Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

20180610. QUAN NGẠI VỀ DỰ LUẬT AN NINH MẠNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
LUẬT AN NINH MẠNG ĐỂ TRỊ DÂN CHỨ KHÔNG PHÒNG GIẶC

TRÂN VĂN /Blog VOA 8-6-2018

So với nhiều quốc gia khác, thiệt hại vật chất mà tin tặc gây ra cho Việt Nam không phải là lớn song hiểm họa tiềm ẩn từ tin tặc đối với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng thì lại đặc biệt đáng ngại. Hình minh họa.
Nếu không có gì thay đổi, cuối kỳ họp thứ năm của Quốc hội khóa này, các đại biểu sẽ bỏ phiếu, biến hai dự luật, một về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” (trước giờ vẫn được gọi tắt là Luật Đặc khu) và một về “an ninh mạng” thành luật.
Sự vô lý, các yếu tố đáng ngờ và những hiểm họa tiềm ẩn trong dự luật về “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” đã khiến nhiều người quên dự luật về “An ninh mạng” vốn đáng ngại và đáng bàn không kém (1)...
***
Từ khi máy vi tính và Internet trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt của cả cá nhân lẫn sinh hoạt xã hội, tin tặc trở thành một vấn nạn trầm kha, đe dọa từ chính trị, kinh tế, tới an ninh, quốc phòng của tất cả các quốc gia.
Theo tính toán của các chuyên gia về bảo mật - an ninh mạng máy tính và Internet, năm 2016, tổn thất do tin tặc gây ra đối với máy tính và Internet tại Việt Nam vào khoảng 10.400 tỉ đồng.
Sang năm 2017, mức độ tổn thất tăng thêm chừng 15% nữa so với năm 2016. Trong năm 2017, tổng thiệt hại do tin tặc gây ra đối với máy tính và Internet tại Việt Namđược ước đoán là 12.300 tỉ đồng, tương đương 540 triệu Mỹ kim (1).
So với nhiều quốc gia khác, thiệt hại vật chất mà tin tặc gây ra cho Việt Nam không phải là lớn song hiểm họa tiềm ẩn từ tin tặc đối với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng thì lại đặc biệt đáng ngại.
Tháng 5 năm 2014, hàng ngàn website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bị tin tặc đánh sập. Tháng 11 cùng năm, hàng chục ngàn modem của những người sử dụng dịch vụ Internet do Công ty FPT cung cấp tại Bình Dương bị tin tặc xâm nhập, thay đổi cấu hình khiến họ không thể truy cập vào Internet.
Cũng trong năm 2014, ông Trần Quang Chiến, Giám đốc điều hành Security Daily, tiết lộ với báo giới rằng, có 30 trang web của các cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam bị tin tặc đoạt quyền điều hành trong cả tháng.
Tin tặc đánh sập hàng ngàn website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bày tỏ sự bất bình trước sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào thăm dò – khai thác dầu khí tại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Modem của hàng chục ngàn người sử dụng dịch vụ Internet tại Bình Dương bị tin tặc xâm nhập, thay đổi cấu hình, khiến họ không thể truy cập Internet vì Bình Dương là nơi bùng phát đợt biểu tình chống Trung Quốc và chuyển thành bạo động.
Lúc đầu, ông Chiến chỉ tiết lộ rằng, các cuộc tấn công – đánh sập website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, các vụ xâm nhập – phá hoại modem, chiếm đoạt quyền điều hành hàng loạt website của chính phủ Việt Nam là do “tin tặc nước ngoài” gây ra.
Sau đó, cực chẳng đã, Security Daily phát cảnh báo chính thức rằng, tin tặc Trung Quốc (nhóm 1937cn và nhóm Sky-Eye) đứng phía sau tất cả những vụ tấn công, đánh sập, phá hoại, chiếm đoạt quyền điều hành ấy.
Chẳng phải chỉ có Security Daily đề cập đến nguy cơ máy tính và Internet Việt Nam bị tin tặc Trung Quốc khống chế.
Tháng 5 năm 2015, tại một cuộc hội thảo ở Hà Nội, ông Wias Issa, Chuyên viên cao cấp của FireEye – chuyên về bảo mật, an ninh máy tính và Internet, cảnh báo: APT30 đã theo dõi, xâm nhập các website, mạng máy tính tại Việt Nam ít nhất là 10 năm.
Theo FireEye, APT30 có tổng hành dinh tại Trung Quốc, suốt 10 năm, hạ tầng kỹ thuật không đổi, tổ chức chặt chẽ, hoạt động theo ca, mục tiêu nhất quán (xâm nhập, thu thập các dữ liệu của nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm các máy tính của các chính phủ khác).
Không đủ bằng chứng để khẳng định APT30 của chính phủ Trung Quốc nhưng FireEye dựa vào các đặc điểm của APT30 như đã kể để nhấn mạnh phỏng đoán, APT30 được chính phủ nào đó tài trợ tài trợ đầy đủ để thực thi và hoàn thành nhiệm vụ.
2015 cũng là năm mà ThreatConnect và Defense Group (DGI) – hai hãng chuyên về bảo mật, an ninh máy tính Internet tại Hoa Kỳ, cho biết, tin tặc Trung Quốc đã gài mã độc vào những email, hình ảnh liên quan đến sự kiện Hải quân Thái Lan khống chế ngư dân Việt Nam để mở đường xâm nhập máy tính của nhiều người.
Tờ Wall Street Journal (WSJ) đã dựa trên kết quả điều tra này để tiếp tục cảnh báo về 78020 – bí số của một đơn vị tình báo được đặt dưới sự chỉ huy của Quân khu Thành Đô, phạm vi trách nhiệm bao gồm cả Tây Tạng, khu vực giáp giới Việt Nam, Miến Điện, Ấn.
Mark Stokes, một chuyên gia của Hoa Kỳ, bảo với WSJ rằng, 78020 chỉ là một trong hơn 20 đơn vị của quân đội Trung Quốc chuyện phân tích và khai thác sơ hở của các hệ thống mạng máy tính...
Riêng với Việt Nam, chỉ trong hai tháng 7 và 8 của năm 2015, có hơn 1.000 máy chủ và khoảng 2.500 trang web bị tấn công, trong số này có khoảng 20 trang web của hệ thống công quyền, 50 trang web của hệ thống giáo dục.
Khi loan báo những số liệu vừa đề cập, Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (Vncert), thuộc Bộ Thông tin - Truyền thông Việt Nam, xác nhận, thủ phạm gây ra tất cả những vụ tấn công vừa kể đều là tin tặc Trung Quốc.
Vào thời điểm đó, Vncert công khai than rằng, cơ quan này đã gửi nhiều cảnh báo cho những nơi có liên quan, đặc biệt là các cơ quan công quyền nhưng tất cả đều rất thờ ơ, cho dù chủ đích những cuộc tấn công ấy rõ ràng là đánh cắp những thông tin quan trọng.
Thờ ơ chỉ mới là một khía cạnh…
Năm 2014, Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam từng cảnh báo về một vấn nạn nan giải đối với an ninh máy tính và Internet tại Việt Nam: Gần như toàn bộ thiết bị mà các công ty viễn thông Việt Nam đang sử dụng là sản phẩm do hai công ty Huawei và ZTE của Trung Quốc sản xuất.
Theo Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam, có 6/7 công ty viễn thông ở Việt Nam đang sử dụng thiết bị và công nghệ do Huawei và ZTE cung cấp. Trên toàn Việt Nam, có khoảng 30.000 trạm thu phát sóng (BTS) đang sử dụng thiết bị của Huawei và ZTE.
Trước nữa, chỉ tính riêng năm 2009, đã có hơn năm triệu thiết bị như: modem, router, USB do Huawei và ZTE sản xuất đã được bán trên thị trường Việt Nam. Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam xác nhận là chưa thống kê được số thiết bị do Huawei và ZTE sản xuất, đã được bán tại Việt Nam.
Huawei và ZTE là hai công ty chuyên cung cấp thiết bị, công nghệ trong lĩnh vực viễn thông, từng được Ủy ban Tình báo của Hạ viện Hoa Kỳ đánh dấu về khả năng cấy những tác nhân độc hại trước khi bán cho khách hàng, đe dọa an ninh đối với Hoa Kỳ.
Có tương quan nào giữa việc mua thiết bị, công nghệ của Trung Quốc với thực tế mà Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam lưu ý: Khoảng 400 máy chủ ở Việt Nam bị “kết nối thường trực” với “nước ngoài” để thu thập các thông tin quan trọng cần bảo mật?
Rõ ràng đã tới lúc, Việt Nam phải có một bộ luật để đặt định các giải pháp thiết yếu nhằm phòng vệ hữu hiệu cho an ninh máy tính và Internet bởi đó cũng là an ninh quốc gia. Thế nhưng Dự luật về “An ninh mạng” làm nhiều người vỡ mộng!
***
Tháng trước, sau khi tham khảo Dự luật về “An ninh mạng”, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cảnh báo, dự luật này giống như tạo thêm công cụ để đàn áp những người bất đồng chính kiến. Không những thế, dự luật sẽ nguy hại cho kinh tế Việt Nam.
Chẳng riêng Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, Hiệp hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) cũng lên tiếng vì Dự luật về “An ninh mạng” có nhiều qui định “có thể gây rủi ro, xâm phạm các quyền chính trị, kinh tế cơ bản của công dân”. VDCA tính toán, nếu Dự luật về “An ninh mạng” trở thành luật, một số quy định sẽ khiến chi phí của các doanh nghiệp gia tăng, vừa làm giảm sự hấp dẫn của thị trường, vừa có thể khiến Việt Nam gặp thêm rắc rối do vi phạm các cam kết quốc tế. Chưa kể GDP của Việt Nam sẽ giảm khoảng 1,7% GDP và đầu tư nước ngoài sẽ giảm 3,1% (3).
Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông số, phân tích để chứng minh, Dự luật về “An ninh mạng” sẽ tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích của ít nhất 3 nhóm doanh nghiệp (Sản xuất - kinh doanh thiết bị, giải pháp kỹ thuật, an ninh mạng. Kinh doanh dịch vụ tài chính công nghệ. Cung cấp giải pháp, dịch vụ nội dung số và giải pháp công nghệ nói chung) (4).
Tuy nhiên những cảnh báo chẳng khác gì “nước đổ đầu vịt”. Ngay cả khi một số đại biểu Quốc hội tỏ ra băn khoăn vì dường như các cảnh báo có vể hữu lý, ông Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội Việt Nam vẫn “xin giữ nguyên như dự thảo” (5).
Tới lúc đó thì các ông: Đặng Hữu (cựu Bộ trưởng Khoa học - Công nghệ), Chu Hảo (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ), ông Mai Liêm Trực (cựu Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, cựu Thứ trưởng Bộ Bưu chính - Viễn thông), Nguyễn Khánh Toàn (Thượng tướng, cựu Thứ trưởng Bộ Công an) quyết định phải nói chứ không… nín nữa.
Ông Hữu, ông Hảo, ông Liêm, ông Toàn vốn được xem là những “nguyên lão” của ngành ICT Việt Nam (tham gia thẩm định, chuẩn bị để đưa Internet vào Việt Nam hồi thập niên 1990) soạn một thư ngỏ, gửi các đại biểu của Quốc hội và Thủ tướng Việt Nam, đề nghị loại bỏ năm điều: 24, 26, 38, 39, 40 ra khỏi Dự luật về “An ninh mạng”.
Theo họ, an ninh mạng là cuộc chiến kỹ thuật nhưng Dự luật về “An ninh mạng” chẳng những chẳng giúp gì cho việc bảo vệ an ninh máy tính, Internet mà còn có thể kéo lùi sự phát triển của Internet, của kinh tế số và xã hội thông tin tại Việt Nam.
Cả bốn ông cho rằng, Dự luật về “An ninh mạng” xâm hại quyền dân sự, chính trị của công dân, thu hẹp quyền tiếp cận, cơ hội sử dụng Internet để học hành, nghiên cứu, kinh doanh, trao đổi thông tin, hạn chế tự do Internet, đặt công dân trước rủi ro vi phạm pháp luật và bị kiểm tra, nhũng nhiễu bởi lực lượng chuyên trách an ninh mạng.
Bởi cuộc chiến về bảo mật, bảo vệ an ninh máy tính, Internet là “cuộc chiến thông minh, đòi hỏi am hiểu cả về chuyên môn kỹ thuật lẫn pháp lý”, ông Hữu, ông Hảo, ông Liêm, ông Toàn đề nghị Quốc hội giao Dự luật về “An ninh mạng” cho Ủy ban Khoa học - Công nghệ - Môi trường thẩm tra.
Cần lưu ý là Dự luật về “An ninh mạng” do Bộ Công an chủ trì việc soạn thảo và việc thẩm tra vốn do Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội Việt Nam thực hiện. Đứng đầu ủy ban hết sức tha thiết trong việc biến dự luật thành luật này là một ông từng mang ba sao và từng giữ vai trò Thứ trưởng Quốc phòng.
Cứ thử đọc Dự luật về “An ninh mạng” ắt sẽ bật ra thắc mắc, tại sao cả quân đội lẫn công an không hề bận tâm đến chuyện làm sao bảo vệ an ninh – an toàn cho máy tính, Internet tại Việt Nam trước sự xâm nhập, phá hoại càng ngày càng tăng của tin tặc, đặc biệt là tin tặc Trung Quốc (theo thống kê của VnCert, năm ngoái, có ít nhất là 10.000 cuộc tấn công vào hệ thống máy tính và Internet của Việt Nam) (5), mà chỉ chăm chăm bịt miệng, đổ móng - dặm nền để dễ dàng tống giam những công dân dùng Internet để bày tỏ suy nghĩ của họ hoặc dùng Internet để chia sẻ những thông tin mà họ cảm thấy thú vị?

Chú thích

MỐI QUAN NGẠI KHI VIỆT NAM ĐỊNH THÔNG QUA LUẬT AN NINH MẠNG

SOUMIK ROY/ BVN 9-6-2018
VŨ QUỐC NGỮ /VNTB dịch

Việt Nam, một quốc gia với khoảng 93 triệu người, trong đó 50 triệu người sử dụng Facebook và 64 triệu người truy cập Internet ít nhất một lần một tháng, đang tìm cách thông qua dự luật An ninh mạng mới.
Tại Quốc hội, dự luật sẽ được thảo luận và có khả năng được thông qua vào ngày 15 tháng 6.
“Các nhà chức trách tin rằng một luật mới là sự cần thiết để đối phó với các vấn đề an ninh công cộng, bao gồm cả dữ kiện Việt Nam là một trong những quốc gia nhạy cảm trên thế giới với các cuộc tấn công trên mạng, dựa trên nghiên cứu và thống kê,” theo Tú Ngọc Trinh và cộng sự Waewpen Piemwichai tại Tilleke & Gibbinstrong một bài đăng trên blog gần đây.
Tuy nhiên, một số đại biểu quốc hội và nhiều nhà phân tích cảm thấy rằng một số điều khoản của dự thảo luật là không cần thiết hoặc không phù hợp với Luật An toàn thông tin mạng và Luật Công nghệ thông tin hiện hành.

clip_image002
Một người dùng Ipad tại quán Cafe ở Hà Nội, 18.05.2018. Ảnh: Reuters
Một số quy định, ví dụ, cho phép chính phủ quyền kiểm soát lớn hơn đối với những công ty khổng lồ kỹ thuật số quốc tế như Google và Facebook.
Các dự thảo trước đó của dự luật yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet, chẳng hạn như các công ty được đề cập ở trên, phải duy trì các máy chủ của họ tại Việt Nam. May mắn thay, trong các bản thảo sau này, yêu cầu này đã bị bỏ, nhưng dự luật quy định rằng các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải đặt văn phòng hoặc đại diện ở Việt Nam và phải lưu trữ dữ liệu về người dùng ở Việt Nam.
Quy định này cũng đã gây ra mối quan ngại cho các nhà lập pháp Mỹ, những người vận động hành lang và các nhà ngoại giao.
Đại diện thương mại Mỹ Jeremy Gerrish nói: “Mỹ lo ngại về dự luật an ninh mạng được đề xuất của Việt Nam, bao gồm tác động của các yêu cầu nội địa hóa và các hạn chế đối với các dịch vụ xuyên biên giới cho sự phát triển và tăng trưởng trong tương lai của nền kinh tế Việt Nam”.
Theo Hiệp hội truyền thông kỹ thuật số Việt Nam (VCDA), dự thảo mới nhất của dự luật an ninh mạng có thể làm giảm 1,7% GDP của Việt Nam và giảm 3,1% đầu tư nước ngoài nếu nó có hiệu lực.
Dự luật cũng cho phép chính phủ kiểm soát nhiều hơn đối với người dùng trong nước đăng nội dung tuyên truyền chống chính phủ, phỉ báng và vu khống.
Đại biểu quốc hội Nguyễn Lân Hiếu nói với VnExpress phiên bản tiếng Anh rằng thật khó để quyết định điều gì là đúng hay sai trong thực tế. “Quy định này rất không rõ ràng. Do đó, luật nên chỉ định cơ quan chịu trách nhiệm quyết định xem một thông tin có vi phạm luật pháp của quốc gia hay không”.
Ví dụ ở Indonesia, công việc này đã được trao cho các tòa án.
Dự thảo luật cấm đăng tải nội dung xúc phạm hoặc vu khống, “tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam” và kích động các cuộc bạo loạn hoặc xáo trộn trật tự công cộng.
Nếu được thông qua, luật sẽ quy định rằng các công ty truyền thông xã hội phải xóa nội dung vi phạm khỏi nền tảng của họ trong vòng 24 giờ, khi Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Bộ Công an của Việt Nam yêu cầu.
S.R.
Nguồn: Asian Correspondent

ĐỪNG QUÁ SỢ DÂN

FB Truong Huy San/BVN 11-6-2018

Chiều nay, đừng ngạc nhiên khi trên truyền thông hay trong các phòng kín có ai đó thổi phồng vai trò của “các thế lực thù địch” đứng sau các cuộc biểu tình [tuy có thể cũng có những kẻ tát nước theo mưa]. Và cũng đừng ngạc nhiên khi mạng xã hội (MXH) cũng bị cho là thủ phạm [để thuyết phục các nhà lãnh đạo ủng hộ các biện pháp cứng rắn hơn].
Cho dù hàng vạn con người đã xuống đường, người dân không hề thách thức quyền lực. Người dân chỉ bày tỏ thái độ.
Bóng dáng các “nhà đầu tư chiến lược” đứng sau dự luật đặc khu không khỏi khiến dân chúng cảm thấy, lợi ích nhóm đang ảnh hưởng lên tiến trình ban hành chính sách. Tham vọng kiểm soát MXH bằng việc đưa ra dự luật an ninh mạng - trong bối cảnh dân chúng lên tiếng về luật đặc khu - lại khiến cho nhiều người tin, những phản biện ngay thẳng của họ rồi đây sẽ bị đặt tròng vòng kiểm soát, và việc dừng luật đặc khu có thể chỉ là một bước đi chiến thuật mà thôi.
Không ai có thể thuyết phục được dân chúng nghĩ khác để ngồi nhà, mặc "đảng và nhà nước lo”, trừ khi có một tiến trình ban hành chính sách minh bạch, nơi tiếng dân được lắng nghe; nơi, trong chính sách, ý dân là quan trọng nhất.
Tối nay, hy vọng quý vị, thay vì ngồi nghĩ mưu thắng dân, chỉ ngồi để lựa tìm những bước đi để có dân.
Quốc hội nên ngưng họp ít ngày để có được sự bình tĩnh khi đánh giá sự kiện này và chưa nên thông qua ngay các chính sách ảnh hưởng đến số đông dân chúng.
Một chính sách đưa ra mà vôi vã; chỉ cân đong lời lãi hay chú trọng quyền lực ngành… thay vì phải đánh giá đầy đủ các tác động của nó kể cả các tác động chính trị thì rất khó tránh được sự “phản biện” mạnh mẽ như những gì xảy ra hôm nay.
Xin nói tiếp luật đặc khu trong một dịp khác, tôi chỉ khẩn thiết đề nghị QH ngưng ngay việc thông qua Luật an ninh mạng.
Dự luật có nguy cơ sắp được QH thông qua này đã không còn dừng lại ở các giải pháp nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công từ mạng. Phạm vi điều chỉnh của nó đã mở ra nhiều lĩnh vực: ảnh hưởng tới cơ hội phát triển nền kinh tế số; ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế, đặc biệt là các cam kết về tự do thương mại. Đặc biệt, dự luật này còn có nguy cơ ảnh hưởng đến các mối quan hệ đối ngoại.
Chỉ riêng Uỷ ban Quốc phòng An ninh không thể đánh giá hết các tác động của nó. UB Thường vụ Quốc hội cần dành thời gian để lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, của Bộ TT & TT, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao… Cần để cho các Uỷ ban khác của Quốc hội tham gia thẩm định, đánh giá đầy đủ tác động nhiều mặt. Hãy rút kinh nghiệm từ Bộ luật Hình sự để đừng vội vã.
Mong sao, các nhà cầm quyền đừng quá lo sợ trước những gì diễn ra hôm nay. Còn được chứng kiến dân chúng bày tỏ thái độ một cách ôn hoà có nghĩa là dân chúng chưa bỏ rơi mình. Quan sát cuộc biểu tình hôm nay, tôi thấy dân chúng không hề “có tham vọng quyền lực”. Họ chỉ cần được lắng nghe, được tôn trọng từ một chính quyền biết đặt lợi ích của quốc dân và quốc gia lên trên hết.
PS: Khi tôi viết note này, chưa nhận được các thông tin về các diễn tiến ở Bình Thuận, đó là điều đáng tiếc, nhưng tôi tin những hành động đó là đơn lẻ; hy vọng, đôi bên đều dành cho nhau lối ra.
Nguồn: https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/1645324035502771

QUỐC HỘI NÊN BIỂU QUYẾT DỰ LUẬT AN NINH MẠNG BẰNG "TƯ DUY 4.0"

HUY ĐỨC/ FB Truong Huy San/ BVN 10-6-2018

Tuy ảnh hưởng của Dự luật An Ninh Mạng lên sự phát triển của đất nước có thể còn sâu sắc hơn Dự luật Đặc khu, khả năng rất cao là nó vẫn được đưa ra bỏ phiếu trong ngày 12-6-2018. Nhưng, có lẽ vì nó quá chuyên ngành và mối đe doạ không dễ tạo ra “nhận thức chung” như đất đai, lãnh thổ. Nên, Dự luật này đã không sớm nhận được sự phản ứng đông đảo và không được các tổ chức có ảnh hưởng chính trị lớn như Hội Cựu Chiến binh lên tiếng.
 
Đặc biệt, nhiều nỗ lực góp ý cho Dự luật một cách xây dựng trên báo chí chính thống đều gần như bị dập tắt. Một số chuyên gia, nhà báo phải chịu đựng rất nhiều áp lực, kể cả người viết bài này.
Một số nhà lãnh đạo QH gần đây mới tiếp cận được các ý kiến tâm huyết, hiểu những thiếu sót của Dự luật, nhưng quy trình trì hoãn nó cần một tiếng nói từ Chính phủ, trong khi Bộ TT & TT thì đang “bối rối”, Thủ tướng thì đang ở Canada. Trách nhiệm lịch sử đang nằm trong tay các đại biểu. Mong các vị hiểu, không chỉ thông qua một luật tốt mà bác một dự luật có vấn đề cũng được cử tri coi là “thành tích lập pháp”.
Tôi hiểu tâm lý của nhiều đại biểu, đặc biệt, những đại biểu đồng thời đang là thành viên chính phủ hay lãnh đạo địa phương. Quý vị cũng không dễ chịu gì khi chỉ vì lỡ lời đã bị mạng xã hội (MXH) nặng nề chỉ trích. Nhưng, nếu lắng nghe và dần dần điều chỉnh, quý vị sẽ nhận thấy, chính MXH đã cung cấp cho quý vị một môi trường đủ khắc nghiệt để quý vị trở thành những chính trị gia.
Một chính sách không thể nào đi vào cuộc sống nếu nó không thuyết phục được dân chúng. Làm chính sách mà đe doạ các nỗ lực phản biệt của xã hội thì chính sách đó nếu không đưa đất nước quay về thời kỳ nghèo nàn lạc hậu cũng sẽ bị lịch sử đào thải.
Tôi rất ít khi trích dẫn tiền nhân nhưng tôi nghĩ những tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn rất có ý nghĩa với quý vị; ông từng nói, “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Nếu QH làm luật mà trên tinh thần ấy, chắc chắn sẽ không có những điều luật trong BLHS với cái gọi là “tuyên truyền chống nhà nước”.
Nhưng, người dân tuy đang phải chấp nhận những chế tài đó thì với luật pháp hiện hành, một người chỉ có thể coi là “tuyên truyền chống nhà nước” khi có một bản án có hiệu lực của toà. Dự thảo Luật này trao nhiều quyền cho các cán bộ công an. Một số vị trong QH có thể sử dụng quyền này để gây sức ép gỡ bỏ những bài viết chỉ trích mình nhưng điều đó chỉ làm cho quý vị thêm lộng quyền, dấn sâu, lâu dần thành “củi”. Về lâu dài, nó còn tác động lên người thân và chính bản thân quý vị [tin tôi đi, rồi có lúc quý vị muốn lên tiếng và chợt nhận ra “quyền được mở miệng” đã bị chính mình bịt lại].
Nếu Dự luật được thông qua, thì ngay trong lĩnh vực “tư tưởng văn hoá” sẽ phải đối diện với nguy cơ “công an trị” thay vì tuyên giáo. Chính Hồ Chí Minh – người khai sinh Chế độ - đã nói rằng, “Nước có độc lập mà dân không có tự do thì độc lập đó cũng không có ý nghĩa”. Công cuộc Đổi Mới bắt đầu từ 1986 về bản chất là từng bước trao quyền tự do cho dân. Thoạt tiên là quyền tự kiếm lấy cơm ăn, quyền đi lại… và giờ đây là quyền được nói trên không gian mạng.
Có internet, chế độ bị chỉ trích rất nặng nề, nhưng như quý vị thấy đấy, Chính quyền chỉ ngày càng mạnh lên chứ không yếu đi. Vì, quan chức lạm quyền là bị dân kêu, tham nhũng có thể bị dân tố cáo. Tôi biết, nhiều người trong quý vị cũng có vấn đề nhưng tôi tin, đa số cũng mong những kẻ quá xấu xa bị vạch mặt chỉ tên (trên báo hay trên MXH).
Không chỉ trong lĩnh vực “tư tưởng văn hoá”, dự luật này trao quyền can thiệp của Công an gần như trong mọi hoạt động trên không gian mạng. Nếu nó được thông qua, theo các chuyên gia, còn “gây khó khăn cho cả việc phát triển chính phủ điện tử, thương mại điện tử, công nghiệp nội dung số, làm mất cơ hội phát triển kinh tế số, cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam”.
Để ngăn chặn các nguy cơ trên mạng không thể nào chỉ sử dụng bộ máy công an và không thể chỉ là những nỗ lực của từng quốc gia đơn lẻ. Và, anh không thể lựa chọn phương thức tự vệ hữu hiệu nhất - hợp tác quốc tế - một khi anh hạn chế người dân của anh tiếp cận với các giá trị phổ quát mà VN cam kết.
Dự luật này là sáng kiến của Bộ Công an từ thời đại tướng Trần Đại Quang. Tôi, với tư cách là cử tri tại đơn vị ông ứng cử, rất muốn thấy ông nghĩ đến các di sản chính trị của mình. Công đức không chỉ đặt ở các đình chùa mà chủ yếu phải đặt ở trong dân.
Nhiều nhà ngoại giao phương Tây có ấn tượng tốt khi gặp thượng tướng Tô Lâm. Họ tìm thấy ở ông tư chất của một chính khách hơn là một sỹ quan công an thuần tuý. Tuy khá “shock” sau vụ TXT nhưng đó vẫn là điều mà họ có thể giải thích. Nhiều người rất ngạc nhiên khi BCA tiếp tục thiết kế Dự luật như vậy. Trong con mắt của nhiều nhà ngoại giao châu Âu đang vận động cho việc ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do VN-EU, thì Dự luật này là bước lùi rất lớn về cải cách. Và nó có thể gây hiệu ứng tiêu cực không kém gì vụ TXT cho quan hệ ngoại giao với châu Âu.
An ninh mạng là một vấn đề cần thiết, nhưng giải pháp hữu hiệu nhất vẫn là con người, công nghệ và hợp tác quốc tế. Nguy cơ tin giả xuất hiện trên MXH là có thật nhưng Chế độ đang có trong tay hơn một nghìn tờ báo. Tôi chia sẻ những lo ngại của quý vị về “tuyên truyền chống nhà nước” xuất hiện trên MXH. Nhưng BLHS đang có quá nhiều tội danh ngăn chặn các hành vi thậm chí mới chỉ ở mức thực thi quyền được nói.
Chủ quyền là sức mạnh của mọi quốc gia. Tuy nhiên chủ quyền của một quốc gia trong không gian mạng không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ. Kéo không gian mạng vào bên trong đường biên giới quốc gia là thất bại. Chủ quyền quốc gia trong thời đại ngày nay cũng không chỉ được xác lập bằng các cột bê tông mà còn là những giá trị mà người VN đóng góp. “Cách mạng 4.0” mà quý vị vẫn thường nói chỉ có thể thực hiện trên nền tảng tự do. Kinh tế số, cách mạng 4.0 không bao giờ có thể manh nha khi bóng dáng “còng số 8” cứ thấp thoáng trong máy tính.
Những người thực sự hiểu biết về an ninh mạng, kinh tế số trong Chính phủ, trong UBTV QH nên dành thời gian để cân nhắc thêm. QH vẫn còn những ngày trống do Luật Đặc khu đã hoãn. Nếu Dự luật An Ninh Mạng vẫn phải đưa ra biểu quyết, xin quý vị hãy bấm nút bằng “tư duy 4.0”. Tương lai con cháu đang ở trong tay quý vị. Đừng để các tuyên bố về tự do chỉ dừng lại trong những ngôn từ sáo rỗng.
 
H.Đ.
 
 
THƯ NGỎ GỬI QUỐC HỘI VỀ DỰ THẢO LUẬT AN NINH MẠNG
 
DƯƠNG NGỌC THÁI/ BVN 11-6-2018
 

Một bản tóm gọn của lá thư này đã đăng trên tờ Một Thế Giới.
Tôi xin lỗi vì thư dài. Tôi đã cố gắng viết ngắn lại, đã chỉnh sửa nhiều lần và đây là phiên bản vừa ý nhất. Hi vọng mọi người sẽ đọc hết, cho ý kiến và chia sẻ với nhiều người khác. Dự thảo Luật an ninh mạng, nếu được Quốc hội thông qua vào ngày 12/6/2018, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả chúng ta, không chừa một ai, nên tôi hi vọng sẽ có nhiều người hơn hiểu các vấn đề Dự thảo này.
Ở Mỹ người dân có thể gọi điện thoại hoặc email cho dân biểu của họ để phản ánh vấn đề mà họ quan tâm. Ở Việt Nam mỗi thành phố hay tỉnh đều có Văn phòng đoàn Đại biểu Quốc hội. Nếu bạn đồng ý với những gì tôi viết trong thư, tôi đề nghị scan rồi gửi email, hoặc gửi fax, hoặc in ra và gửi thư đến văn phòng nơi bạn đang sinh sống.
Chân thành cảm ơn những người bạn không tiện nêu tên ở đây đã đọc và chỉnh sửa các bản nháp.
--
Kính thưa Quốc hội,
Tôi là Dương Ngọc Thái, kỹ sư an ninh mạng đang làm việc ở Mỹ. Tôi năm nay 34 tuổi, bắt đầu học và làm an ninh mạng từ năm 18 tuổi. Năm 20 tuổi tôi đã là trưởng phòng an ninh mạng của một ngân hàng ở Việt Nam. Năm 2011, tôi rời Việt Nam sang Silicon Valley làm việc. Tôi là một chuyên gia nghiên cứu về an ninh phần mềm. Các phát hiện của tôi có ảnh hưởng sâu rộng đến sự an toàn của Internet, được trích dẫn trong nhiều bài báo khoa học, được đưa vào giảng dạy ở các đại học danh tiếng và đăng tải trên các tờ báo lớn trên thế giới.
Tôi giới thiệu dài dòng như vầy với hi vọng Quốc hội hiểu rằng tôi là một kỹ sư an ninh mạng có kinh nghiệm thực tế và được thế giới biết đến.
Để soạn thảo và thông qua một bộ luật đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn như Luật an ninh mạng, Chính phủ và Quốc hội cần phải dựa vào sự tư vấn và lắng nghe ý kiến của các chuyên gia. Tuy vậy cho đến ngày 31/5/2018, mục “Ý kiến chuyên gia” trên trang Dự thảo Online của Quốc hội không có ý kiến nào. Cá nhân tôi chỉ biết về Dự thảo khi báo chí đưa tin. Với trách nhiệm xã hội của một chuyên gia, tôi viết thư này để chia sẻ với Quốc hội và những ai quan tâm góc nhìn của một người đã dành nhiều thời gian suy nghĩ về an ninh mạng. Ba vấn đề tôi đặt ra và phân tích với Quốc hội (1) liệu Dự thảo có đưa ra được các giải pháp chính sách thực sự để giải quyết vấn đề an ninh mạng? (2) tác động Dự thảo đến doanh nghiệp, đến phát triển kinh tế như thế nào; và (3) khuyến nghị của tôi cho Luật an ninh mạng và chính sách an ninh mạng Việt Nam.
Đây là ý kiến của cá nhân tôi, không thể hiện quan điểm hay ý kiến của nơi tôi làm việc hay bất kỳ ai khác.

Chống nói xấu Đảng không đảm bảo được an ninh mạng

Tôi đã học và làm việc chung với nhiều giáo sư và chuyên gia hàng đầu thế giới, nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai giải thích về an ninh mạng như đại biểu Nguyễn Thanh Hồng - Uỷ viên thường trực Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã nói trên tờ VnExpress: “An ninh mạng nếu giải thích dễ hiểu nhất là không truyền bá, cổ súy, khai thác những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước và làm sao để mỗi công dân có ý thức trong việc phòng chống tội phạm, bảo vệ bản thân và gia đình”. Hiểu an ninh mạng như vậy là sai bản chất và có thể dẫn đến nguy cơ vừa mất an ninh quốc gia vừa kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Đúng là Việt Nam đã và đang liên tục bị tấn công trên không gian mạng. Năm 2014, giữa lúc người Việt trong nước và hải ngoại đang sôi sục vì Trung Quốc kéo giàn khoan HD-981 vào Biển Đông, các chuyên gia đã phát hiện hệ thống máy tính của Bộ Tài nguyên Môi trường Việt Nam bị xâm nhập. Tại sao lại là Bộ Tài nguyên Môi trường? Vì đây là cơ quan nhà nước sở hữu nhiều thông tin quan trọng về bản đồ, sơ đồ, hải trình, báo cáo… của các chuyến thăm dò dầu khí, khai thác ngư sản cũng như các hoạt động tuần tra bảo vệ của Việt Nam trên Biển Đông. Ngoài Bộ Tài nguyên Môi trường, Tập đoàn Dầu khí, Thông tấn xã và Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng bị xâm nhập. Có nhiều bằng chứng để tin rằng những đối tượng đứng đằng sau các vụ tấn công này đến từ Trung Quốc.
Gần đây hơn, nhiều sự cố an ninh mạng cũng liên tục xảy ra:
Tháng 5/2016, Ngân hàng Tiên Phong Bank bị hacker xâm nhập, đánh cắp 1,1 triệu đôla Mỹ (đại diện Tiên Phong Bank nói rằng họ phát hiện và chặn được tấn công đúng lúc).
Tháng 7/2016, mạng máy tính sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Nội Bài và Vietnam Airlines bị hacker Trung Quốc phá hoại.
Tháng 5/2017, ngay trong lúc ngài Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang sang thăm Mỹ, hệ thống máy chủ email của Bộ Ngoại giao lại bị hacker “lạ” xâm nhập.
Từ nhiều năm nay, các công ty công nghệ Việt Nam đã nằm trong tầm ngắm của những nhóm hacker “lạ”. Tháng 4/2018, kẻ tấn công đã tung lên mạng thông tin cá nhân bao gồm tên, ngày sinh, chứng minh nhân dân, số điện thoại, email và mật khẩu của gần 75 triệu tài khoản người dùng của VNG, công ty game và Internet lớn nhất Việt Nam.
Có lẽ không cần nói thêm, Quốc hội cũng hiểu rằng “chống truyền bá, cổ súy, khai thác những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước” không thể bảo vệ Việt Nam khỏi những vụ tấn công như trên.

Đảm bảo an ninh mạng không có nghĩa là phải hi sinh phát triển kinh tế và tự do của người dân

Trong lúc hệ thống mạng máy tính Việt Nam liên tục bị tấn công, chính phủ mất bí mật, doanh nghiệp bị mất tiền, người dân mất thông tin cá nhân, sẽ là một sai lầm chiến lược nếu Quốc hội thông qua Dự thảo Luật an ninh mạng. Dự thảo này không có nhiều sáng kiến cụ thể có thể giúp Việt Nam kiện toàn an ninh mạng mà còn có khả năng cản trở đà phát triển kinh tế, kìm hãm sự tự do sáng tạo và xâm hại riêng tư của người dân.
Một vệ sĩ giỏi là người biết lùi lại phía sau, âm thầm quan sát, đảm bảo an toàn cho yếu nhân mà không gây cản trở công việc của họ. Một chuyên gia lành nghề là người hiểu mục tiêu kinh doanh của công ty, từ đó sáng tạo các giải pháp có sự cân bằng giữa an ninh, chi phí và tiện dụng để sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu khách hàng, giúp công ty kinh doanh thuận lợi, với những rủi ro chấp nhận được. Tôi hay nói với đồng nghiệp công việc của chúng ta không phải là chỉ là đảm bảo an ninh, mà là đảm bảo an ninh để công ty vẫn có thể sáng tạo và phát triển. Trách nhiệm của chúng ta là phục vụ các nhóm làm sản phẩm, giúp họ đảm bảo an toàn thông tin mà vẫn có thể tự do sáng tạo, vẫn tiết kiệm được thời gian, công sức, chứ không thể bắt họ phục tùng. Nếu chính sách an ninh kìm hãm sự tự do sáng tạo, làm chậm tốc độ phát triển, thì chính sách đó chưa đạt yêu cầu. Kỹ sư an ninh mạng làm việc có tâm phải luôn trăn trở tìm cách để chính sách an ninh không những không gây cản trở, mà còn đem đến lợi thế cạnh tranh.
Tương tự như vậy, ở tầm quốc gia, một chiến lược an ninh mạng đúng đắn không thể bỏ qua phát triển kinh tế. Việt Nam cần đảm bảo an ninh mạng, nhưng an ninh mạng chỉ là phương tiện, không phải đích đến, để đạt đến các mục tiêu quan trọng nhất của đất nước là phát triển kinh tế, khai phóng con người, bảo vệ môi trường sống và nâng cao chất lượng cuộc sống. Muốn vậy, lực lượng chuyên trách an ninh mạng quốc gia cần đóng vai trò người hỗ trợ chứ không phải người kiểm soát. Nhưng tôi e rằng trao quyền cho cơ quan quản lý trực tiếp can thiệp vào cách doanh nghiệp điều hành và quản lý hệ thống thông tin của họ (như điều 26 và 24 dự luật) dễ dẫn đến lạm quyền, tạo điều kiện cho tham nhũng. Việc yêu cầu báo cáo, đánh giá - đi kèm với phê duyệt, chấp thuận - sẽ làm tăng chi phí; giảm sự sáng tạo; làm mất lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (vì thời gian là ‘vàng’ trong kinh tế số và thị trường công nghệ vốn cạnh tranh khốc liệt).
Bài toán mà Quốc hội cần phải đặt ra cho Dự thảo Luật an ninh mạng là: làm thế nào để không bị tấn công mạng, nhưng vẫn giữ tốc độ phát triển kinh tế cao, đảm bảo tự do cho người dân, tăng khả năng cạnh tranh và uy tín của Việt Nam trên thế giới? Đặt đúng câu hỏi là đã giải quyết được một nửa vấn đề. Trong phần tiếp theo tôi đề xuất một số ý kiến về chính sách để giải quyết nửa còn lại.

Giải pháp nào cho an ninh mạng quốc gia?

Đối với Luật an ninh mạng nói riêng, chính sách và chiến lược an ninh mạng quốc gia nói chung, tôi đề xuất ba điểm.
Thứ nhất, thay vì ôm đồm rất nhiều nội dung, luật chỉ nên tập trung vào hệ thống thông tin trọng yếu, chủ thể trung tâm trong vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Hệ thống thông tin trọng yếu bao gồm hệ thống công, do Chính phủ quản lý và hệ thống tư, thuộc sự quản lý và là tài sản của các doanh nghiệp tư nhân. Chính phủ chịu trách nhiệm và tùy nghi điều chỉnh hệ thống công, nhưng Chính phủ không được phép kiểm soát hệ thống tư, mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ, ngoại trừ có sự đồng ý của doanh nghiệp hoặc lệnh của tòa án.
Để giúp đỡ doanh nghiệp, Chính phủ có thể chủ động chia sẻ thông tin tình báo, thông tin sự cố an toàn thông tin, hoặc các nhóm hacker nước ngoài mà Chính phủ đã theo dõi và nắm bắt được. Chính phủ cũng có thể khuyến khích doanh nghiệp hợp tác, chia sẻ thông tin, nhưng bất kỳ sự chia sẻ nào cũng phải là tự nguyện và phải đảm bảo được sự riêng tư của khách hàng của các doanh nghiệp. Chính phủ không thể mặc nhiên yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tất cả thông tin mà Chính phủ muốn. Quá trình chia sẻ thông tin, nội dung chia sẻ giữa doanh nghiệp và Chính phủ phải được luật hóa cụ thể.
Chính phủ cũng có thể giúp doanh nghiệp bằng cách đặt ra các tiêu chuẩn về an toàn thông tin. Các tiêu chuẩn này chỉ áp dụng cho hệ thống mạng máy tính của Nhà nước. Tuy nhiên doanh nghiệp có thể dựa vào đó để tự xây dựng tiêu chuẩn cho hệ thống máy tính và sản phẩm của họ. Nhà nước chỉ mua các sản phẩm đạt chuẩn, tạo động lực để doanh nghiệp muốn bán sản phẩm cho Nhà nước xây dựng các sản phẩm đúng chuẩn.
Một việc có ích khác Chính phủ nên làm là dùng ngân sách để đào tạo nguồn nhân lực an toàn thông tin chất lượng cao và nâng cao nhận thức an toàn thông tin cũng như quyền riêng tư của người dân. Bộ Thông tin Truyền thông đã trình Chính phủ những đề án cụ thể về hai vấn đề này, trách nhiệm của Quốc hội lúc này là giám sát việc thực thi các đề án này. Để đánh giá đề án thực thi có hiệu quả, có đúng với mục tiêu đặt ra, Quốc hội nên tham khảo ý kiến đánh giá độc lập của các chuyên gia.
Thứ hai, chính sách an ninh mạng quốc gia cần phải bảo vệ quyền riêng tư của người dân. Quyền riêng tư là một quyền hiến định và được Liên Hợp Quốc công nhận là quyền cơ bản của con người. Nhà nước không thể dựa vào lý do an ninh quốc gia để tùy tiện xâm phạm riêng tư của người dân.
Luật an toàn thông tin mạng có đề cập đến quyền riêng tư, nhưng tôi e rằng chưa đủ. Để bảo vệ riêng tư của người dân, tối thiểu Việt Nam cần có luật yêu cầu những tổ chức thu thập thông tin cá nhân của người dân phải thông báo đại chúng khi những nơi này bị xâm nhập và để lộ thông tin. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần cân nhắc tạo luật yêu cầu những do tổ chức thu thập và xử lý thông tin cá nhân nhạy cảm như tài chính và y tế phải có cơ chế đảm bảo sự riêng tư của khách hàng. Luật này sẽ đặt ra những tiêu chuẩn cụ thể, cách thức người dân có thể phản ánh khiếu nại và cách Nhà nước sẽ xử lý chế tài ra sao các doanh nghiệp hay tổ chức phạm luật.
Nhưng bảo vệ riêng tư không có nghĩa là phải lưu trữ dữ liệu ở Việt Nam. Đa số người dân châu Âu sử dụng dịch vụ của các công ty Mỹ, nhưng Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) không yêu cầu các công ty Mỹ phải đặt máy chủ ở châu Âu. Do đó cách quy định như điều 26 của Dự thảo luật không có mấy ý nghĩa thực tế.
Dữ liệu là vấn đề pháp lý phức tạp, tôi cho rằng Quốc hội nên nghiên cứu kỹ lưỡng để có một đạo luật riêng về vấn đề này thay vì gộp chung vào Luật an ninh mạng như hiện nay.
Cuối cùng, tôi cho rằng, để chống lại tấn công mạng, điều cốt lõi là con người, chứ không phải là công cụ pháp lý. Tuy nhiên, những chuyên gia hàng đầu Việt Nam mà tôi đã có dịp trao đổi đều không làm việc cho Chính phủ vì khu vực doanh nghiệp trả lương cao hơn, đãi ngộ tốt hơn, cơ hội nghề nghiệp công bằng hơn. Nhưng với uy tín của Chính phủ, tôi tin rằng Chính phủ dễ dàng huy động được những chuyên gia tên tuổi tham gia vào các dự án giúp đỡ đất nước. Năm 2016 tôi có đề xuất Việt Nam nên thành lập một đội đặc nhiệm bao gồm những chuyên gia Việt Nam giỏi nhất mà Việt Nam hiện có (xem bài Có một Biển Đông trên không gian mạng). Nhóm chuyên gia này, tương tự như tổ tư vấn về chính sách kinh tế, làm việc theo cơ chế phi lợi nhuận, sẽ giúp Chính phủ về chính sách và công nghệ. Đội đặc nhiệm này có vai trò tương tự như “Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an” mà Dự thảo nêu ra, nhưng chỉ đóng vai trò hỗ trợ, chứ không có quyền kiểm soát doanh nghiệp.

Kết thư

Từ vài năm nay tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ về chiến lược an ninh mạng quốc gia cho Việt Nam. Những ý kiến của tôi ở đây đều là tổng kết của quá trình suy nghĩ lâu dài, không phải những suy nghĩ vội vàng.
Tôi thấy cần phải chỉnh sửa, thu hẹp phạm vi của Dự thảo Luật an ninh mạng, chỉ nên tập trung vào mục tiêu đảm bảo an ninh mạng cho hệ thống máy tính trọng yếu do nhà nước quản lý, loại bỏ những nội dung vi phạm quyền hiến định của người dân như quyền tự do ngôn luận, quyền riêng tư, cản trở tự do báo chí, tăng chi phí kinh doanh, giảm năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở pháp lý cho một nhóm thiểu số nhũng nhiễu doanh nghiệp. Tôi không phải là một luật sư, nhưng với vốn kiến thức hạn hẹp tôi thấy rằng làm luật để kiểm soát người dân, kiểm soát doanh nghiệp là dùng pháp luật để cai trị dân chúng, chứ không phải dùng pháp luật để vận hành và phát triển đất nước. Dự thảo Luật an ninh mạng, do đó, nếu được thông qua, sẽ đẩy Việt Nam đi thụt lùi trên con đường trở thành một quốc gia pháp quyền.
Kính thưa Quốc hội,
Tôi đến Mỹ vì muốn tìm kiếm cơ hội chạy đua cùng thế giới, nhưng điều mà tôi tìm thấy lại quý giá hơn nhiều lần, đó là sự tự do. Nước Mỹ được như hôm nay là vì hiến pháp và văn hóa tôn trọng tự do của mỗi cá nhân. Ai cũng có quyền nói. Báo chí độc lập, là quyền lực thứ tư, giữ vai trò giám sát Nhà nước cho người dân. Internet không bị tường lửa ngăn chặn. Ở Trung Quốc thì ngược lại hoàn toàn. Vì vậy, mặc dù Trung Quốc đang giàu lên rất nhanh, nhưng người Trung Quốc vẫn muốn thành người Mỹ, chứ người Mỹ không muốn thành người Trung Quốc. Dự thảo Luật an ninh mạng có khả năng biến Việt Nam thành một bản sao xấu xí của Trung Quốc.
Tôi hi vọng Quốc hội sẽ có một lựa chọn sáng suốt để người dân Việt Nam, chí ít là cá nhân tôi, không phải mong muốn trở thành công dân một quốc gia khác.
Alsace, 31/5/2018
D.N.T.
Nguồn: https://vnhacker.blogspot.com/2018/05/thu-ngo-gui-quoc-hoi-ve-du-thao-luat.html?spref=fb

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

20180609. ÔN LẠI NHỮNG KẾT LUẬN SAI LẦM NGHIÊM TRỌNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
BỘ CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG ĐÃ TỪNG CÓ NHIỀU KẾT LUẬN SAI LẦM NGHIÊM TRỌNG! 

MẠC VĂ N TRANG/ FB Mạc Văn Trang /BVN 9-6-2018

clip_image006
clip_image008

Đảng Lao động Việt Nam trước đây nay là Đảng Cộng sản Việt Nam (gọi chung là Đảng), có một Bộ Chính trị (BTC), mà mọi quyết sách lớn của Đảng, của đất nước, đều thảo luận, biểu quyết thông qua, coi như “Chiếu chỉ của Vua” (Vua tập thể), không ai được bàn lui, làm trái!
Nên nhiều người bảo rằng, chuyện thông qua Luật về 3 đặc khu kinh tế là chuyện “VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN”, vì “BỘ CHÍNH TRỊ ĐÃ KẾT LUẬN”… Bà Ngân Chủ tịch QH cũng nói: “Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh tại phiên thảo luận về dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc sáng 16/4 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội”… (http://vneconomy.vn/chu-tich-quoc-hoi-phai-ban-de-ra-duoc-l…).
Về câu nói này có thể bình luận theo nhiều khía cạnh. Tôi chỉ hoàn toàn bằng ký ức, qua những trải nghiệm của bản thân, cũng có thể ghi nhận BCT Đảng không phải thánh thần, mà chỉ là những người tự trong Đảng bầu nhau lên, rồi cứ đem cái “Kết luận của BCT” ấy áp đặt lên toàn dân, và từ trước đến nay, đã dẫn đến nhiều sai lầm nghiêm trọng, khiến toàn dân gánh chịu những hậu quả nặng nề. Có thể nhắc lại một số sai lầm nghiệm trọng sau đây.
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành “Luật Cải cách ruộng đất”, mục đích nghe cũng hay, nhưng thực hiện đã dẫn đến những sai lầm đau đớn, chỉ trong ba năm, 1953 - 1956 hàng triệu người bị đấu tố, tra tấn, tù đầy; hàng vạn người bị giết oan ức… Khắp các làng quê gây nên bao thảm cảnh con đấu cha, vợ đấu chồng, anh em, họ hàng thù hận lẫn nhau… di hại không biết bao nhiêu năm.
2. Chủ trương Hợp tác hóa nông nghiệp sai lầm dai dẳng suốt từ 1958 đến 1986. Bần, cố nông vừa hí hửng “Ơn Đảng có ruộng cày”, thì từ năm 1958, BCT của Đảng lại “Kết luận” và yêu cầu QH thông qua “Luật Hợp tác xã nông nghiệp”. Kết quả là phải đưa hết ruộng đất vào HTX, tiến hành Công hữu hóa ruộng đất, trâu bò, nông cụ… Nông dân tiến lên con đường “làm ăn tập thể”! Ai trái ý Đảng là “phản động” hay nhẹ hơn là “phần tử lạc hậu, bảo thủ”. Giữa 2 con đường: “Làm ăn cá thể sẽ dẫn đến Tư bản chủ nghĩa”; và “làm ăn tập thể, sẽ thành XHCN”, chỉ được chọn MỘT! “Cuộc đấu tranh giữa 2 con đường” vô cũng dai dẳng, vật vã. Đảng đã chỉ đạo quyết liệt, huy động mọi nguồn lực từ dân, phát huy mọi sáng kiến, cải tiến, nhưng dân ngày càng đói rách… Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc - ông Kim Ngọc, chỉ thử nghiệm “khoán chui đến hộ nông dân”, rất kết quả, nhưng bị quy tội, cách chức…
Sau năm 1975, cả nước “Tiến lên nền sản xuất lớn, XHCN” thế là cả nước đói dài, ăn bo bo, sắn khoai, rau má… HTX dẫn đến thảm cảnh “CÁI ĐÊM HÔM ẤY ĐÊM GÌ”? mà Đảng ta vẫn u mê! Dân ta vẫn cam chịu!
May quá, có ông Gooc-Ba-Chộp từ Liên Xô tiến hành Pe-rest-troi-ka, Đảng ta tỉnh ngộ, bèn “ĐỔI MỚI”! Tức là “Cởi trói cho nông dân”, chia ruộng cho nông dân tự do làm ăn cá thể. Vợ chồng, con cái ngày đêm lăn lộn với mảnh đất cá thể, (Cũng không kịp nghĩ “thằng nào nó trói mình”, và giờ Đảng cởi cho)! Nguyễn Văn Linh tuyên bố xanh rờn: “Hãy tự cứu lấy mình trước khi Trời cứu”! (Chứ không chờ Đảng cứu)! Cả nước như đàn ong vỡ tổ, nhà nhà sản xuất, người người đi buôn; tướng tá, văn nghệ sĩ, CNVC, giáo sư, TS, viện sĩ… túa ra buôn bán, kiếm ăn. “Đầu đường thiếu tá bơm xe / Giữa đường trung tá bán chè đỗ đen / Cuối đường đại tá bán kem / Xem ra cấp tá chẳng hèn lắm đâu”! Nông dân cũng tỉnh ngộ, thì ra xưa nay BCT vẫn “kết luận”: “Mất mùa là tại thiên tai / Được mùa là tại thiên tài Đảng ta”! Nhờ “Cởi trói” để dân tự do làm ăn mà cả nước hồi sinh, dân tộc vùng lên, đầy sức sống sáng tạo, mãnh liệt… Đây là cơ hội vô giá, ngàn năm có một, để dân tộc ta vươn lên con đường phát triển như Singapore, Hàn Quốc… và thoát Trung ngoạn mục… Nhưng than ôi!
3. BCT của Đảng lại “kết luận”… và năm 1990, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng… đã kéo nhau sang Thành Đô, Trung cộng để gắn kết 2 Đảng CS với nhau, “Trên tinh thần thỏa thuận cấp cao” “16 CHỮ và 4 TỐT”. Đến nay “MẬT ƯỚC THÀNH ĐÔ” vẫn không được công bố cho nhân dân được biết. Do vậy dân gian đồn rằng, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, vì phản đối, cho rằng, “Mật ước Thành Đô sẽ dẫn đến Bắc thuộc lần thứ 3” mà ông bị mất hết chức vụ; đồn rằng, Nguyễn Văn Linh nói: “Thà mất nước còn hơn mất Đảng” (!); đồn rằng đến năm 2020 Việt Nam thành một “bộ phận hợp thành của Trung Quốc”! Từ đó Việt Nam ngày càng bị Trung cộng o ép, trói buộc với bao nhiêu điều thiệt thòi, nhục nhã, không kể xiết! Vì Đảng giấu nhẹm cái “Mật ước thành Đô”, vì phải che giấu điều gì đó cực kỳ nghiêm trọng, nên nhiều quan chức của Đảng và Nhà nước “Danh bất chính, ngôn bất thuận”, nói năng ấp úng, tư thế đối ngoại với Trung cộng mới hèn và nhục đến thế! Chưa bao giờ thấy một Đại tướng Việt Nam đớn hèn, nhục nhã như Phùng Quang Thanh trước Trung cộng! Chắc là vì cái “ĐẠI CỤC” Thành Đô mà Đảng ngày càng chui vào cái rọ cuả Trung cộng, co cụm lại bảo vệ quyền lợi phe nhóm của mấy triệu đảng viên, xa rời mối quan hệ máu thịt với nhân dân, quay ra lừa dối dân, đàn áp dân… Cuối cùng, con mắt tinh tường của Dân đã tổng kết: “CHÍNH QUYỀN NÀY HÈN VỚI GIẶC, ÁC VỚI DÂN”! CAND trở thành công cụ của Đảng, “chỉ biết còn Đảng, còn mình”! Họ ăn cơm dân, mặc áo dân, mà chỉ biết nghe lệnh Đảng để đàn áp Dân…
4. BCT đã “kết luận” kinh tế quốc doanh là chủ đạo, đã thành lập các tập đoàn kinh tế quốc doanh làm những “Quả đấm thép”… Bao nhiều nguồn lực dồn hết cho những Vinashine, Vinaline và bao nhiêu tập đoàn quốc doanh, nhưng hầu hết thua lỗ, phá sản để lại núi nợ công chồng chất. Sau hơn 20 năm phá tan hoang nền kinh tế, BCT lạ kết luận “Tái cấu trúc nền kinh tế”, cho phá sản và “Cổ phần hóa” các cơ sở sản xuất quốc doanh. Lại một lần tham nhũng, tan hoang nền kinh tế… BCT lại kết luận: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng phát triển đất nước”! Ôi, sau mấy mươi năm, người dân nào cũng thấy, cả nhân loại đã coi đó như lẽ tự nhiên, mà đến tận ngày nay BCT Đảng ta mới sáng suốt “kết luận” như vây!
5. BCT “kết luận” và QH thông qua Hiến pháp, bao nhiêu lần sửa đổi vẫn cứ khăng khăng “Đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”. Hậu quả là, chính quyền từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã cùng tìm cách cướp đất của Dân, dưới hình thức “Giải tỏa, đền bù” và “Cưỡng chế”, “Thu hồi đất” để bán chác, sang nhượng, chia nhau kiếm lời, làm nảy nở nhung nhúc quan tham; phá nát giang sơn; đồng tiền xô đẩy các quan chức và toàn xã hội vào cảnh lọc lừa, dối trá, đạo đức suy đồi, cương thường rối loạn… Bao người dân bị cướp đất, “tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây”; bao nhiêu đoàn dân oan kéo lê lết đi khiếu kiện 10 năm, 20 năm, toàn hệ thống chính trị của Đảng vẫn bưng tai, bịt mắt, vô cảm, vô can? Thật khốn nạn! Những vụ cưỡng chế trắng trợn, tàn bạo như vụ Đoàn Văn Vươn (Hải Phòng), Vụ Ecopark (Hưng Yên), vụ Dương Nội và Đồng Tâm (Hà Nội), vụ Thủ Thiêm (HCM)… đã đi vào lịch sử tội ác của Đảng. Hồi đánh Mỹ, chị Út Tịch, “còn cái lai quần cũng đánh”, nhưng chống giặc nội xâm cướp đất, nhiều chị em đã phải “cởi trần truồng ra đánh”… mà vẫn thua!
6. Cũng vì Luật đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nên hồi Nông Đức Mạnh là TBT và Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng mới “bật đèn xanh” để các tỉnh có quyền cho người nước ngoài thuê đất 50 năm, mà hơn 10 tỉnh đã cho người nước ngoài, chủ yếu là Trung cộng, thuê đất rừng 50 năm ở hầu hết những vị trí chiến lược hiểm yếu. Cá biệt có nơi như Võ Kim Cự (Hà Tĩnh) còn dám cho Formosa thuê đất 70 năm với giá bèo! Rồi Dự án Bô xít Tây Nguyên, không biết bao nhiêu lời khuyên can, phán đối, nhưng “BCT đã kết luận”, và không ai ngăn cản được, để Tàu vào chiếm “Nóc nhà Đông dương”, còn bô xít thì chỉ lỗ và tiềm ẩn bao đe dọa!
7. Trên đây, điểm qua vài “Kết luận” lớn của BCT dẫn đến những sai lầm lớn, chứ “Những kết luận nhỏ” thì không đếm xuể! Nhiều “kết luận” nêu trên, có động cơ, mục đích vì dân, vì nước, nhưng do điều kiện lịch sử và tầm hiểu biết hạn chế của các nhà lãnh đạo, nên NHÂN DÂN CÓ THỂ THA THỨ. Còn lần này, BCT “kết luận, lập 3 đặc khu kinh tế” cho ngoại bang thuê 99 năm, thì cả ĐỘNG CƠ, MỤC ĐÍCH, ÂM MƯU đều theo “ĐẠI CỤC” Thành Đô, không thể che giấu nổi “Mắt Thánh” của Nhân dân! Hãy bỏ cái “Kết luận của BCT” đi! Chưa có cái “kết luận” nào của BCT” lại sai lầm kéo dài đến 99 năm và di hại đến muôn đời con cháu!
“Mật ước Thành Đô” có thể do u mê, sai lầm trong lúc hoang mang, bối rối; còn “Kết luận của BCT” về 3 đặc khu kinh tế” kỳ này, đã được bao nhiêu góp ý thấu tình, đạt lý, đầy trách nhiệm của các nhân sĩ, trí thức, chuyên gia ở trong và ngoài nước; đã thấy sự phản ứng sục sôi của dân chúng; những người dân mà LÒNG YÊU NƯỚC và BẢN NĂNG SINH TỒN TRƯỚC HỌA PHƯƠNG BẮC MẤY NGÀN NĂM đã được di truyền bao đời, thấm vào máu thịt, tim óc mỗi con dân Việt. Những phản ứng ấy có tính LINH CẢM, TRỰC GIÁC nhưng lại vô cùng chính xác, hơn bất kỳ thứ lý lẽ nào! Chỉ có CÁI GIEN DI TRUYỀN ĐÓ, còn lại ở mỗi người Dân Việt, mà dù ở bất cứ nơi đâu, họ cũng sẵn sàng hiến dâng tâm lực, trí lực, tiền của, xương máu của mình cho Độc lập của Tổ quốc, Tự do, Hạnh phúc của Nhân dân; nhân dân ta có thể chấp nhận còn nghèo, chứ “Nhất định không cam chịu mất nước, không cam chịu làm nô lệ”!
BCT và các “con rối tay sai” cho nhóm lợi ích đừng dối trá, lòe bịp Dân thêm nữa! Dân không muốn nghe giải thích thêm gì nữa! CHỈ CÓ NÓI KHÔNG VỚI “ĐẶC KHU KINH TẾ”!
Có lẽ mỗi người dân đều cảm thấy nói “hết tình, hết lý” rồi, không muốn nói thêm nữa! Chỉ còn một chút NIỀM TIN và HY VỌNG le lói “cuối đường hầm”, hoặc là SỤP ĐỔ HOÀN TOÀN!
Nếu sụp đổ thì hãy nghe lời CỤ HỒ nói đây: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh).
08/6/2018
clip_image002

clip_image010

ĐỀ ÁN ĐẶC KHU KINH TẾ DO ÔNG PHẠM MINH CHÍNH LÀ TÁC GIẢ, TỪNG ĐỊNH CHO THUÊ ĐẤT  120 NĂM, CHỨ KHÔNG PHẢI 99 NĂM!

HOÀNG DŨNG/ BVN 9-6-2018

clip_image002

Nhiều người tưởng việc thành lập Đặc khu Kinh tế Vân Đồn chỉ mới đặt ra vào năm 2014 căn cứ vào bản tin tường thuật Hội thảo khoa học quốc tế về phát triển Đặc khu kinh tế - Kinh nghiệm và Cơ hội ngày 20/3/2014 đăng trên trang mạng của chính quyền Quảng Ninh
 (http://www.quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=56858). 
Thực ra, trước đó hai năm, một đề án xây dựng đặc khu kinh tế tại Quảng Ninh đã được công bố mà tác giả là Phạm Minh Chính, lúc ấy là Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh, nay là ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng. Theo lời của GS Võ Đại Lược, ông Phạm Minh Chính “rất hăng say về chuyện xây dựng đặc khu kinh tế ở Vân Đồn”, từng “cho tổ chức không ít hội thảo về đề tài này”, từng “tự tay viết Đề án đặc khu kinh tế của Vân Đồn, và trực tiếp trình bày với Bộ Chính trị, và được chấp thuận” (http://nguoidothi.net.vn/dac-khu-kinh-te-o-viet-nam-nhung-thu-nghiem-va-that-bai-13907.html).
Ông Phạm Minh Chính muốn xây dựng hai đặc khu kinh tế, chứ không phải một: ngoài Vân Đồn còn có Móng Cái, mà Móng Cái thì không phải gần, mà chung biên giới với Trung Quốc. Đề án có tên “Phát triển kinh tế xã hội xanh, bền vững, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và thí điểm hai khu hành chính - kinh tế đặc biệt là Móng Cái và Vân Đồn” được chính thức công bố và lấy ý kiến các bộ ngành liên quan vào đầu tháng 8 năm 2012.
Và luật lệ hết sức mở: miễn toàn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp thành lập mới trong thời gian 15 năm đối với doanh nghiệp công nghệ cao và 20 năm đối với lĩnh vực dịch vụ. Người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại đây sẽ được giảm tới 70% thuế thu nhập cá nhân trong vòng 15 năm. Đặc biệt, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thuê quyền sử dụng đất trong 70 năm và doanh nghiệp dịch vụ còn có thể lên đến 120 năm.
Đối với Vân Đồn, kinh tế mũi nhọn được xác định là “du lịch biển đảo, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí cao cấp, trung tâm thương mại, tài chính và là cửa ngõ giao thương quốc tế”. Còn với Móng Cái sẽ là “thành phố cửa khẩu quốc tế hiện đại, là trung tâm phát triển của vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ với các mũi nhọn là thương mại biên giới, là cửa ngõ giao thương trao đổi hàng hóa ASEAN - Trung Quốc, phát triển du lịch biển và du lịch biên giới”.
Quảng Ninh “đếm cua trong giỏ” còn trước cả bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, đưa ra những con số trong mơ: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Vân Đồn sẽ đạt khoảng 21,9%/năm cho đến năm 2020, với GDP bình quân đầu người đạt 3.600 USD vào năm 2015 và 9.000 USD vào năm 2020. Móng Cái còn kinh khủng hơn: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân sẽ tăng 14,8% cho đến năm 2020, để GDP bình quân đầu người đạt 7.000 USD vào năm 2015 và 14.000 USD năm 2020.
Những thông tin ấy không có gì là bí mật. Nó được công bố trên trang mạng của chính quyền Quảng Ninh (xin xem http://www.quangninh.gov.vn/bannganh/bantuyengiao/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=2889&Page=2)
Chỉ nói thêm: Hội thảo đã nhắc ở trên chắc chắn có tài trợ của phía Trung Quốc. Chẳng thế mà trước đó, bà Đỗ Thị Hoàng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, trong buổi làm việc với đoàn chuyên gia Trung tâm nghiên cứu đặc khu kinh tế Trung Quốc thuộc trường Đại học Thâm Quyến để chuẩn bị cho hội thảo đã bàn đến cả chuyện kinh phí tổ chức hội thảo (http://www.quangninh.gov.vn/pInChiTiet.aspx?nid=54541). Và như thế, không loại trừ đề án xây dựng đặc khu kinh tế có bàn tay lông lá của Trung Quốc thò vào.
clip_image002
H. D.
Tác giả gửi BVN.

LUẬT ĐẶC KHU: ĐỈNH ĐIỂM CỦA PHẪN NỘ TOÀN DÂN

BÙI TÍN/ Blog VOA 8-6-2018

Một bãi biển thuộc Phú Quốc.


Một bãi biển thuộc Phú Quốc.
Đất nước Việt Nam đang sống trong tình trạng biến động, sôi sục.
Lãnh thổ của tổ quốc, chủ quyền của đất nước, nền độc lập của quốc gia đang bị thử thách lớn.
Sự kiên nhẫn của một dân tộc từng trải qua những thử thách ngàn cân treo sợi tóc lại bị đem ra thách thức một cách nghiêm trọng nhất.
Người dân bình thường, em học sinh bình thường cũng hiểu rõ rằng Luật Đặc khu hành chính – kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Bình Định) và Phú Quốc là mưu đồ bành trướng thâm hiểm nhất quán của Trung Cộng mà Bộ Chính trị đảng CSVN buộc phải « đem thịt dân mình nuôi lũ hổ đói » – Bành trướng phương Bắc.
Bao nhiêu điều dối trá, ngụy biện đều vô hiệu. Nào là ta đã có hàng trăm đặc khu kinh tế rải khắp, nay có thêm 3 cái, có là bao, sẽ thu lợi cực lớn. Thế giới họ có biết mấy đặc khu, mang lợi to lớn, là những tổ trứng Phượng Hoàng, phồn vinh thịnh vượng. 99 năm mới thật hấp dẫn các FDI lớn của thế giới, có giành riêng cho nước nào đâu!
Bà chủ tịch Quốc hội leo lẻo: « Đây là chủ trương của Bộ Chính trị, không thể không làm. » Vậy đây là quốc hội của nhân dân hay đảng hội của đảng?
Ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thấy rõ « làn sóng phản đối khủng khiếp » nên hứa lắng nghe, sẽ điều chỉnh, có vẻ như chỉ sẽ điều chỉnh số năm 99 xuống thấp hơn, nhưng công luận lập tức trả lời: Phải từ bỏ hẳn dự Luật chứ không phải điều chỉnh, không thể cò kè ở những điểm như thế.
Vì ai cũng biết cả 3 vùng nói trên đều đã có chủ đầu tư khá sâu, toàn là đại gia tư bản 9dỏ người Việt thân Trung Quốc, nay họ cần những khoản vốn cực lớn mới.
Vài chục tỷ đôla để đầu tư thêm cho sòng bạc, nhà đỏ cao cấp, nơi nghỉ dưỡng cho cánh thượng lưu, sân gôn, vườn thú, bãi biển cho các đại quý tộc, nằm trong chiến lược kinh tế « một vành đai, một con đường » – one belt, one road - của Hoàng Đế CS Trung Hoa Tập Cận Bình.
Đây là lúc Bộ Chính trị bế tắc, ngân sách thâm thủng, tham nhũng là thất thoát hàng trăm ngàn tỷ đồng, kinh tế lụn bại, nợ chồng chất, cố tìm ra một lối thoát hào nhoáng nhưng hoàn toàn mạo hiểm và liều lĩnh.
Họ tính rằng người dân ta hiền lành quá, dễ bảo quá, quốc hội lại nằm trọn trong tay đảng, khi gần 90% là đảng viên, phải tuân theo kỷ luật, chỉ thị của đảng, làm sao khác được.
Nhưng lại có một sự thật là sự chịu đựng cam chịu của người dân là có hạn, con sên bị xéo phải oằn lên, thế tận cùng tắc biến, uy tín của đảng đang ở mức thấp nhất, nhân dân bắt đầu nhận ra đảng không còn xứng đáng là lực lượng tiên phong soi đường chỉ lối, không còn là lực lượng chính đáng lãnh đạo, mất hoàn toàn tính chính danh – legitimacy - nay lại đổ thêm dầu vào lửa bằng dự Luật bán nước này, thách thức láo xuợc nhân dân là chủ thể duy nhất của đất nước.
Một văn kiện phản đối Luật đặc khu lập tức có 737 chữ ký, hôm sau lên 1382 chữ ký, nay lên đến 1591 người tham gia do mạng Bô-xit đề xướng, trong ngoài nước các tổ chức kêu gọi biểu tình ngày Chủ nhật 10/6 đòi hủy bỏ dự Luật, gần 30 đại biểu quốc hội nghi ngại, yêu cầu hõan việc bỏ phiếu để thảo luận sâu thêm, rộng rãi thêm, các nhà kinh tế Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, các nhà nghiên cứu Tương Lai, Nguyễn Trung, Hà Sỹ Phu, các nhà báo Phạm Đình Trọng, Bùi Minh Quốc, các nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Thiều… đều lên tiếng phản đối mạnh mẽ đạo luật phản động này.
Ông tổng bí thư nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị đang đứng trước một đỉnh điểm phẫn nộ xung thiên của toàn dân. Ông tổng Trọng ốm yếu, uy tín suy giảm tệ hại do cầm đầu chủ trương cuộc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh phi pháp chà đạp pháp luật quốc tế bằng bạo lực, gây căng thẳng với CHLB Đức, Tiệp, Slovaque, Ba Lan… và toàn Liên Âu, lại bị tố cáo là nhu nhược với Trung Cộng nhất trong tất cả 5 tổng bí thư sau sự kiện Thành Đô: Tệ hơn cả Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh.
Đã có yêu cầu của một số blogger nếu có bỏ phiếu về Luật đặc khu cần công khai không chỉ con số, tỷ lệ, mà công khai cả tên những ai tán thành, những ai chống, các nhà nhiếp ảnh cần chụp cho rõ, đầy đủ cảnh bỏ phiếu, vì sau này có thể có các phiên tòa xử bày lũ bán nước buôn dân cần đến để làm chứng cứ.
Cả nước sẽ chăm chú theo dõi cuộc bỏ phiếu này.
Để xem ông Tổng Trọng và Bộ Chính Trị có gan lỳ được trước ý chí và phẫn nộ xung thiên của nhân dân hay không?

LUẬT ĐẶC KHU VÀ DẤU HIỆU DÂN HẾT...'THUẦN'

TRÂN VĂN/ Blog VOA 8-6-2018

Cảng Cái Rồng, đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, nhìn từ trên cao.


Cảng Cái Rồng, đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, nhìn từ trên cao.

Phản ứng đối với Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt” mà nhiều người gọi tắt là “Luật Đặc khu” ắt làm giới lãnh đạo Đảng CSVN, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửng sốt. Trong mắt họ, dân Việt vốn… “thuần”.
Có những bằng chứng khá rõ ràng cho thấy giới lãnh đạo Đảng CSVN, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thật sự lúng túng khi dân Việt hết… “thuần” như họ nghĩ.
Bất chấp băn khoăn của một số đại biểu Quốc hội, khuyến cáo của một số chuyên gia và chỉ trích của nhiều giới, kể cả “lão thành cách mạng”, bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Chủ tịch Quốc hội vẫn khăng khăng: Thành lập ba đặc khu ở Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kiên Giang là chủ trương của Bộ Chính trị. Vì Bộ Chính trị đã quyết định như thế nên không thể không có luật về đặc khu!
Thế nhưng mới đây, hôm 7 tháng 6, ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Việt Nam, chính thức cam kết sẽ chỉnh sửa Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt”, không giao đất cho nhà đầu tư tới 99 năm nữa (1). Cần phải nhớ rằng, tháng trước, chính ông Phúc là một trong những người khuyến cáo các đại biểu Quốc hội nên ủng hộ chủ trương giao đất 99 năm.
Cục diện liên quan đến Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt” đang thay đổi rất nhanh. Ngày 6 tháng này, chỉ mới có vài đại biểu Quốc hội rụt rè đề nghị, tách thời hạn giao đất đến 99 năm thành một vấn đề riêng để biểu quyết khi bỏ phiếu thông qua Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt” (2). Hai ngày sau đã có hàng chục đại biểu công khai cho rằng, cần giữ dự luật này lại để trưng cầu dân ý (3)!
***
Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt” với ý định biến khu vực Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), đảo Phú Quốc (Kiên Giang) thành đặc khu với nhiều ưu đãi được quảng bá là chưa từng có cho các nhà đầu tư, giống như một liều thuốc đặc trị, kích thích dân chúng Việt Nam, bất kể tuổi tác, giới tính, thành phần xã hội thay đổi cả tâm thế lẫn tư thế.
Trên các diễn đàn điện tử, mạng xã hội, số người minh định tên tuổi, diện mạo kèm tuyên bố phản đối việc giao đất cho những nhà đầu tư vào các đặc khu tới 99 năm, tăng từng giờ. Trên các diễn đàn điện tử, mạng xã hội, nhiều cá nhân xưa nay xem “quốc kế, dân sinh” là chuyện của hệ thống chính trị chứ không phải của mình, không ít người mà công việc, quyền lợi vốn gắn liền với sự tồn vong của hệ thống chính trị nên chẳng bao giờ chỉ trích hệ thống ấy,… đột nhiên cùng bày tỏ một cách rạch ròi rằng, Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt” chính là “đưa mỡ vào miệng mèo”, là “cho sói đặt trước một chân vào chuồng gà”.
Chẳng riêng các diễn đàn điện tử, mạng xã hội, số lượng các cơ quan truyền thông do hệ thống công quyền kiểm soát, tham gia vào việc vạch trần mặt trái của các đặc khu, đặc biệt là những đặc khu do các nhà đầu tư đến từ Trung Quốc từng đổ tiền vào ở châu Á, châu Phi càng lúc càng đông. Dường như không ai có thể dửng dưng trước nguy cơ mất nước, dân tộc thêm một lần lệ thuộc Trung Quốc.
Độc giả các diễn đàn điện tử, người sử dụng mạng xã hội vốn chỉ quen lướt web cho vui, giờ chính là đối tượng săn tìm thông tin, hình ảnh, dữ liệu để tự đánh thức chính mình và cảnh tỉnh đồng bào của mình. Thông báo về chủ trương thành lập ba đặc khu của Bộ Chính trị Đảng CSVN do ông Đinh Thế Huynh ký. Chuyện mời các chuyên gia Trung Quốc đến Việt Nam giảng dạy về lợi ích, cách thức thành lập – vận hành các đặc khu trước khi Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt” được soạn thảo rồi trình cho Quốc hội Việt Nam biểu quyết,… giờ được bày ra trên Internet cho tất cả người Việt cùng xem, cùng ngẫm.
Dân đã hết… “thuần” và có thể vì không hình dung được sẽ có lúc dân hết… “thuần” nên cách chống đỡ của các viên chức hữu trách hết sức vụng về: Ông Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh, người loan báo, “có nhà đầu tư hàng đầu của Mỹ đã tìm hiểu và 99,6% người dân Vân Đồn đồng thuận với việc thành lập Đặc khu Vân Đồn” (4), rút lui, im thin thít dù bị thiên hạ chửi như tát nước vào mặt.
Ngay cả truyền thông chính thức cũng gọi kiểu trấn an của ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường (chưa phát hiện người nước ngoài nào mua đất) là “khó tin”. Có độc giả bình luận, ông Hà giống như đang ở trên… mây. Độc giả khác thì bình rằng, quản trị như thế, nếu có thêm ba đặc khu – thêm ba cái cửa được mở toang thì ai cũng có thể hình dung quốc gia sẽ tan hoang như thế nào (5)!
Không phải tự nhiên mà ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Việt Nam thú nhận, Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt” đã gây ra một “làn sóng khủng khiếp” và chỉ trong vài ngày vừa qua, cá nhân ông Phúc đã nhận được vô số thư từ, tin nhắn, điện thoại (6). Ông Phúc đã hứa sẽ xem lại thời hạn thuê đất và ông mới loan báo sẽ thôi không giao đất trong 99 năm nữa.
Không may cho giới lãnh đạo Đảng CSVN, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là dân đã hết… “thuần”. Dù có nhân nhượng không giao đất tới 99 năm đi nữa thì dân vẫn không chịu. Nhiều facebooker khẳng định như Đàm Hà Phú: 77 đặc khu mà Trung Quốc đầu tư tại 36 quốc gia trên thế giới - hầu hết là ở các quốc gia nghèo mạt rệp ở châu Á như Lào, Sri Lanka và châu Phi... đều có đặc điểm là bị Trung Quốc hóa. Dân Trung Quốc đổ vào các các đặc khu biến người bản địa thành công cụ để bóc lột sức lao động. Tệ nạn, đặc biệt là buôn người và mại dâm ở các đặc khu do Trung Quốc đầu tư - kiểm soát cũng ở mức khủng khiếp. Môi trường, xã hội ở các đặc khu bị phá nát... Vì Trung Quốc trợ cấp cho mỗi gia đình di cư sang các đặc khu ở Lào một khoản tương đương 100 ngàn Mỹ kim nên khu vực Bắc Lào giờ tràn ngập dân Trung Quốc, họ kiểm soát tất cả mọi ngành nghề và dân Lào giờ chỉ là người làm thuê cho dân Trung Quốc ngay trên mảnh đất của chính cha ông họ... Phú nhấn mạnh: Những ai đang và sẽ ủng hộ luật đặc khu cần đọc nhiều thông tin để biết rằng, mình đang tiếp tay đế bán nước cho Trung Quốc như vậy đó. Dù các vị chức sắc “Ăn cơm nhà, vác tù và Bắc Kinh” vẫn nhất định không để chữ nào về Trung Quốc nào trong Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt” nhưng ai cũng hiểu, ngoài Trung Quốc còn ma nào vào đây nữa. Vấn đề không phải là 99 năm hay 9 năm, vấn đề là không có đặc khu, lỏng khu gì sất (6).
***
Rất nhiều người ngỡ ngàng sau khi ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư, nói xa, nói gần rằng đang có những người cố tình hiểu sai Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt”, đẩy thiện ý về đặc khu trở thành nguy cơ tạo ra các nhượng địa, “chia rẽ quan hệ giữa ta với Trung Quốc”(7), hàng ngàn người sử dụng mạng xã hội đã phản hồi như Tạ Quang Hiệp: Người tử tế không muốn dính dáng đến Trung Cộng. Chúng nó là bố các ông hay sao mà sợ bị chia rẽ (8)? Hoặc than như Thang Cong Vu: Trước còn ngờ dư luận săm soi, khe khắt quá mức nhưng nghe các bộ trưởng trả lời về đặc khu thì thấy thất vọng toàn tập. Cơ đồ Việt Nam suy sụp từ đây chăng (9)?
Tháng 2 năm 2013, khi tiếp xúc với cử tri huyện Thạch Thất, Hà Nội, có dịp tường thuật về chuyến công du châu Âu, đặc biệt là được viếng thăm Vatican, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng CSVN tuyên bố đầy hãnh diện: Mình phải như thế nào người ta mới mời chứ! Không rõ với lối tư duy đó, sau “làn sóng khủng khiếp” đối với Dự luật về “Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt”, ông Trọng có triệu tập Bộ Chính trị họp bất thường để tự kiểm điểm xem: “Mình phải như thế nào…” nhân dân mới nghi ngại và phẫn nộ như vậy, hay không?
Chú thích

PHÊ CHUẨN LUẬT ĐẶC KHU KINH TẾ: MÙ MỜ NHẬN THỨC HAY CỐ Ý  ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM ?

THIÊN ĐIỂU/VNTB/ BVN 9-6-2018

“… từ một đề xuất qui hoạch phát triển kinh tế mang tính khu vực địa phương, đổi tên thành Luật đặc khu một cách khập khiểng nhưng “đúng qui trình” mà không có một chuyên gia kinh tế hay quản lý nhà nước nào có thể hiểu được lý do và cơ sở hình thành của nó”.
Dư luận và truyền thông đang sôi sục về việc Quốc hội đưa ra bàn thảo, biểu quyết về 3 Đặc khu kinh tế. Phản ứng bùng lên rất nhanh và hầu hết đều phản đối và thậm chí kết luận đó là hành vi bán nước. Bản chất và nội dung liên quan các Đặc khu kinh tế này như thế nào? Tại sao dư luận lại bùng lên phản ứng bất ngờ như vậy?
Trên truyền thông, việc xây dựng đề án về 3 Khu kinh tế trọng điểm gồm Phú Quốc (Kiên Giang); Vân Phong (Khánh Hòa); Vân Đồn (Quảng Ninh) đã được đưa ra từ lâu. Trong đó Phú Quốc và Vân Phong được truyền thông nhà nước đăng tải từ những năm 2009-2012, cùng với Khu kinh tế Vũng Áng (Formosa Hà Tĩnh). Vân Đồn chỉ mới được đưa vào khoảng 2015 trở lại đây. Sau một khoảng thời gian yên ắng vì các đề án chưa thống nhất và làm rõ về qui mô và định hướng phát triển trọng tâm tại các khu kinh tế này. Một điểm cần lưu ý: Khi đó Phú Quốc; Vân Phong; Vân Đồn; Vũng Áng đều được lập với tên là Đề án Khu kinh tế trọng điểm chứ không phải là Đặc khu kinh tế. Đặc khu kinh tế Phú Quốc có được nhắc tới trong một vài ý kiến đề xuất bổ sung nhưng không rõ ràng vì vào khoảng 2015-2016, nghị trường và thông tin cuốn vào đề xuất lập Đặc khu hành chính kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh làm thí điểm. Chính việc truyền thông mù mờ giữa Khu kinh tế trọng điểm và tiến trình xây dựng đề xuất thành lập các khu kinh tế trọng điểm đã âm thầm chuyển sang Đặc khu kinh tế là một trong những nguyên nhân dẫn đến phản ứng bất ngờ của dư luận những ngày qua.

clip_image002
Hình ảnh đồ họa về Đặc khu Vân Đồn

Về thời hạn 99 năm của các Đặc khu kinh tế. Giai đoạn trước 2016, khi ông Nguyễn Tấn Dũng đang còn làm Thủ tướng, việc qui hoạch các khu kinh tế trọng điểm: Vũng Áng; Vân Phong; Phú Quốc… với nhiều ưu đãi lớn đã thúc đẩy Quảng Ninh đệ trình thêm Vân Đồn là do một cuộc vận động nào đó hay đơn giản là theo kiểu phong trào “xí phần” tương tự phong trào tượng đài, cổng chào… Việc phê duyệt cho khu công nghiệp Formosa Vũng Áng thời hạn 70 năm, dẫn đến ông Võ Kim Cự bị mất chức sau sự cố môi trường biển thực chất chỉ là cái cớ để thí chốt thay cho ông Dũng vì thời hạn 70 năm là thời hạn dài nhất theo luật Đầu tư hiện hành và thuộc thẩm quyền của Thủ tướng quyết định. Ông Võ Kim Cự chỉ là người thừa ủy quyền mà Thủ tướng đã ký qua văn bản chấp thuận. Việc xuất hiệt con số 99 năm có lẽ đã manh nha hình thành khi mà Formosa liên tục tìm cách đòi hỏi các quyền lợi ưu đãi mà các doanh nghiệp Việt Nam nằm mơ cũng không thể có. Lập luận: “Thay vì tăng các chính sách ưu đãi thì kéo dài thời hạn đầu tư” đã bắt đầu từ đây, cùng giai đoạn này là hàng loạt dự án B.O.T về giao thông được viết theo bài “chi phí đầu tư cao, nguồn thu thấp” để kéo dài thời hạn thu phí. Dự án Cảng biển quốc tế Vân Phong - Khu kinh tế Vân Phong - cũng vì vậy mà khi đưa ra Quốc Hội đã không có giải trình thuyết phục. Bị loại ra để nghiên cứu thêm cho đến nay.
Đối với Phú Quốc, ý tưởng Đặc khu kinh tế vốn hình thành từ một đề xuất nghiêm túc đến từ Mỹ. Sau khi dỡ bỏ lệnh cấm vận, vào thời của Tổng thống Bil Clinton còn tại nhiệm đã có 2 đề xuất quan trọng là Hành lang giao thông hàng hải quốc tế ngang qua Vịnh Thái Lan - Phú Quốc; Cảng Cam Ranh (dự án kênh đào Kra). Các thông tin chính thống từ Mỹ cho biết rằng chính phía Mỹ đã đề xuất biến Phú Quốc thành điểm trung chuyển hàng hải với kế hoạch đào tuyến vận tải đi ngang qua eo biển Thái Lan giúp tàu bè đi qua Biển Đông thu ngắn được một quãng đường khá dài nhờ lợi thế về vị trí đặc biệt trong vịnh Thái Lan. Chuyến đi Mỹ của ông Dũng lần đầu lúc còn ở nhiệm kỳ Thủ tướng thứ nhất cũng mang lá bài chủ chốt là kế hoạch hợp tác này. Thất bại ở khoản hứa viện trợ 20 tỷ USD sau đó không được thực hiện là do BCT đảng CSVN đã gạt đi vì không muốn đáp ứng các điều kiện liên quan nhân quyền và chính sách kinh tế thị trường mà phía Mỹ đưa ra; do chưa sửa luật đầu tư thời hạn trên 70 năm hay do bàn tay Trung Quốc thọc vào thì không khẳng định được. Chỉ biết rằng cả 2 vị trí “sáng giá” nhất của Việt Nam đã không còn được tiếp tục xúc tiến với Mỹ. Khoản viện trợ để đối phó khủng khoảng kinh tế từ Mỹ đã chuyển sang khoản vay từ ông chủ Trung Quốc và không phải 20 tỷ mà là hơn 80 tỷ Mỹ kim. Điều kiện đi kèm là Bauxite Tây Nguyên và Formosa mà mọi người đã biết. Kể từ đây, cuộc bùng nổ các dự án mà nguồn vốn từ TQ hoặc do nhà đầu tư TQ ào ạt vào Việt Nam, song song với đó là cuộc lấn chiếm, cải tạo các đảo đá ở khu vực Trường Sa - Hoàng Sa của Việt Nam cũng được TQ ráo riết thực hiện. Bí mật truyền thông chấn động do một đại biểu quốc hội công bố: Tàu TQ hoạt động cách bờ biển chỉ 30 hải lý (!). Thông tin này xem như xác nhận toàn bộ vùng biển Việt Nam đã vào tay TQ mà chính quyền Hà Nội đã bưng bít lâu nay. Phải chăng việc TQ nối các điểm đứt quãng của đường lưỡi bò thành nét liền là một thông điệp xác nhận khác rằng đã hoàn tất việc thâu tóm Biển Đông? Không cần bàn thêm vì hẳn ai cũng có thể hiểu khi chắp nối hai thông điệp Việt-Trung lại với nhau.
Trở lại với Luật về 3 đặc khu kinh tế. Vân Đồn, vị trí địa đầu phía Bắc trên biển; Vân Phong, nằm giữa miền Trung và Phú Quốc, cực Nam của Việt Nam.
Trong khi Luật Đầu tư vẫn chưa sửa đổi về thời hạn cho thuê đất, giao đất. Đề án thành lập Đặc khu kinh tế với thời hạn 99 năm nếu được thông qua chắc chắn dẫn đến phải sửa luật đầu tư. Theo tính kế thừa của ban hành luật thì sau đó rất có khả năng các dự án ở vùng đặc biệt khó khăn mà giấy phép theo luật hiện tại là 50 năm, 70 năm sẽ được điều chỉnh theo. Hàng loạt các dự án trên đất liền, những vùng núi đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng hiện nằm trong tay nhà đầu tư TQ sẽ đi tiên phong vì cũng là nhà đầu tư nước ngoài. Các yếu tố và điều kiện đáp ứng tiêu chuẩn theo luật là như nhau, khi đó dù muốn hay không cũng không dễ để không phải tiếp tục nhượng bộ.

Mô hình Đặc khu kinh tế khác với Khu kinh tế trọng điểm và Đặc khu hành chính - kinh tế như thế nào?

Tên đầy đủ dự luật mà dư luận Việt Nam đang phản đối là Đặc khu hành chính-kinh tế. Đặc khu (Special Economic Zone - còn có tên khác là Khu kinh tế đặc biệt; Khu thương mại tự do…) là cách gọi những khu vực mà việc quản lý - điều hành được thực hiện theo phương thức đặc biệt. Có những chính sách cả về hành chính và kinh tế khác với các qui định theo luật quản lý hành chính, luật đầu tư, luật thuế… đang được áp dụng chung trên các khu vực khác trong nước.
Đặc khu kinh tế - Khu kinh tế đặc biệt, là khu vực chỉ khác biệt về chính sách thuế. Hiện nay, trên thế giới, các nước phát triển áp dụng theo hướng này và được gọi là các Khu thương mại tự do. Một trong những ví dụ điển hình là “Thung lũng Silicon” ở Bắc Califoonia (Mỹ). Tại Việt Nam, các khu CNC Láng-Hòa Lạc (HN); Khu CN Đồng Ky (Bắc Ninh; CNC quận 9 (HCM); Công viên phần mềm Quang Trung (Q12, HCM)… chính là mô hình Khu kinh tế đặc biệt dạng này… Cũng không có sự khác biệt về quản lý hành chính ở các mô hình của Việt Nam và thế giới ở mô hình khu kinh tế đặc biệt - cơ chế quản lý hành chính vẫn là mô hình chính quyền địa phương và cơ chế quyền lực, luật pháp là áp dụng chung. Tuy nhiên, do tầm vóc và qui hoạch cũng như chiến lược phát triển manh mún, thụ động nên ở Việt Nam đã không đạt được hiệu quả như các dự án vẽ ra, vô hình chung nó chỉ gần nghĩa với “Khu công nghiệp đặc thù” chứ không có gì nổi bật.
Đối với mô hình Khu kinh tế trọng điểm. Sau nhiều năm loay hoay với qui hoạch kinh tế ngành, trên thực tế chính quyền Việt Nam đã lập ra khá nhiều vùng kinh tế trọng điểm theo kiểu phân vùng theo nhóm sản phẩm. Một kiểu tư duy kinh tế què quặt mà Liên-xô đã dùng trước đây. Việt Nam cho ra đời loại qui hoạch thực chất không rõ rệt trong khái niệm giữa Khu kinh tế đặc biệt và Khu kinh tế trọng điểm. Chẳng hạn như các khu công nghiệp (dạng khu kinh tế tập trung; khu kinh tế trọng điểm): Khu CNC Quận 9 được xác định tập trung sản xuất về lĩnh vực y tê, dược phẩm; Khu Công viên phần mềm Quang Trung; Láng Hòa Lạc… là CNC; phần mềm; tin học… nhưng cuối cùng lại trở thành nơi hoạt động rất nhiều các lĩnh vực khác nhau đến mức có thể nói là tạp nham. Một số Khu kinh tế trọng điểm về nông nghiệp, công nghiệp khác lại chồng chéo vào nhau, trong đó phong trào làm Khu công nghiệp ở vùng trung tâm sản xuất lúa gạo ở miền Tây nam bộ để lại một di sản hàng trăm ngàn tỷ đồng đầu tư rồi bỏ hoang hoặc sử dụng không theo qui hoạch vì không phù hợp. Kéo theo đó là việc tài nguyên đất bị mất cân đối nghiêm trọng.

clip_image004
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Ảnh: Soha

Năm 2016, khi mới ngồi lên ghế Thủ tướng chính phủ. Ông Nguyễn Xuân Phúc đã ký một văn bản chỉ đạo đề xuất lập đề án xây dựng các khu kinh tế trọng điểm. Ngày 22/3/2017, Ban chấp hành trung ương ra Thông báo số 21/TB-TB kết luận của Bộ chính trị về “các đề án đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt”. Năm 2018 dự thảo Luật đặc khu hành chính kinh tế Vân Đồn; Vân Phong; Phú Quốc được trình làng tại Quốc hội Việt Nam. Như vậy, chỉ trong khoảng thời gian 2 năm, từ một đề xuất qui hoạch phát triển kinh tế mang tính khu vực địa phương, đổi tên thành Luật đặc khu một cách khập khiễng nhưng “đúng qui trình” mà không có một chuyên gia kinh tế hay quản lý nhà nước nào có thể hiểu được lý do và cơ sở hình thành của nó.
Chỉ qua các ví dụ nêu trên, các mô hình thí điểm về khu kinh tế và khu kinh tế trọng điểm đã cho thấy chỉ có một trong hai lý do: Một là sự mù mờ về chính sách, thiếu nhận thức khi lẫn lộn giữa chiến lược phát triển; khái niệm về các mô hình kinh tế và cơ chế thực hiện các định hướng phát triển kinh tế. Hoặc hai là cả một ý đồ đánh tráo khái niệm thông qua diễn biến thay đổi các khái niệm để ban hành các văn bản pháp lý.
Bản chất sự thật phía sau “Luật đặc khu hành chính - kinh tế Vân Phong’ Vân Đồn và Phú Quốc” là gì? Câu trả lời chắc chắn không quá khó để lý giải.
T.Đ.
VNTB gửi BVN.

CÂU CHUYỆN ĐẶC KHU VÀ HƠN THẾ NỮA

NGUYỄN QUANG DY/ viet-studies 10-6-2018

“Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu” (Nguyễn Cơ Thạch, 1990)
Khi đề cập đến câu chuyện đặc khu kinh tế, người ta dễ sa vào tiểu tiết nên “thấy cây mà không thấy rừng”. Chỉ tranh cãi và điều chỉnh “99 năm hay 70 năm” là vô nghĩa. Khi quan tâm đến “phần nổi của tảng băng” người ta cũng dễ quên phần chìm (mới là phần cốt lõi). Trong bài này, tôi đề cập đến hai vấn đề cốt lõi. Thứ nhất, câu chuyện đặc khu là một phần của bàn cờ Biển Đông, liên quan đến chiến lược “Một vành đai Một con đường” của Trung Quốc, đến chủ quyền Việt Nam và vấn đề “thoát Trung”. Thứ hai, câu chuyện đặc khu là một phần của vấn đề chống tham nhũng và đổi mới thể chế. Cả hai vấn đề đều liên quan đến yêu cầu kiểm soát quyền lực và dân chủ hóa để thoát khỏi cái vòng kim cô về ý thức hệ đã lỗi thời.
Đục nước béo cò
Nói cách khác, cả hai vấn đề cốt lõi nói trên đều có cùng yêu cầu cấp bách là phải tháo gỡ ách tắc về thể chế để dân chủ hóa và phát triển (cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm). Muốn phát triển phải dân chủ hóa, muốn dân chủ hóa phải phát triển (cả nguồn lực và dân trí). Cả hai vấn đề đều dễ bị nhầm lẫn (vì dân trí), và dễ bị lợi dụng bởi các nhóm lợi ích đang tranh giành quyền lực và thao túng chính sách để “đục nước béo cò”, bất chấp lợi ích cốt lõi của dân tộc. Trong bối cảnh “nội biến” thì dễ bị “ngoại xâm” bởi người láng giềng khổng lồ.
Trong câu chuyện đặc khu chỉ cần xác định “ai là kẻ thủ lợi” (câu La Tinh nổi tiếng: Cui bono?) nếu không phải là các nhóm lợi ích muốn “đục nước béo cò”, và người láng giềng khổng lồ đang quân sự hóa để kiểm soát Biển Đông (như “cái ao riêng”) và bắt nạt các nước láng giềng nhỏ yếu hơn để kiểm soát họ (cả phần hồn lẫn phần xác) như “lợi ích cốt lõi”. Nguy cơ “Hán hóa” không chỉ là câu chuyện lịch sử (trong sách giáo khoa) mà nó đang diễn ra tại nhiều nơi như Formosa và các đặc khu khác, không chỉ đe dọa sự tồn vong của Việt Nam mà cả các quốc gia khác.
Nếu đặt câu chuyện đặc khu kinh tế trong bức tranh lớn về Biển Đông, ngưởi ta rất dễ thấy “yếu tố Trung Quốc” nổi lên rất rõ và rất lớn. Tại sao lại là Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc (và Vũng Áng trước đây) mà không phải là chỗ nào khác? Đơn giản vì đó là những vị trí chiến lược xung yếu nhất. Chỉ có mù lòa về địa chính trị mới không hiểu tại sao. Còn cho thuê 99 năm vì đó là tiền lệ mà Trung Quốc đã áp đặt cho nhiều nước khác bị sập “bẫy nợ”. Đó là “chủ nghĩa thực dân mới kẻ cướp” (predatory neo-colonialism). Trong khi thế giới giật mình tỉnh ngộ và lo sợ, thì Việt Nam vẫn như mê ngủ, hay giả vờ không hiểu (và “không sợ”).  
Đến lúc này mà họ vẫn chưa nhìn thấy nguy cơ đó thì có thể bị mù lòa về chính trị hoặc tối mắt vì lợi ích. Nhưng trong lúc đất nước lâm nguy mà chỉ tranh cãi và chống đối nhau thì tai họa càng lớn và đến càng nhanh. Bài học Miến Điện là trước nguy cơ Hán hóa, họ đã biết dẹp mâu thuẫn nội bộ để tìm đồng thuận quốc gia và đổi mới thể chế. Tuy Việt Nam đi trước Miến Điện (về cải cách kinh tế) và đi trước Triều Tiên (về thống nhất đất nước) nhưng Việt Nam đang tụt hậu không chỉ về kinh tế mà còn về thể chế và đồng thuận quốc gia.   
Ván đã đóng thuyền
Hãy thử điểm lại vài nét cơ bản về thực trạng hiện nay trong câu chuyện đặc khu để thấy rõ chúng ta đang đi về đâu và đang làm gì trước nguy cơ Hán hóa. Nguy cơ đó không chỉ đến từ bên ngoài (như “ngoại xâm”) mà còn đến từ bên trong (như “nội biến”). Tuy người ta tranh cãi và chém gió đã nhiều, nhưng nếu vẫn chưa tìm được đồng thuận quốc gia thì sẽ là “tai họa quốc gia”. Khi giờ G tới, trước khi “ấn nút” quyết định, các đại biểu Quốc Hội hãy đặt tay lên ngực mình (như nhân viên “Thế giới Di động”) để tự hỏi mình là ai (có còn là đại biểu cho nhân dân nữa không) và mình đang phục vụ lợi ích của ai (người dân hay nhóm lợi ích, Việt Nam hay Trung Quốc). Việc “ấn nút” không chỉ đơn giản là “ván đã đóng thuyền” như bán Sabeco và Vinamilk, mà còn để lại hậu họa khôn lường cho nhiều thế hệ sau.
Theo Vneconomy (16/4/2018), Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh tại phiên thảo luận của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: “Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật”. Nói cách khác, bà Ngân muốn đẩy trách nhiệm vì “ván đã đóng thuyền” nên Quốc Hội bất lực, và gián tiếp thừa nhận vai trò Quốc Hội chỉ là “ấn nút” để hợp thức hóa quyết định của BCT. Nhưng Quốc Hội và BCT liệu có hình dung được nguy cơ tiềm ẩn và hệ quả khôn lường. Một lần nữa Việt Nam lại sa vào bẫy của Trung Quốc (trong khi Triều Tiên đang “thoát Trung”). Không phải chỉ có “một làn sóng phản đối khủng khiếp” (như Thủ tướng nói) mà nguy cơ phân hóa và bạo loạn có thể lại xảy ra lần nữa như trong vụ dàn khoan HD 981 (5/2014). Tướng Nguyễn Chí Thanh từng nói đúng: “Mất đất chưa phải là mất nước. Mất dân mới là mất hết”. Chẳng lẽ lãnh đạo ngày nay không cần đến dân, và coi người bạn “bốn tốt” và “16 chữ vàng” là “đại cục”.
Phát biểu với báo Tuổi trẻ (4/6/2018) tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng, và giám đốc nghiên cứu của Đại học Fulbright) cũng cho rằng dự luật đặc khu kinh tế chắc sẽ được thông qua vì trên thực tế “ván đã đóng thuyền”. Nhưng nếu được triển khai thì “khả năng thành công của mô hình đặc khu sẽ rất thấp”. Đó là một nhận xét khá khách quan và trung thực (nhưng cũng đầy bất lực). Tương tự như vậy, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng nhận xét, “Tôi rất ngờ rằng luật này sẽ vẫn được thông qua, dù người ta có thể sửa đôi điều để trấn an dư luận. Nhưng về cốt lõi nó vẫn thế, vì người mua kẻ bán đã thỏa thuận với nhau mấy năm nay rồi, giờ họ chỉ chờ luật để hợp thức hóa thôi”...
Theo Dân Trí (1/6/2018), Chủ tịch Quốc Hội cố lý giải những lợi ích mà đặc khu sẽ mang lại: “bỏ ra một đồng để thu lại vài chục, vài trăm đồng” (chắc chỉ có đánh bạc!). Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nói “vừa làm vừa thử nghiệm” và hùng hồn tuyên bố:“Làm đặc khu phải theo nguyên lý dọn tổ đón phượng hoàng”. Chắc ông này không học PR/Marketing, hoặc “nhỡ mồm”(Freudian slip). Không biết ông Lưu muốn nói đến phượng hoàng nào, nhưng câu nói đó của ông đã gây bão dư luận, và đi vào lịch sử như “trạm thu giá BOT” của Bộ trưởng Giao thông. Nếu ông Lưu muốn nói đến phượng hoàng nội (như Vingroup hay Sun Group) thì họ chẳng cẩn đến đặc khu nào cả, vì họ đã chiếm hết đất vàng làm tổ lâu rồi. Nếu ông muốn nói đến phượng hoàng ngoại (như ASEAN hay Mỹ, Nhật, Ấn, Úc…) thì nhầm to. Vậy chỉ còn phượng hoàng Tàu. Nhưng thực ra Trung Quốc không phải là phượng hoàng mà là “chó sói” (đó là từ ngữ mà một cán bộ cao cấp của Trung Quốc đã có lần thừa nhận). Con sói khổng lồ đã thò một chân vào Việt Nam (tại Formosa), nay muốn thò nốt cả ba chân và hợp pháp hóa sự có mặt của nó bằng luật định (cho “đúng quy trình”). Vì vậy, nhiệm vụ chính của Quốc Hội là phải “ấn nút” thông qua luật đặc khu kinh tế như là “đóng giầy theo chân con sói”. 
Dọn tổ đón phượng hoàng
Theo báo Tuổi Trẻ (6/6/2018), Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Nguyễn Chí Dũng (bộ chủ quản của dự luật đặc khu) đã khẳng định, “Dự thảo không có một chữ nào về Trung Quốc, chỉ có những người cố tình hiểu theo hướng đó và đẩy vấn đề lên, chia rẽ quan hệ ta với Trung Quốc”.  Vậy ông Dũng giải thích thế nào về Điều 55.4 Mục 5 trong dự luật: “Công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh sử dụng giấy thông hành hợp lệ… được miễn thị thực ...). Nước láng giềng đó là nước nào? Ông Dũng đã ngụy biện một cách vụng về nên “giấu đầu hở đuôi”, hoặc ông quá coi thường dân nên tưởng có thể dễ dàng “dắt voi qua rào” (như họ đã từng làm trong vụ Formosa). Tuy Formosa chưa phải là đặc khu nhưng họ đã hành xử như “Tô giới”: không cho cơ quan chức năng Việt Nam vào, và còn hỗn xược thách thức “chọn cá hay chọn thép?”. Đó là phượng hoàng nào? do ai?  
Thực ra câu chuyện đặc khu kinh tế đã được đề cập từ mấy năm nay. Tuy bộ KH-ĐT chịu trách nhiệm chính (từ thời bộ trưởng Bùi Quang Vinh đến thời bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng), nhưng các tỉnh liên quan cũng có vai trò lớn (chạy dự án). Hà Tĩnh chạy Vũng Áng, Khánh Hòa chạy Bắc Vân Phong, Kiên Giang chạy Phú Quốc, Quảng Ninh chạy Vân Đồn. Theo GS Võ Đại Lược, ông Phạm Minh Chính (nguyên bí thư Quảng Ninh) là tác giả của đề án đặc khu kinh tế Vân Đồn (từ tháng 8/2012). Lúc đó, ông Chính muốn xây dựng hai đặc khu kinh tế (cả Vân Đồn và Móng Cái) và “rất hăng say về chuyện xây dựng đặc khu kinh tế”, theo đó nhà đầu tư nước ngoài được thuê đất 70 năm (thậm chí có thể đến 120 năm). Trường Đại học Thâm Quyến (Trung Quốc) tham gia hội thảo và chắc đã tài trợ kinh phí tổ chức…
Trong dự thảo luật đặc khu có rất nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, trái với các cam kết trong FTA về việc tạo lập môi trường đầu tư bình đẳng cho các nhà đầu tư khác nhau ở Việt Nam. Không những vậy, dự thảo còn cho phép kinh doanh nhiều lĩnh vực rủi ro cho quốc phòng và an ninh quốc gia, thậm chí cả các dự án điện hạt nhân. Điểm 4, Phụ lục IV cho phép: “Kinh doanh quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dụng quân sự, công an, linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng… Kinh doanh bất động sản, chất nổ, khai thác và làm giàu quặng kim loại có sử dụng hóa chất độc hại…
Chắc năm nay là thời điểm tốt nhất để Trung Quốc bắt nạt và bắt chẹt Việt Nam trên đất liền (cũng như tại Biển Đông) với chiến thuật “tằm ăn dâu”, biến thành “chuyện đã rồi”. Sau khi đã quân sự hóa và kiểm soát được Biển Đông, tất yếu họ muốn kiểm soát cả trên đất liền, không chỉ tại Campuchia mà còn tại Việt Nam (và các nước khác), theo chiến lược tổng thể “Một Vành đai, Một Con đường”, bằng cách lần lượt thôn tính các nước bằng “ bẫy nợ”. Những cánh tay dài của con bạch tuộc khổng lồ hay quái vật Frankenstein (như lời Richard Nixon) đã vươn tới Châu Phi (cảng Djibouti, $22 triệu/năm), tới Hy Lạp (cảng Piraeus, $436 triệu), tới Australia (cảng Darwin, $388 triệu, 99 năm), tới Sri Lanka (cảng Hambantora, $1.1 tỷ, 99 năm), tới Myanmar (cảng yaukpyu và khu công nghiệp, đầu tư $10 tỷ, 75 năm), tới Campuchea (cảng Sihanoukville & Koh Kong, đầu tư $3.8 tỷ, 99 năm), tới Thailand (siêu kênh đào Kra, đầu tư $20-$30 tỷ) để nối thẳng Vịnh Thailand với Ấn Độ Dương (bỏ qua eo Malacca).  
Ba con ngựa thành Troy
Khi nói đến “thoát Trung”, chúng ta đừng nhầm với chống Trung Quốc như một đất nước và một dân tộc vĩ đại (là bạn). Nhưng người dân Việt Nam (cũng như người dân Trung Quốc) cần chống lại chính sách bá quyền nước lớn của họ (là thù). Cũng như trước đây, chúng ta không chống nước Mỹ và người Mỹ (là bạn) mà chỉ chống lại chính sách can thiệp của họ (là thù). Nếu nhầm lẫn, coi bạn là thù (hay coi thù là bạn) thì sẽ là tai họa. Người Việt lúc thắng thường hay ngạo mạn (như không sợ Mỹ), nhưng nay thất thế lại quá sợ Trung Quốc. Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả”, nhưng nếu nhầm lẫn biến bạn thành thù sẽ bị cô lập.  
Gần đây, Thủ tướng và Chủ tịch Nước đã liên tiếp đi thăm các nước chủ chốt (như “tứ cường” Mỹ, Nhật, Ấn, Úc). Đó là những hoạt động ngoại giao đúng hướng để Việt Nam “tái cân bằng” quan hệ quốc tế. Nếu sự kiện bắt cóc Trịnh Xuân Thanh là một thảm họa đối ngoại, làm mất lòng các đối tác chiến lược (Đức và Châu Âu) đe dọa làm trật bánh hiệp định EVFTA, nay luật đặc khu kinh tế chắc sẽ gửi một thông điệp tiêu cực tới các đối tác chiến lược khác (như “tứ cường”) mà Việt Nam đang vận động (dễ làm “xôi hỏng bỏng không”).
Trong bối cảnh cả nước đang sục sôi phẫn nộ, nếu Quốc Hội quyết “ấn nút” để dắt “ba con voi qua rào” (như “ba con ngựa thành Troy”), thì khác gì hành động “tự sát chính trị” (theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng). Hành động mạo hiểm đó chắc chắn sẽ bị thiên hạ chê cười và nguyền rủa, như thằng bờm “cố đấm ăn xôi”, định bán chạy ba đặc khu xung yếu nhất cho lão hàng xóm khổng lồ tham lam và độc ác. Không chỉ dư luận trong nước phản đối quyết liệt, mà dư luận quốc tế cũng đang lên tiếng, vì vấn đề ba đặc khu không chỉ liên quan đến Việt Nam, mà còn liên quan đến tầm nhìn Indo-Pacific mà Việt Nam ủng hộ. Đây là thế “tiến thoái lưỡng nan” (như “catch-22”) không ai muốn, nên cần khôn ngoan thoát hiểm.
Sau sự kiện “tái xuất” (lần thứ nhất) tại hội nghị cấp cao APEC (6-12/11/2017), CTN Trần Đại Quang đã “tái xuất” (lần thứ hai) tại TW7 (7-12/5/2018). Sau chuyến thăm chính thức Ấn Độ (2-4/3/2018), ông Quang vừa thăm chính thức Nhật Bản (29/5-2/6/2018). Đó là mấy sự kiện nổi bật, đánh dấu “những đợt sóng ngầm chính trị” (lời Lê Hồng Hiệp) vẫn đang tiếp diễn và chưa ngã ngủ, còn nhiều ẩn số và biến số (cho tới TW8). Chắc CTN Trần Đại Quang và TT Nguyễn Xuân Phúc hiểu rõ nguy cơ và hệ quả của ba đặc khu này, nhưng Thủ tướng buộc phải nói (như thanh minh): “Nếu ai ở địa vị này cũng phải giao, không có cách gì khác”. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã bức xúc kết luận: “Không biết ai đưa ra ý tưởng như vậy, kể cả những người đồng ý, thì đều là những kẻ bán nước”.
Để triển khai “chủ trương lớn” này, BCT đã chỉ đạo Quốc Hội “ấn nút” để thông qua luật đặc khu kinh tế, định biến một chuyện bất khả kháng thành “chuyện đã rồi”, theo một thỏa thuận ngầm nào đó (với nhiều điều kiện đặc biệt). Nó chứng tỏ Việt Nam đang “bí tiền và bí cờ”, trong khi bị Trung Quốc bắt nạt không cho khai thác dầu khí tại mỏ Cá Rồng Đỏ (Bãi Tư Chính) và Cá Voi Xanh (lô 128). Trong khi ngân sách thiếu hụt (thu không đủ chi), nội bộ ngày càng mâu thuẫn sâu sắc khi “người đốt lò vĩ đại” chống tham nhũng quyết liệt. Trong khi trì hoãn những dự luật khác, Quốc Hội ráo riết chuẩn bị thông qua luật đặc khu kinh tế, được Quốc Hội thảo luận từ cuối năm 2017, nay phải thông qua sớm (dự kiến 15/6/2018)
Kế hoãn binh
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan (Tiếng Dân, 5/6/2018), “dự luật đặc khu rất nên dừng lại. Quốc Hội đừng thông qua vội, để hỏi thêm ý kiến của các chuyên gia về các lĩnh vực khác nhau, không phải chỉ về kinh tế, mà cả về xã hội và chuyên gia về an ninh, quốc phòng, nhìn từ nhiều góc độ để xem xét lại”…Theo bà Chi Lan, “mối nguy của việc ba đặc khu có thể biến thành những vùng lãnh thổ của Trung Quốc ở Việt Nam là rất lớn… Chưa chắc đã cần chờ đến 50 năm, 70 năm hay 99 năm đâu, các đặc khu này có thể rơi vào tay người Trung Quốc ở mức độ rất cao, đến mức họ khống chế hoàn toàn. Đấy là điều tôi thật sự lo lắng”…
Sáng 9/6/2018, Chính phủ thông báo đã đề nghị Quốc Hội lùi thời gian thông qua dự luật đặc khu sang kỳ họp thứ 6 Quốc hội XIV, thay vì kỳ họp thứ 5 như dự kiến (15/6) và giảm thời hạn thuê đất xuỗng dưới 99 năm. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khôn ngoan lắng nghe dân và đưa ra đề xuất kịp thời, hợp lòng dân, để tháo gỡ bế tắc (tuy đó chưa phải là vấn đề cốt lõi). Tuy nhiên, bà Phạm Chi Lan nhận xét: “Đây là một trong những quyết định sáng suốt nhất… là một tiền lệ tốt để sau này Chính phủ, và Quốc hội sẽ biết lắng nghe”…Dư luận chung tuy hoan nghênh Chính phủ, nhưng chưa được thuyết phục. Họ muốn thấy Bộ Chính Trị tập trung vào các chủ trương lớn, không áp đặt quan điểm đối với các cơ quan lập pháp và hành pháp. Họ muốn Quốc Hội hoãn thông qua dự luật an ninh mạng cũng như dự luật đặc khu.
Nhiều người nghi ngờ một số nhóm lợi ích đã câu kết với người Trung Quốc vì lợi ích riêng, làm phương hại cho lợi ích quốc gia. Nếu họ chưa bị vạch mặt để cho vào lò (như Trương Minh Tuấn trong vụ mua bán AVG), thì sớm muộn họ cũng sẽ bị lịch sử lên án và các thế hệ sau  nguyền rủa. Nhưng cuối cùng, chắc Quốc Hội sẽ vẫn thông qua dự luật đặc khu, sau khi đã hoãn binh và điều chỉnh vài chi tiết cụ thể (để mị dân). Một số người khác lo ngại đó sẽ là “Thành Đô 2.0”, là bước nối tiếp của Hội Nghị Thành Đô đầy ô nhục, tuy đã diễn ra cách đây 28 năm (9/1990), nhưng cái bóng đen của nó vẫn đang ám ảnh đất nước này.   
Theo nhà báo Vũ Kim Hạnh (Facebook, 9/6/2018) an ninh tiền tệ của Việt Nam đang bị Trung Quốc tấn công và đe dọa cũng như an ninh mạng (cyber security). Ngoài an ninh Biển Đông đang bị đe dọa, người Việt coi “đặc khu kinh tế là một cuộc tấn công từ Trung Quốc” (Bennett Murray, SCMP, 7/6/2018). Trong khi Việt Nam bất lực không đối phó được với các mối đe dọa của Trung Quốc, thì Quốc Hội vẫn định thông qua dự luật an ninh mạng và dự luật đặc khu kinh tế, mở toang cửa cho Trung Quốc xâm nhập, và làm thiệt hại cho nền kinh tế và doanh nghiệp.  Bà Kim Hạnh cho rằng các cơ quan quản lý của Việt Nam đã phản ứng quá chậm. Đã gần hai năm sau khi Alipay công bố chính thức đã đặt đại lý thanh toán tại Việt Nam, các cơ quan chức năng của Việt Nam vẫn chưa có giải pháp để đối phó. Theo bà Kim Hạnh, không ở đâu luật pháp lại lỏng lẻo và các cơ quan quản lý lại lúng túng như ở Việt Nam.  
Lời cuối
Nếu ai đã từng tìm hiểu về mô hình “đặc khu kinh tế” (special economic zone) chắc thấy “luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc” là một dự luật bất bình thường, từ cái tên dài lủng củng đến các điều khoản khó lý giải được nhồi nhét luộm thuộm trong văn bản luật và phụ lục. Có thể nói đó là hệ quả của sự kết hợp (cố ý) giữa nhận thức mơ hồ và ngộ nhận (do quan trí thấp) với sự đánh tráo khái niệm (bị thao túng bởi các nhóm lợi ích), giữa lợi ích nhóm trong và ngoài nước (có động cơ trục lợi) với thế lực ngoại bang (có ý đồ thôn tính Việt Nam). Chỉ có lý giải như vậy mới có thể hiểu được tại sao người ta lại ghép ba vị trí chiến lược xung yếu (Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc) vào một văn bản luật. Tuy người ta có thể thỏa hiệp về thời hạn thuê đất (dưới 99 năm) nhưng chắc không thỏa hiệp về ba vị trí đặc khu, đánh đổi lấy các vị trí mới như khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội) và Quang Trung (Sài Gòn) để phát triển “công nghệ 4.0” như chính phủ kiến tạo vẫn đề cập.
NQD. 10/6/2018
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 10-6-18