Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

20150225. BÀN VỀ QUẢN LÝ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
Phòng khách tư dinh nguyên TBT Nông Đức Mạnh (Viet-studies 22/2/2015)
KIẾN NGHỊ BỎ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG; NẾU CHỈ "CHẠY THEO THÀNH TÍCH"
Bài pv của BICH NGỌC/ ĐVO/ BVB 25/2/2015
***
Việc ấn định chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm và khống chế tín dụng với từng ngân hàng sẽ làm thị trường tín dụng méo mó, kém linh hoạt.
ThS. Nguyễn Anh Dương, Phó trưởng ban Chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) chia sẻ với Đất Việt trước việc cơ quan này vừa công bố Báo cáo Kinh tế vĩ mô quý IV năm 2014, trong đó có đưa ra đề nghị bỏ khống chế tín dụng với từng ngân hàng cũng như bỏ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.
Nên bỏ điều hành tăng trưởng tín dụng theo chỉ tiêu hàng năm
- PV: - Thưa ông, CIEM mới đây kiến nghị Chính phủ bỏ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Xin ông có thể phân tích kỹ hơn những lý do nào khiến CIEM lại đưa ra kiến nghị này?
- ThS. Nguyễn Anh Dương: - Thực tiễn điều hành tín dụng trong các năm 2013-2014 cho thấy tín dụng có những diễn biến không đều. Cụ thể, những tháng đầu năm thì tăng rất chậm, thậm chí còn giảm, những tháng giữa năm tăng trưởng không đều và dồn nhiều hơn vào các tháng cuối năm. Kết quả là kết quả tăng trưởng tín dụng đều đạt mục tiêu đề ra: năm 2013 là 12,5%, năm 2014 là 12,6%.
Trên thực tế, chưa có nhiều bằng chứng về “công thức chung” thể hiện quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, ngay cả khi bỏ qua vấn đề này, việc tín dụng tăng trưởng không đều cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và hiệu quả của các hoạt động kinh tế.
Tại những thời điểm tín dụng tăng rất nhanh trên thị trường mà việc thanh khoản không phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng lãi suất cho vay biến động mạnh. Nhất là vào các dịp cuối năm, mong muốn thúc đẩy tín dụng - để đạt mục tiêu đề ra - cũng sẽ hạn chế khả năng giảm lãi suất cho vay.
Trước tình hình đó, CIEM kiến nghị cải cách và điều hành chính sách phải hướng tới một thị trường tín dụng lành mạnh và có tính thị trường hơn. Trong đó, tín hiệu duy nhất quyết định hoạt động vay của doanh nghiệp và hoạt động cho vay của ngân hàng chính là lãi suất. Cụ thể, cần hạn chế các can thiệp gián tiếp gắn với điều hành tín dụng vào các thời điểm khác nhau để lãi suất ít méo mó hơn.
Chính vì thế, CIEM kiến nghị nên bỏ điều hành tăng trưởng tín dụng theo chỉ tiêu hàng năm. Con số tăng trưởng tín dụng của cả năm chỉ là mục tiêu trung gian để hướng đến những mục tiêu sâu xa hơn là tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
Tuy nhiên, con số này không phản ánh chất lượng của hoạt động tín dụng. Nếu chỉ cố gắng giải ngân tín dụng để đạt mục tiêu đề ra cho cả năm mà ít lưu tâm đến chất lượng tín dụng thì hiệu quả đối với nền kinh tế không được như mong muốn, thậm chí còn ảnh hưởng đến các mục tiêu khác.
Nếu đơn thuần tăng trưởng giải ngân tín dụng dựa vào các hình thức như tín dụng ngoại tệ hay bất động sản thì thực tế có nhiều hệ lụy, rủi ro khác kể cả với cấp ngành và với môi trường kinh tế vĩ mô – như đã từng chứng kiến trong giai đoạn 2007-2010.
Nếu làm rõ được các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng quý thì sẽ giảm được áp lực “dồn toa” tín dụng vào cuối năm. Tuy nhiên, điều này cũng khiến thị trường tín dụng kém linh hoạt hơn, và làm giảm dư địa để chính sách tiền tệ phối hợp với các chính sách khác. Bản thân việc xác định các chỉ tiêu hàng quý là không dễ vì khó nhất quán với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế hay lạm phát –thường được xác định theo năm.
- PV: - Thưa ông, trước đó CIEM cũng từng đề nghị Chính phủ đừng cố cứu DNNN. Điều này liên quan thế nào đến những khoản vay lớn của nhiều tập đoàn nhà nước vốn chịu tai tiếng làm ăn thua lỗ? Đây có phải là hệ quả tất yếu của việc đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng hay không và vì sao?
- ThS. Nguyễn Anh Dương: - Thực ra, đánh giá đầy đủ hiệu quả tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là không dễ. Lý do là vì ngoài các mục tiêu kinh tế thì các DNNN còn phải thực hiện các mục tiêu phi kinh tế khác.
Nhưng điều chúng ta có thể nhìn thấy đó là các can thiệp nhằm giúp DNNN tiếp cận tín dụng ưu đãi hơn và/hoặc dễ dàng hơn, tương tự như việc thúc đẩy giải ngân tín dụng vào cuối năm hay ưu tiên tín dụng cho các gói bất động sản, nông nghiệp, thủy sản hay tín dụng ngoại tệ, v.v.
Các can thiệp kiểu như thế này không mang lại hiệu quả bền vững cho nền kinh tế. Trong khi đó, thị trường có thêm lo ngại về sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa DNNN với các ngân hàng vì các DNNN gắn với nhiều lĩnh vực được ưu tiên nên cũng có thêm hỗ trợ trong tiếp cận tín dụng. Các DNNN được ưu tiên trong khi ít chứng minh được khả năng dự án của họ khả thi hơn và có khả năng trả nợ tốt hơn so với DN tư nhân.
Hệ lụy khi dành ưu tiên tiếp cận tín dụng cho DNNN trên cơ sở thiếu cạnh tranh, không dựa trên yếu tố thị trường là giảm hiệu quả và động lực cạnh tranh của DNNN, đồng thời không duy trì đủ sức ép để DNNN thực hiện hiệu quả dự án.
Thứ nữa là với cùng một lượng vốn trên thị trường mà ưu tiên hơn cho DNNN thì rõ ràng sẽ khó khăn cho việc tiếp cận vốn của DN tư nhân. Khó khăn này nằm ở cả quy mô vốn vay và lãi vay cho DN tư nhân. Điều này cũng làm giảm hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế nói chung cũng như sự phát triển bền vững của khu vực DN tư nhân.
Ưu tiên DNNN đương nhiên DN tư nhân bị hạn chế
- PV: Hệ quả của cách điều hành như thời gian qua từ việc cố cứu DNNN liệu có là nguyên nhân khiến công cuộc tái cơ cấu kinh tế không đạt được như mong muốn? Đề xuất của CIEM có phải là nỗ lực đầu tiên để khơi thông công cuộc này hay không và vì sao?
- ThS. Nguyễn Anh Dương: - Chúng ta đang nhấn mạnh yêu cầu cải cách cũng như yêu cầu chuẩn bị, tranh thủ tận dụng cơ hội trước khi thực hiện các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia ở mức độ sâu sắc hơn. Trong bối cảnh ấy, rõ ràng quá trình tái cơ cấu và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều vấn đề.
Vấn đề không chỉ nằm ở chỗ từng lĩnh vực tái cơ cấu như đầu tư công, DNNN, hệ thống ngân hàng thương mại. Nó không chỉ nằm ở mong muốn và yêu cầu cải cách mà ngay cả tiến độ của từng lĩnh vực cần tái cơ cấu cũng không được như kỳ vọng. Nói cách khác, quá trình tái cơ cấu hiện nay còn chậm vì nhiều lý do chứ không chỉ nằm ở chính sách kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, phải thấy rằng chính sách tín dụng đang ảnh hưởng một phần đến quá trình tái cơ cấu. Cụ thể, việc điều hành tín dụng chưa gắn được với tư duy ổn định lãi suất trong trung và dài hạn. Nếu muốn doanh nghiệp đầu tư và bỏ vốn làm ăn trong một thời gian dài thì phải có được sự ổn định lãi suất trong trung và dài hạn. Nhưng lãi suất tín dụng trong thời gian từ 2012 đến nay – dù có xu hướng giảm - nhưng thiếu sự ổn định trong trung và dài hạn làm cho DN rất lo ngại.
Có thể thấy rằng việc điều hành tín dụng ở đây nếu không gắn được với neo kỳ vọng về lạm phát, không giúp ổn định lãi suất trung và dài hạn thì rõ ràng DN khó có động lực để thực hiện hoạt động đầu tư trong dài hạn. Khi đó nền kinh tế sẽ thiếu đi sự phát triển ổn định, bền vững.
Cần nhận thức sâu sắc rằng các DN quan tâm đến chính sách kinh tế vĩ mô không phải chỉ là chuyện hỗ trợ được ngành này, ngành kia. Quan trọng hơn là các DN cần một môi trường ổn định và dễ dự đoán được để yên tâm hơn với các quyết định đầu tư kinh doanh của mình.
Kiến nghị của CIEM chính là để cải thiện cách thức điều hành chính sách theo hướng này.
- PV: - Khi nguồn lực tín dụng đổ vào những địa chỉ làm ăn kém hiệu quả thuộc khối nhà nước, cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn tín dụng với lãi suất hợp lý sẽ bị hạn chế như thế nào? Nếu doanh nghiệp tư nhân bị chặn cơ hội phát triển, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam phải đương đầu với những thách thức hội nhập, cơ hội để giữ vững chủ quyền kinh tế có thể được hình dung ra sao, thưa ông?
- Ths Nguyễn Anh Dương: - Tiếp cận tín dụng của DN tư nhân là vấn đề không mới, nhưng có ý nghĩa ngày càng lớn hơn do phần lớn các DN Việt Nam hiện có quy mô nhỏ và vừa.
Rõ ràng là khi nguồn vốn tín dụng có hạn, nếu ưu tiên DNNN hơn thì đương nhiên phần dành cho DN tư nhân sẽ phải thấp đi. Hơn nữa, hiệu quả sử dụng tín dụng sẽ giảm đi nếu đổ vào các dự án do DNNN thực hiện lại kém hiệu quả trong khi đáng lẽ ra nguồn vốn đó có thể dành cho một doanh nghiệp tư nhân có hiệu quả cao hơn.
Đó là chưa kể xu hướng gia tăng phát hành Trái phiếu Chính phủ hiện cũng gây thêm lo ngại về chèn lấn tín dụng cho DN tư nhân.
Chính vì vậy, khu vực tư nhân chỉ còn vài lựa chọn. Với các DN có hồ sơ tín dụng sạch, dự án tốt, và duy trì quan hệ tốt với ngân hàng thì có thể có tín dụng chính thức. Số còn lại sẽ phải dựa vào các khoản vay từ thị trường phi chính thức (người thân, bạn bè, thậm chí là cả từ chợ đen). Trong khi đó, hoạt động vay mượn thông qua phát hành trái phiếu thì rất ít DN tư nhân có thể thực hiện được.
Như vậy, khu vực tư nhân vừa hạn chế về cơ hội tín dụng, vừa hạn chế cả lãi suất nên sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời. Đương nhiên, DN tư nhân có xu hướng đi vào những lĩnh vực kiếm lời nhanh trong thời gian ngắn hoặc có ưu đãi tín dụng, nếu không sẽ không đủ trả tiền lãi vay. Ở chừng mực ấy, đòi hỏi các DN này tham gia vào sản xuất công nghiệp hỗ trợ hay lĩnh vực cần đầu tư dài hạn sẽ rất rủi ro.
Chính vì vậy, bên cạnh kiến nghị bỏ mục tiêu điều hành tín dụng tăng trưởng theo năm, CIEM cũng đề xuất giảm dần các đối xử khác biệt cho các nhóm lĩnh vực được ưu tiên hay các lĩnh vực bị hạn chế.
Cách điều hành như vậy sẽ gây méo mó đối với thị trường tín dụng và hạn chế khả năng điều chỉnh chính sách tín dụng khi cần, chưa kể đến động lực hoạt động của các DN nhận ưu đãi. Khi đó, hệ lụy là khả năng phục hồi tăng trưởng chậm cũng như chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế không cao.
Chúng ta mong muốn một môi trường tăng trưởng chất lượng, dựa nhiều hơn vào năng suất, vào sự nỗ lực mang tính dài hạn của DN trong việc cải thiện trình độ công nghệ, khả năng quản trị, liên kết với DN nước ngoài hay nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đảm bảo cạnh tranh,v.v. Song phương thức điều hành tín dụng hiện nay chưa giúp DN yên tâm để có những nỗ lực ấy. Đây là điều hết sức lo ngại.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
Bích Ngọc (thực hiện)/ĐVO

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

20150224. BÀN VỀ SỨ MỆNH NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

ĐIỂM BÁO MẠNG
SỨ MỆNH NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Bài của GS Nguyễn Văn Tuấn/ tuan's blog 22/2/2015

GS. Nguyễn Văn Tuấn (Ảnh internet)
***
Nhân dịp đầu năm, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn vài suy nghĩ của tôi về sứ mệnh của giáo dục đại học. Thật ra, đây là một bài nói chuyện nhân dịp Trường ĐH Tôn Đức Thắng được cấp 2 bằng sáng chế. Hôm đó, Trường có nhã ý mời tôi nói chuyện với tư cách là một giáo sư thỉnh giảng và giám đốc một lab nghiên cứu ở đây. Tôi vốn quen nói chuyện không có giấy tờ, nhưng lần này Trường nói phải có giấy tờ đàng hoàng (và bản tiếng Anh cho khách nước ngoài nữa) nên tôi phải soạn bài nói chuyện nghiêm chỉnh. Bây giờ thì việc đã xong nên tôi có thể post lên đây để chia sẻ cùng các bạn.
NVT
 *****
Sứ mệnh nghiên cứu của giáo dục đại học
(Bài nói chuyện tại ĐH Tôn Đức Thắng, 8/2/2015)
Kính thưa quí khách,
Kính thưa quí đồng nghiệp,
Tôi rất vinh hạnh có mặt tại đây, ngày hôm nay, để chia sẻ niềm vui và chúc mừng Trường Đại học Tôn Đức Thắng vừa được Cục quản lí bằng sáng chế Hoa Kì (USPTO) cấp bằng sáng chế đầu tiên, và được “gắn sao”. Đây là một thành tựu đáng tự hào của một trường đại học "trẻ" và đang trong thời kì mà nền giáo dục còn nhiều dao động và khó khăn.
Tôi được ban tổ chức mời phát biểu nhân dịp này, với tư cách là một cố vấn của Trường, một giáo sư thỉnh giảng, và một người đang điều hành một nhóm nghiên cứu tại Trường. Tôi suy nghĩ và tự hỏi mình sẽ nói gì nhân ngày vui này, và tôi nghĩ có lẽ đây là dịp để tôi chia sẻ cùng các bạn những suy nghĩ của tôi về sứ mệnh của giáo dục đại học. Đây là một vấn đề không mới, nhưng vẫn còn giá trị thời sự ở nước ta.
Sứ mệnh của giáo dục đại học
Theo tôi, sứ mệnh của giáo dục đại học là theo đuổi 3 lí tưởng: sáng tạo ra tri thức mới, chuyển giao tri thức và kĩ năng đến sinh viên, và phụng sự xã hội. Sáng tạo ra tri thức mới qua nghiên cứu khoa học gần như là một căn cước tính của một thiết chế xã hội có danh xưng "đại học". Chuyển giao tri thức và kĩ năng được thực hiện qua giảng dạy, được xem như là một sứ mệnh mặc định của đại học. Kĩ năng dĩ nhiên không chỉ đơn thuần là kĩ thuật và công nghệ, mà còn là kĩ năng sống. Đại học là một thiết chế xã hội, và không thể đứng ngoài xã hội. Vì thế, một sứ mệnh quan trọng của đại học là phục vụ cho cộng đồng, quốc gia, qua cố vấn, phản biện, và góp phần chuyển giao công nghệ.
Tôi muốn nói thêm về sứ mệnh nghiên cứu của đại học. Nghiên cứu khoa học đã trở thành một lí tưởng cốt yếu, một mục tiêu mang tính mặc định của giáo dục đại học hiện đại. Như tôi nói ở trên, một sứ mệnh quan trọng của đại học là sáng tạo ra tri thức mới, mà tri thức mới chỉ được sáng tạo qua nghiên cứu khoa học. Tri thức dẫn đến cách tân về công nghệ và kĩ nghệ. Do đó, bất cứ nước nào trên thế giới đều nhận thức rằng đại học nghiên cứu là chìa khóa, là tài sản quan trọng của nền kinh tế tri thức trong thế kỉ 21.
Đối với đại học, nghiên cứu khoa học còn có một ý nghĩa rất thực tế: đó là vị trí trên trường quốc tế. Hiện nay, chưa có đại học nào của Việt Nam nằm trong danh sách các đại học hàng đầu thế giới. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào danh sách 100 hoặc 200 đại học hàng đầu thế giới, chúng ta thấy đặc điểm chung là gì? Xin trả lời ngay: là năng lực nghiên cứu khoa học. Tôi đã bỏ công phân tích và đi đến kết luận rằng nghiên cứu khoa học đóng góp 60% vào vị trí của một đại học trong các bảng xếp hạng đại học toàn cầu.
Nghiên cứu khoa học
Năng lực nghiên cứu khoa học thường được thể hiện qua công bố quốc tế. Thật vậy, trên thế giới, người ta dùng số lượng và chất lượng công bố quốc tế để đánh giá và xếp hạng các quốc gia trên trường khoa học. Trong năm 2014, số liệu của Viện thông tin khoa học Hoa Kì (ISI) cho thấy Việt Nam công bố được 2327 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế. Con số này tăng gần gấp 2 so với 5 năm trước. Đó là một tin mừng. Nhưng con số đó chỉ mới so sánh với thời gian trước, chúng ta phải biết mình đang ở đâu trong khu vực. Xin trả lời ngay rằng con số công bố quốc tế của VN chỉ bằng 1/3 của Thái Lan, 1/4 của Malaysia và 1/5 của Singapore. Như vậy, so với các nước trong vùng, năng suất khoa học của VN nói chung còn kém.
Nhưng đó không hẳn là một tin buồn, mà phải xem đó là một cơ hội để phấn đấu. Phấn đấu phải xuất phát từ các đại học. Trường đại học Tôn Đức Thắng sở dĩ được công nhận 3 sao cũng nhờ vào một phần qua công bố quốc tế. Trong 5 năm qua, Trường đã công bố được khoảng 110 công trình khoa học. Điều đáng nói là gần 46% số này được công bố chỉ trong năm 2014. Khoảng 60% công bố quốc tế của đại học Tôn Đức Thắng là do nội lực. Nói như thế để thấy rằng một trường còn “trẻ” nhưng đã có thành tựu như thế là đáng tự hào, và có xu hướng phát triển nhanh.
Nhưng chúng ta không bao giờ được tự mãn. Thành tích về công bố quốc tế chỉ mới là bước đầu, căn bản của một đại học. Khía cạnh quan trọng hơn là chất lượng nghiên cứu. Một trường đại học có thể có hàng ngàn nghiên cứu được công bố hàng năm, nhưng nếu chỉ công bố trên những tập san "làng nhàng", hoặc chẳng ai đề cập đến, hoặc chẳng đóng góp gì đáng kể cho chuyên ngành, thì chỉ là một đống giấy vô nghĩa. Do đó, cần phải quan tâm đến chất lượng nghiên cứu và tác động của nghiên cứu. Khoa học khuyến khích suy nghĩ đến những vấn đề lớn, những tầm nhìn dài và xa. Nên tránh những đề tài tủn mủn, những đề tài "ăn theo" vốn rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu, nhưng phải là nghiên cứu tốt, nghiên cứu có lí do chính đáng.
Hợp tác và xây dựng nội lực
Tôi nghĩ có "sao" là một thành tựu quan trọng và đáng kể. Nhưng quan trọng hơn là duy trì được vị trí sao đó. Thật ra, thách thức trong tương lai không chỉ là duy trì, mà còn phát triển và qua đó nâng cao vị trí của trường. Chúng ta cần phải làm nhiều việc để duy trì và phát triển. Nhưng tôi nghĩ ngay đến 2 việc chính: hợp tác nghiên cứu khoa học và xây dựng nội lực.
Hợp tác trong nghiên cứu khoa học có thể ví von như là những dòng chảy khoa học. Khoa học ngày nay là một nỗ lực tập thể. Cái ngày mà khám phá xuất phát từ một cá nhân nhà khoa học đã lùi vào dĩ vãng rất xa xăm. Chúng ta thấy rằng ngày nay, các giải thưởng Nobel thường được trao cho một nhóm nhà khoa học, chứ không phải chỉ một nhà khoa học độc nhất như những năm đầu thế kỉ 20.
André Gide, một nhà văn danh tiếng người Pháp (Giải Nobel Văn học 1947), từng nói rằng nghệ thuật là một sự hợp tác giữa Thượng đế (hay thần thánh) và người nghệ sĩ. Trong khoa học không có thượng đế hay thần thánh, nhưng tôi có thể nói rằng khoa học cũng là một sự hợp tác, nhưng hợp tác giữa người với người.
Khi chúng ta làm việc chung với nhau, chúng ta xây dựng tầm nhìn cho chính mình, nhưng quan trọng hơn là tầm nhìn của người khác sẽ bổ sung vào tri thức của chúng ta, và khi cả hai tầm nhìn được hợp lại chúng ta có một cái nhìn đầy đủ hơn và tốt hơn. Chính nhờ vào hợp tác mà biên cương khoa học mới lúc nào cũng được mở rộng. Ngược lại, không có hợp tác, chúng ta sẽ bị hạn hẹp về tầm nhìn, và khoa học khó có cơ may phát triển.
Nhưng tôi phải mở ngoặc để nói thêm rằng hợp tác nghiên cứu là để chúng ta xây dựng nội lực, chứ không phải lệ thuộc. Tôi nghĩ đây là một khía cạnh quan trọng cần phải lưu ý, đặc biệt đối với các đại học ở Việt Nam. Tại sao tôi nói thế? Trong khoảng 10 năm trở lại đây, khoảng 75-80% các công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học trong danh mục ISI và Scopus là do hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Nói cách khác, các đồng nghiệp nước ngoài đến VN, đề ra ý tưởng, và có thể cả tài trợ cho nghiên cứu, và do đó, không ngạc nhiên họ đóng vai trò chủ đạo trong công bố quốc tế. Nói các khác, nếu không có sự hỗ trợ hay hợp tác với họ, con số công bố quốc tế của VN không đáng kể. Một cách khác để hiểu là: khoa học VN đang trong tình trạng hay có nguy cơ lệ thuộc vào nước ngoài.
Tôi nghĩ quí vị và đồng nghiệp đồng ý với tôi là chúng ta cần hợp tác, và không nên lệ thuộc. Để không lệ thuộc, các đại học VN cần phải xây dựng nội lực. Xây dựng qua năng lực nghiên cứu và hợp tác. Mỗi một dịp hợp tác cần phải biến thành một cơ hội để học hỏi và rút kinh nghiệm. Nếu hợp tác mà không học hỏi được gì thì có thể xem như là một thất bại. Nên xem hợp tác khoa học để không trở thành lệ thuộc vừa là mục tiêu, vừa là thành quả.
Một sự thật đơn giản là: sự thịnh vượng của một quốc gia phụ thuộc vào nhân tài của quốc gia đó. Tương lai của Việt Nam trong thế kỉ này và mai sau tuỳ thuộc vào mỗi công dân được trang bị kiến thức, kĩ năng, và đạo đức cho một cuộc sống phong phú và trọn vẹn trong một xã hội dân chủ, công bằng, và bác ái. Giáo dục đại học đóng vai trò trung tâm cho lí tưởng đó, qua nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức, và phụng sự xã hội.
Thành thật cám ơn quí vị và quí đồng nghiệp đã có mặt ngày hôm nay.

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

20150223. BÀN VỀ SỨC KHỎE KINH TẾ VIỆT

ĐIỂM BÁO MẠNG
NỖI TRĂN TRỞ "SỨC KHỎE KINH TẾ VIỆT"
Bài pv của VŨ HẠNH / VOV với BT Bùi Quang Vinh / BVB 23/2/2015
BT Bộ Kế hoạch Và Đầu tư Bùi Quang Vinh
Một nền kinh tế mạnh, tự chủ thì phải có doanh nghiệp trong nước đủ mạnh để xây dựng được thương hiệu của Việt Nam.
Đầu năm mới 2015, Bộ trưởng Kế hoạch-Đầu tư Bùi Quang Vinh dành cho VOV.vn buổi trò chuyện về tình hình kinh tế Việt Nam, việc phát triển hệ thống doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khối doanh nghiệp tư nhân.
- PV: Thưa Bộ trưởng, bước sang năm 2015, nhiều chuyên gia nhận định kinh tế trong nước và thế giới tiếp tục khó khăn. Với lĩnh vực mình phụ trách, Bộ trưởng nhìn nhận về năm nay như thế nào?
- Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Năm 2015, tôi nghĩ rằng chúng ta có nhiều việc hơn phải làm. Đây là năm khá đặc biệt, năm mà chúng ta bước vào hội nhập ngày càng sâu hơn, thực tiễn hơn với cái thương trường quốc tế, đầu tiên là việc tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN sau đó là thực thi một loạt hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký. Tất cả những điều này sẽ đặt Việt Namvào một thách thức giữa cơ hội phát triển và cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà. Nếu chúng ta không làm tốt điều này, Việt Nam không tạo thêm được lợi thế, không mở rộng được thị trường mà chúng ta còn bị thu hẹp.
Điều chúng tôi rất quan tâm nữa là vấn đề “sức khỏe” của doanh nghiệp Việt Nam. Một nền kinh tế mạnh, tự chủ thì phải có doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp tư nhân) phải rất mạnh mẽ, thì mới đem lại lợi ích cho dân tộc, cho mỗi người dân, cho đất nước. Điều đó đang thách thức chúng ta. Ngoài ra, còn những thách thức lớn hơn từ quốc tế, của khu vực, như vấn đề Biển Đông…
- PV: Thưa Bộ trưởng, năm 2014, xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục ghi dấu ấn mới trong điều kiện kinh tế trong nước và thế giới còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, vẫn như các năm trước, khối DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn thể hiện ưu thế khi chiếm tới gần 70%  tổng giá trị xuất khẩu. Bộ trưởng có bình luận như thế nào về vấn đề này?
- Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Chính xác là DN FDI trong năm 2014 xuất khẩu chiếm 68% trong 150 tỷ USD xuất khẩu của Việt Nam. Nhìn ở góc độ thu hút đầu tư nước ngoài thì đây là thành quả, nhưng nếu nhìn ở góc độ sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam còn nhiều điều phải trăn trở. Bởi vì ngay bản thân các DN FDI khi vào Việt Nam cũng cần một DN nội địa mạnh để có thể hỗ trợ cho họ về công nghiệp hỗ trợ. Bởi vì họ đầu tư sang đây thì họ cũng muốn giá thành cạnh tranh hơn, nên khi tất cả đều phải nhập linh kiện từ bên nước họ về thì cũng không có ý nghĩa lắm. Cho nên, bản thân nhà đầu tư nước ngoài cũng cần có DN Việt Nam mạnh. Về phía chúng ta, cũng chỉ có DN Việt Nam mạnh thì mới tiếp thu được những tinh hoa, cộng nghệ mới của nước ngoài. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngoài việc tạo ra nguồn vốn và sản phẩm xuất khẩu thì cái mà chúng ta hướng tới quan trọng nhất là chuyển giao được công nghệ hiện đại cho Việt Nam. Vừa qua chúng ta không làm được điều này nhiều là vì không có được đội ngũ DN đủ mạnh để tiếp nhận chuyển giao KHCN.
Điều thứ 2, chỉ có DN Việt Nam mạnh mới có thể xây dựng được thương hiệu của Việt Nam. Có thể sản phẩm điện thoại Samsung xuất khẩu khắp thế giới đều ghi “Made in Vietnam” nhưng mà ai cũng biết đó là của Hàn Quốc, không ai nghĩ rằng đó là sản phẩm do DN Việt Nam sản xuất, mặc dù có thể tỷ lệ nội địa hóa ngày càng tăng nhưng họ vẫn thấy rằng đó là Samsung.
Các DN của Việt Nam sẽ làm cho tự chủ kinh tế Việt Nam mạnh, tạo ra nhiều công ăn việc làm. Chỉ có DN của chính nước mình mạnh thì chúng ta mới có thể tham gia hội nhập quốc tế, mới có sản phẩm tham gia thị trường quốc tế. Không làm được điều này, chúng ta phải chấp nhận là một nền kinh tế bị ràng buộc, phụ thuộc rất nhiều.
- PV: Vậy đây có phải là điều khiến Bộ trưởng vẫn còn băn khoăn?
- Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Tôi là Bộ trưởng Bộ KHĐT, được Chính phủ giao thu hút đầu tư nước ngoài. Thành quả thu hút FDI vừa qua liên tục được đánh giá cao, nhưng trong lòng và trên phương diện về kinh tế, vẫn tự thấy rằng chúng ta chưa làm tốt được việc phát triển mạnh mẽ khối DN trong nước. Giai đoạn này chúng ta chấp nhận là mời DN nước ngoài vào để tạo cộng ăn việc làm, tạo sản phẩm để tạo tăng trưởng, để ổn định tình hình, còn về lâu dài chúng ta phải chăm lo nhiều hơn đến việc phát triển khu vực trong nước, đặc biệt là DN tư nhân.
Tôi luôn cho rằng, DN tư nhân phải trở thành động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. DN tư nhân là DN của dân, Nhà nước tạo điều kiện cho người dân kinh doanh, sản xuất. Đội ngũ DN đó là con đẻ của chúng ta, là sản phẩm thuần túy 100% ViệtNam.
Ngay trong năm 2015 này, Việt Nam phải đưa ra nhiều chính sách hơn nữa, tháo gỡ những khó khăn cho DN, đặc biệt là thúc đẩy DN vừa và nhỏ, DN tư nhân phát triển. DN tư nhân phải trở thành nền tảng, thành động lực quan trọng nhất để đóng góp vào tăng trưởng, ổn định nền kinh tế Việt Nam. Tôi khẳng định nếu không làm được điều này Việt Namkhông bao giờ có được tăng trưởng tốt, không bao giờ có được nền kinh tế vững mạnh và tự chủ.
- PV: Năm 2014, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực trong năm nay. Nhiều người kỳ vọng hai Luật này sẽ tạo ra làn sóng mới về đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam. Vậy Bộ trưởng nhìn nhận như thế nào về tác động lớn nhất mà hai Luật này có thể mang lại cho kinh tế Việt Nam năm 2015?
- Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Với tư tưởng xuyên suốt là cố gắng minh bạch nhất, rõ ràng nhất và giúp cho người dân và doanh nghiệp được thực hiện quyền của mình là được đầu tư kinh doanh vào tất cả các lĩnh vực, ngành nghề mà luật pháp không cấm; doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường với chi phí rẻ nhất để làm cho các hoạt động của họ có hiệu quả hơn, chúng tôi hoàn toàn tin rằng sau khi hai luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2015 với những nghị định và thông tư hướng dẫn mà chúng ta làm tốt thì chắc chắn sẽ tạo môi trường kinh doanh tốt cho người dân và doanh nghiệp.
Còn từ môi trường thuận lợi này làm sao để doanh nghiệp có thể tạo thành làn sóng đầu tư mới hoặc là những cơ hội để doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ lên thì không chỉ phụ thuộc vào hai Luật này mà còn phụ thuộc vào một loạt những chính sách khác, như chính sách về tín dụng, giải quyết nợ xấu để doanh nghiệp có thể tiếp cận được vốn, tạo môi trường kinh doanh tốt… thì mới có thể đồng bộ và tạo ra làn sóng tốt được. Nhưng hai luật này là hai luật gốc và với những tư tưởng như vậy đã được giới DN, nhất là DN tư nhân, DN đầu tư nước ngoài rất hoan nghênh, thì tôi nghĩ rằng nó sẽ tạo ra động lực mới.
- PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!/.
Vũ Hạnh/VOV