉ có chủ bút hoặc chủ quản mà tất cả mọi người gồm có tác giả, độc giả cũng như còm sĩ đều có trách nhiệm nhận dạng những hình thức ngụy biện để tránh né cũng như góp phần xây dựng văn hóa tranh luận và phản biện khoa học và lành mạnh hầu đưa đất nước Việt Nam sánh bước cùng năm châu tiến tới một xã hội văn minh, tiến bộ và nhân bản.
N.V.T.
Tác giả gửi BVN.
CÁCH MẠNG VÀ SMARTPHONE, FACEBOOK, YOUTUBE, TWITTER
ĐOÀN HƯNG QUỐC/ BVN 27-11-2016
Kết quả hình ảnh cho internet

Donald Trump thắng cử một phần không ít nhờ vào Twitter.
Phong trào dân túy (populism) tại Hoa Kỳ phát triển nhanh khi tin tức trên Facebook lan tràn nhanh chóng hơn những luồng thông tin truyền thống như New York Times, CNN, USA Today, v.v…
Ngược lại, hai ông Tập Cận Bình và Putin một mặt kiểm soát các mạng xã hội, đồng thời sử dụng hệ thống tuyên truyền quy mô để khích động dân tộc chủ nghĩa, cuối cùng lại khai thác chính các mạng xã hội nhằm cô lập phong trào dân chủ trong nước và loan truyền tin tức sai lệch ra nước ngoài.
Youtube khởi động phong trào Cách mạng Hoa nhài với khúc phim người tự thiêu ở Tunisia. Facebook đóng vai trò quan trọng khi khích động quần chúng tham gia cuộc cách mạng tại Ai Cập. Nhưng hiện chính ISIS lại đang thắng trên mặt trận tuyên truyền trong thế giới Hồi giáo qua Facebook và Youtube.
Phong trào Maidan dùng smartphone để liên lạc và lật đổ nhà nước thân Nga tại Ukraine năm 2014. Nhưng tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2016 cánh thân nhà độc tài Erdogan dùng smartphone để huy động quần chúng dập tắt cuộc cách mạng của quân đội.
Chưa đầy 10 năm nhưng sự xuất hiện của điện thoại thông minh, Facebook, Youtube và Twitter đã có tầm ảnh đến mức quyết định lên lịch sử nhân loại. Thông tin khó bị bưng bít vì các mạng xã hội đến trực tiếp với quần chúng. Nhưng hiện tượng tâm lý cho thấy khi thông tin tràn ngập thì người nghe chỉ gạn lọc những gì mà mình muốn nghe. Thí dụ dễ hiểu là những ai trong nước ghét Việt kiều chỉ trao đổi cho nhau tin tức ở bên Mỹ bị hắt hủi nên thèm khát trở về quê hương; còn bên ngoài chống Cộng chỉ lan truyền những hình ảnh đàn áp, tham nhũng, bất công; tin tức và hình ảnh tràn ngập nhưng mỗi người vẫn tự gạn lọc thông tin phù hợp với quan điểm của họ.
Không ai biết rõ ở lớp tuổi nào các định kiến được thành hình từ trong gia đình, học đường hay xã hội. Một số có thể thay đổi quan điểm, nhưng đa số khăng khăng theo thành kiến; một thiểu số còn trở nên cực đoan hóa.
Tại các nước đang mở mang thì trừ Nga và Trung Quốc các mạng xã hội đang thắng tuyên truyền của nhà nước. Nhưng ở Âu-Mỹ cuộc chạy đua giữa thông tin trên mạng xã hội và những cơ quan truyền thông “trung thực”, “chiều sâu” của Tây phương xảy ra quyết liệt vì chưa ai dám kết luận liệu hai luồng thông tin này bổ sung hay lung lạc nền dân chủ. Riêng Tổng thống tân cử Donald Trump tiếp tục dùng Twitter để đến trực tiếp với phong trào dân túy (populist) mà không qua gạn lọc của giới tinh hoa (elite và politically correct) vốn kiểm soát truyền thông.
Điều đáng quan tâm khi Tây phương với các định chế, truyền thống dân chủ và dân trí cao nhưng vẫn chao đảo với mạng xã hội thì tại các nước đang phát triễn thách thức xây dựng nền dân chủ càng trở nên khó khăn. Quan điểm truyền thống là sự thật sẽ chiến thắng bưng bít và độc tài, nhưng các mạng xã hội tạo ra nhiều góc sự thật (multiple realities) khích động và cách ly nhiều thành phần trong xã hội.
Việt Nam hiện chưa thiết lập hệ thống tường lửa tinh vi và đội ngũ dư luận viên trình độ cao như ở Trung Quốc và Nga. Nhưng điều này không đồng nghĩa với nhà cầm quyền không đủ khả năng vì nếu muốn vẫn dễ dàng được Nga-Hoa trang bị công cụ và giảng dạy kinh nghiệm. Lý do có thể vì Việt Nam muốn hội nhập với Tây phương nên không dựng bức màn sắt thông tin; Đảng Cộng sản cũng không thể khích động tinh thần dân tộc như Putin và họ Tập vì quần chúng sẽ chống Tàu; tuy nhiên ngày nào đó nhà cầm quyền vẫn có thể chuyển hướng tùy theo cách phân tích thiệt hơn.
Đ.H.Q.
Tác giả gửi BVN.