Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

20180903. LỜI CẢNH BÁO CHO GIỚI CÔNG AN

ĐIỂM BÁO MẠNG
TỬ HÌNH VÌ GIẾT NGƯỜI BIỂU TÌNH : TỪ LIBYA ĐẾN VIỆT NAM

PHẠM CHÍ DŨNG/ BVN 2-9-2018

clip_image002
Những người biểu tình hô khẩu hiệu chống lãnh đạo Libya, Muammar Gaddafi. Hình tư liệu.
Giới công an trị Việt Nam chỉ biết lấy thịt đè người và lấy đông hiếp yếu tuyệt đối không nên bỏ qua thông tin chấn động này: ngày 15/8/2018, Tòa án Phúc thẩm Tripoli ở Libya đã tuyên án tử hình 45 cựu quân nhân và 54 cựu quân nhân khác bị phạt 5 năm tù giam vì bị kết án giết hại người biểu tình tại thủ đô Tripoli trong cuộc nổi dậy chống chế độ độc tài Muammar Gaddafi năm 2011.
Bịt mặt cũng không thoát
Vụ án này xảy ra trước đó đúng bảy năm - 21/8/2011, ngày mà nhóm quân đội ủng hộ Gaddafi đã nổ súng và giết hàng chục người biểu tình gần khu vực Abu Slim. Chẳng bao lâu sau, cuộc cách mạng ‘Mùa xuân Ả rập’ đã giải thoát dân tộc Libya khỏi ách độc tài của chế độ Gaddafi. Muammar Gaddafi đã bị phe nổi dậy bắt và giết vào tháng 10/2011. Thân phận của kẻ độc tài tắm máu này chỉ được người ta nhìn thấy dưới một cái cống bẩn thỉu.
Libya dân chủ là quốc gia đầu tiên sau Cách mạng ‘Mùa xuân Ả rập’ hồi tố và truy cứu trách nhiệm một cách nghiêm khắc và hợp đạo đối với những kẻ giết người biểu tình trong quá khứ.
Nhưng vì sao hầu hết quân nhân chống biểu tình thời Gaddafi đều đội mũ hoặc che mặt nhưng vẫn bị phát hiện và bị truy cứu hình sự?
Sau khi Gaddafi bị lật đổ, các cơ quan tư pháp của Libya dân chủ đã bắt đầu tiến hành những cuộc điều tra về thủ phạm ra lệnh và thủ phạm thi hành vụ bắn giết người biểu tình. Một số sĩ quan quân đội phụ trách chống biểu tình và trực tiếp ra lệnh bắn vào đoàn người biểu tình đã bị bắt giữ. Và chính những kẻ này, hòng cứu vãn mạng sống của chúng, đã mau mắn khai ra những quân nhân cấp dưới nào của chúng đã trực tiếp nổ súng. Không mấy khó khăn, cơ quan tư pháp đã xác định được danh sách những tội phạm giết người.
Còn Việt Nam thì sao?

Đánh đập, tra tấn và ‘tự chết trong đồn công an’
Ở Việt Nam chưa đến giới hạn xảy ra những vụ bắn giết người biểu tình, cũng bởi phong trào phản kháng dân sự ở Việt Nam chưa đạt đến độ rung lắc mà khiến chế độ cầm quyền phải run sợ và phải ra lệnh cho cảnh sát cùng quân đội bắn thẳng vào đám đông biểu tình.
Nhưng đánh đập, đánh dã man người biểu tình cùng cảnh ‘tự chết’ của người dân trong đồn công an thì đã trở thành số nhiều.
Trong bảng vàng thành tích của Công an TP. HCM, trận đàn áp cuộc biểu tình vì môi trường vào ngày 8/5/2016 được gạch dưới như một đỉnh cao chói lọi: lực lượng ăn thuế của dân đã bắt đến 500 công dân biểu tình nhốt tại sân vận động Hoa Lư.
Xịt hơi cay, đánh đập đến đổ máu rất nhiều người, đấm đá đến ngất xỉu hai mẹ con tuần hành như một cách kỷ niệm “Ngày của Mẹ”…
Chẳng có gì là chứng cứ của “thế lực thù địch”. Chỉ toàn dân ra biểu tình. Rất nhiều gương mặt mới xuất hiện: kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, có cả giám đốc ngân hàng.
Ngày hè đỏ nắng và đỏ máu ở Sài Gòn. Khắp trung tâm thành phố này là cảnh “các lực lượng bảo vệ trật tự” nhe nanh lao vào hành hung không thương tiếc người biểu tình. Một số hình ảnh đã được xác minh: chính những nhân viên công an đã hóa trang làm thanh niên xung phong để tấn công dã man người biểu tình.
Hai năm sau đó, cuộc tổng biểu tình ngày Mười tháng Sáu năm 2018 ở Sài Gòn phản đối luật Đặc khu và luật An ninh mạng đã khiến nỗi sợ hãi của giới quan chức chính quyền tăng tiến vượt bậc, đến nỗi nghị trường quốc hội đang ồn ào yêu cầu ‘cần sớm ban hành luật Biểu tình’. Cuộc tổng biểu tình này đã có nhân số gấp 10 lần cuộc biểu tình chống giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vào năm 2014, khi lên đến hàng trăm ngàn người và bùng nổ tại trên 50% tỉnh thành trong quốc gia. Một lần nữa trong nhiều lần kể từ cuối năm 2011 khi thủ tướng thời đó là Nguyễn Tấn Dũng giao cho cơ quan chuyên đàn áp biểu tình là Bộ Công an soạn thảo luật Biểu tình, Tổng thư ký quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc hùa theo ‘Chính phủ đang tích cực chuẩn bị luật Biểu tình’.
Khó mà nhớ được đây là lần thứ mấy quan chức Nguyễn Hạnh Phúc hứa hẹn ‘đang tích cực chuẩn bị’, trong vô số phát ngôn đậm đà đầu môi chót lưỡi của giới quan chức Việt Nam.
Nhưng với người dân Việt, cái bánh vẽ luật Biểu tình đã công nhiên trở thành một thứ phế thải. Từ năm 2011 và đặc biệt từ năm 2014 đến nay, người dân Việt Nam đã tự động xuống đường mà bất cần một khung luật nào cho phép. Trong cơn phẫn nộ và bế tắc tận cùng, trong nỗi thất vọng vượt quá giới hạn trước một chế độ đặc trưng quá tham nhũng, độc đoán và khiến phát sinh đủ thứ hậu quả xã hội trầm kha, ngày càng có thêm nhiều người dân vượt qua nỗi sợ của mình để bước ra đường, mở miệng và thét to những gì họ muốn.
Song cuộc biểu tình thứ hai cùng tháng Sáu năm 2018 - diễn ra vào ngày Mười Bảy - đã bị Công an TP.HCM tái hiện cảnh đánh đập tra tấn người biểu tình như đã từng hành xử đối với cuộc biểu tình môi trường tháng Năm năm 2016, dã man đến mức nhiều người biểu tình bị hành hung đã lần đầu tiên phải thốt lên ‘Ác ôn cộng sản!’.
Vào cái ngày ác ôn trên, cả công viên Tao Đàn ở Sài Gòn đã bị biến thành một trại tập trung khổng lồ để giam giữ và tra tấn vài trăm người dân biểu tình. Tiếng kêu thét vì bị tra tấn dậy lên khắp nơi. Nhiều người dân Sài Gòn đã lần đầu tiên phải chứng kiến bản thân họ và đồng bào của họ bị giới ‘công an nhân dân’ tra tấn vào vùng kín của cơ thể.
Rất nhiều công an đã bị mặt trong khi thi hành nhiệm vụ ‘thanh bảo kiếm bảo vệ chế độ’. Hệt như những cảnh sát Ai Cập đã bịt mặt, cưỡi lạc đà lao vào đám đông biểu tình của người dân và vung roi quất lên đầu họ khi ‘Mùa xuân Ả rập’ bắt đầu.
Nhưng rốt cuộc, các chế độ độc tài đều sụp đổ và chẳng mấy kẻ bị mặt thoát nạn ‘quả báo’. Nhiều kẻ trong số đó đã bị chính quyền dân chủ trừng trị.
Vậy số phận của những công an bịt mặt ở Sài Gòn và ở nhiều tỉnh thành Việt Nam khi đàn áp, đánh đập nhân quyền, dân oan đất đai và tấn công người biểu tình liệu có thoát nạn quả báo trong tương lai không còn xa nữa?
Hãy nhìn vào sếp của những kẻ này.
Truy từ sếp công an
Vào cái đêm tối trời của con tàu sắp đắm và khiến hàng đàn chuột lúc nhúc bò khỏi chổ ẩn náu để thoát thân, hàng đàn hàng bầy quan chức Việt cũng âm thầm rồng rắn kéo nhau ‘ra đi tìm đường cứu nước’ ở Mỹ, Canada, Úc, Anh, Pháp và những nước Tây Âu, nhất là tìm đến những quốc gia không có hiệp định dẫn độ tội phạm hình sự với Việt Nam.
Những bầy quan chức trên lo sợ điều gì? Chế độ vẫn còn nằm trong tay họ kia mà?
Không, họ lo sợ về một sự thay máu chế độ như đã từng diễn ra ở ba nước Bắc Phi trong Cách mạng ‘Mùa xuân Ả Rập’. Họ lo sợ về một cơn cuồng bão nổi dậy của người dân Việt Nam sẽ nhấn chìm ‘con tàu cách mạng’ đầy ô nhục tham nhũng và sa đọa của họ xuống tận đáy đại dương.
Đây cũng đang là thời buổi của ‘thân ai người đó lo, hồn ai người đó giữ’. Không kẻ nào cứu kẻ nào nếu không bị ràng buộc quyền lực và lợi ích với nhau. Trong mọi thứ ích kỷ trên đời, ích kỷ về sinh mạng chính trị có lẽ là trội nhất. Sẽ chẳng có gì bảo đảm là những sỹ quan cảnh sát đã từng ra lệnh đánh đập tra tấn người biểu tình ở Việt Nam, khi đã nằm gọn trong vòng tay pháp luật hoặc bị lôi ngược về quê hương dù có tìm cách trốn biệt ra nước ngoài, sẽ không mau mắn khai báo cái danh sách những kẻ thừa hành mệnh lệnh ấy, bất chấp lũ thừa hành đã cố che mặt càng kín càng tốt để khỏi bị người dân và nạn nhân nhận dạng chúng.
Các cấp ‘trưởng phòng nghiệp vụ’ của công an tỉnh thành, cùng cấp trưởng phó công an quận, phường là những quan chức công an nắm rõ nhất danh sách những nhân viên công an bịt mặt đánh người và tra tấn đến chết người. Người dân chỉ cần lập hồ sơ sơ bộ về những vụ đánh đập, tra tấn và giết người trong đồn công an xảy ra vào thời điểm nào, tại đâu và kèm theo bằng chứng (nếu có), để dùng cho việc truy cứu trách nhiệm trong tương lai.
Sẽ là Libya ở Việt Nam?
Đánh đập và tra tấn dã man lại rất thường là biểu hiện của giai đoạn cuối cầm quyền của một chế độ độc tài. Sự phẫn nộ của dân chúng sẽ đẩy đến những cuộc biểu tình tự phát, không chỉ với những đám đông bình thường như trước đây mà sẽ biến thành một phong trào biểu tình khổng lồ. Nhưng thói quen sợ hãi xen độc trị của chế độ có thể sẽ biến thành những mệnh lệnh sát nhân. Quân đội và công an có thể sẽ phải nhận lệnh bắn thẳng vào đoàn người biểu tình.
Khi đó, kịch bản Libya năm 2011 sẽ tái hiện ở Việt Nam.
Và những năm sau đó khi một chế độ dân chủ chắc chắn sẽ được hình thành ở Việt Nam, kịch bản Libya ‘xử tử hình 45 cựu quân nhân vì giết người biểu tình’ cũng sẽ là một tấm gương phản tỉnh không thể cưỡng chống trên mảnh đất ‘lệ rơi hình chữ S’ này.
P.C.D.
Tác giả gửi BVN

XIN HỎI 2 ÔNG TƯ SANG VÀ BA DŨNG

NGUYỄN ĐĂNG QUANG/ BVN 2-9-2018

Cách đây 4 năm, trước việc các LLVT (gồm quân đội và công an) bị huy động tùy tiện và trái pháp luật vào các cuộc cưỡng chế, giải tỏa đất đai bất hợp pháp, và nhất là vào việc ngăn chặn, cản trở các cuộc biểu tình yêu nước của toàn dân phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo Tổ quốc, ngày 2/9/2014, hai mươi (20) cựu sĩ quan Quân đội và Công an chúng tôi đã cùng nhau ký kiến nghị gửi tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (sau đây gọi tắt là “Kiến nghị 20”). Kiến nghị nêu 4 yêu cầu rất cụ thể. Tôi xin đề cập 2 trong 4 đòi hỏi của “Kiến nghị 20” này như sau:
Kiến nghị 1 nêu rõ: “Không được huy động Quân đội và Công an vào bất cứ việc gì có hại cho nhân dân. Quân đội có nhiệm vụ Hiến định là “Bảo vệ Tổ quốc chống ngoại xâm”, do vậy tuyệt đối không được huy động Quân đội vào những việc mang tính đối kháng với nhân dân, như giải tỏa đất đai, ngăn chặn các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa... Công an có nhiệm vụ Hiến định là “Bảo vệ An ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm”, do vậy tuyệt đối không lạm dụng Lực lượng Công an vào việc đàn áp những người dân vô tội đấu tranh đòi giải quyết những quyền lợi hợp pháp của mình!” (hết trích 1)
Kiến nghị 4 nêu cụ thể: “Là người chủ và người bảo vệ đất nước, Nhân dân và LLVT Việt Nam phải được biết chính xác hoàn cảnh thực tế của Quốc gia. Vì vậy, Nhà nước phải báo cáo rõ với nhân dân về thực trạng quan hệ Việt-Trung, và về những ký kết liên quan đến lãnh thổ trên biên giới, biển đảo... Về Hội nghị Thành Đô, có tin nói Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo đã công bố nội dung thỏa thuận giữa 2 bên, trong đó trích dẫn: “Việt Nam mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng và Quảng Tây... Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận yêu cầu nói trên, và cho Việt Nam thời hạn 30 năm (1990-2020) để ĐCSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Hoa”. Chúng tôi không rõ thật giả thế nào, yêu cầu Chủ tịch và Thủ tướng cho chúng tôi và nhân dân biết rõ thỏa thuận tại Thành Đô năm 1990” (hết trích 2)
Kiến nghị trên được gửi ông Tư Sang và Ba Dũng đã tròn 4 năm. Đến nay cả 2 ông đều đã nghỉ hưu để “ráng làm người tử tế”! Song rất buồn và đáng trách, giống hệt như các Lãnh đạo cao cấp khác, 2 ông Tư và Ba này đã không trả lời “Kiến nghị 20” một câu! Phải chăng trong đầu và trái tim họ đã mất hết suy nghĩ về nghĩa vụ và trách nhiệm của người lãnh đạo đối với công dân, mà trong trường hợp này lại là đồng đội, đồng chí của mình? Đây quả là cách ứng xử lạ lùng và kỳ cục nếu không nói là thiếu chuẩn mực đạo đức và luật pháp, mà chỉ duy nhất thấy ở lãnh đạo các quốc gia theo thể chế độc tài, toàn trị!
Trong số 20 cựu sỹ quan LLVT ký tên, người trẻ nhất nay cũng đã 77 tuổi, còn người cao tuổi nhất đã bước sang tuổi đại thượng thọ: 103 tuổi! Đó là lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền VN tại TQ. Tướng Vĩnh vào Đảng năm 1939, được phong hàm Thiếu tướng năm 1959! Trong tất cả sỹ quan cấp tướng do đích thân Chủ tịch HCM tấn phong, cụ là người duy nhất còn sống cho đến nay! Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh kể lại cho tôi chuyện sau: Lúc đương chức, cả 2 ông Tư Sang và Ba Dũng đều cử phái viên đến thăm cụ. Một lần ông Ba Dũng cử 1 vị tướng đến thăm với mục đích thẳng băng là yêu cầu cụ bớt phê phán và lên án ông ta! Ông tướng này (chỉ bằng tuổi con cụ) nói: “Bác nguyên là Trung ương Ủy viên, tôi cũng là nguyên Ủy viên Trung ương. Bác là sỹ quan cấp tướng, tôi cũng cấp tướng!” Nghe đến đây, cụ bèn ngắt lời khách: “Không dám! Tôi vào Đảng khi anh còn chưa sinh. Còn khi tôi được phong hàm tướng và tham gia BCHTW, có lẽ lúc đó anh mới chỉ học cấp 1. Anh so sánh như vậy là khập khiễng! Vả lại khi tôi được phong tướng và được bầu vào Trung ương, thời kỳ ấy Đảng ta còn rất trong sạch, chứ đâu như bây giờ! Nay tất cả là do đồng tiền chi phối và quyết định, khác hẳn trước đây”! Biết là thất thố và không thể đối đáp tiếp, ông tướng nọ vội vàng cáo lui, lẳng lặng ra về!
Đến nay có 1/5 số ký “Kiến nghị 20” đã rời cõi tạm về nơi vĩnh hằng! Đó là Thiếu tướng Lê Duy Mật và 4 đại tá: Bùi Văn Bồng, Phạm Hiện, Nguyễn Thế Trường và Lê Hồng Hà! Xin mạn phép hỏi ông Tư Sang và Ba Dũng: Vì lý do gì mà các ông không phúc đáp và trả lời 4 vấn đề nêu trong “Kiến nghị 20” gửi các ông 4 năm trước? Thực sự là do đâu? Chắc ở dưới suối vàng, 5 sỹ quan quá cố và khả kính kia sẽ không tha thứ cho 2 ông về tội đã phớt lờ bổn phận và đạo lý của mình! Bốn yêu cầu trong “Kiến nghị 20” đâu phải là những đòi hỏi vô lý, ngược lại đấy là những vấn đề rất thiết thực, nằm trong khuôn khổ và phù hợp với Hiến pháp! Trong số ký “Kiến nghị 20” có nhiều người đáng tuổi cha chú hai ông, họ góp phần xương máu trong 3 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để các ông được cơ cấu “làm đày tớ của dân” (lời Chủ tịch HCM)! Đảng bố trí các ông ngồi vào 2 trong 4 ghế tứ trụ triều đình để phục vụ ai? Các ông đã coi khinh, không lên tiếng trả lời, vậy lương tâm các ông còn không? Các ông hành xử bất tín, bất nghĩa, vô chính trị như vậy là ý muốn cá nhân hay theo chỉ đạo của ai đó, thưa 2 ông?
Mong rằng cách ứng xử thiếu văn hóa, khiếm nhã và vô đạo lý nói trên sẽ không bao giờ lặp lại trong sinh hoạt chính trị, nhất là trong tư duy của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta!
Hà Nội, ngày 2/9/2018.
N.Đ.Q.
(P/s: Xin mời quý độc giả đọc toàn văn bản “Kiến nghị 20” dưới đây:)
KIẾN NGHỊ CỦA 20 CỰU SĨ QUAN LLVT GỬI LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC VÀ CHÍNH PHỦ CHXHCNVN
Ngày 2 tháng 9 năm 2014
KÍNH GỬI:
- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thống lĩnh các Lực lượng Vũ trang nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.
- Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Chúng tôi là những người lính trọn đời “Trung với Nước, Hiếu với Dân”, luôn trăn trở với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân. Đứng trước tình hình nghiêm trọng, đe dọa an ninh, chủ quyền và sự phát triển của Quốc gia, chúng tôi vô cùng lo lắng và thấy cần phải kiến nghị với Lãnh đạo Nhà nước một số điểm như sau.
1. Lực lượng vũ trang mang tên Nhân dân phải luôn luôn vì Nhân dân, nên không được huy động Quân đội và Công an vào bất cứ việc gì có hại cho Nhân dân. Sức mạnh của Lực lượng vũ trang chỉ có được khi dựa vào Nhân dân, nên không được đánh mất tín nhiệm đối với Nhân dân. Vì vậy, để bảo vệ uy tín của Quân đội là lực lượng có nhiệm vụ hiến định “quốc phòng”, tức là bảo vệ Tổ quốc trước ngoại xâm, cần chấm dứt ngay việc huy động Quân đội vào những sự vụ mang tính đối kháng với Nhân dân, như giải tỏa đất đai, ngăn chặn các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa… Để khôi phục uy tín của Công an, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ hiến định “bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”, tuyệt đối không lạm dụng lực lượng Công an vào việc đàn áp những người dân vô tội, chỉ yêu cầu giải quyết quyền lợi hợp pháp của mình.
2. Các chiến sĩ Lực lượng vũ trang chỉ có thể yên tâm rèn luyện và sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc khi tin tưởng rằng cống hiến của họ luôn được Nhà nước ghi nhận thỏa đáng và gia đình của họ sẽ được Nhà nước chăm sóc chu đáo. Việc cố tình phớt lờ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và mấy trận chiến bảo vệ biển đảo không chỉ phủ nhận lịch sử, xúc phạm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần và quyết tâm chiến đấu của Lực lượng vũ trang. Đó là sai lầm không được phép tái phạm. Để khắc phục hậu quả, phải nhanh chóng giải quyết những cách cư xử không đúng đối với với thương binh và gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, phải sớm khôi phục danh dự và quyền lợi đã bị lãng quên của các liệt sĩ và thương binh đã hy sinh xương máu trong chiến tranh biên giới phía bắc và ngoài biển đảo, gấp rút tu bổ các nghĩa trang liệt sĩ dọc biên giới phía Bắc đã bị bỏ bê hơn hai chục năm qua.
3. Lực lượng vũ trang cần được xác định rõ ràng và chính xác đối thủ, không thể mơ hồ biến thù thành bạn hoặc coi bạn là thù. Đối tượng tác chiến của Quân đội phải là những thế lực có thể đe dọa chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong hiện tại và tương lai, chứ không thể là những đối thủ đã thuộc về quá khứ. Đối tượng khống chế của Công an phải là những kẻ tội phạm và các hành vi vi phạm hiến pháp, pháp luật, dù ở trong hay ngoài bộ máy cầm quyền, chứ không thể là những người dân vô tội. Lịch sử đã chỉ ra rằng Nhân dân ta phải thường xuyên đề cao cảnh giác trước nguy cơ ngoại xâm từ nước láng giềng phương Bắc. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trên vùng đặc quyền kinh tế của của chúng ta, tuy nay đã tạm rút đi, nhưng vẫn cho thấy họ không hề từ bỏ quyết tâm bá chiếm Biển Đông. Lịch sử cũng cho thấy, sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước cựu thù đã hợp tác với nhau rất hiệu quả và bền vững, ví dụ như mối quan hệ giữa CHLB Đức và ba nước Mỹ, Anh, Pháp, giữa Nhật Bản và Mỹ, giữa Việt Nam và hai nước Pháp, Nhật Bản. Do đó, không thể vì những quan niệm bảo thủ, giáo điều mà đánh mất các cơ hội hợp tác với các cường quốc tiên tiến văn minh, nhằm phát triển kinh tế, công nghệ, nâng cao sức mạnh quốc phòng và tăng cường sự ủng hộ quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.
4. Là người chủ và người bảo vệ đất nước, Nhân dân và lực lượng vũ trang phải được biết chính xác hoàn cảnh thực tế của Quốc gia. Vì vậy, Nhà nước phải báo cáo rõ ràng với Nhân dân về thực trạng quan hệ Việt-Trung và về những ký kết liên quan đến lãnh thổ trên biên giới, biển đảo và các hợp đồng kinh tế ảnh hưởng lớn đến an ninh và chủ quyền của Quốc gia. Về Hội nghị Thành Đô, có tin nói rằng Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đã công bố nội dung thỏa thuận giữa hai bên, trong đó trích dẫn: “Việt Nam mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây... Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. Chúng tôi không biết thật giả thế nào, yêu cầu Chủ tịch và Thủ tướng cho chúng tôi và nhân dân biết rõ thỏa thuận tại Hội nghị Thành Đô năm 1990. Chuyến đi thăm Trung Quốc gần đây của đặc phái viên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã thỏa thuận với phía Trung Quốc về ba nguyên tắc chỉ đạo phát triển quan hệ Việt-Trung mà nội dung chỉ nhắc lại những câu sáo ngữ, không nói gì tới thực trạng và các biện pháp chấm dứt các hành động ngang ngược của thế lực bành trướng Trung Quốc xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta trong mưu đồ bá chiếm Biển Đông. Chưa biết bên trong còn có những thỏa thuận cụ thể gì, nhưng toàn dân và toàn quân yêu cầu lãnh đạo Đảng và Nhà nước có đối sách đúng đắn trước mưu đồ và hành vi xâm lược của thế lực bành trướng Trong Quốc, không thể chấp nhận thái độ thể hiện sự thần phục họ, và càng đòi hỏi phải công khai, minh bạch thực trạng quan hệ giữa hai bên.
Trên đây là mấy đòi hỏi cấp bách, nhằm khôi phục uy tín của Quân đội và Công an trong Nhân dân, đồng thời tăng cường sức chiến đấu của Lực lượng vũ trang, để có thể đáp ứng được những thách thức to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
DANH SÁCH KÝ TÊN:
1. Lê Hữu Đức, Trung tướng, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.
2. Trần Minh Đức, Thiếu tướng, nguyên Phó Tư lệnh hậu cần Mặt trận Trị Thiên - Huế.
3. Huỳnh Đắc Hương, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào.
4. Lê Duy Mật, Thiếu tướng, nguyên Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2, cựu Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) 1979-1984.
5. Bùi Văn Quỳ, Thiếu tướng, nguyên Phó Tư lệnh chính trị Binh chủng Tăng-Thiết giáp.
6. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, nguyên Chính ủy Quân khu 4.
7. Bùi Văn Bồng, Đại tá, nguyên Trưởng Đại diện báo Quân đội Nhân dân tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
8. Phạm Quế Dương, Đại tá, nguyên TBT tạp chí Lịch sử Quân sự.
9. Nguyễn Gia Định, Nghệ sĩ ưu tú Điện ảnh quân đội.
10. Lê Hồng Hà, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Công an, Ủy viên Đảng đoàn Bộ Công an.
11. Phạm Hiện, Đại tá, nguyên Chánh Văn phòng B.68 Đoàn chuyên gia giúp Campuchia.
12. Phạm Xuân Phương, Đại tá, nguyên chuyên viên Cục Nghiên cứu Tổng cục Chính trị.
13. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá, nguyên cán bộ Bộ Công an.
14. Đào Xuân Sâm, Cựu chiến binh Hà Nội, nguyên Chủ nhiệm khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
15. Tạ Cao Sơn, Đại tá, nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.
16. Đoàn Sự, Đại tá, nguyên Phó Cục trưởng Cục Xuất bản Tổng cục Chính trị.
17. Lê Văn Trọng, Đại tá, nguyên Trưởng Ban lịch sử Cục Nghiên cứu Bộ Tổng Tham mưu.
18. Nguyễn Thế Trường, Đại tá, nguyên TBT báo Quân giải phóng Trung Trung bộ.
19. Nguyễn Văn Tuyến, Đại tá, cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên cán bộ Viện Lịch sử Quân sự.
20. Nguyễn Huy Văn (tức Kim Sơn), Đại tá, cán bộ lão thành cách mạng, nguyên Phó Trưởng phòng Sở chỉ huy Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu ./.
Tác giả gửi BVN

NGÀY 2 THÁNG CHÍN

PHẠM ĐÌNH TRỌNG/ BVN3-9-2018

Ngày 2 tháng Chín, 2018, công an bủa vây bịt bùng trước nhà nhiều người dân trên khắp mọi miền đất nước. Hai trung tâm chính trị văn hóa, xã hội, hai không gian tiêu biểu cho đời sống dân sự đất nước, tiêu biểu cho bộ mặt xã hội Việt Nam là Hà Nội và Sài Gòn không những là hai nơi số người dân bị công an nhà nước cộng sản bủa vây, ngăn chặn không cho ra khỏi nhà nhiều nhất mà trên khắp đường phố Hà Nội, Sài Gòn còn rải đầy sắc áo công an, dân phòng trang bị roi điện, dùi cui, trang bị cả bộ mặt thú săn hầm hầm sát khí. Khắp các ngả đường trung tâm hai thành phố lớn nhất nước giăng trùng trùng lớp lớp rào sắt, kẽm gai.
Ngày 2 tháng Chín, 2018, Hà Nội, Sài Gòn như hai thành phố bị chiếm đóng, hai thành phố bị bạo lực nhà nước cộng sản phong tỏa. Vậy mà dịp này bộ máy tuyên truyền nhà nước cộng sản Sài Gòn đã lấy hàng tỉ tiền thuế của dân in hàng triệu tài liệu tô vẽ về ngày Quốc khánh 2.9 mang đến phát cho từng nhà dân: “Đã trở thành truyền thống, ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 là dịp cả đất nước, cả dân tộc hân hoan, náo nức mừng Tết Độc lập, cũng là dịp nghỉ lễ dài ngày để người dân nghỉ ngơi, đoàn tụ, vui chơi, giải trí cùng gia đình và bạn bè”.
Đúng là lươn lẹo tuyên huấn, nắm đấm công an. Hai đặc trưng nổi bật nhất của nhà nước cộng sản. Hai công cụ, hai sức mạnh bảo đảm lớn nhất cho sự tồn tại của nhà nước cộng sản. Tồn tại bằng lừa bịp tuyên truyền và bạo lực chuyên chính và dịp 2.9 hàng năm là dịp nhà nước cộng sản Việt Nam phô trương, thi thố hai sức mạnh này rầm rộ nhất, hợm hĩnh nhất. 
Nhưng ngày 2 tháng Chín có đúng là ngày Quốc khánh, ngày Độc lập không?
Trước ngày 2.9.1945 sáu tháng, ngày 11.3.1945, tại kinh kì Huế, vua Bảo Đại tuyên bố trước quốc dân Việt Nam và thế giới rằng:  Chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Việt Nam khôi phục quyền độc lập.
Tuyên bố một nước độc lập là điều hệ trọng, lớn lao của một giống nòi, một đất nước trước lịch sử. Không phải ai cũng có thể tuyên bố. Người đứng đầu một triều đình, một nhà nước đã được lịch sử công nhận mới được quyền tuyên bố và tuyên bố đó mới hợp pháp và có giá trị lịch sử.
Triều nhà Nguyễn có công thống nhất đất nước từ mỏm cực Bắc Lũng Cú, Hà Giang đến đảo Thổ Chu, Kiên Giang chót cùng cực Nam, từ Trường Sơn đến Trường Sa. Triều nhà Nguyễn  cũng có công kế tục triều nhà Lê đưa đội binh ra trấn giữ quần đảo Hoàng Sa. Triều nhà Nguyễn có công rất lớn mở mang bờ cõi về phía Nam và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ ở biên cương phía Bắc, giữ nguyên vẹn toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Bảo Đại là vị vua hợp pháp của một triều đình đã trị vì Việt Nam gần 200 năm, triều đình nhà Nguyễn, là người có đầy đủ tư cách với người dân Việt Nam, với thế giới và với lịch sử tuyên bố Việt Nam độc lập và ngày Độc lập thực sự của Việt Nam là ngày 11.3.1945.
Sự cai trị, đô hộ của thực dân Pháp xâm lược đã cướp mất nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Có đầy đủ tư cách tuyên bố độc lập cho Việt Nam, người đứng đầu triều đình chính danh nhà Nguyễn chỉ tuyên bố ngắn gọn hai điều: Bác bỏ sự bảo hộ của nước Pháp và khôi phục nền độc lập cho Việt Nam. Đó là tuyên bố của giống nòi Việt Nam, tuyên bố của lịch sử Việt Nam.
Chính những người cộng sản Việt Nam đã ghi vào lịch sử nhà nước cộng sản Việt Nam rằng cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng cướp chính quyền. Chính quyền có được bằng ăn cướp, không được người dân chấp thuận bằng lá phiếu, không được bất kì nước nào trên thế giới công nhận. Hồ Chí Minh, người đứng đầu chính quyền ăn cướp bất hợp pháp không có bất kì tư cách nào để tuyên bố Việt Nam độc lập. Ngày 2.9.1945 chỉ là ngày những người cộng sản Việt Nam kết thúc việc cướp chính quyền trên toàn cõi Việt Nam mà thôi.
Chính quyền cướp được mà có nên 73 năm đã qua, vẫn một không khí bạo lực, cướp bóc rình rập bao trùm xã hội. Công cụ bạo lực rình rập trước cửa từng nhà người dân. Sức mạnh bạo lực rầm rộ triển khai giữa bình minh thành phố, giữa cuộc sống người dân. Độc lập chi mà khốn khổ vậy!
P.Đ.T.
Tác giả gửi cho BVN

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

20180902. BÌNH LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH CHO LƯU HÀNH TIỀN TQ Ở VIỆT NAM

ĐIỂM BÁO MẠNG
'CHƯA NÊN CHO PHÉP THANH TOÁN BẰNG NHÂN DÂN  TỆ Ở VIỆT NAM'

PHONG NGUYÊN/ BVN 1-9-2018

Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, TS Cao Sỹ Kiêm đưa ra hàng loạt lý do chính đáng bảo vệ quan điểm chưa nên cho thanh toán bằng Nhân dân tệ ở Việt Nam. 
Mới đây, Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã có báo cáo gửi Chính phủ, trong đó có ý kiến của Hiệp hội doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam và Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC) kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thanh toán Nhân dân tệ trực tiếp tại Việt Nam. Đề xuất này đang “gây bão” trong dư luận.
Phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TS Cao Sỹ Kiêm – nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về vấn đề này.
- TS có ý kiến gì về đề xuất Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thanh toán Nhân dân tệ trực tiếp tại Việt Nam của Hiệp hội doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam và Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC)?
http://img.giaoduc.net.vn/w801/Uploaded/2018/aszyryrfjpy/2015_01_05/caoykiem_1.jpg
TS. Cao Sỹ Kiêm – nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Theo tôi, Việt Nam chưa nên chấp thuận đề nghị trên".
TS Cao Sỹ Kiêm: Đồng Nhân dân tệ đang có khuynh hướng quốc tế hóa và nó đã được cho phép lưu hành ở một số nước. Kinh tế của Trung Quốc đang phát triển và có vị trí trên thế giới, họ đề nghị như thế là có cơ sở nhưng chúng ta cần phải cân nhắc, nghiên cứu kỹ chứ chưa thể làm ngay được.
Nguyên nhân là bởi ở Việt Nam, sức cạnh tranh của chúng ta còn chưa lớn, khả năng quản lý thị trường của chúng ta chưa được nâng lên nên dù giữa ta và Trung Quốc có mối quan hệ giao lưu hàng hóa rất rộng, theo tôi, Việt Nam chưa nên chấp thuận đề nghị trên.
Về lâu dài, chúng ta cũng nên nghiên cứu về việc này, nhưng trước mắt Chính phủ cần phải cân nhắc nhiều yếu tố như quan hệ kinh tế, năng lực cạnh tranh… Nền kinh tế Việt Nam lệ thuộc nhiều hay ít vào Trung Quốc là do vấn đề này.
- Phải chăng Trung Quốc đang có ý định thay thế đồng USD bằng đồng Nhân dân tệ và muốn quốc tế hóa đồng tiền của họ? Theo ông đề xuất này nếu thành hiện thực sẽ ảnh hưởng thế nào tới nền kinh tế Việt Nam?
TS Cao Sỹ Kiêm: Nếu đồng Nhân dân tệ được cho phép thanh toán ở Việt Nam đồng nghĩa với việc Trung Quốc mở rộng được phạm vi thanh toán và như một lẽ tất yếu, hàng hóa của họ sẽ tràn lan ở thị trường Việt Nam. Khi đó, nếu không quản lý được, nền kinh tế của ta sẽ gặp rất nhiều bất lợi, khó khăn.
Không chỉ thế, nếu họ tiêu tiền nhiều ở đất nước ta, họ sẽ còn chủ động trong việc phát hành. Cùng với đó, họ sẽ chủ động trong việc đầu tư vào kênh nào, loại hàng hóa nào và hơn tất cả là họ có thể tung tiền ra, rút tiền về. Điều đó sẽ gây ảnh hưởng lớn tới việc điều hành chính sách tiền tệ của ta.
Nói cách khác, đề xuất trên nếu được chấp thuận, thông qua sẽ làm hạn chế khả năng điều hành chính sách tiền tệ của ta. Không chỉ thế, trật tự của thị trường cũng sẽ bị đảo lộn và đời sống của người dân cũng sẽ bị ảnh hưởng nếu chúng ta không kiểm soát, quản lý được.
- Trao đổi với báo chí mới đây, TS Lê Đăng Doanh cho rằng đề nghị trên vi phạm chủ quyền của chúng ta. Quan điểm của ông thế nào?
http://img.giaoduc.net.vn/w801/Uploaded/2018/aszyryrfjpy/2015_01_05/nhandante.jpg
TS. Cao Sỹ Kiêm cho rằng, chưa nên cho phép thanh toán bằng Nhân dân tệ ở Việt Nam (Ảnh: Internet)
TS Cao Sỹ Kiêm: Chủ quyền có bị xâm phạm hay không là do chúng ta quyết định. Nếu chúng ta thấy sức cạnh tranh đã đủ lớn và có thể hợp pháp hóa việc sử dụng đồng Nhân dân tệ bằng các nghị định, quy định của chúng ta để có cơ sở kiểm soát chặt chẽ thì chủ quyền sẽ không bị ảnh hưởng, xâm phạm.
Còn nếu ta không giữ được độc lập về kinh tế, độc lập trong việc quản lý chính sách thì chủ quyền của ta sẽ bị ảnh hưởng, xâm phạm.
- Một trong những lý do mà hai đơn vị trên của Trung Quốc đưa ra đề xuất Việt Nam cho phép thanh toán bằng Nhân dân tệ là nhu cầu giao dịch, thanh toán bằng Nhân dân tệ tại Việt Nam khá lớn và tăng lên rõ rệt. Từ thực tế, ông có thấy vậy không?
TS Cao Sỹ Kiêm: Rõ ràng số lượng hàng hóa mà Việt Nam giao dịch với Trung Quốc đang tăng lên, chiếm tỷ lệ lớn nên nhu cầu thanh toán bằng đồng Nhân dân tệ phải tăng theo.
- Được biết phía Trung Quốc cũng lập luận rằng ở biên giới Việt - Trung đã sử dụng rộng rãi đồng Nhân dân tệ. Theo ông tại sao lại có thể có giao dịch lên đến 15 tỷ USD bằng đồng Nhân dân tệ ở biên giới được? Việc này có vi phạm pháp luật không và ai sẽ phải chịu trách nhiệm về việc này?
TS Cao Sỹ Kiêm: Hiện nay, chưa có đồng tiền nào khác được phép lưu hành tại Việt Nam nên việc sử dụng quá nhiều đồng Nhân dân tệ ở khu vực biên giới như trên là vi phạm luật pháp của ta. Ở khu vực biên giới có những giao dịch khác với các khu vực khác trong nước, do vậy trong việc điều hành chính sách tiền tệ cũng có những quy định, quy chế riêng cho việc thanh toán hàng hóa ở khu vực biên giới.
Tuy nhiên, để xảy ra tình trạng trên, Ngân hàng Nhà nước phải chịu trách nhiệm. Họ phải quản lý chặt chẽ hơn nữa, có các quy định cụ thể và phải kiểm tra, kiểm soát thường xuyên việc thực thi luật và phải xử lý nghiêm các vi phạm như trên ở khu vực biên giới. Ngoài ra, muốn chấm dứt tình trạng trên, chúng ta cũng phải quản lý chặt chẽ chính sách ngoại hối.
- Về lâu dài, nếu cho phép đồng Nhân dân tệ được thanh toán ở Việt Nam, theo ông chúng ta nên sử dụng ở mức độ nào, trên kênh nào và với loại hàng hóa nào?
TS Cao Sỹ Kiêm: Ngay cả khi Nhân dân tệ được cho phép thanh toán ở Việt Nam, chúng ta vẫn phải dùng một đồng tiền khác như USD để quy đổi, thanh toán chứ không thể để đồng Nhân dân tệ tràn ngập ở thị trường trong nước được.
Hiện nay, ngoài USD, chúng ta chưa cho thanh toán bằng các loại đồng tiền khác ở Việt Nam. Do vậy, mọi thanh toán khi mua bán, trao đổi hàng hóa phải thông qua đồng ngoại tệ mạnh khác như USD chứ chưa thể thanh toán bằng Nhân dân tệ.
Muốn đồng Nhân dân tệ được cho phép thanh toán ở Việt Nam, chúng ta phải chờ sự phát triển hơn nữa của nền kinh tế, khả năng quản lý của ta tốt hơn cũng như phải chờ đến khi mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam - Trung Quốc phát triển đến mức độ nào đó.
Chính phủ sẽ quyết định việc này, nhưng theo tôi ở thời điểm này chưa nên cho phép thanh toán bằng Nhân dân tệ ở Việt Nam.
- Xin cảm ơn ông!
P.N.
Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/TS-Cao-Sy-Kiem-Chua-nen-cho-phep-thanh-toan-bang-Nhan-dan-te-o-Viet-Nam-post154245.gd


NHÂN DÂN TỆ (CNY) HÓA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ?

NGUYỄN QUANG A/ BVN 1-8-2018

- Điều 8 của Hiệp định Thương mại biên giới giữa Chính phủ VN và Chính phủ TQ, do các Bộ trưởng Thương mại Trần Tuấn Anh và Cao Hồ Thành ký ngày 12-9-2016 tại Bắc Kinh, quy định thanh toán bằng VND hay CNY hay ngoại tệ chuyển đổi cho thương mại biên giới Việt-Trung.
- Thông tư số 19/2018/TT-NHNN cụ thể hoá Điều 8 kể trên và cho phép thương nhân VN và TQ thanh toán bằng VND, CNY và ngoại tệ chuyển đổi (kể cả tiền mặt) cho các giao dịch thương mại biên giới (chắc sẽ gồm cả dịch vụ) trên 1450 km biên giới giữa hai nước.
- Khái niệm thương nhân không được định nghĩa (một cách có chủ ý?) trong thông tư này. Thương nhân có thể là các pháp nhân (công ty, tổ chức thương mại có đăng ký) nhưng cũng có thể là dân cư thường đi chợ biên giới mua sắm đồ. Khái niệm tù mù về "thương nhân" và việc cho phép dùng tiền mặt sẽ có những hệ quả nhãn tiền, dễ thấy và khôn lường (tôi không tin những chuyên gia soạn TT này không nhận ra) đối với chủ quyền của Việt Nam.
- Nền kinh tế VN đã một thời bị USD hoá, vàng hoá và chúng ta đã mất rất nhiều công sức và tiền bạc để xoá bỏ các sự "USD và vàng hoá" đó. Với Thông tư 19/2018, NHNN đã mở (hay buộc phải mở) đường cho sự Nhân dân tệ hoá nền kinh tế Việt Nam, một việc mà NHNN phải CHỐNG như đã chống sự dollar hoá và vàng hoá. Đấy là một hệ quả dễ thấy của TT này. Nói cách khác sẽ đến ngày dân Việt ở các tỉnh biên giới, thí dụ Quảng Ninh (thí dụ dân Cà Mau đi thăm Yên Tử hay đi nghỉ ở Bãi cháy, Vịnh Hạ Long) sẽ mua hàng và dịch vụ và thanh toán bằng Nhân dân tệ. Đó không phải là phỏng đoán viển vông mà là sẽ sự thực lúc nào không rõ.
Chính sách tằm ăn dâu này mới THẬM NGUY LÀM SAO. Đấy có phải là các bước đi từ từ để bán nước?
Năm 2011 lần đầu từ Mỹ sang Canada, ngó thác Negara hùng vĩ, ghé quán ăn gần biên giới, không có tiền Canada: thanh toán tiền Mỹ được không? KHÔNG, các vị đang ở Canada không phải ở Mỹ! Đấy là câu trả lời dứt khoát của nhân viên cửa hàng.
Trọng Ngân Quang Phúc có nghe thấy không? Hay chỉ nghe Tập đại ca thôi? Sao tụi bay sánh được với nhân viên hàng ăn Canada.

Dân Trung Quốc tự do giao thương tại biên giới Việt Nam
Dân Trung Quốc tự do giao thương tại biên giới Việt Nam. Ảnh: Đại biểu nhân dân.
'TÔI ĐỀ NGHỊ XÉT LẠI VIỆC CHO LƯU HÀNH TIỀN TQ Ở VN'

QUỐC PHƯƠNG /BBC 1-9-2018

"Chủ quyền về tài chính, chủ quyền về tiền tệ là một trong những nội dung hết sức quan trọng về chủ quyền kinh tế," Tiến sỹ Lê Đăng Doanh bình luận với BBC về một quyết định của Nhà nước Việt Nam cho phép lưu hành đồng Nhân Dân Tệ của Trung Quốc song song với đồng tiền Việt Nam tại các tỉnh biên giới giáp ranh với Trung Quốc.
"Đấy là quyền kiểm soát về đồng tiền để thanh toán trong bất kỳ một nền kinh tế nào," nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương nêu quan điểm hôm 01/9/2018.
"Và mọi chính phủ, mọi nhà nước đều hết sức nghiêm ngặt trong việc thực hiện chủ quyền này. Tôi hy vọng và tha thiết đề nghị là Quốc Hội và Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét về Thông tư 19 này."
Theo chuyên gia về chính sách và quản lý kinh tế vĩ mô này, quyết định kể trên đến từ một thỏa thuận giữa hai nhà nước Trung Quốc và Việt Nam được ký kết ở cấp Bộ trưởng, và sau đó Thông tư của Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn thực hiện.
"Điều này là trái với Hiến Pháp của Việt Nam. Hiến Pháp của Việt Nam chỉ cho phép trên lãnh thổ của Việt Nam chỉ có đồng tiền của Việt Nam [được lưu hành] mà thôi, còn ai chịu trách nhiệm, có lẽ sẽ là trách nhiệm của Quốc Hội, của Chính phủ xác định về việc này," Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói với Quốc Phương của BBC Tiếng Việt từ Hà Nội.


TUYÊN BỐ VỀ QUY ĐỊNH CHO PHÉP SỬ DỤNG NHÂN DÂN TỆ

CÁ NHÂN VÀ TỔ CHỨC DÂN SỰ/ BVN 3-9-2018

Ngày 12-9-2016 tại Bắc Kinh, Hiệp định thương mại biên giới giữa Chính phủ VN và Chính phủ Trung Quốc, do các Bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Thương Mại Cao Hồ Thành ký, trong đó Điều 8 quy định thanh toán bằng đồng Việt Nam (VND) hay Nhân dân tệ Trung Quốc (CNY) hay ngoại tệ chuyển đổi cho thương mại biên giới Việt-Trung.
Ngày 28/8/2018, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cụ thể hoá Điều 8 của Hiệp định trên bằng Thông tư số 19/2018/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam-Trung Quốc (sau đây gọi tắt là Thông tư 19), theo đó kể từ ngày Thông tư 19 có hiệu lực thi hành (tức ngày 12/10/2018), thương nhân và cư dân Việt Nam có hoạt động thương mại ở hai bên biên giới Việt Nam-Trung Quốc (kéo dài trên 1450 km) được sử dụng ngoại tệ tự do chuyển đổi, đồng Việt Nam (VND) hoặc Nhân dân tệ (CNY), trong thanh toán bằng tiền mặt và qua ngân hàng.
Khái niệm thương nhân không được định nghĩa trong Thông tư này. Thương nhân có thể là các pháp nhân (công ty, tổ chức thương mại có đăng ký) nhưng cũng có thể là dân cư thường đi chợ biên giới mua sắm đồ. Khái niệm khá tù mù về "thương nhân" và cư dân Việt Nam “có hoạt động thương mại” cũng như việc cho phép dùng tiền mặt sẽ có những hệ quả nhãn tiền và khôn lường đối với chủ quyền tiền tệ của Việt Nam. Trong những trường hợp cần thiết nhất thì cùng lắm chỉ có thể cho phép thanh toán qua ngân hàng bằng VND, CNY và ngoại tệ chuyển đổi cho các giao dịch xuất nhập khẩu qua biên giới Việt - Trung, nhưng hành văn mập mờ của Thông tư cho phép việc thanh toán bằng CNY cho hàng hoá và dịch vụ (có thể không phải hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu) trên lãnh thổ Việt Nam có thể dẫn đến việc Nhân dân tệ hoá nền kinh tế Việt Nam.
Nền kinh tế VN một thời đã bị đô-la hoá, vàng hoá và chúng ta đã mất rất nhiều công sức và tiền bạc để xoá bỏ. Với Thông tư 19, Ngân hàng Nhà Nước đã mở đường cho việc Nhân dân tệ hoá nền kinh tế Việt Nam, một việc mà lẽ ra Ngân Hàng Nhà Nước phải CHỐNG như đã chống đô-la hoá và vàng hoá. Đấy là một hệ quả dễ thấy của Thông tư này. Nói cách khác sẽ đến ngày dân Việt ở các tỉnh biên giới, thí dụ Quảng Ninh, hoặc thậm chí khách du lịch từ mọi miền đất nước tới Quảng Ninh hay Điện Biên sẽ mua hàng và dịch vụ và thanh toán bằng Nhân dân tệ nếu không cấm nghiêm ngặt việc sử dụng ngoại tệ (CNY hay ngoại tệ khác) trong thanh toán bằng tiền mặt (và kể cả qua ngân hàng) cho các hàng hoá và dịch vụ được trao đổi trên lãnh thổ Việt Nam.
Việc sử dụng Nhân dân tệ trong giao thương, dù giới hạn ở khu vực biên giới Việt-Trung, không chỉ vi phạm nguyên tắc chủ quyền tiền tệ (các giao dịch thương mại trên một lãnh thổ có chủ quyền chỉ được thanh toán bằng đồng tiền quốc gia, còn các giao dịch xuất nhập khẩu qua biên giới có thể được thanh toán bằng đồng tiền thoả thuận qua hệ thống ngân hàng), mà còn tạo tiền lệ nguy hiểm về sự tồn tại mặc nhiên hai đơn vị tiền tệ song hành trên lãnh thổ quốc gia. Đó còn là hành động xâm lấn và xâm phạm chủ quyền tiền tệ của Việt Nam do ngoại bang và những kẻ rắp tâm theo ngoại bang thực hiện từng bước, có thể dẫn đến sự Nhân dân tệ hoá cả nền kinh tế Việt Nam và vô cùng nguy hại cho an ninh quốc gia.
Trước tình hình nghiêm trọng nêu trên, chúng tôi - các cá nhân và tổ chức xã hội dân sự - đồng lòng tuyên bố như sau:
Thứ nhất, kịch liệt phản đối Thông tư số 19/2018/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam-Trung Quốc do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 28/8/2018, nhất là việc cho phép dùng đồng Nhân dân tệ trong mua bán hàng hoá và dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam dù chỉ ở các tỉnh dọc biên giới Việt-Trung.
Thứ hai, yêu cầu Bộ Tư pháp, Chính phủ ngay lập tức hủy bỏ Thông tư 19 vì quyền lợi của đất nước và dân tộc.
Thứ ba, truy xét trách nhiệm của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng và mọi quan chức có liên quan đến việc soạn thảo và ban hành Thông tư 19, một văn bản vi phạm chủ quyền tiền tệ quốc gia của Việt Nam và có thể gây ra những hậu quả khôn lường.
Lập ngày 31 tháng 8 năm 2018
CLB Lê Hiếu Đằng và nhóm Lão Mà Chưa An.
Xin mời các tổ chức và cá nhân tham gia ký tên, gửi về địa chỉ:
DANH SÁCH CÁC HỘI TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN KÝ TUYÊN BỐ
I – DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC:
1- Diễn đàn XHDS – TS khoa học Nguyễn Quang A đại diện
2- CLB Lê Hiếu Đằng – Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc sở Tư Pháp TP.HCM làm đại diện
3- Ban vận động Văn đoàn độc lập-  Nhà văn Nguyên Ngọc ký đại diện.
4- Diễn Đàn Bauxite Việt Nam- do GS Phạm Xuân Yêm đại diện
5- Hội Bầu Bí Tương Thân – Do ông Nguyễn Lê Hùng làm đại diện

II – DANH SÁCH CÁ NHÂN

Đợt 1:
1- Lê Thân – Cựu tù nhân Côn Đáo, Chủ nhiệm CLB LHĐ – Nha Trang
2- Nguyễn Quang A – Tiến sĩ khoa học – Hà Nội
3- Võ Văn Thôn – nguyên Giám đốc sở Tư Pháp TP. HCM – Sài Gòn
4- Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh) – Nhà báo tự do, thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn.
5- Lại Thị Ánh Hồng – Nghệ sĩ, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
6- Vũ Trọng Khải, PGSTS Kinh tế, nguyên Hiệu trưởng trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp 2,Sài Gòn
7- Hoàng Hưng, Nhà thơ-Dịch giả, Sài Gòn
8- Mai Thái Lĩnh – Nhà nghiên cứu, thành viên CLB Phan Tây Hồ - Đà Lạt
9- Trần Minh Thảo – Viết văn – Bảo Lộc, Lâm Đồng10- Hồ Ngọc Nhuận – nguyên Phó CT. UBMT TQ TP.HCM – Sài Gòn 
11- Nguyễn Thu Giang- Cử nhân Kinh tế, Luật sự, nguyên Phó GĐ sở Tư Pháp TP.HCM – Sài Gòn 
12- Đào Công Tiến – nguyên Hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế TP.HCM – Sài Gòn 
13- Kha Lương Ngãi – Nguyên Phó TBT báo SGGP, thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn 
14- Tô Lê Sơn- Kỹ sư, thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn 
15- Phan Lữ - Nhà thơ, thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn 
16- Nguyễn Thị Kim Chi – Nghệ sĩ Ưu Tú, thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn 
17- Trần Minh Quốc – Giáo chức, thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn 
18- Đinh Đức Long – TS Bác Sĩ – Sài Gòn 
19- Lê Phú Khải - Nhà báo, thành viên CLB LH Đ - Sài Gòn 
20- Lê Công Định- Luật sư, thành viên CLB LHĐ- Sài Gòn. 
21- Huỳnh Ngoc Chênh - Nhà báo, thành viên CLB LHĐ - Hà Nội 
22- Nguyễn Thúy Hạnh - thành viên CLB LHĐ - Hà Nội    
23- Đặng Bích Phượng - Hưu trí - Hà Nội
24- Nguyễn Huệ Chi – GS Ngữ văn – Hà Nội
25- Đặng Thị Hảo – TS Văn học – Hà Nội
26- Nguyễn Đình Nguyên – TS Y khoa – Austalia
27- Hoàng Dũng – GSTS – Sài Gòn
Đợt 2:
28- Nguyễn Đăng Hưng – Giáo sư đại học Liège vương quốc Bỉ - Sài Gòn
29- Nguyễn Thị Khánh Trâm – Hưu Trí – sài Gòn
30- Giáng Vân – Nhà thơ – Hà Nội
31- Như Quỳnh de Prelle – Vương Quốc Bỉ
32- Trịnh Đình Hòa – Hưu trí – Đống Đa, Hà Nội.
33- Nguyễn Thị Từ Huy-  Ts Văn học Pháp và triết học chính trị - Sài Gòn
34- Phan Quốc Tuyên – Kỹ sư – Thụy Sĩ
35- Nguyễn Ngọc Sơn- Bác sĩ nghỉ việc - Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu.
36- Nguyễn Thị Bích Hoa-  Nội trợ - Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu.
37- Võ Xuân Tòng – Nhà văn, hội viên HNV – Hà Nội
38- Phạm Toàn – Nhà nghiên cứu giáo dục – Hà Nội
39- Trần Bang – Kỹ sư, thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn
40- Đỗ Như Ly – Kỹ sư, hưu trí – Sài Gòn
41- Dương Thị Tân – Công dân – Sài Gòn
42- Ngô Thanh Ngân – Kinh doanh – Hà Nội
43- Nguyễn Lân Thắng – Nhà hoạt động XH – Hà Nội
44- Lại Nguyên Ân – Nghiên cứu văn học – Hà Nội
45- Trần Tiến Đức – Nhà báo đọc lập, đạo diễn phim truyền hình và tài liệu – Hà Nội
46- Tuấn Khanh – Nhạc sĩ – Sài Gòn
47- Hà Quang Vinh – Hưu trí – TP.HCM
48- Hoàng Thị Hà – Hưu Trí – Hà Nội
49- Trần Hữu Quang – PGS-TS xã hội học – Sài Gòn
50- Trần Thế Việt – Nguyên bí thư thành ủy TP. Đà  Lạt
51- Nguyễn Xuân Thọ- Kỹ sư truyền thông – CHLB Đức
52- Nguyễn Tường Thụy – Nhà báo độc lập – Hà Nội
53- Hoàng Cường – Kỹ sư giao thông – Hà Nội
54- Phan Thị Hồng – Giáo viên hưu trí- Đà Nẵng
55- Đoàn Khắc Xuyên- Nhà báo – Sài Gòn
56- Đỗ Thành Nhân – MBA, tư vấn đầu tư – Quảng Ngãi
57- Nguyễn Trung Dân – Nhà báo, nguyên trưởng chi nhánh xuất bản Hội Nhà Văn Phía Nam.
58- Đỗ Thái Bình – Kỹ sư đóng tàu –
59- Nguyễn Thành Nga – Bác sĩ – Bà Rịa, Vũng Tàu
60- Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng-  Nhà văn, nguyên GSTS Kinh Tế, ĐH Laval - Quebec, Canada.
61- Phan Thị Hoàng Oanh- TS Hóa Học – Sài Gòn.
62- Thùy Linh – Nhà Văn – Hà Nội.
63- Vũ Ngọc Tiến – Nhà văn – Hà Nội
64- Mai Văn Tuất - Định cư tại California, Mỹ
65-Lê Thị Thanh Bình- Doanh nhân – CHLB Đức
66- Lâm Quang Mỹ - TS, nhà thơ, dịch giả
67- Nguyễn Thế Hùng - Phó chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam
68- Trần Thanh Vân – Kiến trúc sư – Hà Nội
69- Lê Văn Tâm, - Nguyên chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật Bản
70- Nguyễn Xuân Diện – Tiến sĩ – Hà Nội
71-Vũ Hồng Ánh – Nghệ sĩ Violoncelle – Sài Gòn
72- Hà Dương Tường – Nhà giáo về hưu – Pháp
73- Phạm Duy Hiển ( Phạm Nguyên Trường) – Dịch giả - Vũng Tàu
74- Cao Lập - Hưu Trí – Hoa Kỳ
75- Nguyễn Văn Đức – Lao động tự do – Sài Gòn
76- Nguyễn Đào Trường – Hưu trí – Hải Dương
77- Huỳnh Sơn Phước – Nhà báo, nguyên PTBT báo Tuổi Trẻ - Hội An
78- Hà Trọng Tấn – Thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn
79- Đặng Quốc Tuấn – Kỹ thuật viên – Hà Nội
80- Phạm Văn Hiền- Chuyên viên trường CT Tô Hiệu HP đã nghỉ hưu - Hải Phòng
81- Mai vệ - Nguyên GĐ quản lý đường bộ Đăk Lăk – Buôn Ma Thuột.
82- Nguyễn Đức – Giảng viên ĐH Tây Nguyên – Buôn Ma Thuột.
83- Nguyễn Hồng – Giáo viên cao đẳng sư phạm Đăk Lăk – Buôn Ma Thuột.
84- Nguyễn Thị Kim Ngân – Giáo viên trung học Sư Phạm Đăk Lăk – Buôn Ma Thuột
85- Nguyễn Trí – Nhà văn, cựu chiến binh – Đăk lăk, Buôn Ma Thuột.
86- Trần Hằng – Nhà báo Đăk Lăk – Buôn Ma Thuột
87- Uông Đinh Đức – Hưu trí – TP. HCM
88- Bùi Minh Quốc – Nhà báo – Đà Lạt.
89- Vũ Ngọc Lân – Kỹ sư luyện kim – Hà Nội
90- Vũ Thư Hiên – Nhà văn – Pháp
91- Hoàng Lê Thanh – Hưu Trí – Đà Nẵng
92- Hà Sĩ Phu – Tiến sĩ sinh học, CLB Phan tây Hồ - Đà Lạt
93- Trần Thị Kim Phụng – Nội trợ - Sài Gòn
94- Lê Văn Oanh – Kỹ sư xây dựng – Hà Nội
95- Mã Lam – Nhà Thơ – Sài Gòn
96- Lê khánh Luận- Tiến sĩ, nguyên GV ĐH Kinh Tế TP.HCM – Sài Gòn
97- Võ Văn Tạo – Nhà báo – Nha Trang
98- Nguyễn Văn Kết – Cán bộ hưu trí, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn
99- Nguyễn Sĩ Kiệt – TS KH KT, hưu trí – TP.HCM
100- Nguyễn Nguyên Bình – Nhà Văn – Hà Nội
101 – Trần Đức Quế - Chuyên viên hưu trí – Hà Nội.
102 – Trần Đình Sử - GS Ngữ văn – Hà Nội
103- Đào Văn Tùng – Cán bộ nghỉ hưu – Tiền Giang, Mỹ Tho
104- Nguyễn Văn Nghi – Tiến sĩ – Hà Nội
105- Tiêu Dao bảo Cự - Nhà văn tự do – Đà Lạt
106- Võ Thị Hảo – Nhà văn tự do – CHLB Đức
107- Phùng Thị Ly – Thạnh Hóa, Long An
108- Lư Văn Bảy – Cựu TNLT – Kiên Giang
109 – Trần Thị Ngọc Anh – Cựu TNLT – Bà Rịa, Vũng Tàu
110- Ca Dao – Nhà báo – Pháp
111- Vũ Phương Chiến – Lao động – CHLB Đức
112- Hà Dương Tuấn – Việt kiều – Pháp
113- Phạm Hồng Hà – Cán bộ nghỉ hưu – Nghệ An
114- Chu Anh Tuấn – Công dân VN – Vũng Tàu
115- Đinh Nguyện Yến – Công dân VN
116- Dương Quang Trung – Công dân VN – Phan Thiết
117- Tôn Quang Trí - Nguyên phó giám đốc sở Công Nghiệp tp. Hồ Chí Minh
118-Đào Tiến Thi-  Nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ. Nguyên Uỷ viên Ban chấp hành Hôi ngôn ngữ học Việt Nam -    Hà Nội
119- Vũ Công Minh – Cử nhân tài chính – Hải Dương
120- Nguyễn Khắc Mai – Hưu trí - Hà Nội
121- Trần Hoàng Minh – Công dân VN – Thanh Xuân, Hà Nội
122- Vũ Thái Ngọc Đinh – Tư vấn tài chính – Thanh Xuân, Hà Nội.
123-Thiều Thị Tân Daniele - Cựu tù Côn Đảo , thành viên CLB Lê Hiếu Đằng – Sài Gòn
124- Tống Văn Công – Nguyên TBT báo Lao Đông – Hoa Kỳ.
Đợt 3:
125- Nguyễn Đăng Quang – Đại tá, nguyên cán bộ công an – Hà Nội
126- JB Nguyễn Hữu Vinh – Nhà báo tự do – Hà Nội
127- Lê Mai Đậu – Hưu trí – Hà Nội
128- Ngô Văn Hiền – Kỹ sư XD – Sài Gòn
129- Nguyễn Ngọc Thạch – Hưu trí – Sài Gòn
130- André Menras Hồ Cương Quyết – Nhà giáo Pháp - Việt
131- Triệu Sang – Thương phế binh VNCH – Sóc Trăng
132- Đỗ Thái Bình – Kỹ sư đóng tàu – TP.HCM
133- Nguyễn Quý Thắng – Bác sĩ – Hà Nội
134- Đáo Minh Châu – Tư vấn độc lập – Hà Nội
135- Ngô Thị Kim Cúc – Nhà văn, nhà báo – Sài Gòn
136- Nguyễn Thị Hạnh – Hưu trí – TP.HCM
137- Nguyễn Ngọc Sơn – Kỹ sư – Pháp
138- Nguyễn Thanh Hằng – Dược sĩ Pháp
139- Chu Văn Keng – Berlin, CHLB Đức
140- Vũ Thế Cường – TS cơ khí – CHLB Đức
141- Nguyễn Thị Hiền – CHLB Đức
142- Linh Hoàng – Hưu trí – Canada
143- Huỳnh Nhật Hải – Hưu trí – Đà Lạt
144- Huỳnh Nhật Tấn – Hưu trí – Đà Lạt
145- Vũ Thành Sơn – Nhà văn – Sài Gòn
146- Đoàn Công Nghị - Công dân VN – Nha Trang
147-Thiếu Khanh – Nhà thơ, dịch giả - Sài Gòn
148- Phạm Đình Trọng – Nhà văn, thành viên CLB LHĐ – Sài Gòn
149- Trần Xuân Hoài – Công dân VN – Hà Nội
150- Trương Minh Sâm – Nội trợ - Đồng Nai
151- Nguyễn Đình Cống – Giáo sư – Hà Nội
152- Trần Kế Dũng – Austalia
153- Hà Văn Thùy – Nhà văn – Sài Gòn
154-Nguyễn Hồng Khoái – GĐ công ty TNHH Tư vấn phát triển doanh nghiệp KN – Hà Nội
155- Khổng Hy Thêm – Kỹ sư điện – Khánh Hòa
156- Nguyễn Thiết Thạch – Lao động tự do – Sài Gòn
157- Ngô Thị Thứ - Nhà giáo về hưu – Sài Gòn
158- Nguyễn Minh Toàn – Giáo viên – Hà Nội
159- Chu Sơn – Nhà thơ tự do – Thủ Đức , TP.HCM
160- Nguyễn Thị Kim Thoa – Thủ Đức, TP.HCM
161-Lê Phước Dạ Đăng – Làm thơ – Sài Gòn
162- Uông- Nguyễn Thị Xuân Hương – Thụy Sĩ.
163- Phạm Hải – Biên kịch , đạo diễn, nhà sản xuất phim – TP.HCM
164-Nguyễn Việt – Công dân VN – TP.HCM
165- Phan Loan – Công dân VN – TP.HCM
166- Nguyễn Vinh – Công dân VN- TP.HC<M
167- Nguyễn Ly – Công dân VN –TP.HCM
168- Nguyễn Tấn Lộc – Làm tự do- Khánh Hòa
169- Nguyễn Tâm- Kỹ sư cơ điện –TP.HCM
170- Hoàng Minh Tường – Nhà văn – Hà Nôi
171- Huỳnh Thu Nguyên – Kỹ sư, hưu trí – Austalia
172- Hồ Quang Huy – Kỹ sư đường sắt – Nha Trang
173- Nguyễn Trọng Hoàng – Bác sĩ – Paris, Pháp
174- Nguyễn Văn Tạc- Giáo học hưu trí – Hà Nội
175- Cao Thị Vũ Hương- Nguyên giáo viên trường đại học Tài Chính, nguyên cán bộ NH – Hà Nội
176- Phan Hồng Hiên- Chưa chấp nhận huy hiệu 50 tuổi đảng – Sài Gòn
177- Tô Oanh – Giáo viên THPT nghỉ hưu – Bắc Giang
178- Nguyễn Đắc Thắng – Kỹ sư hóa học – Gienève, Thụy Sĩ
179- Chí Thảo – Nhà báo – Sài Gòn
180- Trương Minh Nghiêm – Hưu trí – Sài Gòn
181- Đoàn Huy Chương – Cựu TNLT
182- Nguyễn Quang Minh – Kinh doanh – Sài Gòn
183- Trần Văn Tòa – Công nhân
184- Nguyễn Hữu Đổng – TS Kinh tế, PGS chính trị học, giáo viên – Hà Nội
185- Võ Văn Quyết – làm tại NH Vietinbank – Nghệ An

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018

20180901. HAI BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

ĐIỂM BÁO MẠNG
HAI BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 1-9-2018

Hình ảnh có liên quan

Năm 1945 Việt Nam có 2 bản Tuyên ngôn độc lập.
Bản thứ nhất được  Vua Bảo Đại công bố vào ngày 11 tháng 3 tại Huế. Nội dung như sau :
“Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, Chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.
Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung.
Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên”.
Bản tuyên ngôn được nhà vua và 6 thượng thư cùng ký tên, nó khá ngắn gọn, nhưng đã nêu lên được các điểm chính sau :1- Bãi bỏ điều ước bảo hộ của Pháp (chứ không tuyệt giao với Pháp, không lên án chế độ cai trị của Pháp). 2- Nước Nam khôi phục quyền độc lập và cố xứng đáng quốc gia độc lập. 3- Nước Việt Nam tin cậy và hợp tác với Nhật (tin cậy và hợp tác chứ không nhận sự đô hộ hoặc bảo hộ như đối với Pháp trước đây).
Khi thảo luận về Tuyên ngôn độc lập, Bảo Đại phát biểu trước Triều đình:
“Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong Hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ Thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập Chính phủ để đối phó mọi việc”.
Bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố tại Hà Nội ngày 2 tháng 9. Nhiều người biết, thuộc lòng từng đoạn hoặc toàn bộ, được xem là một trong những áng Thiên cổ hùng văn, có thể sánh ngang Bình Ngô đại cáo. Nó đã là nguồn sức mạnh tinh thần của khá đông người Việt trong nhiều năm. Tuy vậy ít ai để ý đến một số chi tiết sau:
1- Mở đầu là lời kêu gọi : “ Hỡi đồng bào cả nước”, kết thúc là tuyên bố với thế giới: “Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt-nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập…”
2- Về việc giành chính quyền, Tuyên ngôn viết: “Sự thật là từ đầu mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải là thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt-nam dân chủ cộng hòa. Sự thật thì dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”.
Cái sự thật nêu ở đây chỉ mới là một phần. Phần quan trọng hơn đã được giấu kín. Đó là việc  cướp chính quyền từ Chính phủ Trần Trọng Kim chứ không phải giành từ tay Nhật (vì Nhật đã đầu hàng rồi), là nước Việt Nam đã tuyên bố độc lập từ tháng 3/1945. Câu “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật” là không đúng với sự thật.
3- Về giành độc lập, Tuyên ngôn có câu sau: ”Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.  Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt-nam độc lập…”
Câu vừa trích là cốt lõi nhất của Tuyên ngôn, nhưng lại chứa mâu thuẩn. Xiềng xích cần đánh đổ là do Pháp, Nhật tạo ra và duy trì. Nay Pháp chạy, Nhật hàng thì xiềng xích ấy đã tan rã theo chúng. Sau khi Pháp chạy thì Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập nhưng còn tin cậy và hợp tác với Nhật. Sau khi Nhật hàng thì xiềng xích do Nhật tạo ra cũng không còn. Thế thì dân ta không cần, không thể đánh đổ cái không còn tồn tại, mà chỉ là khắc phục hậu quả của cái xiềng xích trong quá khứ. Có lẽ vì thế mà Tuyên ngôn không viết Giành Độc lập cho nước mà viết  Gây dựng nước độc lập.
4- Vài điều bình luận.
Phần lớn nội dung Tuyên ngôn lên án tội ác của Pháp, Nhật và kể công của Việt Minh. Cách lên án như vậy là đặc trưng của cách mạng vô sản, có tác dụng gây lòng căm thù đồng thời tạo nên tâm lý và hành động tàn bạo, độc ác để trả thù. Đã tuyên bố “xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt-nam, xóa bỏ hết mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt-nam” để rồi thật xót xa khi sau đó không lâu lại đón quân Pháp vào thay quân Tưởng và ký các hiệp định nhượng bộ với Pháp, mà rồi nhượng bộ cũng không xong.
Về chính quyền. Việt Minh hết sức tuyên truyền rằng nhân dân giành chính quyền về tay mình. Đó là chính quyền của dân, do dân, vì dân. Nhưng thực chất trong hơn 70 năm qua chính quyền là của Đảng, dân chỉ làm việc hy sinh xương máu và tài sản để giúp Đảng giành chính quyền, chỉ làm  bung xung khi đi bầu cử mà thôi.
Về nhân quyền. Mở đầu, vì trích Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp nên có nói đến hạnh phúc và nhân quyền. Nhưng rồi kết thúc chỉ còn là tự do và độc lập cho đất nước. Có người nhận xét là Bản Tuyên ngôn không có nhân quyền.
Về độc lập. Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, khẩu hiệu “Vì Độc lập” đã là một sức mạnh rất lớn về ý chí, tình cảm, lôi cuốn nhiều triệu khối óc, trái tim. Nhưng rồi nhiều người đã nhầm tưởng rằng  độc lập là mục đích cuối cùng. Thực ra độc lập chỉ là mục tiêu trước mắt. Mục đich cuối cùng, quan trọng nhất là Tự do, Hạnh phúc của toàn dân, là Nhân quyền, Dân quyền. Cuối cùng độc lập chỉ còn là một phương tiện. Hồ Chí Minh từng nói “Nước độc lập mà dân không được tự do và hạnh phúc thì độc lập chẳng để làm gì”. Thế mà ĐCS VN đã lợi dụng danh nghĩa giành độc lập để kiến tạo nền độc tài đảng trị.
Hiện nay ĐCS VN đề cao việc học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Tư tưởng này tập trung rõ nhất trong Bản Tuyên ngôn độc lập và trong Di chúc. Trong 2 tài liệu đó không hề thấy Hồ Chí Minh bàn đến việc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, không thấy Hồ Chí Minh đề cập đến yêu nước phải gắn với yêu CNXH. Thế mà điều này được ĐCS đặt lên hàng đầu. Thế có oái oăm không.
Gần đây có phong trào chống lật lại lịch sử (chống lật sử). Nghĩ rằng khi lịch sử đã được trình bày đúng sự thật  thì chống lật sử là cần. Nhưng nếu có phần nào của lịch sử đã bị bỏ quên hoặc trình bày sai thì cần phải bổ sung và điều chỉnh. Đó là việc rất nên làm, không thể vu vạ là lật sử. Phải chăng chống lật sử hiện nay thực chất là cố che giấu những sự thật bất lợi cho độc quyền đảng trị và tô vẽ cho sự độc quyền đó.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN

MÂU THUẪN CỦA MỘT BÀI HÁT 

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 2-9-2018

Đó là bài hát Lời Bác dặn trước lúc đi xa của nhạc sĩ Trần Hoàn. Theo tường thuật thì ông Vũ Kỳ đã kể cho ông Trần Hoàn nghe câu chuyện. Quá cảm động, nhạc sĩ đã sáng tác bài hát. Nhiều người thuộc bài này, tôi chỉ xin chép ra một số câu:
Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi, Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế. Nhưng không gian vẫn bốn bề lặng lẽ. Bác đành nằm im… Bác muốn nghe một câu ví… mà xung quanh vẫn lặng ngắt như tờ… Lần thứ ba bác vẫy gọi… Ôi may sao, bỗng có em gái nhỏ, Bước vào gần Bác. Rồi căn phòng xao động trong nước mắt, Những lời ca nức nở tái tê. Rằng "người ơi người ở đừng về". Bác nhìn em rơm rớm hàng mi… Chuyện kể rằng trước lúc Người đi xa.
Để chăm sóc bệnh nhân Hồ Chí Minh, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai cử một đội gồm các Bác sĩ và Y tá giỏi từ Bắc Kinh sang Hà Nội vào ngày 25 tháng 8/1969 Từ đó BS và Y tá Trung Quốc thay người Việt chăm sóc bệnh nhân.
Về việc hát cho Bác nghe, trước đây đã có khá nhiều người dựa vào ngôn từ bài hát của Trần Hoàn để viết ra những bài báo, dựng nên những tiểu phẩm với khá nhiều tình tiết được thêm vào, làm xúc động lòng người. Tuy vậy có vài câu hỏi mà từ lâu không ai đụng đến. Đó là ai hát, hát vào lúc nào, có những ai đã chứng kiến.
Hát vào trước lúc Người đi xa, nhưng vào lúc mấy giờ, ngày nào. Trước vài phút, vài giờ, vài ngày đều là trước. Riêng tên bài hát đã có nói tới là Người ơi người ở đừng về, nhưng có thông tin thêm các bài khác nữa.
Mãi gần đây, từ 2010 mới có người đưa ra các câu trả lời. Theo dõi các tường thuật trên báo, thấy có hai nguồn thông tin khác nhau.
Nguồn A- Xuất hiện trước. Người hát là Vương Tinh Minh Y tá Trung Quốc, hát chiều 31/8, bài hát tiếng Hoa. Tường thuật của Vương Tinh Minh như sau: “Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn” (nguồn: Báo QĐND ngày 25/1/2010. Báo Chính luận ngày 22/9/2013. Đường dẫn: http://www.tiengnoicuadan.org/2013/09/ba-lan-bac-cuoi-truoc-luc-di-xa.html).
Nguồn B- Xuất hiện sau. Người hát là y tá Ngô Thị Oanh, hát vào sáng ngày 2 tháng 9, có ông Vũ Kỳ chứng kiến. Xin chép lại đoạn tường thuật :
Y tá Ngô Thị Oanh là người túc trực chăm sóc sức khỏe cho Bác kể lại: “Buổi sáng (ngày 2/9) tôi vào mời Bác uống thuốc, cắt móng tay cho Người, cắt xong Bác hài lòng hỏi tôi:
-    Cháu tên gì?
-    Dạ thưa Bác, cháu tên Ngô Thị Oanh ạ!
-    Quê cháu ở đâu?
-    Thưa Bác! Quê cháu ở Liên Châu, huyện An Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ạ!
-    Cháu có biết hát không?
Tôi đang lúng túng chưa biết thưa Bác thế nào thì đồng chí Vũ Kỳ đứng cạnh đó trả lời giúp tôi.
-    Thưa Bác! Để cháu Oanh hát Bác nghe.
Bất ngờ và hồi hộp, tôi trấn tĩnh và hát bài: “Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác” và bài dân ca quan họ Bắc Ninh “Người ở đừng về”.
(Nguồn: Mai Lê Huyền - Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bố ngày 20/6/2017).
Phải chăng có 2 lần Bác Hồ nghe hát khác nhau. Vậy Trần Hoàn dựa vào lần nào để sáng tác. Dựa vào lần nào cũng mắc đầy mâu thuẫn giữa các tường thuật và nội dung bài hát. Hay là nhạc sĩ chỉ nghe qua cốt chuyện rồi bịa ra các chi tiết cho thêm phần hấp dẫn. Nhưng tác giả Đức Thọ, báo Dân sinh ngày 30/6/2016 viện dẫn cuốn hồi ký của Vũ Kỳ để chứng tỏ mọi chi tiết Trần Hoàn đưa ra đều đúng với sự thật đã xảy ra. Đức Thọ viết: “Lần thứ ba thức dậy, Người ngỏ ý muốn nghe một câu dân ca quan họ Bắc Ninh. Lần này, thật may mắn, cô y tá Viện Quân y 108, Ngô Thị Oanh tiến lại gần Bác thưa: “Thưa Bác, cháu xin hát cho Bác nghe ạ”. Trong nỗi xúc động nghẹn ngào, cô cất lên lời hát: “Người ơi, người ở đừng về…”.
Các đoạn kể về Ngô Thị Oanh khá khác nhau, vậy không thể cùng đúng. Có khả năng cùng được sáng tác dựa trên cái tên Ngô Thị Oanh. Tôi chỉ mới tìm thấy người ta viết về cô chứ chưa thấy tường thuật của bản thân cô. Nếu quả thật đã từng có cô Oanh thì hiện nay cô ấy đã thành Bà cụ Oanh. Không biết cụ Oanh làm gì, ở đâu. Một nghi vấn là “Em gái nhỏ” của Trần Hoàn xuất hiện khá đột ngột, khác xa với Y tá Ngô Thị Oanh. Không biết ai là người đầu tiên tìm ra cái tên Ngô Thị Oanh để gán cho em gái nhỏ và tìm thấy vào lúc nào, phải chăng là sau khi ông Vũ Kỳ chết (2005) và sau khi có bài tường thuật của y tá Vươg Tinh Minh.
Nếu chỉ có 1 lần Bác muốn nghe hát thì đó là lần nào. Sự thật chỉ có một. Nhưng tại sao lại có các dị bản. Mà chuyện mới gần đây chứ đã lâu gì. Theo tôi có 2 nguyên nhân. Thứ nhất là không có người nào theo dõi, ghi chép và công bố công khai, người ta xem đó là bí mật quốc gia. Thứ hai là sự sùng bái cá nhân quá lố.
Nếu xem rằng một cụ già sắp chết muốn nghe một bài hát là chuyện bình thường thì người ta dễ thuật lại một cách ngắn gọn và tương đối chính xác. Nhưng vì muốn thần thánh hóa câu chuyện, muốn gán cho nó những ý nghĩa cao đẹp nên buộc phải tô vẽ thêm bằng những suy luận. Mà mỗi người suy luận mỗi kiểu nên tạo ra mâu thuẫn. Ô hô, ai tai, âu đó cũng là mánh khóe tuyên truyền mà mọi người đã quen.
Một mâu thuẫn đáng nói nữa là đầu đề và nội dung bài hát. Đề là lời Bác dặn, nhưng nội dung chẳng thấy dặn gì, đó chỉ là nguyện vọng muốn nghe hát. Nên chăng đặt tên bài là: Bác muốn nghe hát trước lúc đi xa.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN


ĐẶC KHU: 'TIẾN, THOÁI LƯỠNG NAN' ?

NGUYỄN ĐÌNH ẤM/ BVN 1-9-2018

Trước phản ứng dữ dội của nhân dân, luật đặc khu hai lần bị hoãn thông qua. Lần đầu sau những cuộc biểu tình  khắp ba miền ngày 10/6/2018, Quốc hội (QH) phải tạm hoãn thông qua dành cho kỳ họp vào tháng 10. Tiếp theo, vào kỳ họp tháng 7 của UBTV QH cũng không đưa luật đặc khu vào chương trình nghị sự và hôm 24/8/2018 QH lại thông báo tiếp tục dừng xem xét luật đặc khu “tiếp tục xin ý kiến nhân dân, các tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học, để hoàn chỉnh dự án luật thông qua vào kỳ họp sau”. Như vậy nhanh nhất luật đặc khu mới được đưa ra xem xét tiếp vào kỳ họp QH tháng 5/2019.
Trước những động thái này nhiều người hy vọng nhà cầm quyền sẽ dẹp bỏ đặc khu.Tuy nhiên, theo ý kiến của những người có kinh nhiệm về TQ, quan hệ Việt Trung và những gì đã đầu tư cho dự án này thì rất khó để  nhà cầm quyền VN huỷ bỏ chương trình đặc khu.
Đặc khu đã được thực hiện cơ bản trên thực tế
D:\Downloads\Vân Đồn cho Tàu.jpg
Từ năm 2013 ông Phạm Minh Chính Bí thư Quảng Ninh đại diện cho phía VN sang Trung Quốc nghiên cứu, bàn bạc rồi cùng họ tới VN khảo sát, thoả thuận dự án đặc khu Vân Đồn, có buổi ra mắt như một sự khai trương (xem ảnh). Từ đó ý tưởng 3 đặc khu được âm thầm nhen nhóm và thực hiện, và ồ ạt nhất là  từ khi ông Trump trúng Tổng thống Mỹ tuyên bố sẽ lập lại trật tự trong thương mại với Trung Quốc. Một trong những hạng mục quan trọng ở khu Vân Đồn là Sân bay Vân Đồn với vốn đầu tư 7.258 tỷ đ (cỡ 2 tỷ USD - quá đắt) được Sungroup  hối hả xây dựng từ năm 2015, khai trương ngày 11/7/2018. Cao tốc Hạ Long-Vân Đồn 12.000 tỷ đã cơ bản xong tháng 8/2018. Cao tốc Móng Cái -Vân Đồn nối với Trung Quốc cấp tốc phê duyệt hôm 17/8/2018 với vốn đầu tư 11.190.220 triệu đ. Các con đường thông với Trung Quốc cũng được nâng cấp cải tạo, từ 2017 xe tự lái Trung Quốc tấp nập đi, về...
D:\Downloads\Ngân-Tập.jpg
Nhăn nhở và nham nhở. Chẳng biết bên nào muốn lấy lòng bên nào đây. Chú thích của BVN.
Ngoài những khoản “đầu tư nổi” trên còn rất nhiều khoản “đầu tư chìm” của nhiều quan chức, đại gia, cá nhân. Từ năm 2013-2014 khi ba đặc khu trở thành hiện thực, dân buôn đất đã thăm dò, sục sạo bao chiếm, đặt cọc mua bán diễn ra rất nhộn nhịp. Đâu đâu cũng nói chuyện đất ở ba đặc khu... Từ năm 2016, 2017 việc cưỡng chế, giải toả mặt bằng diễn ra hối hả, quyết liệt ở Vân Đồn, Phú Quốc, giá đất đẩy lên hàng chục, trăm lần. Nhiều khu rừng, đất nông nghiệp ở Phú Quốc bị tàn phá tan hoang. Có thể nói ba đặc khu đã thực hiện xong quá nửa việc chuẩn bị, “lót ổ chờ rồng lớn”? Việc Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân hùng hồn tuyên bố: “Chủ trương đặc khu Bộ Chính trị đã thông qua, luật không trái Hiến pháp phải bàn để ra luật” như một mệnh lệnh, “ván đã đóng thuyền”.
Mặc dù đến nay những tham vọng của Trung Quốc dùng các đặc khu làm căn cứ quân sự khép kín “con đường tơ lụa” nhằm khống chế tây Thái Bình Dương, toàn bộ Ấn Độ Dương, bảo đảm vai trò bá chủ những con đường hàng hải trên hai đại dương này tiến tới bá chủ thế giới bị Mỹ, các đồng minh ngăn chặn nhưng các đặc khu vẫn còn nhiều giá trị với TQ. Những gì diễn ra ở các các đặc khu như Boten ở Lào, Shihanouk ville, Kokong ở Campuchia, Hambantota của Sri Lanka, Naval ở Djibouti, dự án đường sắt, ống dẫn khí ở Malaysia... chính là những nơi “chôn nợ” của Trung Quốc nhằm khống chế các chính phủ phải dùng lãnh thổ gán nợ, nơi di dân, đồng hoá dân bản địa, công cụ làm tha hoá giới quan chức, đại gia nước sở tại vốn quá nhiều tiền nhưng thiếu chỗ an toàn để  ăn chơi đàng điếm... giúp TQ thâu tóm các quốc gia này. Đặc biệt, các đặc khu đích thực là các căn cứ quân sự, tình báo thu thập, truyền tin quân sự, tình báo phục vụ chính sách bành trướng của TQ. Âm mưu thôn tính cả thế giới của Tàu cộng biểu hiện qua kế sách “Made in China 2025, một vành đai, một con đường...” dù bị nhiều nước tẩy chay nhưng họ sẽ không từ bỏ ba đặc khu ở VN do vị trí, tính chất quan trọng của nó trong chiến lược thâu tóm Biển Đông, khống chế con đường hàng hải Thái Bình Dương -Ấn Độ Dương và được chủ nhà ủng hộ. Vì vậy luật đặc khu có thể vẫn được thông qua vào thời điểm thích hợp. Việc gần đây nhà cầm quyền thuyết giáo cái lợi “trên trời” của ba đặc khu, xuyên tạc, vu cáo người biểu tình, đe doạ trấn áp thẳng tay ai xuống đường phản đối... chứng tỏ họ vẫn “tha thiết” ba đặc khu. Nếu thật sự trong sáng trong dự án này thì nhà cầm quyền VN hãy công khai thẳng “ba đặc khu không dành cho TQ” chắc nhân dân không lo lắng gì nữa.Thời đại này chỉ có các chế độ độc tài như TQ, Nga đi xâm lược mà thôi.
“Tiến thoái lưỡng nan”
Thời các ông Nông Đức Mạnh,  Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Đinh La Thăng, Nguyễn Văn Thể... cầm quyền, các quan chức, đại gia bất chính đã nghĩ ra và thực hiện cách móc túi dân rất trắng trợn: Sửa chữa, cải tạo, mở rộng một chút con đường cũ hoặc làm một đoạn đường mới nhưng thu phí trên những con đường cũ, độc đạo để vét túi dân vô tội vạ. Họ “trấn lột” dân (lời nguyên Phó chủ nhiệm VPQH Nguyễn Sỹ Dũng) đến năm 2016 thì bị phản đối quyết liệt làm nhà cầm quyền đứng trước lựa chọn khó khăn: Nếu dùng tiền ngân sách trả cho các đại gia chủ dự án bỏ thu phí thì không có tiền. Cứ để nhiều BOT móc túi dân, đưa lực lượng vũ trang đến bảo vệ đám “trấn lột” thì  chút uy tín nhờ tuyên truyền của Đảng CS chắc chắn bị hao tổn, dân phẫn nộ, mất kiểm soát bất cứ lúc nào... Đến nay dự án ba đặc khu cũng đang rơi vào tình thế BOT: Nếu cứ quyết tâm “bàn để ra luật” người TQ kéo sang thì nguy cơ mất an ninh quốc gia quá rõ sẽ bị dân phản đối còn mạnh mẽ hơn chuyện BOT nhiều. Những ngày xuống đường rầm rộ dịp 10/6/2018 phản đối ba đặc khu của hàng triệu người ở cả ba miền nhà cầm quyền lu loa “thế lực thù địch, lưu manh nghiện ngập kích động, dân hiểu nhầm, được cho tiền,...” nhưng đó chỉ là tuyên truyền, tự đối mình, thực chất họ đã thấy rõ sự phẫn nộ của nhân dân trước hiểm hoạ TQ là như thế nào. Thế nhưng  nếu bãi bỏ ba đặc khu thì các con đường, sân bay đã đầu tư, đất đai các đại gia (vốn là những thế lực lớn) đã gom mua và có thể tiền “bôi trơn” các quan chức đã nhận… nay không thành đặc khu thì sẽ ra sao? Ví như 7.280 nghìn tỷ đ của Sungroup đã đầu tư vào sân bay Vân Đồn ai trả? Ai sẽ bay đến Vân Đồn nếu nó không còn là nơi “đổ rác”, gia công hàng hoá thay nhãn mác cho hàng TQ, không còn là nơi cờ bạc, buôn người, nơi sinh con, đẻ cái, đồng hoá dân bản địa, không còn là nơi “bất khả nhòm ngó”, quan chức, đại gia thoả mãn chơi bời và nhất là TQ sẽ phản ứng ra sao... Rất khó.
Rõ ràng tình thế BOT lặp lại: Cứ làm đặc khu thì dân nổi lôi đình, chính quyền có khi nguy hiểm, không làm thì nợ các nhà đầu tư “nổi, chìm” mà không có tiền trả, còn TQ thì chắc chắn là không hài lòng.
Lại  một vụ “tiến thoái lưỡng nan” ở tận cấp cung đình.
N.Đ.A.
Tác giả gửi BVN