Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2024

20240303. BÀN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

 ĐIỂM BÁO MẠNG

VIỆC TỒI, LƯƠNG THẤP VÀ NGUY CƠ BẪY CHỒNG BẪY
PHẠM MẠNH HÙNG/ TVN 23-2-2024

Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng nhưng chất lượng chưa vàng nên khó thoát bẫy “kỹ năng thấp, việc tồi, lương bèo bọt". Chúng ta cần phải làm gì để vượt qua nghịch cảnh?

Giấc mơ "việc tốt, lương cao" trở nên xa vời với số đông người lao động, nhất là khi cả làn sóng tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và quy luật đàn sếu bay đang cùng ập đến.   

Sau hơn ba thập kỷ đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu đáng ngưỡng mộ, là ngôi sao đang lên được các nhà đầu tư nước ngoài đặt nhiều kỳ vọng. Mô hình phát triển theo chiều rộng với nền sản xuất gia công thâm dụng lao động giúp giải quyết bài toán việc làm cho số đông lao động phổ thông đưa Việt Nam thoát nhóm nước kém phát triển, gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình thấp.

Tuy vậy, Việt Nam duy trì mô hình này quá lâu, chưa có sự chuẩn bị tốt về nhân lực kỹ năng và năng lực khoa học công nghệ (KH&CN) để chuyển đổi sang mô hình phát triển theo chiều sâu tiến tới trở thành nước phát triển thu nhập cao.


Có tới 75% số người lao động Việt Nam khẳng định thu nhập không đủ mức chi tiêu tối thiểu. Ảnh: Nam Khánh

Giáo dục và đào tạo, KH&CN cần phải đi trước một bước để "vàng hóa" lực lượng lao động, xây dựng năng lực KH&CN. Tiếc là chúng ta đã chậm và chưa có sự chú trọng đúng mức cho KH&CN. Giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học và giáo dục nghề cũng như KH&CN được đầu tư quá ít quá dàn trải.

Đến năm 2023, tỷ lệ đầu tư cho R&D của Việt Nam mới chỉ đạt 0,4% GDP, trong khi nhìn sang Trung Quốc, tỷ lệ này của họ vào năm 2020 đạt 2,4% GDP. Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đại học của Việt Nam cũng rất thấp, chỉ đạt 0,18% GDP năm 2020, nhỉnh hơn số lẻ của Malaysia một chút vào năm 2015 với 1,13% GDP.

Thiếu chú trọng đến giáo dục và KH&CN, chúng ta đang lún sâu vào ‘bẫy’ gia công, lắp ráp ở đáy của chuỗi giá trị ở những ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, điện tử... Trong các ngành này, người Việt Nam chúng ta vẫn chủ yếu dùng cơ bắp để kiếm sống, hàm lượng chất xám, công nghệ ít.

Lẽ ra, chúng ta cần chuẩn bị tốt về nhân lực kỹ năng và năng lực KH&CN để chuyển đổi sang mô hình phát triển theo chiều sâu, tiến tới trở thành nước phát triển thu nhập cao.

Thực tế cho thấy tỷ lệ lao động qua đào tạo quá thấp, chỉ chiếm hơn 26% lực lượng lao động năm 2021; tỷ lệ lao động có trình độ từ đại học trở lên mới chỉ chiếm chưa đầy 12%. Số lao động chưa qua đào tạo quá lớn, chiếm hơn 73%, đặc biệt số lao động phi chính thức năm 2021 chiếm tới 68,5% tổng số lao động có việc làm, tương ứng với 33,6 triệu người, có tới hơn 61% lao động phi chính thức chỉ có trình độ tiểu học.

Nhìn sâu hơn, số lao động qua đào tạo cũng còn nhiều vấn đề bất cập về chất lượng, cơ cấu đào tạo cũng như đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động...   

Thực tế này kéo theo một loạt hệ lụy tai hại đối với cả người lao động, doanh nghiệp và nền kinh tế. Những thứ dễ thấy nhất là số đông người lao động bị mắc kẹt ở bẫy “kỹ năng thấp, việc tồi, lương bèo bọt", nguy cơ mất việc ập đến bất cứ lúc nào, giấc mơ "việc tốt, lương cao" trở nên xa vời.

Số lao động có “việc tốt lương cao” ở nước ta hiện nay chỉ chiếm hơn 10%, trong khi con số này ở Singapore là hơn 60%.

Lương thấp khiến người lao động sống chật vật. Có tới 75% số người lao động khẳng định thu nhập không đủ mức chi tiêu tối thiểu theo kết quả khảo sát tình hình đời sống, việc làm, tiền lương của người lao động năm 2023 của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

Tình hình còn bi đát hơn ở nhóm lao động phi chính thức với 47% người lao động thuộc nhóm này có thu nhập thấp hơn lương tối thiểu vùng; thu nhập từ công việc chính của lao động phi chính thức trong năm 2021 là 4,4 triệu đồng, chỉ bằng hơn nửa thu nhập của lao động chính thức với 8,2 triệu đồng.

Cũng bởi thu nhập thấp nên người lao động không có điều kiện để nâng cao kỹ năng để có công việc tốt, lương cao, còn doanh nghiệp với số đông lao động thiếu kỹ năng thì không có điều kiện tạo ra việc làm tốt và do vậy khiến nền kinh tế rơi vào “bẫy kỹ năng thấp, công việc tồi, lương bèo bọt” và bẫy “thu nhập trung bình”. Tức là bẫy trong bẫy.

Thực tế này là một trong những nguyên nhân chính khiến năng suất lao động của Việt Nam rất thấp. Năm 2022, chúng ta đứng thứ 135/180 nước về năng suất lao động, chỉ bằng 11,4% của Singapore, 35,4% của Malaysia, 64,8% của Thái Lan. Năng suất lao động thấp khiến chúng ta không thể tăng nhanh lương tối thiểu vì nếu làm như vậy sẽ mất lợi thế cạnh tranh, khiến quy luật đàn sếu bay ập đến nhanh hơn.

Hơn nữa, lao động phổ thông giá rẻ sớm muộn cũng mất đi quyền năng của mình bởi lẽ, dù muốn hay không thì thế giới cứ vận hành theo quy luật của nó.

Việt Nam không nằm ngoài quy luật “đàn sếu bay” trong phát triển công nghiệp, cũng không nằm ngoài làn sóng tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, lợi ích kinh tế, bàn tay vô hình của thị trường sẽ đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ mới, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo làm giảm sử dụng lao động phổ thông...

Phạm Mạnh Hùng

(Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về nhân lực, nhân tài, lãnh đạo học, chuyển đổi số, quản trị chiến lược...)

NGUỒN: Việc tồi, lương thấp và nguy cơ bẫy chồng bẫy [https://vietnamnet.vn/viec-toi-luong-thap-va-nguy-co-bay-chong-bay-2252190.html]

TIN LIÊN QUAN:


CẦN 'VÀNG HÓA' LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG
PHẠM MẠNH HÙNG/ TVN 24-2-2024

Hơn bao giờ hết, đây là lúc cần có cuộc đại cải cách đột phá về giáo dục đại học, giáo dục nghề cũng như KH&CN với quy mô đủ lớn, thời gian đủ dài, phạm vi đủ rộng để nhanh chóng xây dựng năng lực KH&CN.

Giáo dục đại học  

Giáo dục đại học cần được tạo động lực đủ mạnh trên ba trụ cột là tài chính, cơ chế, nhân tài để tăng tốc chuyển hóa tiềm năng to lớn của giáo dục phổ thông thành nguồn nhân lực kỹ năng và trình độ cao. Trước mắt, cần lựa chọn một số đại học có tiềm năng lớn để “hích” nhằm nhanh chóng có các đại học tinh hoa tầm thế giới làm đầu tàu kéo hệ thống đại học nước nhà.

Trụ cột tài chính: cần tăng nhanh ngân sách công cho giáo dục đại học lên 0,8% GDP trước năm 2030 như theo đề xuất của World Bank. Việc phân bổ tài trợ, ngân sách cần dựa vào kết quả hoạt động của trường, không chia đều bình quân mỗi trường một ít. Cần lựa chọn và tập trung đầu tư tới ngưỡng để tạo đà và lực cho một số đại học có tiềm năng lớn để nhanh chóng đạt chuẩn quốc tế, ngang tầm thế giới.

Lập Quỹ Chấn hưng giáo dục đại học với các nguồn từ ngân sách nhà nước, đóng góp của doanh nghiệp, ủng hộ của các cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước.

Trụ cột cơ chế. Cơ chế tự chủ đầy đủ cần được thể chế hóa bằng các quy định rõ ràng và cụ thể để đảm bảo được thực hiện trên thực tế và nhất quán, các đại học cần có không gian đủ lớn, thông thoáng để phát triển bứt phá, được quyết định về chiến lược phát triển, sử dụng kinh phí, tuyển sinh, tự đưa ra tiêu chuẩn học phí, toàn quyền quyết định vấn đề nhân sự và lương thưởng.


Giáo dục đại học cần được tạo động lực đủ mạnh trên ba trụ cột là tài chính, cơ chế, nhân tài. Ảnh: Thanh Hùng

Trụ cột nhân tài quyết định sự thành bại. Cần có cơ chế mời các chuyên gia, nhà khoa học cũng như các nhà lãnh đạo, quản trị đại học hàng đầu thế giới đến làm việc, cộng tác và truyền nghề.  Các giảng viên, sinh viên, cán bộ đại học được làm việc cùng và học hỏi từ những người giỏi nhất, đây là con đường nhanh nhất để nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy, gia tăng kết nối với thế giới.

Đặc biệt, cần tuyển chọn kỹ lưỡng trên phạm vị rộng để có được các nhà lãnh đạo, quản trị đại học tài năng, đủ tầm dẫn dắt trường đạt chuẩn quốc tế, ngang tầm thế giới. Thực hiện thi tuyển cạnh tranh để tuyển chọn hiệu trưởng. Cơ chế tuyển chọn này cho phép bất cứ ai cũng có thể tham gia nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn và kết quả thi là tiêu chí duy nhất công nhận trúng tuyển. Nếu nguồn trong nước chưa đáp ứng được thì nhất thiết phải chiêu mộ từ thế giới.

Khoa học và công nghệ 

Xây dựng năng lực KH&CN vững mạnh, tập trung vào ngành CNTT, công nghệ sinh học, các ngành KH&CN mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu... để bắt nhịp với xu thế thế giới.

Cần hậu thuẫn một số “đại bàng” tư nhân nội về công nghệ để tiên phong tiến ra toàn cầu, có thể hỗ trợ bằng cách giảm thuế, hỗ trợ R&D và nới lỏng các rào cản quy định, thủ tục.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, hợp nhất các doanh nghiệp nhà nước hình thành những doanh nghiệp quy mô lớn để có đủ nguồn lực đầu tư phát triển R&D, ứng dụng công nghệ. Mặt khác, giảm doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình cổ phần hóa đã được phê duyệt để nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn và tăng cơ hội phát triển cho doanh nghiệp tư nhân.

Sắp xếp lại hệ thống viện nghiên cứu với ba cấu phần chính là viện nghiên cứu công, viện nghiên cứu ở đại học, viện nghiên cứu ở doanh nghiệp, phân vai theo thế mạnh, đẩy nhanh tốc độ phát triển viện nghiên cứu ở doanh nghiệp. Hợp nhất các viện nghiên cứu công hình thành những viện nghiên cứu quy mô lớn để có đủ nguồn lực và năng lực tiến hành những nghiên cứu, dự án tầm cỡ, có giá trị, lý tưởng nhất là hợp nhất toàn bộ viện nghiên cứu công hiện thời với đa số là còi cọc còn dưới 100 viện. 

Giáo dục nghề nghiệp

Sáp nhập các trường trung cấp, cao đẳng kỹ thuật, dạy nghề, trung tâm nghề theo hướng bỏ bậc cao đẳng để thiết lập đại học nghề hai năm với quy mô lớn có đủ nguồn lực và năng lực cung cấp các chương trình đào tạo chất lượng đáp ứng tốt yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường.

Đại học nghề đào tạo hai hệ, hệ đại học 2 năm và hệ trung cấp 1 năm. Để đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường, cần cải cách đột phá vào một số vấn đề cụ thể sau như: 1) xây dựng khung chương trình chuẩn, giảm thiểu tối đa các môn học không liên quan trực tiếp tới chuyên môn nghề, chú trọng thực hành theo tỷ lệ  học 20% lý thuyết, 80% thực hành, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp; 2) đảm bảo có đội ngũ giảng viên giỏi… 3) trang bị cơ sở vật chất, thực hành hiện đại.

Xây dựng xã hội học tập, văn hóa học tập suốt đời           

Mỗi người dân cần được trao cơ hội để trang bị kỹ năng, phát triển tối đa tiềm năng bản thân bất kể xuất phát điểm nhằm có kỹ năng phù hợp để có “việc tốt lương cao”. Nhà nước cần đảm nhận vai trò dẫn dắt, thúc đẩy thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội học tập, văn hóa học tập suốt đời.

Cần có chính sách khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho người lao động học tập suốt đời, phát triển năng lực liên tục. Cung cấp các khoá học ngắn hạn, chứng chỉ và chương trình đào tạo trực tuyến để giúp lao động cập nhật kỹ năng và kiến thức mới. 

Triển khai các chương trình nâng cao nhận thức cho người lao động về tầm quan trọng và lợi ích của việc có các kỹ năng, thay đổi suy nghĩ “sáng cấy chiều gặt”, làm ngày nào ăn ngày đó thay vào đó cần có định hướng rất rõ ràng để phát triển bản thân ngay khi còn trẻ, không ngừng nỗ lực học tập nâng cao giá trị lao động của bản thân, rèn tinh thần, tâm thế sẵn sàng bước qua vùng quen thuộc để học kỹ năng mới, nâng cao tinh thần tự học, không ngừng trau dồi để có kỹ năng cao thích ứng với thời cuộc.

Tóm lại, giáo dục và đào tạo, KH&CN phải đi trước một bước để "vàng hóa" lực lượng lao động, xây dựng năng lực KH&CN nhằm chuyển đổi sang mô hình phát triển theo chiều sâu tiến tới trở thành nước phát triển thu nhập cao.

Việt Nam đã khá chậm chân, quá nửa thời kỳ dân số vàng đã trôi qua, thời gian để bứt phá không còn nhiều. Hơn bao giờ hết, đây là lúc cần có cuộc đại cải cách đột phá về giáo dục đại học, giáo dục nghề cũng như KH&CN với quy mô đủ lớn, thời gian đủ dài, phạm vi đủ rộng để nhanh chóng xây dựng năng lực KH&CN, trang bị kỹ năng phù hợp cho số đông dân chúng.  

Phạm Mạnh Hùng

(Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về nhân lực, nhân tài, lãnh đạo học, chuyển đổi số, quản trị chiến lược...)

NGUỒN: Cần ‘vàng hóa’ lực lượng lao động (TVN 24/2/2024)     [https://www.blogger.com/blog/post/edit/5638668101773813427/286695866170663252#]

TIN LIÊN QUAN:

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2024

20240302. CHUYỆN TỪ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRỞ THÀNH ĐẠI HỌC

  ĐIỂM BÁO MẠNG


VÌ SAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐUA NHAU 'LÊN ĐỜI' THÀNH ĐẠI HỌC?
LƯU DIỄM/GD 2-3-2024

GDVN - Không chỉ để giải quyết câu chuyện đa ngành, đa lĩnh vực, mà việc trường đại học lên đại học còn là vấn đề về tự chủ và tận dụng được nguồn lực chung.

Đến thời điểm hiện tại, cả nước có 7 đại học, gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Hà Nội, và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

Vừa qua, thêm nhiều trường đại học có thông báo lộ trình chuyển đổi và xây dựng đề án dự kiến lên đại học như: Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Y Hà Nội...

Xu hướng trường đại học trở thành đại học từ đâu?

Trao đổi với Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Hiệp - Trưởng nhóm Nghiên cứu đổi mới giáo dục Reduvation, Trường Đại học Thành Đô cho biết: Trở lại với Luật Giáo dục đại học năm 2012, việc đưa trường đại học trở thành đại học đã được lấy ý kiến dự thảo thông qua trong giai đoạn những năm 2010.

Nhìn vào lịch sử phát triển của nền giáo dục ở Việt Nam trước đây, phần lớn các trường đại học được xây dựng theo mô hình tổ chức và hoạt động của Liên Xô cũ. Tên trường đại học thường gắn với chuyên ngành chính mà trường đào tạo, ví dụ như Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội,...

Sau đó, khi đại học quốc gia và đại học vùng được thành lập vào những năm 1990 theo cách thức tiếp cận và sáp nhập các trường đại học hoặc cao đẳng trong cùng khu vực với nhau trở thành một đại học lớn, thì mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực ra đời.

Có thể nói, đây là một trong những cách tiếp cận phù hợp với bối cảnh, văn hoá và giáo dục của Việt Nam. Từ đó, nước ta nhân rộng mô hình đại học bằng cách sáp nhập hoặc nâng cấp các trường đại học thành viên, nhằm xây dựng đại học đa ngành, đa lĩnh vực và có mức độ tự chủ cao hơn so với trường đại học thông thường.

Về hiệu quả thực tiễn, quá trình còn cần nhiều thời gian để kiểm chứng. Song, chúng ta đặt mong muốn và kỳ vọng mô hình đại học có thể phát huy tối ưu quyền tự chủ và tự quyết một cách linh động hơn, phát triển ngày một tốt hơn.

Từ đó, cơ sở giáo dục có thể nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút được nhiều giảng viên trình độ cao, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, gia tăng thương hiệu và tạo điều kiện thuận lợi cho người học.

55e12459b3811edf4790.jpg
Tiến sĩ Phạm Hiệp - Trưởng nhóm Nghiên cứu đổi mới giáo dục Reduvation, Trường Đại học Thành Đô. Ảnh: Ngọc Ánh

"Khi tham gia với vai trò là chuyên gia đóng góp cho dự thảo luật giáo dục đại học những năm 2010, tôi đưa ra ý kiến lo ngại một nguy cơ xảy ra là tên gọi của hai thuật ngữ này sẽ khó phân biệt. Điều này có thể gây rối thông tin cho xã hội và người học trong giai đoạn đầu, ảnh hưởng đến hợp tác quốc tế và hợp tác doanh nghiệp.

Đa số nhiều người chưa phân biệt được chính xác hai mô hình này, nhưng nhìn chung, để trường đại học thành đại học được đi vào hiệu quả thực chất, điều mấu chốt vẫn là ở những người có trách nhiệm đưa ra tiêu chí rõ ràng và định hướng giải pháp chuẩn xác.

Bởi không chỉ xét riêng hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam mà cả hệ thống giáo dục đại học trên thế giới nói chung, vốn đã bao hàm nhiều loại hình, thực thể phức tạp, nhiều chính sách thay đổi liên tục”, Tiến sĩ Phạm Hiệp cho hay.

Không chỉ thay đổi về danh xưng mà còn phải về thực chất

Cùng trao đổi về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận - người đã và đang giữ vai trò là Trưởng đoàn của nhiều đoàn đánh giá về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo đại học (đồng thời là nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ) cho rằng, khi chuyển đổi và xây dựng đề án nâng lên đại học, các trường đại học cần đặt ra câu hỏi điều này nhằm giải quyết vấn đề gì.

Nếu không làm rõ mục tiêu mà chỉ có sự thay đổi về mặt hình thức và danh xưng, thì đó chỉ như một kiểu “bình mới rượu cũ”.

Nước ta vốn có truyền thống lâu đời nay là “danh chính ngôn thuận”. Việc chuyển tên cơ sở giáo dục đại học giúp tạo điều kiện để chủ động phát triển mô hình hoạt động từ đơn lĩnh vực sang đa lĩnh vực. Điều này phải có sự phát triển cả chiều rộng về quy mô đến chiều cao về trình độ đào tạo.

Qua đó, các học giả nghiên cứu giáo dục đại học cho rằng, cơ sở đào tạo sẽ xây dựng được lực lượng lớn mạnh, quản trị hiệu quả, thể hiện năng lực tự chủ cao, có khả năng đào tạo, nghiên cứu liên ngành và đảm bảo chất lượng trong mọi hoạt động.

ứng vận.jpeg
Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ. Ông cũng từng đảm nhận vai trò Trưởng đoàn của rất nhiều Đoàn đánh giá ngoài về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo đại học. Ảnh: UEB

Theo quan điểm của Giáo sư Đặng Ứng Vận, những người quản lý giáo dục nên rút kinh nghiệm thực tiễn từ tổng kết mô hình của đại học quốc gia và đại học vùng. Tham khảo các mô hình tổng kết trước đó sẽ giúp chúng ta đưa ra được góc nhìn tổng quát chung về những điểm thuận lợi, vấn đề thách thức.

Từ đó, mỗi cơ sở giáo dục quyết định mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng, không chỉ là sự thay đổi về mặt hình thức.

Có thể nói, các đại học thành lập sau này sẽ gần giống với mô hình đại học vùng, còn đại học quốc gia có thể vốn sẵn có nhiều yếu tố ưu tiên đặc biệt hơn.

Khi phát triển thành đại học, cơ sở giáo dục cần chú trọng quan tâm về cơ chế quản lý, cơ cấu tổ chức. Việc nâng trường đại học lên đại học nảy sinh vấn đề là cơ sở đó có thể thực hiện tự chủ đạt đến mức độ nào. Nếu như không giải bài toán quản lý và thống nhất tốt, đơn vị đó có thể vẫn chưa phát huy được sức mạnh tự chủ của mình cũng như thế mạnh của các trường thành viên.

Còn về điều kiện cơ sở vật chất, Nhà nước đưa ra quy định tiêu chuẩn cụ thể rồi nên đây không phải là vấn đề chủ yếu. Mấu chốt là trong bối cảnh thực tế, mỗi cơ sở đơn vị phải xem xét và trao quyền tự chủ cho các trường thành viên trong đại học ở mức độ như thế nào. Các trường đại học muốn nâng cấp vị thế của mình cần có kế hoạch và giải pháp quản trị tương xứng.

Bên cạnh đó, để đạt được sự thống nhất tương đối trong văn hóa tổ chức của một trường đại học lớn, cần xét đến sự đa dạng về truyền thống, chuyên môn và giá trị học thuật giữa các trường thành viên. Đây là vấn đề đòi hỏi sự lãnh đạo và quản lý chiến lược phù hợp.

Lãnh đạo đại học phải thực hiện cách tiếp cận nhiều mặt, tôn trọng tính độc đáo của từng trường thành viên; đồng thời nuôi dưỡng văn hóa đại học gắn kết nhằm thúc đẩy sự hợp tác, hòa nhập và chia sẻ các giá trị chung.

Văn hóa coi trọng sự cởi mở, đổi mới và hợp tác giữa các trường thành viên, giữa các ngành, khuyến khích giảng viên và sinh viên tham gia giảng dạy và nghiên cứu liên ngành.

Các giá trị được chia sẻ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phá bỏ rào cản giữa các phòng ban và trường thành viên, thúc đẩy cách tiếp cận tích hợp hơn để giải quyết các vấn đề phức tạp.

Vì thế, cần đảm bảo rằng các giá trị và truyền thống cốt lõi được bảo tồn đồng thời thực hiện sứ mệnh mở rộng.

Còn Tiến sĩ Phạm Hiệp nhấn mạnh rằng: “Việc nâng trường đại học lên trở thành đại học không phải là con đường duy nhất để các trường đại học có thể phát triển đa ngành, đa lĩnh vực và nâng cao chất lượng đào tạo.

Trước hết, cần phải xác định việc đầu tư nâng cao chất lượng thực tế mới là con đường phát triển chung cho tất cả các trường, không nhất thiết phải phát triển thành đại học.

Thực tế, không phải trường đại học nào cũng có mong muốn trở thành đại học. Xét về đơn vị giáo dục tư nhân, hầu hết các đơn vị này không có mong muốn trở thành đại học, mà đa số nhu cầu này nằm ở hệ thống trường công bởi vì phụ thuộc vào cơ chế hiện tại.

Nếu có nhu cầu, điều kiện phát triển thành đại học thì phải có chiến lược, kế hoạch chi tiết để đầu tư hiệu quả; và việc phát triển thành đại học phải để thực hiện mục đích hoạt động hiệu quả và chất lượng tốt hơn, không phải là vấn đề vị thế hay tên gọi.

Bởi không chỉ để giải quyết câu chuyện đa ngành, đa lĩnh vực; mà việc trường đại học lên đại học còn là vấn đề về tự chủ: mức độ tự chủ có thể giúp cho các đơn vị có nhiều quyền linh động hơn và tận dụng được nguồn lực chung trong toàn bộ đại học.

Song, mỗi cơ sở giáo dục quyết định lựa chọn mô hình nào thì cần tối ưu trong loại hình đó; hơn nữa còn cần phù hợp với bối cảnh của từng quốc gia và từng đơn vị áp dụng.

Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 99/2019/NĐ-CP, điều kiện chuyển trường đại học thành đại học như sau:

- Trường đại học đã được công nhận đạt chuẩn chất lượng cơ sở giáo dục đại học bởi tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục hợp pháp;

- Có ít nhất 03 trường thuộc trường đại học được thành lập theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 99/2019/NĐ-CP; có ít nhất 10 ngành đào tạo đến trình độ tiến sĩ; có quy mô đào tạo chính quy trên 15.000 người;

- Có ý kiến chấp thuận của cơ quan quản lý trực tiếp đối với trường đại học công lập; có sự đồng thuận của các nhà đầu tư đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp đối với trường đại học tư thục, trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận.

Theo Luật Giáo dục đại học hiện hành, trường đại học và đại học là hai khái niệm khác nhau. Theo đó, về chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, quyền tự chủ của trường đại học và đại học cũng có những điểm khác biệt.

Chức năng nhiệm vụ:

- Trường đại học là đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng liên quan đến nhiều ngành (có thể trong một số lĩnh vực)

- Đại học là đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng liên quan đến nhiều lĩnh vực.

Về cơ cấu tổ chức:

- Trường đại học có Hội đồng trường; hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; khoa, phòng chức năng và đơn vị khác (nếu có).

- Đại học có Hội đồng đại học; giám đốc, phó giám đốc đại học; trường đại học thành viên; ban/phòng chức năng, khoa… và đơn vị khác (nếu có).

Về quyền tự chủ:

- Trường đại học tự chủ xác định mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ phù hợp với quy định của pháp luật; được tự chủ mở ngành, liên kết đào tạo với nước ngoài nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, trên cơ sở đạt kết quả kiểm định chất lượng.

- Đại học tự chủ xác định mục tiêu, sứ mạng, nhiệm phù hợp với quy định của pháp luật. Trường đại học thành viên phải thống nhất thực hiện mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung của đại học và mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ của trường mình, phù hợp với quy định của pháp luật và của đại học; Đại học được tự chủ mở ngành, liên kết đào tạo với nước ngoài nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

Lưu Diễm
NGUỒN:  Vì sao trường đại học đua nhau "lên đời" thành đại học? (GD 2/3/3034) [https://giaoduc.net.vn/vi-sao-truong-dai-hoc-dua-nhau-len-doi-thanh-dai-hoc-post241161.gd]
TIN LIÊN QUAN:
[https://giaoduc.net.vn/truong-dai-hoc-len-doi-thanh-dai-hoc-vi-danh-xung-hay-do-nhu-cau-thiet-thuc-post241039.gd]
+Phải chăng chuyển "trường đại học" lên "đại học" chỉ để tăng thêm nguồn thu?          [https://giaoduc.net.vn/phai-chang-chuyen-truong-dai-hoc-len-dai-hoc-chi-de-tang-them-nguon-thu-post232773.gd]