Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2018

20180602. BĂN KHOĂN CHƯA HẾT VỀ DỰ LUẬT ĐẶC KHU KINH TẾ

ĐIỂM BÁO MẠNG
NGHỊCH LÝ VỀ ĐẶC KHU KINH TẾ

NGUYỄN QUANG DY/ viet-studies/ BVN 2-6-2018

o automatic alt text available.

Gần đây, dư luận quan tâm và tranh cãi nhiều về dự luật “đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt” (gọi tắt là “đặc khu kinh tế”) sắp được Quốc hội “bấm nút” thông qua. Dự kiến ba đặc khu kinh tế đầu tiên là Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang) có kinh phí đầu tư là 1.570.000 tỉ VNĐ (tính đến năm 2030). Tuy không phản đối khái niệm “đặc khu kinh tế” (special economic zone) và chưa biết họ lấy tiền từ đâu để đầu tư nhưng tôi không ủng hộ ba đặc khu kinh tế nói trên, vì các lý do sau.
Bối cảnh
Tuy đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi (như Việt Nam), đặc khu kinh tế vẫn là một mô hình phát triển hấp dẫn, nhưng dường như đã lỗi thời và có nhiều bài học thất bại. Nó đòi hỏi những điều kiện nhất định, vì vấn đề không phải là làm cái gì (what) mà là làm thế nào (how). Mọi chuyện đều có thể, nhưng “sai một ly đi một dặm”. Nếu đủ điều kiện và phát triển đúng hướng/đúng cách, nó có thể là đòn bẩy kinh tế và đầu tàu phát triển (như Thâm Quyến). Dubai là một bài học thành công mà nhiều nước khác muốn bắt chước. Nhiều người Việt đã từng mơ ước biến Chu Lai thành Dubai của Việt Nam, hay biến Phú Quốc thành Singapore của Việt Nam. Singapore thành công vì có Lý Quang Diệu (Việt Nam không có). Dubai thành công vì không có yếu tố Trung Quốc (Việt Nam có quá nhiều).
Tuy ý tưởng về đặc khu kinh tế không mới, nhưng người ta đã chóng quên bài học xấu về các dự án lớn như “đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng”, khai thác bauxite Tân Rai & Nhân Cơ (Tây Nguyên), cũng như kinh nghiệm xấu tại Chu Lai (Quảng Nam, 2003), Dung Quất (Quảng Ngãi, 2005), Nhơn Hội (Bình Định, 2005), Chân Mây (Thừa Thiên, 2006), Vân Phong (Khánh Hòa, 2006), Phú Yên (Phú Yên, 2008). Tại sao các nơi đó thất bại? Cái gì đảm bảo ba đặc khu mới này sẽ thành công? Nếu Việt Nam không cải tổ thể chế để kiểm soát quyền lực và tham nhũng, thì các mô hình phát triển tương tự sẽ lặp lại bài học “lợi bất cập hại”.   
Khi tài nguyên ngày càng cạn kiệt và quỹ đất ngày càng khan hiếm, các nhóm lợi ích tất nhiên sẽ đua nhau tận thu bằng nhiều cách, như tăng thuế (VAT, thu nhập, tài sản), tăng giá (xăng dầu, điện, nước), tăng phí (như BOT). Đặc khu kinh tế là một miếng mồi ngon mà họ sẽ vận động để có phần. Trong khi Trung Quốc ráo riết quân sự hóa và kiểm soát Biển Đông, không cho người Việt khai thác dầu khí và đánh cá trong vùng biển của mình, chắc họ sẽ tăng cường bành trướng thế lực để chiếm các vị trí hiểm yếu trên đất liền. Đặc khu kinh tế là một miếng mồi ngon mà họ thèm muốn. Các nhóm lợi ích Việt Nam có thể câu kết với các tập đoàn Trung Quốc (vì song trùng lợi ích) để thao túng chính sách và dự án.  
Tuy năng lực quản trị-điều hành của các cấp chính phủ (nhất là địa phương) còn yếu kém, nhưng lòng tham vô đáy, nên họ dễ bị các nhóm lợi ích thao túng. Trong khi bài học đau đớn về Formosa và bauxite Tây Nguyên còn chưa quên, thì bê bối về các dự án đầu tư công tại Ninh Bình đang làm dư luận giật mình kinh hoàng. Dù Ninh Bình không phải là đặc khu kinh tế, nhưng đã là “vương quốc” riêng.  Các nhóm lợi ích không chỉ “ăn của dân không từ một cái gì” (như bà Nguyễn Thị Doan nói) mà họ còn “ăn tàn phá hại” và để lại những hệ quả khôn lường, không chỉ về kinh tế và xã hội, mà còn về an ninh quốc gia. 
Bức tranh kinh tế  
Theo chuyên gia Vũ Quang Việt, các đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc “đặt lợi ích nhóm lên hàng đầu”. Các quy định trong dự luật về đặc khu chủ yếu nhằm vào thị trường địa ốc (property) và đánh bạc (casino) chứ không nhằm thu hút đầu tư công nghệ cao. Trong khi đó, cái mà Việt Nam cần là công nghệ cao và giáo dục để tăng năng suất lao động, phát triển công nghiệp và kinh tế trí thức, chứ không phải là phát triển địa ốc và casino. Ông Việt cho biết trong giai đoan 2011-2016, năng suất lao động trong khu vực công nghiệp tại Việt Nam tăng (hàng năm) rất thấp (chỉ đạt 2.9%), trong khi triển vọng tăng GDP (bình quân hàng năm) không thể cao hơn 5.0%, nếu năng suất lao động không tăng cao hơn 4.0%. Đó là một “hiện tượng kinh tế kỳ lạ”, và là một nghịch lý phát triển tại một đất nước mà năng suất lao động vào loại thấp nhất thế giới (thấp hơn Singapore 15 lần).
Do không có cuộc tranh luận (debate) để đánh giá nghiêm túc và định lượng cụ thể các mặt lợi & hại về kinh tế-xã hội cũng như về địa chính trị, nên dễ dẫn đến tình trạng ngộ nhận (do chủ quan duy ý chí) hoặc bị động làm liều (do các nhóm lợi ích thao túng) nên dễ mắc sai lầm (như trước đây). Có mấy kịch bản có thể xảy ra: Thứ nhất, chắc sẽ có một cơn “sốt đất mới” (new land rush) trong một thị trường địa ốc vốn đã quá nóng do giá đất đã bị giới đầu cơ địa ốc đẩy lên khá cao (thậm chí từ khi mới đồn đại về đặc khu). Thứ hai, dễ xuất hiện “bong bóng địa ốc” (property bubble) có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng cung-cầu (over supply) làm bức tranh kinh tế càng thêm méo mó và hỗn loạn. Thứ ba, do hệ quả của 2 hiện tượng nói trên, các đặc khu này sẽ không hấp dẫn đối với giới đầu tư công nghệ cao, vì họ cần một môi trường đầu tư sạch và một hệ sinh thái kinh doanh lành mạnh hơn.
Trong khi kêu gọi đầu tư cho công nghệ 4.0 thì những gì đang diễn ra tại các đặc khu này chỉ là tư duy kinh tế 1.0. Nếu định dùng ưu đãi cho thuê đất 99 năm để hấp dẫn đầu tư công nghệ cao thì không thực sự cần thiết, vì giới đầu tư công nghệ 4.0 không cần quyền sử dụng đất lâu dài. Để kinh doanh theo chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu, nhà đầu tư luôn cần kết nối với hệ thống hạ tầng và hệ sinh thái kinh doanh, mạng lưới đối tác và các tổ chức trung gian về tài chính, các dịch vụ chuyên nghiệp và nguồn lao động tay nghề cao, là những thứ mà các đặc khu kinh tế này không có. Điều duy nhất mà nó có chỉ đơn giản là thiết lập một không gian tự do kinh doanh trong một môi trường kinh doanh không tự do. Những ưu đãi đặc biệt thực ra chẳng có gì đặc biệt. Vậy mục đích thực sự của đặc khu kinh tế là gì (ngoài bất động sản)? Câu trả lời nhãn tiền là “casino và redlight” vì đây là nơi duy nhất (tại Việt Nam) họ được phép hành nghề tự do. Nhưng còn một lý do nữa mà nhiều người nghĩ đến nhưng ngại nói ra (vì sợ nhạy cảm) là yếu tố Trung Quốc. Ngoài ra không có gì khác.     
Bức tranh chính trị-xã hội  
Hành lang pháp lý của đặc khu quy định nhiều quyền hạn cho “chủ tịch đặc khu” như lãnh chúa (hay “vua con”) có quyền cho phép nhà đầu tư nước ngoài thuê đất 70 năm đến 99 năm (nếu được Thủ tướng đồng ý), và có quyền chọn thầu, ký hợp đồng lao động, tuyển công chức… Các nhà đầu tư được miễn thuế thuê đất 30 năm, có thể bán lại tài sản và thừa kế tài sản. Một số chuyên gia cho rằng cho thuê đất tối đa 99 năm chỉ có lợi cho các đại gia bất động sản, trong khi đó 85% các nhà đầu tư khẳng định chính sách ưu đãi thuế là không cần thiết (theo World Bank). Người nước ngoài được phép làm việc 180 ngày/năm (mà không cần giấy phép lao động). Họ chỉ cần đầu tư 110 tỷ VNĐ ($5 triệu) là được cấp thẻ tạm trú 10 năm. Người Việt được phép vào chơi casino, và được miễn thuế thu nhập cá nhân trong vòng 5 năm (và giảm tiếp 50% sau đó). Những ưu đãi này sẽ dẫn đến một làn sóng di dân mới, đặc biệt là lao động giản đơn từ Trung Quốc và các nước láng giềng khác, làm đảo lộn cơ cấu dân số (demographic structure) và có thể làm gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm như tình trạng “miền Tây Hoang dã” (Wild West). Đồng thời, đặc khu kinh tế còn là “cái nôi đặc biệt” (special cubator) cho chủ nghĩa tư bản thân hữu (hay “tư bản đỏ”).
Theo giáo sư Minxin Pei, sự cấu kết của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” (crony capitalism) làm cho quá trình dân chủ hóa sẽ gặp khó khăn, rắc rối. Kịch bản dân chủ hóa do tầng lớp trung lưu dẫn dắt rất khó xảy ra dưới chế độ tư bản thân hữu (tại Trung Quốc). Các di sản của chủ nghĩa tư bản thân hữu (như tình trạng bất bình đẳng về tài sản, chính quyền địa phương mafia, cấu kết với các đại gia có đặc quyền) sẽ tạo điều kiện cho những kẻ chiếm đoạt được nhiều tài sản lớn sử dụng quyền lực chính trị để trấn áp các nhân tố dân chủ mới làm cho họ không thể phát triển. Chế độ thối nát (regime decay) sẽ hủy hoại thanh danh chế độ Đảng/Nhà nước bằng ba cách. Thứ nhất, khi các nhóm lợi ích hình thành và xâm nhập vào mọi ngõ ngách của chế độ, chúng sẽ thao túng quyền lực chính trị, biến quyền lực của chế độ thành công cụ quyền lực riêng. Thay vì phục vụ lợi ích của chế độ, chúng chỉ mưu cầu lợi ích riêng. Thứ hai, mạng lưới tham nhũng sẽ tranh giành quyền lực và lợi ích nhóm, làm suy yếu sự thống nhất của Đảng. Thanh trừng nội bộ gia tăng sẽ gây nguy hiểm cho sự an toàn cá nhân của lãnh đạo cấp cao. Thứ ba, khi tham nhũng cấu kết và lan rộng trong bộ máy an ninh của Đảng/Nhà nước, chắc chắn nó sẽ hủy hoại sự trung thành và hiệu quả của các thể chế trụ cột mà Đảng/Nhà nước đang dựa vào để tồn tại. (China’s Crony Capitalism, Minxin Pei, Harvard University Press, 2016).
Trong khi một số người cho rằng Phú Quốc có thể phát triển như Singapore (theo nghĩa tốt), một số người khác cho rằng Vân Đồn có thể trở thành Cremea (theo nghĩa xấu). Nhưng câu chuyện thành công của Singapore (the Singapore Story) dựa trên những tiền đề hoàn toàn khác. Ông Lý Quang Diệu từng nói: “Lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam”. Theo ông, vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành “người khổng lồ ở châu Á”. Nhưng đáng tiếc ngày nay năng suất lao động của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 của người Singapore (hay 1/5 của người Malaysia, 2/5 của người Thailand). Ông khẳng định sự thành công của một quốc gia bao gồm ba yếu tố chính là: (1) điều kiện tự nhiên (như vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên); (2) con người; và (3) thời cơ, nhưng căn bản nhất vẫn là yếu tố con người…  Vì vậy Ông Lý Quang Diệu rất tiếc vì Việt Nam không biết trọng dụng nhân tài, và cho rằng nhân tài của Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. (Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu, Cao Huy Huân, VOA, 14/9/2014).
Bức tranh an ninh quốc gia  
Giả sử các đặc khu kinh tế đó có thành công nhất định (trước mắt) về du lịch, địa ốc và casino, thì sẽ phải trả giá về vị thế địa chính trị và an ninh quốc gia. Nói cách khác là “lợi bất cập hại”. Nếu điều 62 về Luật Đất đai là một lỗ hổng chính sách, bị các nhóm lợi ích thao túng, thì điều 69 là cánh cửa mở rộng cho Trung Quốc xâm nhập Việt Nam…
Tại dự án thép Formosa (Hà Tĩnh) và dự án giấy Lee & Man (Hậu Giang) tràn ngập người Trung Quốc. Gần đây, dư luận phản ứng chính quyền Quảng Ngãi định di dời đồn Biên phòng Bình Hải để giao đất cho tập đoàn FLC làm dự án “quần thể du lịch nghỉ dưỡng và đô thị Bình Châu-Lý Sơn”. Không phải chỉ có Quảng Ngãi, mà trước đó Đà Nẵng cũng đã di dời đồn biên phòng để lấy đất giao cho dự án tư nhân. Thượng tướng Võ Tiến Trung (nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng) khẳng định, “việc bố trí đồn biên phòng ở đâu đã được nghiên cứu rất kỹ. Bởi lẽ đồn nằm trong thế trận phòng ngự, bảo vệ địa phương” (Zing, 22/4).
Điều 62 còn tiềm ẩn lợi ích nhóm, quy định chính quyền địa phương có quyền thu hồi đất của dân giao cho doanh nghiệp làm dự án. Các doanh nghiệp Việt Nam có quyền giao lại đất cho doanh nghiệp nước ngoài (như Trung Quốc). Trong một cuộc hội thảo tại Nhật (7/9/2017), ông Trịnh Văn Quyết (chủ tịch FLC) tuyên bố ngoài việc bán cổ phần, “FLC có thể chuyển nhượng cả dự án cho nhà đầu tư nước ngoài”. Theo tin báo chí, UBND tỉnh Quảng Trị đang chuẩn bị giao cho FLC 1000 ha tại bãi biển Cửa Việt, dự kiến để làm resort, sân golf, và xây dựng một sân bay. Ngoài Vũng Áng (đã nằm trong tay Trung Quốc), Vân Phong và Cửa Việt là hai vị trí chiến lược hiểm yếu đang bị Trung Quốc nhòm ngó. Từ Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ, nhiều vị trí phòng thủ chiến lược đã và đang được giao cho doanh nghiệp làm dự án mà không tính đến yếu tố an ninh quốc gia. Tại Đà Nẵng và Nha Trang, nhiều vị trí phòng thủ chiến lược dọc bờ biển đã bị các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm.
Trong bối cảnh lợi ích kinh tế và chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông đang bị Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng, việc mở ba đặc khu kinh tế tại các địa điểm hiểm yếu đó vào lúc này không thể biện minh, cả về lý do phát triển kinh tế lẫn lý do an ninh quốc gia. Với năng lực quản trị yếu kém nhưng tiềm năng tham nhũng vượt trội, các khu vực đó sẽ trở thành các “đặc khu tham nhũng” của các nhóm lợi ích “tư bản đỏ” không bị kiểm soát, và là “cái nôi đặc biệt” cho “tư bản thân hữu”. Nếu trước đây hầu hết các dự án lớn tại Việt Nam rơi vào tay các tập đoàn Trung Quốc, thì không có lý gì các đặc khu kinh tế đó lại không rơi vào tay họ và biến thành các “tô giới của Trung Quốc”. Các tập đoàn “tư bản thân hữu” Trung Quốc được nhà nước chống lưng có thừa nguồn vốn và động cơ để thôn tính các đặc khu kinh tế này như một cuộc “xâm lược mềm”, không cần đánh vẫn thắng (như binh pháp Tôn Tử hay “Cờ Vây”). Những vị trí hiểm yếu trên đất liền mà Trung Quốc không chiếm được bằng vũ lực (như họ đã từng chiếm Hoàng Sa và Trường Sa) thì họ sẽ cưỡng chiếm bằng được qua đầu tư và “sức mạnh sắc bén” (sharp power). Vì vậy, “chủ tương lớn” về ba đặc khu kinh tế với những ưu đãi đặc biệt (như cho thuê đất 99 năm), chẳng khác gì “gửi trứng cho ác” hay “nối giáo cho giặc”.
Bức tranh địa chiến lược
Trong lịch sử, Vân Đồn vốn là một tiền đồn có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía Đông Bắc, để ngăn chặn thủy quân Trung Quốc xâm nhập bằng đường biển, như thời Ngô Quyền chống quân Nam Hán (tại Trận Bạch Đằng năm 938), thời Lý Thường Kiệt chống quân Tống, (1075-1077), thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông (1287-1288). Khi Lý Thường Kiệt đem quân đánh Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu, thì Vân Đồn và Móng Cái là địa điểm tập kết quân nhà Lý. Khi Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến Sông Cầu để chống quân Tống, Vân Đồn là căn cứ của thủy quân nhà Lý để ngăn chặn thủy quân Tống, không cho ngược sông để hội quân với bộ binh địch, nên quân Tống đã bại trận…
Nếu Vân Đồn có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía Đông Bắc nhìn ra Vịnh Bắc Bộ, thì Phú Quốc có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía cực Nam nhìn ra Ấn Độ Dương, trong khi Vân Phong có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ Miền Trung nhìn ra Biển Đông. Tại Miền Trung, ngoài cảng Sơn Dương (Vũng Áng) mà Trung Quốc đã nắm, nay chỉ còn Vân Phong và Cửa Việt là hai cảng trung chuyển lớn (nước sâu) có tầm quan trọng chiến lược, nhưng Trung Quốc chưa nắm được. Phú Quốc có vị trí đặc biệt trong tầm nhìn chiến lược Indo-Pacific (cách Sihanoukville và Bokor có mấy chục km). Trung Quốc đã thuê được (lâu dài) hai vị trí chiến lược đó của Campuchea, nên họ rất thèm có Phú Quốc, để hình thành một tam giác chiến lược. Một khi Trung Quốc thỏa thuận được với Thailand để làm kênh đào Kra thì vị trí chiến lược của Phú Quốc còn quan trọng hơn cả Singapore.
Theo James Holmes (một chuyên gia hàng đầu của Mỹ về chiến lược hải quân), một cuộc xung đột vũ trang tại Biển Đông là có thể, và Trung Quốc có thể thắng Mỹ trong một cuộc chiến tại Biển Đông bằng “chiến tranh nhân dân trên biển” (people’s war at sea). Các chính khách và chuyên gia tại Washington và Hà Nội không nên coi phát biểu của bộ trưởng quốc phòng Trung quốc Thường Vạn Toàn (tướng Chang Wanquan) chỉ là “dọa dẫm” (bluster). Trung Quốc có thể thắng dù họ vẫn yếu hơn Mỹ, bằng cách tập trung binh lực áp đảo Mỹ tại địa điểm và thời điểm quan trọng nhất. Tư tưởng “phòng ngự tích cực” (active defense) là tấn công chiến thuật để phòng ngự chiến lược. Hiện nay, các tư lệnh Trung Quốc có thể hợp đồng tác chiến bằng các lực lượng cả nhỏ lẫn lớn để đương đầu với Mỹ và đồng minh. Vì vậy các tư lệnh Mỹ và đồng minh phải nghiên cứu binh pháp của Trung Quốc để hiểu rõ tư tưởng phòng ngự tích cực ngoài khơi (offshore active defence) tại Biển Đông sẽ diễn ra thế nào. (China Could Win a War Against America in the South China Sea, James Holmes, National Interest, May 30, 2018).
Nếu xung đột tại Biển Đông xảy ra thì ba đặc khu Vân Đồn, Vân Phong, và Phú Quốc có ý nghĩa chiến lược hiểm yếu đối với mục tiêu ngăn chặn địch tiếp cận (A2/AD). Nếu ba vị trí chiến lược đó bị đối phương (Trung Quốc) chiếm thì coi như hết cờ (và “xong phim”), không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả ASEAN và các cường quốc khác có lợi ích sát sườn tại Biển Đông như Mỹ-Nhật-Ấn-Úc, và EU (hoặc Nga). Nếu Biển Đông có ý nghĩa sống còn không chỉ đối với Việt Nam, mà còn với ASEAN và các cường quốc khác, thì câu chuyện đặc khu kinh tế Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc cũng có ý nghĩa tương tự. Ý nghĩa quan trọng nhất của ba đặc khu kinh tế này là chiến lược (chứ không chỉ kinh tế).
Thay lời kết
Ba đặc khu kinh tế mới là Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang) có kinh phí đầu tư là 1.570.000 tỉ VNĐ. (Riêng Vân Đồn là 270.000 tỉ, Bắc Vân Phong là 400.000 tỉ, Phú Quốc là 900.000 tỉ). Tuy chưa biết họ có định “đội vốn” lên như “hội chứng Ninh Bình” hay không, nhưng với con số 1.570.000 tỉ VNĐ, ngân sách nhà nước hay doanh nghiệp Việt đào đâu ra tiền (nếu không từ “phương bắc”). Điều này tiềm ẩn những rủi ro lớn và nguy cơ lâu dài về địa chính trị và an ninh quốc gia. Nếu đặt câu chuyện ba đặc khu kinh tế này trong bối cảnh xung đột lợi ích Biển Đông và tầm nhìn Indo-Pacific hiện nay, thì yếu tố Trung Quốc trong bức tranh địa chiến lược hiện lên rất rõ.   
Bản chất của các đặc khu Vân Đồn, Phú Quốc, Vân Phong, chủ yếu là sân chơi địa ốc và cờ bạc. Ngay khi vừa mới bàn đến triển vọng thành lập đặc khu thì người ta đã đổ xô đến chiếm đất để đầu cơ và đẩy giá lên rồi, vậy cần thành lập đặc khu làm gì nữa. Muốn Vân Phong trở thành một cảng trung chuyển thì không nhất thiết phải lập đặc khu. Đầu tư địa ốc thực chất cũng chỉ là đầu cơ để để trục lợi ngắn hạn. Yếu tố chính để thu hút đầu tư là một số ưu đãi để lách luật, trốn thuế, hay rửa tiền. Nhưng nếu thu hút đầu tư bằng mọi giá, thì cái giá phải trả cũng sẽ rất lớn. Muốn phát triển bền vững, phải cải tổ thể chế để hội nhập quốc tế theo các tiêu chuẩn chung đã cam kết thông qua các hiệp định như WTO, BTA, FTA (và CPTPP).
Tuy Đảng lãnh đạo “toàn diện và triệt để”, nhưng Quốc hội cũng phải gánh một phần trách nhiệm. Đây là lúc đại biểu Quốc hội và quan chức chính phủ cần suy xét kỹ và quyết định nên chọn cái gì (như nên “chọn cá hay thép”). Nếu quyết định đúng họ sẽ được hậu thế hàm ơn. Nếu quyết định sai họ sẽ bị hậu thế nguyền rủa (dù có cao chạy xa bay). Nhiều chuyên gia cho rằng để được thông qua, dự luật này cần phải bổ sung, sửa đổi rất nhiều, để đảm bảo lợi ích quốc gia, và tránh những sai lầm đáng tiếc. Hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội, thể chế, môi trường, và an ninh quốc gia, do các đặc khu để lại có thể khôn lường. Vì vậy, các đại biểu quốc hội và quan chức chính phủ cần suy xét xem ai được lợi từ đặc khu, và quyết định “bấm nút” vì lợi ích quốc gia, chứ không vì lợi ích nhóm (hay ngoại bang). 
Tham khảo  
1. Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu, Cao Huy Huân, VOA, 14/9/2014
2. China’s Crony Capitalism, Minxin Pei, Harvard University Press, 2016
3. Dự án luật về ba đặc khu Vân Đồn, Văn Phong và Phú Quốc, Vũ Quang Việt, Viet-studies, 30/5/2018
4. Mô hình đặc khu đã lỗi thời, Nguyễn Tiến Lập, MTG, 31/05/2018
5. China Could Win a War Against America in the South China Sea, James Holmes, National Interest, May 30, 2018
1/6/2018
N.Q.D.
Nguồn: http://viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_NghichLyDacKhu.html

LUẬT ĐẶC KHU 'NHIỀU ƯU ĐÃI NHƯNG THIẾU RÀNG BUỘC TRÁCH NHIỆM'

pv BẢO HÀ/ VNEx 2-6-2018

Cho thuê đất lên tới 99 năm, ưu đãi về thuế cho lĩnh vực casino,... là vấn đề khiến nhiều đại biểu quan ngại.


Dự án Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc đã được Quốc hội thảo luận ở hội trường lần cuối vào ngày 23/5, dự kiến biểu quyết thông qua vào 15/6.
Quá trình thảo luận, nhiều ý kiến đại biểu băn khoăn về quy định cho nhà đầu tư thuê đất với thời hạn lên đến 99 năm và một số ưu đãi được cho không cần thiết.
Trao đổi với Vnexpress bên hành lang Quốc hội ngày 1/6, đại biểu Hoàng Văn Cường - Phó giám đốc Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội cho hay, con số 99 năm khiến nhiều cử tri lo lắng.
"Nếu Ban soạn thảo vẫn dứt khoát quyết định chọn mốc thời gian này thì phải kèm theo những điều kiện ràng buộc chặt chẽ. Nhưng, tôi chưa thấy ràng buộc nào ở dự thảo Luật”, ông Cường nói và giải thích điều quan ngại của mình là, nếu chúng ta giao đất cho nhà đầu tư và họ được toàn quyền quyết định trên diện tích đó, rồi họ cứ trụ chân ở đó tuy không làm gì thì chúng ta có thể mất đi quyền quản lý cần thiết của mình.
Theo ông, việc cho thuê đất bao nhiêu năm phụ thuộc vào nhà đầu tư làm ăn, chấp hành tốt pháp luật hay không, nếu có điều kiện ràng buộc chặt chẽ thì không cần 99 năm, chỉ cần 50 năm và hết thời hạn lại xét thêm chu kỳ tiếp theo.

Đại biểu Hoàng Văn Cường, Phó giám đốc Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Phúc
Đại biểu Hoàng Văn Cường, Phó giám đốc Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Phúc
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa cho rằng, đất đai dành cho các hoạt động kinh tế, xã hội ngày càng hiếm, đất ở đặc khu lại càng có hạn. Vì vậy việc cấp phép sử dụng đất cho các dự án phải hợp lý. Đơn cử, một dự án có vòng đời 30 năm mà cấp quyền sử dụng đất tới 40 năm, 50 năm nghĩa là doanh nghiệp khác mất cơ hội tiếp cận đất đai ngay cả khi dự án đã xong. 
Trong thực tế, quy định cho thuê đất hiện tối đa là 70 năm và mới chỉ có dự án Formosa ở miền Trung được cấp phép với thời hạn này.
"Cá nhân tôi thấy dự án này cũng không cần tới 70 năm. 50 năm đã là nửa thế kỷ. Chúng ta cấp 50 năm, xem nửa thế kỷ ấy một dự án thép hoặc dự án casino vận hành như thế nào, về sau xét thấy nhu cầu cần thiết lại cấp tiếp 20, 30 năm nữa”, ông Nghĩa nêu giải pháp.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa. Ảnh: PV.
Ông Trương Trọng Nghĩa, Đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM. Ảnh: PV.
Ngoài ra, đại biểu Trương Trọng Nghĩa nhận định, nếu nhìn trên bản đồ thì những nơi dự kiến xây dựng đặc khu như Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hoà), Phú Quốc (Kiên Giang) đều ở vị trí nhạy cảm về an ninh, quốc phòng, cần tiếp cận thận trọng.
"99 năm là một thế kỷ, mấy thế hệ sinh ra và lớn lên, chúng ta có thể để cho con cháu sau này quyết định số phận của những dự án ở đặc khu, không nhất thiết quyết thay cho họ", ông Nghĩa nêu quan điểm.
Cũng đề cập đến vấn đề trên, bà Đỗ Thị Lan - Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh nhìn theo một hướng khác. Bà Lan cho rằng hiện đã có cơ chế cho doanh nghiệp thuê đất trong thời hạn 70 năm, “giờ thêm 29 năm nữa là tạo ra cơ chế vượt trội". Hơn nữa, dự thảo Luật cũng đã quy định chỉ những trường hợp đặc biệt như nhà đầu tư lớn, lĩnh vực đặc biệt… mới được hưởng thời hạn 99 năm đó.
"Việc nới rộng thời hạn cho thuê đất nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, hiện chúng ta còn kém trong việc mời gọi các nhà đầu tư này”, bà Lan nói.
Đại biểu lo doanh nghiệp "chỉ cần giữ chỗ đã được hưởng lợi"
Dự thảo Luật đặc khu cũng đưa ra những chính sách ưu đãi đầu tư về thuế, đất đai đảm bảo vượt trội so với trong nước, nhằm "cạnh tranh được với các đặc khu trên thế giới để thu hút đầu tư vào các ngành, nghề ưu tiên phát triển"; áp dụng mức thuế suất tiêu thụ đặc biệt đối với dịch vụ kinh doanh casino, kinh doanh đặt cược thấp hơn mức thuế suất hiện hành....

Click vào ảnh để xem thêm Những ưu đãi tại 3 đặc khu tương lai. Đồ họa: Tạ Lư.
Click vào ảnh để xem thêm Những ưu đãi tại 3 đặc khu tương lai. Đồ họa: Tạ Lư.
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa phân tích, sau mấy chục năm thu hút FDI, nhu cầu phát triển của Việt Nam và tình hình khoa học công nghệ trên thế giới đã khác rất nhiều.
“Cách đây 30 năm khi làm Luật Đầu tư nước ngoài, chúng ta không có gì kể cả các ngành gia công như dệt may, da giày,… nhiều vùng trắng kinh tế nên phải thu hút các nhà đầu tư và Việt Nam đã ưu đãi họ rất nhiều”, ông Nghĩa điểm lại tình hình.
Tuy nhiên, theo đại biểu này, những năm gần đây, Việt Nam đã chuyển hướng sang thu hút đầu tư các ngành công nghệ cao, không gây ô nhiễm môi trường... Trong bối cảnh như vậy, việc giao đất một cách rộng rãi và ưu đãi để doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư, sử dụng nhân công giá rẻ không còn cần thiết.
"Tôi đọc kỹ dự thảo Luật và không rõ các đặc khu muốn gì? Nếu muốn thu hút công nghệ cao thì có thể xây dựng thành mô hình thung lũng silicon như thế giới. Nhưng nếu vậy dự án phải khác, ưu đãi cũng phải khác với cách thu hút đầu tư casino", ông Nghĩa nói và cho rằng, vấn đề nằm ở chỗ, nói là thu hút công nghệ cao nhưng lại đưa casino vào kinh doanh thì sẽ thành "lộn xộn".
Đại biểu Nghĩa phân tích thêm, những khu vực dự kiến phát triển thành đặc khu, ví dụ Phú Quốc, chưa cần ưu đãi thì nhà đầu tư đã vào rất nhiều, đất đai, biệt thự, khách sạn đã được xây dựng ồ ạt và bán sang tay hai lần, ba lần. "Vậy thì chúng ta nên tiếp tục ưu đãi để thu hút đầu tư hay nên tiếp cận vấn đề theo hướng khác?”, ông nêu vấn đề.
"Nếu chính quyền quản lý tốt thì giá đất trên địa bàn quy hoạch đặc khu có thể không đến 50 triệu, 70 triệu hay cả 100 triệu đồng mỗi m2, mà có thể chỉ là 10 triệu, 15 triệu đồng thôi. Nhưng bây giờ các nhà đầu cơ họ đã mua hết. Do đó, việc miễn thuế đất, miễn tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước thực chất là điều tiết tiền ngân sách vào túi các nhà đầu cơ”, ông Nghĩa lo lắng.
Cũng nói về các chính sách ưu đãi ở đặc khu, đại biểu Hoàng Văn Cường cho rằng, trường hợp đất giao cho các nhà đầu tư kinh doanh thương mại mà lại miễn thuế là một vấn đề lớn. "Vấn đề không phải mất tiền thuế mà mất đi môi trường cạnh tranh. Việc miễn thuế lẽ ra mang mục đích khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, ở đây lại ưu đãi cho lĩnh vực dịch vụ thì doanh nghiệp không cần cạnh tranh mà chỉ cần chiếm đất giữ chỗ, 5 năm, 10 năm sau chắc chắn có lợi nhuận”, ông Cường nói.
Phó giám đốc Đại học kinh tế quốc dân chia sẻ: "Cá nhân tôi và nhiều cử tri đều mong muốn Việt Nam sớm có hành lang pháp lý về đặc khu, thí nghiệm các thể chế tốt, thu hút nhà đầu tư để tạo ra các cực tăng trưởng lan toả, tuy nhiên đó phải là sự phát triển bền vững".
Đại biểu Đỗ Thị Lan thì cho rằng, những ưu đãi mà dự thảo Luật đề ra là cần thiết để tạo ra cơ chế đột phá. “Chúng ta muốn đột phá mà cứ chậm trễ thì sẽ không đạt được mục tiêu. Trong bối cảnh hiện nay, không sớm thông qua Luật đặc khu thì sẽ tạo ra sự lãng phí bởi hiện nay nhà đầu tư đã có, tài nguyên, cơ sở đã sẵn sàng, chỉ chờ Luật thôi”, bà Lan nhấn mạnh và bày tỏ kỳ vọng, đến năm 2022, các đặc khu sẽ cho những kết quả bước đầu.

Bảo Hà

TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG "TIỂU QUỐC" MANG TÊN "ĐẶC KHU"

M.KIM / BVN 2-6-2018

Cổng vào Kings Romans Casino thuộc “Đặc khu kinh tế Tam Giác Vàng” (South China Morning Post)
Dự luật thành lập ba đặc khu kinh tế (Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa, Phú Quốc-Kiên Giang) đang gây chú ý không chỉ bởi yếu tố thời hạn cho thuê đất có thể lên đến 99 năm mà là sự lo lắng về một cuộc đổ bộ của Trung Quốc, cát cứ ba vị trí ảnh hưởng an ninh quốc gia. Mở rộng ảnh hưởng và bành trướng chủ nghĩa thực dân kiểu mới bằng lá bài “đặc khu kinh tế” là chủ trương Bắc Kinh. Thử xem Trung Quốc đang làm gì với những “đặc khu” ở các nước khu vực…
Năm 2007, Chính phủ Lào cấp phép cho thuê đất 99 năm cho tập đoàn Kings Romans có trụ sở tại Hong Kong, lập “Đặc khu kinh tế Tam Giác Vàng” tại tỉnh Bokeo. Lào đồng ý cho Kings Romans thuê 10.000 hecta đất trong đó 3.000 hecta được dành cho “đặc khu”, với nhiều chính sách ưu đãi chẳng hạn miễn thuế. Kings Romans dự kiến đầu tư tổng cộng 2,25 tỷ USD vào trước năm 2020, trong đó có một sân golf, khu massage, karaoke… Nói chung là ăn chơi chứ không phải hạ tầng hi-tech. Trong video clip 15 phút quảng bá phát trên nhiều website Trung Quốc năm 2013, Kings Romans tự hào việc xây dựng một khu du lịch và thương mại cùng với khu nghỉ dưỡng cao cấp, sân golf, câu lạc bộ du thuyền… Hầu hết 4.500 nhân viên-công nhân tại đặc khu là người Trung Quốc. Người điều hành Kings Romans là Zhao Wei 67 tuổi, mà theo Los Angeles Times, vốn là một y sĩ làng quê xuất thân từ Hắc Long Giang. Nói với South China Morning Post, Zhao Wei cho biết ông ta toàn quyền kiểm soát Đặc khu Tam Giác Vàng; và đặc khu là “một thế giới riêng của người Trung Quốc”. “Thế giới riêng” đó chiếm 102 km2, với 7 km dọc bờ Mekong nhìn sang Myanmar và Thái Lan.

Zhao Wei, ông chủ Kings Romans (South China Morning Post)
Hơn 10 năm sau khi “cam kết mang lại lợi ích kinh tế cho tỉnh Bokeo nói riêng và Lào nói chung”, Kings Romans đã biến Đặc khu Tam Giác Vàng thành một ổ tội phạm khổng lồ. Tháng 1-2018, Bộ tài chính Hoa Kỳ đã đưa công ty này vào danh sách các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia bị Mỹ cấm vận, bởi liên quan “ma túy, buôn người, buôn lậu động vật hoang dã và mại dâm trẻ em” (Reuters 31-1-2018). Cơ quan phòng chống ma túy (DEA) và Bộ Tài chính Mỹ thậm chí cấm vận một người mang quốc tịch Úc (Abbas Eberahim) làm việc cho Kings Romans, vì tội “chịu trách nhiệm an ninh cho Kings Romans Casino cũng như hối lộ giúp Zhao Wei”. Việc bị Mỹ cấm vận dĩ nhiên không ảnh hưởng hoạt động Kings Romans tại Lào. Vientiane không vì thế mà đóng cửa Kings Romans. Hang ổ ma túy đĩ điếm này còn mặc sức tung hoành với cái hợp đồng 99 năm. Trong khi đó, Vientiane vẫn tiếp tục mở cửa cho Trung Quốc. Tháng 8-2017, Lào bật đèn xanh cho Guangdong Yellow River (“Quảng Đông Hoàng Hà thực nghiệp tập đoàn”) lập Đặc khu Khonphapheng tại tỉnh Champassak. Dự án vẫn tập trung vào du lịch hơn là xây dựng hạ tầng công nghiệp kỹ thuật cao. Sẽ có một ổ cờ bạc mại dâm quốc tế nữa, được ghép với cái tên “đặc khu”?
Ngày 11-1-2018, tại Phnom Penh, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường ký 19 thỏa ước trị giá hàng tỷ đôla để phát triển hạ tầng giao thông, nông nghiệp và y tế cho Campuchia. Từ 2011-2015, các công ty Trung Quốc đã cung cấp gần 5 tỷ USD vốn vay và đầu tư vào nước này (South China Morning Post 14-1-2018). Tiền Trung Quốc cũng đổ vào Đặc khu kinh tế Sihanoukville. Kể từ thời điểm thành lập 2008, Đặc khu Sihanoukville đã trở thành một “tiểu quốc Trung Quốc” trong lòng Campuchia. Với 11,12 km2 (Cần biết: diện tích quận 1 Sài Gòn hiện tại là 7,73 km2), Đặc khu Sihanoukville có đầy đủ hạ tầng của một thành phố, từ hệ thống cống thoát nước, khu nhà ở, nhà hàng, giải trí, đến chợ búa cùng các dịch vụ tiện ích khác… Các bảng hiệu đều ghi bằng chữ Trung Quốc. Khoảng 100 công ty Trung Quốc với chừng 16.000 nhân viên-công nhân Trung Quốc đang sống trong Đặc khu. Một bài báo Tân Hoa Xã (18-11-2016) cho biết Đặc khu sẽ mở rộng với 300 công ty Trung Quốc vào trước năm 2020. Campuchia hẳn nhiên cũng “có lợi” trong sự phát triển Đặc khu Sihanoukville nhưng chắc chắn họ chỉ liếm láp mẩu bánh thừa rơi rớt từ bàn tiệc của các công ty Trung Quốc – những “ông chủ” đích thực của nền kinh tế Campuchia mà dân Campuchia trở thành người làm công trên chính mảnh đất mình.
Tính đến tháng 4-2018, Trung Quốc đang xây một công viên công nghiệp 303 hecta tại “Đặc khu kinh tế Bangladesh”. Phía Bangladesh góp 30%; còn lại là China Harbour Engineering Company (“Trung Quốc cảng loan công trình công ty”). “Đây là lần đầu tiên Trung Quốc có được một cơ sở lớn như thế tại Bangladesh, nơi giới đầu tư Trung Quốc có thể xây dựng các khu công nghiệp” – viên chức Li Guangjun thuộc Sứ quán Trung Quốc tại Dhaka nói với Reuters.
Tại Sri Lanka, Bangladesh, Nepal, Pakistan…, Trung Quốc đang đổ hàng núi tiền vào việc xây dựng hải cảng, khu công nghiệp và đặc khu kinh tế.

Một góc Đặc khu Sihanoukville đang được xây mở rộng
(South China Morning Post)
Có nước lớn nào đầu tư mạnh vào mô hình đặc khu tại nhiều quốc gia như Trung Quốc?
Gần như là không. Mô hình đặc khu đã lỗi thời.
Tại sao Trung Quốc thích xây dựng đặc khu?
Kế hoạch này, trước hết, nằm trong bản thiết kế vừa mang lại lợi ích kinh tế lẫn lợi ích chính trị: “Một vành đai-Một con đường”. Theo Caixinglobal (12-5-2017), tính đến tháng 4-2017, Trung Quốc có tổng cộng 77 đặc khu đang được xây tại 36 quốc gia, với 56 đặc khu nằm tại 20 quốc gia dọc theo tuyến “Một vành đai”. Hơn 1.000 công ty Trung Quốc đã đầu tư 18,55 tỷ USD tại các đặc khu dọc tuyến “Một vành đai”. Không như mô hình công viên công nghiệp mà Mỹ, Nhật hoặc Hàn Quốc xây dựng, nơi nguồn nhân lực chủ yếu là người bản địa, “đặc khu” Trung Quốc, tại bất kỳ quốc gia nào, chỉ ưu tiên cho người Trung Quốc. Đặc khu là một thành phố Trung Quốc được dựng ngay trong lòng một quốc gia khác, khai thác chính nền kinh tế quốc gia đó và mang lợi nhuận về bản quốc.
Được hưởng những chính sách ưu đãi, một đặc khu lớn (cỡ Kings Romans) – dù chỉ nhả ra vài mẩu bánh vụn hoặc khúc xương thừa – cũng trở thành một thành tố quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia bản địa, và do vậy, nó có thể bẻ gãy một phần hoặc phá hủy cấu trúc tài chính-kinh tế của quốc gia sở tại nếu nó muốn. Thời gian thuê đất càng dài thì sự gắn kết của đặc khu vào nền kinh tế quốc gia sở tại càng chặt và khả năng khống chế hoặc thao túng của “tiểu quốc Trung Quốc” tại quốc gia sở tại càng cao.
Nhìn lại, có thể thấy Trung Quốc chỉ nhắm vào các nước nghèo để lập đặc khu. Sức mạnh kim tiền của Trung Quốc dù ghê gớm thế nào cũng không thể lập một đặc khu như Kings Romans hay Sihanoukville tại Mỹ hoặc thậm chí Hàn Quốc, nơi Trung Quốc không thể mua chuộc đám quan chức tham lam sẵn sàng vỗ béo mình bằng cách “kinh doanh” tương lai quốc gia khi bán đất đai cho nước ngoài với giá rẻ mạt; nơi Trung Quốc không thể hối lộ bọn quan quyền vô liêm sỉ sẵn sàng đưa quốc gia đến nguy cơ diệt vong chủ quyền.
Tháng 2-2018, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron mời 1.000 nông dân vào Điện Elysée với lời hứa, Chính phủ Pháp sẽ chặn đứng các thương vụ mua đất từ người nước ngoài sau khi dư luận Pháp phản ứng trước vụ một nhà đầu tư Trung Quốc mua 2.700 hecta đất tại vùng Allier và Indre. Câu chuyện của nước Pháp xa xôi và nước Pháp văn minh không giống với câu chuyện Việt Nam với một “đảng cai trị và nhân dân làm chủ”. Trong Dự thảo luật đặc khu, Điều 11 ghi: “Cơ quan lập quy hoạch đặc khu có trách nhiệm lấy ý kiến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức có liên quan, chuyên gia, nhà khoa học, nhà đầu tư chiến lược, cộng đồng dân cư sinh sống tại đặc khu về quy hoạch đặc khu”. Tuy nhiên, ngày 16-4-2018, chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân “nhấn mạnh” tại phiên thảo luận về dự thảo Luật đặc khu Vân Đồn-Bắc Vân Phong-Phú Quốc rằng, “Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không không thể không ra luật”.
Bộ Chính trị của bà Kim Ngân có xét đến yếu tố an ninh quốc gia, trật tự xã hội, an toàn kinh tế…? Chưa bao giờ Bộ Chính trị của bà Kim Ngân trở nên nguy hiểm đối với quốc gia bằng lúc này. Chưa bao giờ Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa đất nước đến bờ vực tiêu diệt tương lai nhiều thế hệ bằng lúc này.
M.K.
Nguồn: https://www.triviet.news/trung-quoc-va-nhung-tieu-quoc-mang-ten-dac-khu/

BỐN CÁCH & HAI GIAI ĐOẠN TRUNG QUỐC CÓ THỂ KIỂM SOÁT VÂN ĐỒN

VÕ TRÍ HẢO/ BVN 2-6-2018

Bốn cách để Trung Quốc có thể (không nhất thiết phải xảy ra) kiểm soát Vân Đồn, sau khi Luật Đơn Vị Hành Chính - Kinh Tế đặc biệt được thông qua:

GIAI ĐOẠN I
Cách thứ nhất, M&A.
Luật Việt Nam hoàn toàn không cấm một Doanh nghiệp “Dân Túy” nào đó của Việt Nam đứng ra phất cao ngọn cờ “tinh thần dân tộc” để được lĩnh dự án qua chỉ định thầu. Khi giành được dự án, tập đoàn này sẽ thành lập ra một công ty con để sở hữu, quản lý, vận hành dự án. Sau khi “thành món thành tấm”, nhằm lúc thiên hạ ít để ý, lặng lẽ chuyển nhượng cổ phần của doanh nghiệp con này cho Doanh nghiệp có nguồn gốc Trung Quốc (không nhất thiết là Doanh nghiệp mang quốc tịch Trung Quốc, mà là thông qua một hệ thống chằng chịt các doanh nghiệp cháu chắt, chiu… mà công ty Trung Quốc, hoặc Chính phủ Trung Quốc có thể chi phối).
Cách thứ hai, BCC (Business Cooperation Contract).
Cách thứ nhất nêu trên, có thể bị hạn chế phần nào, bởi quy định về ROOM tối đa mà một doanh nghiệp nước ngoài có thể sở hữu cổ phần của một doanh nghiệp Việt Nam, một dự án..., khiến cho Doanh nghiệp Trung Quốc muốn áp dụng cách thứ nhất sẽ phải tốn mưu, tốn sức (thành lập một hệ thống công ty ông bà, công ty bố mẹ, công ty cháu chắt…) để lách quy định về ROOM (bản thân giải pháp khống chế bằng ROOM, khi áp dụng cũng phải phù hợp với WTO, CPTPP, MFN...), về điều kiện kinh doanh đặc biệt đối với FDI, thì cách thứ hai, có chút rủi ro hơn về tiền bạc. Đó là nhắm vào một doanh nghiệp Việt Nam đang chiếm giữ đất mà họ muốn kiểm soát; không cần M&A, mà chỉ cần ký một Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC); trong BCC này chỉ cần hai nội dung cốt lõi (tạm gọi là hai điều khoản) là tình báo Trung Quốc có thể hạ gục, biến doanh nghiệp Việt Nam thành con rối (puppet/ botnet):
– Điều 1: Bên A (Doanh nghiệp Việt Nam được đầu tư số tiền X, được thanh toán cho các cổ đông của Doanh nghiệp A một lần; hoặc thanh toán định kỳ hàng năm một khoản lợi nhuận cố định bằng Y VND).
– Điều 2: Bên B (doanh nghiệp có nguồn gốc Trung Quốc hay bị Chính phủ Trung Quốc kiểm soát, chi phối) có quyền: chỉ định/ hoặc phủ quyết Người Đại diện theo pháp luật (nôm na là Giám đốc/ Chủ tịch)/ Kế toán trưởng…) và có các quyền sau đây:… -> Toàn quyền định đoạt Bên A.
So với cách thứ nhất, cách thứ hai có một chút rủi ro tài chính. Vì BCC phải do một luật sư rất cao tay soạn ra thì Bên B mới đạt được mục tiêu & nó bị tác động nhiều khi Bên A nổi lòng yêu nước; không chấp nhận bị khống chế nữa; tìm cách bất tuân BCC. Nhưng tiền bạc là cái mà Chính quyền Trung Quốc có thể bơm cho Doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện để đạt được mục tiêu chính trị, an ninh, gián điệp của Chính phủ Trung Quốc & nổi loạn chống lại BCC không hề dễ chút nào.

Cách thứ ba, Marriage (kết hôn).

Cách này tuy không áp dụng đại trà được & có một chút rủi ro vì sự ‘đỏng đảnh” hay “bất tuân” của người vợ Việt Nam. Nhưng lại là cách khi đã “triển” thì rất khó đối phó. Bởi cô vợ Việt Nam là công dân Việt Nam, không thể áp dụng các hạn chế đối với doanh nghiệp do cô vợ đứng ra làm bình phong.

Cách thứ tư, hợp đồng công chứng ủy quyền định đoạt hoặc hợp đồng thuê nhà, thuê BĐS 99 năm.

Hiện nay pháp luật không cấm (và cũng không nên cấm) việc Bên A ủy quyền cho Bên B định đoạt một số quyền của Bên A; pháp luật cũng không cấm thời hạn của Hợp đồng thuê nhà, Hợp đồng thuê tài sản, Hợp đồng Khai thác tài sản bị giới hạn bao lâu. Nên sau khi triển khai xong dự án bất động sản, Bên A (Doanh Nghiệp Việt Nam) hoàn toàn có quyền ký Hợp Đồng Ủy Quyền Định Đoạt (bất động sản) cho Bên B (doanh nghiệp Trung Quốc) hoặc cho người Trung Quốc thuê nhà với thời hạn 99 năm & có quyền cho người khác thuê lại.
Pháp luật Việt Nam gần như chưa điều chỉnh về Trust. Sử dụng “trust” thì họ còn có vô vàn cách để kiểm soát doanh nghiệp bình phong.
Bốn cách nêu trên có thể áp dụng đối với bất cứ địa phương nào, không riêng gì Vân Đồn. Nhưng tại sao tôi lại quan ngại Vân Đồn. Bởi (1) giá trị quân sự của Vân Đồn đối với Trung Quốc & (2) đặc điểm Isolated của island của Vân Đồn; (3) “Vừa miếng”; (4) Gần về không gian địa lý, khiến cho Trung Quốc dễ chuyển sang Giai đoạn 2. Còn đường Tự Do ở Sài Gòn vẫn bị bao quanh bốn bề là người Việt; chứ không phải bốn bề là biển như một hòn đảo; nên khi bị kiểm soát nó chưa gây ra bất ổn nào đáng kể.
Còn một hòn đảo trong Vịnh Bắc Bộ, cận kề Trung Quốc, có lịch sử sinh sống của người Trung Quốc trước năm 1979 (thời kỳ Môi Hở Răng Lạnh, Núi Liền Núi, Sông Liền Sông, Chung Một Biển Đông) thì Trung Quốc có nhiều động lực (incentive), quyết tâm & điều kiện để chuyển sang Giai đoạn II. Sau chừng 10 năm áp dụng bốn cách ở nêu trên, Chính Quyền Trung Quốc có thể chuyển sang Giai đoạn II, theo kịch bản Crưm.

GIAI ĐOẠN II: KỊCH BẢN CRƯM

  1. Di dân (bằng tất cả mọi cách). Cái này ông Dương Trung Quốc có cảnh báo rồi; không phân tích chi tiết thêm.
  2. Tạo bất ổn chính trị; kiếm cớ biểu quyết ly khai;
  3. Ly khai;
  4. Xin gia nhập Trung Quốc.
Vì vậy tôi khẩn thiết đề nghị, nếu vẫn quyết tâm làm Đơn vị Hành chính – Kinh tế đặc biệt thì nên chọn 1 cái đầu tiên an toàn nhất về an ninh quốc phòng làm trước; sau 5 năm triển khai cái thứ hai; sau 10 năm đúc rút thì mới triển khai cái thứ ba. Và mỗi đặc khu phải có một luật riêng; bởi nguy cơ an ninh quốc phòng, cũng như các đặc điểm khác của Phú Quốc khác xa Vân Đồn, Vân Phong.
Và về mặt kinh tế học, nó sẽ tránh đầu tư dàn trải.
Trong Dự thảo hiện hành của Luật Đơn vị Hành chính - Kinh tế đặc biệt đã có đối sách với Bốn cách, Hai giai đoạn nêu trên hay chưa?
V.T.H.
Nguồn: https://www.facebook.com/notes/võ-tr%C3%AD-hảo/bốn-cách-hai-giai-đoạn-trung-quốc-có-thể-kiểm-soát-vân-đồn/2152736361471057/
NHỮNG ĐIỂM BẤT ỔN CỦA LUẬT ĐẶC KHU
LS LÊ LUÂN/ FB LL/ BVN 2-6-2018

Điều đáng lo ngại nhất của Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt là vấn đề liên quan mật thiết đến chủ quyền về lãnh thổ ở các khía cạnh:

Một là, khả năng mất quyền tài phán của toà án trong nhiều trường hợp, vì luật này cho phép toà án nước ngoài có thể được lựa chọn để giải quyết trong một số tranh chấp với tổ chức và cá nhân người nước ngoài. Trong khi đó, chỉ có Trọng tài mới là cơ chế giải quyết tranh chấp mà do các bên lựa chọn chủ động theo Điều ước quốc tế hoặc theo thoả thuận của các bên tham gia giao dịch (lĩnh vực thương mại quốc tế, thuộc tư pháp quốc tế). Nhưng nay Luật Đặc khu lại cho phép các bên lựa chọn toà án để giải quyết tranh chấp. Đây là một vấn đề pháp lý nguy hại nghiêm trọng, vì một đất nước thì toà án là cơ chế (nhánh tư pháp) thể hiện quyền tài phán riêng biệt và duy nhất để khẳng định chủ quyền của một quốc gia. Thế nhưng không hiểu lý do gì mà ta lại có thể coi đặc khu là một nơi được lựa chọn toà án của nước ngoài để giải quyết tranh chấp? Các nhà lập pháp có thực sự có nhận thức và tư duy đúng mực của một nhà lập pháp hay không? Tôi chưa bao giờ thấy nơi nào cho một cơ quan tài phán nào khác được phép xét xử các tranh chấp trên chính lãnh thổ của mình như vậy.
Hai là, việc giao đất có thời hạn đến 99 năm và kèm theo việc người nước ngoài được sở hữu nhà ở, căn hộ theo dạng nhà thương mại hoặc biệt thự nghỉ dưỡng. Tức là người nước ngoài có thể không chỉ sở hữu căn hộ kiểu nhà chung cư mà còn sở hữu nhà trên đất dưới dạng biệt thự trong khu nghỉ dưỡng. Như vậy thì thật sự nguy hiểm, và cộng thêm quyền tài phán của toà án tại đặc khu có thể bị loại bỏ trong một số trường hợp thì chúng ta bảo vệ chủ quyền kiểu gì đối với chính các giao dịch thuộc về sự gắn liền với lãnh thổ và địa giới trên thực địa?
Ba là, Luật Đặc khu tạo ra một kiểu mô hình chính quyền mới trong đó thêm Trưởng khu hành chính là người thừa hành quyền nhiệm từ Chủ tịch uỷ ban nhân dân đặc khu mà không rõ tiêu chuẩn của người này như thế nào. Việc thành lập Hội đồng nhân dân đặc khu giới hạn tối đa 15 đại biểu và không có thường trực cũng như các ban. Việc bầu chủ tịch và phó chủ tịch hội đồng phải được Uỷ ban thường vụ quốc hội phê chuẩn. Và toà án được phân thành các toà chuyên trách gồm: toà hành chính, toà kinh tế và toà chuyên trách khác. Và Toà án lại do Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập dựa trên đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao chứ không phải được thành lập theo sự phân cấp thông thường, viện kiểm sát cũng trong một tình trạng tương tự. Như vậy việc thành lập toà án đặc khu (tương đương cấp huyện) lại theo một trình tự khác biệt và vượt cấp ở mức đặc biệt, trong khi thẩm quyền tài phán của nó thì bị thu hẹp hơn là toà án thông thường.
Bốn là, chúng ta coi hành vi đánh bạc gồm cá cược, đặt cược và casino là một loại tội phạm, nhưng khi thành lập đặc khu thì những hoạt động này lại được coi là hợp pháp vì là một lĩnh vực đầu tư, kinh doanh. Vậy có nghĩa rằng trên một lãnh thổ, một hành vi ở nơi này là tội phạm nhưng ở nơi khác lại là được phép. Mâu thuẫn pháp lý này là một nghịch lý không thể được chấp nhận trong một hệ thống luật pháp và đối với một quốc gia.
Năm là, việc đầu tư hay thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thành lập đặc khu là một hình thức đã lỗi thời và tiềm ẩn nguy cơ phương hại đến an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ nhiều hơn là cái lợi (chỉ về mặt kinh tế) mà nó đem lại. Chúng ta thiết lập nên những thực thể pháp lý đặc biệt và với phạm vi đặc biệt mà lại tạo ra nhiều lỗ hổng về mặt luật pháp cũng như trong việc tổ chức và kiểm soát chính quyền thì điều đó thực sự nguy hại đối với an ninh địa chính trị về lâu dài.
Đề nghị Quốc hội thực hiện trưng cầu dân ý và phải bàn thảo lại một cách kỹ lưỡng cũng như hết sức cẩn trọng vì đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng, không chỉ liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền mà còn ảnh hưởng rộng lớn đến lợi ích của toàn bộ xã hội.

o automatic alt text available.
L.L.
Nguồn: FB Luân Lê

TÔ GIỚI 99 NĂM VÀ CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC CHỦ NỢ TRUNG HOA

NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG/ Luatkhoa/ BVN 2-6-2018

Trong lịch sử thông luật, thời hạn thuê 99 năm được xem là thời hạn cho thuê bất động sản dài nhất có thể.
Nền tảng lý thuyết để lý giải cho thời hạn này không rõ ràng lắm. Một số cho rằng đây là một thời hạn an toàn để người thuê đất có thể an tâm đầu tư, khai thác và sử dụng đất, vì 99 năm thuê đủ để vượt qua kỳ vọng tuổi thọ của người thuê. Trong khi đó, nó cũng bảo đảm quyền sở hữu trong tương lai của người cho thuê và những người thừa kế của mình đối với mảnh đất.
Mặt khác, xét theo các khía cạnh tư luật, giới hạn thời hạn thuê thường được xem là một biện pháp bảo đảm các giao dịch chuyển nhượng đất không bị che giấu bằng thỏa thuận thuê đất. Ví dụ, pháp luật tiểu bang Alabama (Mỹ) không cho phép cho thuê bất động sản quá 99 năm.
Vương Quốc Anh đã phổ biến thời hạn 99 năm trở thành biểu tượng của chủ nghĩa đế quốc bằng việc cưỡng ép nhiều quốc gia yếu thế hơn tham gia vào các hiệp định hình thành tô giới (hay territorial concession) với chính sách ngoại giao pháo hạm khét tiếng (gunboat diplomacy). Ví dụ điển hình nhất của chính sách này là thoả thuận thuê Hong Kong mà Anh quốc ký với triều đình nhà Thanh của Trung Quốc vào năm 1898.
Còn hiện nay, Trung Quốc, với sự lớn mạnh kinh tế và bành trướng quân sự của mình đang ‘trả thù đời’ với thời hạn thuê 99 năm tương tự tại nhiều quốc gia, được nhiều nhà quan sát gọi là chủ nghĩa đế quốc chủ nợ Trung Hoa.
Tháng 12 năm ngoái, Sri Lanka chính thức bàn giao cảng Hambantotacho chính quyền Trung Quốc. Hambantota, nằm tại đường biển phía Nam Sri Lanka, là cảng biển có vị thế địa chính trị đặc biệt quan trọng, cho phép Trung Quốc tiếp cận nhiều cung đường biển giao thoa ở Ấn Độ Dương.
Đây là chiến thắng quan trọng của chính quyền Bắc Kinh trong việc hiện thực hóa chiến lược Vành đai và Cung đường (Belt and Road Initiative), được Chủ tịch Tập Cận Bình ca ngợi là ‘“dự án thế kỷ” – và chứng tỏ chính sách ngoại giao bẫy nợ của Trung Quốc hiệu quả đến thế nào trong việc kiểm soát các chính phủ tại nhiều quốc gia đang phát triển.
Theo thông báo chính thức của chính phủ Sri Lanka, việc giao quyền kiểm soát cảng biển này cho Trung Quốc trong thời hạn 99 năm trị giá 1,12 tỷ USD, dưới hình thức bán lại 85% cổ phần trong công ty quản lý Hambantota.
Tuy nhiên, phần lớn khoản tiền cho thuê này không vào túi chính phủ Sri Lanka, mà được dùng để trả khoản tiền mà Sri Lanka đang nợ chính phủ Trung Quốc cho chính việc xây dựng cảng biển này. Công ty China Merchants Port Holdings, cùng với Cơ quan Quản lý Cảng Quốc gia Sri Lanka, là các đại diện sở hữu vốn góp trong hai công ty chiếm hữu, sử dụng và quản lý cảng – Hambantota International Port Group (HIPG) và Hambantota International Port Services (HIPS).
Giới quan sát cho đây là hành vi hy sinh chủ quyền của chính phủ Sri Lanka nhằm khỏa lấp cho thất bại điều hành quốc gia của mình, và cho thấy giới chức Sri Lanka đang khuất phục trước thứ gọi là chủ nghĩa đế quốc chủ nợ, thuật ngữ do nhà phân tích Ấn Độ Brahma Chellaney tiên phong sử dụng.

Quang cảnh buổi lễ bàn giao cảng Hambantota cho Trung Quốc. Ảnh: The Sunday Leader.
Có vay có trả, tại sao gọi việc cho vay nợ này là chủ nghĩa đế quốc? Theo người viết, có ba lý do chính.
Trước tiên, Chính phủ Trung Quốc chủ động thực hiện chính sách phá giá cho vay và khuyến khích vay. Các dự án cho vay của các tổ chức phương Tây như OECD, USAID, UKAID hay các ngân hàng thế giới thường kèm theo các yêu cầu về cải thiện tình trạng dân chủ, cải cách thượng tầng hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền con người, minh bạch hóa, kèm theo các chính sách không phân biệt đối xử hay yêu cầu bảo vệ môi trường, v.v. Người Trung Quốc không yêu cầu bất kỳ điều gì được liệt kê ở trên. Họ cực kỳ thành công khi áp dụng phương án cho vay ‘không vướng bận’ này tại châu Phi và đang củng cố vị thế của mình tại đây.
Hiển nhiên, chúng không khác gì mua chuộc và làm mục ruỗng giới cầm quyền. Con nợ, nắm nguồn tư bản lớn để thực hiện các dự án quốc gia mà không phải thông qua người dân, các nhà lãnh đạo được giải thoát khỏi trách nhiệm giải trình, trách nhiệm minh bạch hóa hay trách nhiệm hoàn thiện hóa bộ máy nhà nước để sử dụng ngân sách một cách hiệu quả. Tham nhũng và tiêu cực là câu chuyện một sớm một chiều. Nhưng cũng vì vậy, nó giúp chính quyền Bắc Kinh dễ kiểm soát nền chính trị quốc gia của con nợ hơn.
Với hơn hai nghìn tỷ USD trong ngân khố quốc gia và nhiều quỹ đầu tư nước ngoài chuyên biệt sở hữu hàng chục tỷ USD, không quá khó để chính quyền Trung Quốc thực hiện những chiến dịch cho vay vô điều kiện, miễn là họ kiểm soát được những thứ họ muốn. Tại châu Phi, đó có thể là nguyên liệu thô. Tại những quốc gia biển như Sri Lanka hay một số quốc gia khác, là những vị trí cảng, đất đai chiến lược.
Điểm nhấn thứ hai chứng tỏ Trung Quốc đang theo đuổi chủ nghĩa đế quốc chủ nợ là họ không kỳ vọng con nợ có thể trả được nợ. Sri Lanka cũng là một ví dụ kinh điển cho cách mà hệ thống hạ tầng xây bằng nợ của Trung Quốc vận hành. Cần tái thiết đất nước sau cuộc nội chiến đẫm máu, thủ đô Colombo đã nhận gần 15 tỷ USD trong giai đoạn 2005 – 2017 từ Bắc Kinh để xây dựng lại hệ thống đường xá, hạ tầng cùng nhiều dự án tham vọng như cảng biển chiến lược, sân bay quốc tế và cả một khu đô thị mới có tên gọi Colombo Port City.
Tuy nhiên, do thiếu giải trình, thiếu phản biện và lại được Bắc Kinh ngầm khuyến khích tham nhũng, thành quả của hàng tỷ USD đầu tư được tóm tắt rõ ràng nhất trong lời than vãn của Ravi Karunanayake – Bộ trưởng Bộ Tài chính Sri Lanka khi trả lời phỏng vấn CNN:
“Họ xây cầu những nơi không có sông… Đó là thứ tiêu cực đang diễn ra hằng ngày trên đất nước tôi”.
Sự thất bại của hàng loạt dự án trọng điểm tiêu tốn đến hàng tỷ USD đều được báo trước. Sân bay quốc tế Mattala Rajapaksa là một sân bay ma, nơi mà những người đến đó chỉ là khách du lịch địa phương muốn chiêm ngưỡng sân bay hoành tráng nhất nhì quốc gia, hiện đại chuẩn quốc tế giữa một khu rừng già. Cảng Hambantota là một thất bại thương mại thảm hại với tổng giá trị đầu tư lên đến 1,5 tỷ USD, nhưng gần như không tiếp đón được con tàu nào.
Song như đã nói, thất bại thương mại hay thất thu ngân sách là vấn đề của chính phủ và người dân Sri Lanka, Bắc Kinh không quan tâm. Khi các công trình do các công ty Trung Quốc thi công bằng tiền vay không tạo ra đủ doanh thu để chi trả nợ và chi phí duy trì, chúng ta đến với bước thứ ba của chủ nghĩa đế quốc chủ nợ Trung Quốc – thu hồi nợ bằng chủ quyền quốc gia.
“Nếu chúng tôi [Chính phủ Sri Lanka] tiếp quản cảng, doanh thu từ cảng thậm chí không đủ để duy trì hoạt động và chi trả các chi phí thường xuyên khác. Vậy nên chúng tôi từ lâu đã đàm phán với chính phủ Trung Quốc rằng […] một bản đồ quy hoạch công nghiệp hóa tỉnh Hambantota đang được hình thành, bao gồm 50 km vuông đất mặt bằng dùng cho sản xuất công nghiệp dành riêng cho các doanh nghiệp Trung Quốc”.
Vào tháng 12 năm 2016, Thủ tướng Sri Lanka Ranil Wickremesinghe lạc quan khẳng định mình có thể khiến cảng Hambatota hoạt động đúng kỳ vọng như trên, mặc cho sự thật là Hambatota sẽ không đạt được bất cứ kỳ vọng nào nếu không có những nhượng bộ lãnh thổ cho doanh nghiệp Trung Quốc nói riêng và chính quyền Trung Quốc nói chung.
Một năm sau, Hambatota (và có thể một phần lớn diện tích đất đai xung quanh cảng trong tương lai gần) trở thành tô giới của Trung Quốc như chúng ta đã biết.
Sri Lanka chắc chắn không đơn độc trong việc đối phó với chủ nghĩa đế quốc chủ nợ Trung Hoa. Hầu hết các quốc gia giàu tài nguyên thô ở châu Phi, các quốc gia láng giềng Đông Nam Á, gã khổng lồ Pakistan, những tiểu quốc vùng Nam Á hay cả kể thánh địa du lịch Maldives đều đã rơi vào bẫy nợ của Bắc Kinh.
Tô giới một khi đã hình thành, sẽ trở thành gánh nặng chính trị, rủi ro quốc phòng cũng như bãi nước bọt nhổ vào niềm tự hào dân tộc – thứ mà mỉa mai thay chỉ cách đây trăm năm chính người Trung Quốc đã phải đay nghiến chịu đựng và gọi nó là “thế kỷ ô nhục” – giờ họ đang áp đặt chúng lên những quốc gia yếu thế khác.
99 năm thuê đất không làm nên cái gọi là đặc khu kinh tế. Tên gọi đúng của chúng là tô giới, là sản phẩm của chủ nghĩa thực dân đang được một kẻ tân thực dân vận dụng. Và như thứ thuốc phiện người Anh xuất khẩu cho nhân dân Trung Hoa sử dụng, những khoản vay dễ dàng của Bắc Kinh ngày nay cũng gây nghiện như thế. Một quyết tâm chính trị cao để tự thân vận động, sửa đổi từ bên trong mô hình kinh tế – chính trị – xã hội Việt Nam, thay vì tìm kiếm câu trả lời bằng vay nợ và khuất phục chủ quyền, đang rất cần được đánh thức bên trong thâm tâm các đại biểu của Quốc hội Việt Nam.
N.Q.T.T.
Nguồn:
https://www.luatkhoa.org/2018/06/to-gioi-99-nam-va-chu-nghia-de-quoc-chu-no-trung-hoa/

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

20180601. CHƯA THỂ AN TÂM VỚI DỰ LUẬT ĐẶC KHU KINH TẾ !

ĐIỂM BÁO MẠNG
ƯU ĐÃI CHO ĐẶC KHU ĐÃ LỖI THỜI& VIỆT NAM CẦN CÔNG NGHỆ CAO CHỨ KHÔNG PHẢI SÒNG BẠC

Tổng hợp của BVN 1-6-2018

http://media.vinh24h.vn/thumb_x500x/2018/5/31/40/dackhu-0955252-1527732178.jpg
Theo ước tính, Việt Nam cần khoảng 1,5 triệu tỷ đồng để đầu tư cho ba đặc khu kinh tế. Ảnh: minh họa.

1. ƯU ĐÃI CHO ĐẶC KHU ĐÃ LỖI THỜI

Nam Anh
(NDH) Quan điểm lấy ưu đãi thuế và thời hạn cho thuê đất dài để các nhà đầu tư yên tâm làm ăn đã lỗi thời trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, khi vòng đời sản phẩm ngắn lại.
"Cho thuê đất tối đa 99 chỉ có lợi cho đại gia bất động sản", chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan phản biện trong buổi hội thảo "Chính sách ưu đãi thuế tại các đặc khu: kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị".
Theo bà Lan, với thời buổi công nghệ thay đổi nhanh chóng, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0, vòng đời của một sản phẩm rất nhanh. "Không nhà đầu tư nào đảm bảo sẽ làm ngành đó, nghề đó và lĩnh vực đó trong thời hạn 90 năm, kể cả 70. Đây là 3 - 4 vòng đời sản phẩm, gần hai thế hệ người Việt", bà Lan phân tích.
Vị chuyên gia cho rằng trong bối cảnh công nghệ liên tục thay đổi, vòng đời và tuổi thọ của các ngành còn chưa rõ, việc Việt Nam mở ra ưu đãi lớn và thời gian thuê đất dài là thừa thãi. Bà Lan đặt vấn đề với thời hạn thuê đất đến 99 năm, khi doanh nghiệp phá sản hoặc chuyển mục đích sử dụng, cơ quan quản lý sẽ xử lý như thế nào?
"Thời hạn cho thuê đất ở các đặc khu tối đa 99 năm là một chính sách rất tệ, không nên áp dụng", bà Lan khẳng định.
Bà cho rằng cơ quan soạn thảo lấy ưu đãi thuế để làm tiền đề thu hút nhà đầu tư và lấy thời hạn cho thuê đất tối đa 99 năm làm cơ sở để các doanh nghiệp lớn có thể "yên tâm" làm ăn là một quan điểm lỗi thời trong thời đại cách mạng công nghiệp này.
Tương tự như việc thu hút FDI những năm qua, chính sách ưu đãi thuế phí đã dồn gánh nặng lên các khu vực kinh tế khác như tư nhân, liên doanh.
Đồng tình, chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ dẫn báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho biết 85% các nhà đầu tư ở Việt Nam khi được hỏi khẳng định các chính sách ưu đãi thuế là không cần thiết. Các nhà đầu tư quan tâm hơn đến cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và ổn định xã hội. Theo ông Hồ, nhà đầu tư không cần ưu đãi dễ dãi, họ quan tâm đến công bằng, thuận lợi hơn.
PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh – Học viện Tài chính cũng cho rằng các chính sách ưu đãi được đề xuất trong dự thảo Luật đều là những ưu đãi dựa trên lợi nhuận mà nhiều quốc gia không còn sử dụng nữa.
Theo ông, dự thảo Luật Đặc khu cần được xem xét lại cẩn trọng, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã bỏ các ưu đãi như thuế thu nhập doanh nghiêp, thuế tiêu thụ đặc biêt. Thay vào đó, các nước chuyển sang ưu đãi bằng sự thông thoáng trong tiếp cận vốn, tiếp cận thị trường.
Sáng 23/5, trong cuộc thảo luận tại hội trường về dự án Luật này, các đại biểu cũng tranh luận gay gắt về các vấn đề liên quan đến ưu đãi và thể chế tại đặc khu. Cuộc thảo luận có hai luồng ý kiến chính, một là, tạm dừng để bàn lại về những thách thức, rủi ro có thể gặp phải. Hai là thông qua luôn và tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. Đặc biệt, các đại biểu đặt nhiều lo ngại về cơ chế ưu đãi thuê đất lên 99 năm và vị trí "nhạy cảm" của Vân Đồn có thể ảnh hưởng tới tình hình an ninh quốc gia.
N.A.
Nguồn: http://ndh.vn/ba-pham-chi-lan-uu-dai-cho-dac-khu-da-loi-thoi-201805240706134p145c151.news

2. VIỆT NAM CẦN CÔNG NGHỆ CAO CHỨ KHÔNG PHẢI SÒNG BẠC

“Nén bạc” mà các ông trùm sòng bạc sẵn có và sẵn lòng đưa ra có thể đâm toạc mọi… chính sách, mọi ước vọng cất cánh bằng công nghệ trong thời 4.0 này.
Bà Phạm Chi Lan, nguyên Tổng Thư ký kiêm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nguyên thành viên của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng cho rằng, thứ mà Việt Nam cần là công nghệ cao chứ không phải là các casino, do đó trong quy hoạch các đặc khu kinh tế cần phải hướng đến điều này.
"Tôi cho rằng dù ưu đãi tương tự như nhau, nhưng casino không phù hợp để đi cùng với khu công nghệ cao, vì mấy lẽ.
Trước hết, đối tượng phục vụ của hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.
Casino phục vụ vui chơi, giải trí, thậm chí kiếm tiền bằng đỏ đen. Khách hàng của casino đa dạng, phần lớn là nhàn rỗi, thích vui vẻ, náo nhiệt, ưa thử vận mạng bằng may rủi, ít nhất là trong thời gian họ vào chơi ở đó.
Công nghệ cao là việc của những người làm trong kinh tế trí thức, có trình độ, kỹ năng cao, đam mê nghiên cứu, thử nghiệm những cái mới trong các lĩnh vực khác nhau. Khách hàng của công nghệ cao quan tâm đến phát triển, trí tuệ, chất lượng công việc và cuộc sống, những giá trị tốt đẹp và cao hơn cho con người. Phần lớn thời gian người ta làm việc trong yên tĩnh, tập trung suy nghĩ, nghiên cứu, tranh luận chuyên môn; tất nhiên cũng có những lúc nghỉ ngơi vui chơi nhưng không như khách casino.
Hai loại khách hàng như vậy rất khó có thể sống và làm việc cùng chỗ với nhau 24/24 được.
Hai là, không gian và môi trường hoạt động của hai lĩnh vực này rất khác nhau.
Casino có nhu cầu đặt ở nơi có rất nhiều các dịch vụ vui chơi giải trí khác đi cùng với nó, tạo không gian cho các dịch vụ này cùng nhau làm ăn và moi tiền của những khách hàng muốn được thỏa mãn nhiều thứ thú vui. Cũng có những nguy cơ về tệ nạn, tội phạm, rủi ro cho người làm và người chơi, nên các nước thường đặt casino trong khu vực riêng, có hàng rào bảo vệ tách với “người thường” không tham gia vào đó.

http://media.vinh24h.vn/thumb_x500x/2018/5/31/40/photo1527056279877-15270562798792044881074-5-2328511-1527732183.jpg
Dự án đầu tư khu dịch vụ, du lịch và vui chơi giải trí tổng hợp có casino có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 45.000 tỷ đồng.
Các lĩnh vực công nghệ cao lại cần những nơi có nhiều cơ sở dịch vụ nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường tri thức hỗ trợ nhau phát triển. Công nghệ cao cũng cần phải kết nối được với những vùng có các ngành phụ trợ, có các lĩnh vực kinh tế mà nó hướng tới phục vụ như công nghiệp, nông nghiệp…
Do vậy công nghệ cao ở các nước thường được đặt ở trong hoặc sát bên các thành phố, đô thị lớn, nơi tập trung trí thức và lực lượng lao động được đào tạo có kỹ năng. Những trung tâm đó có nhiều các viện nghiên cứu, các trường đại học, tức là có môi trường làm việc giúp công nghệ cao có điều kiện để phát triển.
Hai loại không gian, môi trường đó thật khó tạo lập ở cùng một vùng đất không phải rộng lớn lắm. Thuận cho cái này có thể không thuận, thậm chí bất lợi cho cái kia.
Ba là, yêu cầu đầu tư và khả năng sinh lời của hai lĩnh vực này cũng khác nhau.
Casino có khả năng sinh lời cao nhờ máu đỏ đen của con người và tài kinh doanh của các ông chủ sòng bạc. Thậm chí bây giờ chẳng cần đầu tư mở casino hoành tráng, mà bằng công nghệ và nhờ bảo kê, các ông trùm đã có thể có hàng chục triệu người đánh bạc qua mạng, như vụ xảy ra ở nước ta vừa phát hiện vài tháng trước.
Trong khi đó, công nghệ cao đòi hỏi đầu tư tốn kém, rủi ro cao, suất sinh lời có thể là số không trong thời gian dài trước khi có sản phẩm thương mại hóa được. Vì vậy mới cần đến các quỹ đầu tư mạo hiểm, các hãng lớn, các chương trình quốc gia do chính phủ bảo trợ cho công nghệ cao, cho R & D ở hầu khắp các nước.
Với sự khác nhau như vậy thì khi cùng được ưu đãi, thậm chí với mức thấp hơn, casino vẫn rất dễ “đuổi cổ” công nghệ cao ra khỏi vùng lãnh thổ mà nó muốn chiếm. “Nén bạc” mà các ông trùm sòng bạc sẵn có và sẵn lòng đưa ra có thể đâm toạc mọi… chính sách, mọi ước vọng cất cánh bằng công nghệ trong thời 4.0 này.
Bốn là, kinh nghiệm các nước khác.
Nhìn sang các nước đi trước, ta dễ dàng thấy họ tách hai việc phát triển casino và phát triển công nghệ cao với nhau như thế nào.
Ở Mỹ, có Las Vegas dành cho đánh bạc, còn thủ phủ của công nghệ cao ở thung lũng Silicon hoàn toàn tách biệt, chứ không có nhà đầu tư nào bỏ Silicon để đi làm công nghệ cao ở Las Vegas cả.
Singapore thì đã phát triển các ngành công nghệ khá lâu rồi, và bây giờ đang tiến mạnh vào một số lĩnh vực công nghệ cao thời 4.0 một cách chọn lọc. Khi đã đạt trình độ quản lý rất cao, Singapore mới mở sòng bạc đầu tiên và duy nhất, được xây dựng biệt lập và kiểm soát hết sức chặt chẽ.
Vì bản thân quốc gia này chỉ có quy mô diện tích hạn chế và đã là một “đặc khu kinh tế” rất mở, nên họ có thể có công nghệ cao và casino trong cùng “đặc khu Singapore”, nhưng chớ nên nghĩ ta có thể làm như họ ở 3 đặc khu của mình. Những nước phát triển cao cũng phải kính nể Singapore về tầm nhìn, về trình độ quản trị, về tính khoa học, quy củ trong tổ chức sự phát triển các hoạt động khác nhau trên đất nước này.

http://media.vinh24h.vn/thumb_x500x/2018/5/31/40/daophuquoc27xcfo-6-2330594-1527732211.jpg
Casino được ưu tiên phát triển ở Phú Quốc.
Hiện nay, tất cả các nước phát triển cao cũng như hầu hết các nước phát triển thấp hơn trên thế giới đều tập trung cao độ mọi cố gắng và nguồn lực cho thúc đẩy phát triển công nghệ để có thể tận dụng những gì cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại, cũng như khắc phục các thách thức từ cuộc cách mạng này. Đây cũng là lĩnh vực ưu tiên số 1 trong chiến lược và chính sách phát triển của gần như mọi quốc gia. Với các nước đang phát triển, đây là cơ hội hiếm hoi để hóa rồng, mà cũng là thách thức khắc nghiệt do có thể rơi vào cực chậm phát triển nếu không theo được cách mạng công nghiệp 4.0.
Ở nước ta cũng đã có các nghị quyết của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế-xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Công nghệ cao được khẳng định là ưu tiên trong phát triển cũng như trong thu hút FDI và hợp tác quốc tế.
Không lẽ luật đặc khu lần này, với những ưu tiên vượt trội để góp phần tạo đột phá phát triển, lại không cân nhắc cẩn trọng để rồi công nghệ cao có thể bị casino đẩy ra, và rồi đất nước mình sẽ tạo sự khác biệt trong cạnh tranh với các nước khác bằng cách lấy casino, chứ không phải công nghệ cao, làm lĩnh vực đột phá?!"
Tác giả: Lưu Thúy
Nguồn tin: Báo VTC News
http://vinh24h.vn/chuyen-gia-kinh-te-pham-chi-lan-viet-nam-can-cong-nghe-cao-chu-khong-phai-song-bac-a110691.html

3. ĐẶC KHU KINH TẾ: CHO THUÊ ĐẤT 99 NĂM BẰNG 2 THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT

Nguyễn Tuyền

Dân trí "Thời hạn cho thuê đất tại các đặc khu tối đa 99 năm là một chính sách rất tệ, không nên áp dụng. Tôi thử hỏi, với thời buổi công nghệ thay đổi nhanh chóng; Cách mạng 4.0 đang diễn ra, ai dám đảm bảo mình sẽ vẫn làm ngành đó, lĩnh vực đó trong 99 năm bằng gần 2 thế hệ người Việt, 3 - 4 vòng đời sản phẩm".

Tại một hội thảo về các đặc khu kinh tế chiều nay (23/5), chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan phản biện mạnh mẽ về vấn đề cho thuê đất thời hạn tối đa 99 năm tại Dự thảo Luật Đặc khu (Luật Đơn vị Hành chính kinh tế đặc biệt) do Bộ KH&ĐT soạn thảo, Chính phủ trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp lần này.

huyên gia kinh tế Phạm Chi Lan
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan
Ưu đãi thuế và cho thuê đất được xem là "chiếc đũa thần"
Theo bà Lan, dưới góc nhìn và tính toán, người ta thấy Dự thảo Luật đặc khu đang vướng 2 vấn đề là: lấy ưu đãi thuế để làm tiền để thu hút nhà đầu tư; lấy thời hạn cho thuê đất tối đa 99 năm làm cơ sở để các doanh nghiệp lớn có thể "yên tâm" làm ăn. Tuy nhiên, quan điểm này được xem là lỗi thời, không có tính kế thừa kinh nghiệm và bài học sau 30 năm thu hút FDI tại Việt Nam.
Bà Lan cho hay: Cơ quan soạn thảo Luật đặc khu nói xây dựng đặc khu để là nơi cải thiện thể chế kinh tế. Tuy nhiên, nếu phải xây dựng cả 3 đặc khu, với số vốn ước khoảng 70 tỷ USD để chỉ là nơi thử nghiệm cải cách thể chế kinh tế thì nguồn lực ở đâu?
"Qua 30 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam được coi là thành công nhưng chúng ta còn hệ quả chưa đánh giá hết như ưu đãi chính sách khiến chuyển giá, trốn thuế, phân mảnh đầu tư, một quốc gia hai nền kinh tế (FDI và DN trong nước)...", chuyên gia kinh tế này nói.
Theo bà Chi Lan, Việt Nam là nước có kinh tế FDI vô địch trong xuất khẩu,vượt hẳn so với các nước khác về tỷ trọng đóng góp GDP, như Malaysia, Indonesia hay Trung Quốc. Tuy nhiên, FDI đóng thuế lại ngày càng giảm đi, thậm chí chúng ta không thu được thuế.
Tuy nhiên, các chính sách ưu đãi cho FDI quá nhiều, trong khi đó ưu đãi chính sách cho khu vực trong nước lại giảm, thậm chí thắt chặt, khiến quy mô các DN trong nước bị giảm đi đáng kể, không cạnh tranh được.
Ưu đãi chính sách, thuế cho FDI nhiều do đó gánh nặng thuế, phí dồn cả lên vai các khu vực doanh nghiệp khác vốn nhỏ bé như liên doanh, tư nhân.
"Bên cạnh đó, FDI thời gian qua phát sinh chuyển giá, hơn 5 - 6 năm trước ngành thuế báo cáo có 70% doanh nghiệp FDI báo cáo lỗ nhưng họ vẫn xin mở rộng đầu tư, mở rộng phát triển. Sau này khi Kiểm toán Nhà nước, cơ quan thuế vào cuộc thì mới kiểm soát lại được, mỗi năm truy thu hàng nghìn tỷ đồng đồng từ chuyển giá. Nếu tiếp tục lấy thuế làm ưu đãi, chúng ta quản lý được hay không?", chuyên gia này nêu câu hỏi.
Thuê đất 99 năm bằng gần 2 thế hệ, hơn 3 - 4 vòng đời sản phẩm
Cũng theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Các ưu đãi có nhiều nhưng không kiểm soát được tốt, chính sách thuế là điều tiết các ngành kinh tế, ngành nào cần phát triển thì ưu đãi nhiều hơn cho phát triển, đến khi phát triển rồi thì nâng thu dần lên.
Bà Lan nói: "Tôi không hiểu, Dự thảo Luật đặc khu xây dựng các ngành nghề ưu đãi thuế nhiều đến vậy, lúc ban đầu ưu đãi đến 134 ngành, sau đó rút xuống còn 120 ngành và hiện nay là hơn 100 ngành. Ưu đãi này quá dàn trải cho các ngành, liệu chúng ta có quản lý được không và có thu hút được không? và nước ngoài đánh giá ra sao?
Hơn nữa, ưu đãi thuế rất bất cập, các nước không làm như chúng ta. Nếu ưu đãi thuế hiện nay thì ngành cần khuyến khích bậc nhất phải là: Công nghệ cao, giáo dục.
"Cách mạng công nghệ (Cách mạng 4.0) sẽ khiến các vòng đời sản phẩm ngắn lại, và xoay tua nhanh chóng nên tầm nhìn phải đi trước rất nhiều năm. Khi tham gia vào TPP, các chuyên gia nói là lợi nhất của Việt Nam là ngành may mặc khi xuất sang Mỹ, các nước phát triển. Tuy nhiên, nghiên cứu của quốc tế chỉ ra ngành dệt may của Việt Nam không còn tương lai như vậy đâu. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chỉ rõ có thể may mặc VN mất 86% giá trị khi Cách mạng 4.0 diễn ra", bà Lan nói.
Chuyên gia Phạm Chi Lan nhấn mạnh: "Khi máy móc thay thế con người ở những việc giản đơn như may mặc, lắp ráp điện tử sẽ xảy ra quá trình "hồi hương" về các nước phát triển. Nếu chúng ta không thấy rõ tuổi thọ của các ngành đến đâu trong thời đại mở hiện nay thì là việc đưa ra ưu đãi lớn, thời gian thuê đất quá lâu sẽ là thừa thãi".
Bà Lan cho biết: "Thời hạn cho thuê đất tại các đặc khu tối đa 99 năm là một chính sách rất tệ, không nên áp dụng. Tôi thử hỏi, với thời buổi công nghệ thay đổi nhanh chóng dường hàng ngày; Cách mạng 4.0 đang diễn ra, có ai dám đảm bảo mình sẽ vẫn làm ngành đó, nghề đó và lĩnh vực đó trong thời hạn 90 năm hay thậm chí 70 năm? Đây là 3 - 4 vòng đời sản phẩm, gần 2 thế hệ người Việt".
Vị chuyên gia nói thêm: Cho thuê đất 70 năm, đến 99 năm, nếu có rủi ro doanh nghiệp đó phá sản trong thời hạn 10 hoặc 20 năm, họ sẽ chuyển nhượng hoặc chuyển mục đích sử dụng. Vậy ai sẽ quản lý đây?
Theo chuyên gia Lan: Nói thẳng ra, cho thuê đất tối đa 99 như Dự thảo Luật Đặc khu chỉ có lợi cho đại gia bất động sản. Còn các lĩnh vực khác, không ai dám "mạnh miệng" cam kết sẽ làm lĩnh vực đó suốt 99 năm, thậm chí 50 năm cũng còn cân nhắc.
Thời hạn cho thuê đất 99 năm được đưa vào chính sách là có bóng dáng của doanh nghiệp bất động sản, du lịch, nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, không đất nước nào giàu lên bằng bất động sản cả.
So sánh quốc tế, các nước chỉ cho thuê đất trong thời hạn tối đa 50 năm, phổ biến ở hàng loạt các nước khác nhau. Trung Quốc cũng vậy, có những nơi chỉ 20 năm ở 1 số lĩnh vực, 70 năm đã là quá dài rồi.
N.T.
Nguồn: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/dac-khu-kinh-te-cho-thue-dat-99-nam-bang-2-the-he-nguoi-viet-20180523190019569.htm

ĐẶC KHU KINH TẾ- MỘT GÓC NHÌN


mage may contain: sky and outdoor

Trên thế giới có cả ngàn đặc khu kinh tế, kể cả các quốc gia giàu mạnh, văn minh. Thành công cũng có mà thất bại cũng nhiều. Cho tới nay, phát triển kinh tế theo kiểu đặc khu vẫn còn gây tranh cãi rất lớn trên các diễn đàn. Mô hình này có gì đặc biệt?
Ta dạo một vòng đặc khu Thâm Quyến - một đặc khu rất thành công của Trung Quốc xem thử họ ra sao?
Một làng chài nằm sát Hong Kong nghèo khổ và cơ cực, sau khi trở thành một đặc khu kinh tế vào năm 1979, nó đã thay da đổi thịt chóng vánh. Với diện tích gần bằng Hà Nội, với dân số xấp xỉ 13 triệu người, Thâm Quyến vươn lên đứng thứ 3 Trung Quốc (sau Bắc Kinh và Thượng Hải) về kinh tế. Tổng thu của Thâm Quyến vượt qua cả Việt Nam và nhiều quốc gia Đông Nam Á.
Nói Thâm Quyến ăn ké Hong Kong thì có vẻ hơi quá nhưng cũng không xa sự thật bao nhiêu. Thực chất người Trung Hoa đã vô cùng khôn khéo trong việc bắt nhịp này. Nắm được Hong Kong & Đài Loan trên đà phát triển đối mặt với quỹ đất vô cùng chật chội và ngày càng đắt đỏ, họ đã khuyến khích các tập đoàn sản xuất lớn của Hong Kong & Đài loan đặt nhà máy ở Thâm Quyến. Foxcom của Đài Loan (lắp ráp cho Apple) là một trong hàng nghìn ví dụ như thế.
Không những tập trung kéo các tập đoàn sản xuất lớn nước ngoài tạo tiền đề thúc đẩy công nghiệp, họ còn ưu đãi đối với riêng các công ty của Đại Lục về thuế, tín dụng và luật khi đặt nhà máy sản xuất tại đây. Thâm Quyến nhanh chóng vươn lên thành một trong những trung tâm sản xuất lớn nhất Trung Hoa Đại Lục về mọi ngành nghề trong một thời gian ngắn.
Thâm Quyến đã trở thành văn phòng thứ hai vô cùng quan trọng của nhiều tập đoàn công nghiệp nổi tiếng có trụ sở tại Hong Kong, Macao và Đài Loan, tạo thành một vùng kinh tế tư bản giữa một Đại Lục đầy khó khăn, trở ngại và định hướng. Máy móc công nghiệp hiện tại Việt Nam và cả Đông Nam Á đang dùng cũng phần nhiều được xuất cảng tại đây, đối với những ngành hàng cần tới số lượng và không yêu cầu quá cao về chất lượng hay độ chính xác.
Vốn dĩ ôm khư khư mô hình kinh tế định hướng XHCN, quốc gia sẽ chịu nhiều thiệt thòi khi không được sự hỗ trợ và chuyển giao về công nghệ của các cường quốc công nghiệp và đồng minh. Có những trường hợp đặc biệt, họ không bán máy móc cơ khí chính xác công nghệ cao (có thể chế tạo vũ khí) cho các quốc gia được họ liệt kê là độc tài và ít nhiều, nhân quyền bị giới hạn.
Chính vì lẽ đó, khi muốn mua mới hoặc phụ tùng thay thế, phải luồn lách mua qua trung gian và như vậy, giá thành sản phẩm vô cùng đắt đỏ, sản xuất không bao giờ có lãi. Đây là lý giải một phần cho việc tại sao ốc vít điện thoại nói riêng và các mặt hàng cơ khí chính xác nói chung, ta không thể cạnh tranh với nhiều quốc gia khác. Còn công nghiệp 4.0 mà lãnh đạo đang nói chỉ là ảo ảnh mơ hồ. Khi công nghiệp nền tảng không có, lấy đâu ra 4.0. Họ chỉ nói tào lao cho sướng miệng mà thôi. Trung Quốc với đặc khu công nghiệp Thâm Quyến, một cầu nối với thế giới tư bản, họ đã phần nào giải được bài toán hóc búa này.
Trở lại Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc, trên bản đồ, ta chưa thấy sự thuận lợi tuyệt đối về tuyến đường biển quốc tế qua đây. Bao giờ thì tất cả các đặc khu có đủ sức mạnh về kinh tế và là một Hub hàng hoá quan trọng như Singapore hay Hong Kong để tàu bè lớn trên tuyến đường biển đông đúc bậc nhất thế giới này có thể ghé qua? Chừng nào tàu bè lớn chưa muốn cập cảng thì chi phí hậu cần sẽ vô cùng đắt đỏ. Thâm Quyến còn có một HongKong giàu có kế bên. 3 đặc khu của ta đều đơn độc, hoàn toàn chẳng có thành phố phát triển nào tiếp giáp để tương trợ. Đấy là điều bất lợi vô cùng.
Phát triển đặc khu phải luôn nhờ vào các giá trị thặng dư về công nghệ, sản xuất của các quốc gia tư bản hoặc đồng minh của họ, thêm vào đó một chút du lịch, dịch vụ. Như vậy, ta mới có cơ hội thành công và có lợi về lâu về dài. Ngược lại, nếu chỉ nhìn đặc khu với một con mắt dịch vụ và tài nguyên thiên nhiên như hiện tại chúng ta đã và đang làm, đặc khu kinh tế sẽ là nơi trở nên hỗn mang và tạo điều kiện vô cùng lớn cho các nhóm lợi ích chia sẻ đất đai. Bởi nó là cái đầu tiên mà một người ít trình độ và tầm nhìn vẫn có thể kiếm tiền một cách ung dung, dễ dàng và nhàn hạ.
Nếu có quyền quyết định setup một nhà máy ở khu vực Đông Nam Á, bạn có chọn Vân Đồn, Vân Phong hay Phú Quốc không? Người làm chính sách phải tự đặt ra câu hỏi có góc nhìn ngoài biên giới quốc gia, mới có thể hoạch định được chính xác bức tranh toàn cảnh này. Với một Malaysia thuận lợi, rộng mở. Một Cambodia hay Thái Lan sẵn sàng đón chào kèm theo cơ chế ưu đãi còn hơn đặc khu kinh tế ở ta, liệu bạn có nhắm tới Việt Nam hay không? Cần phải có câu trả lời khách quan cho vấn đề này.
Nếu các tập đoàn công nghiệp trong và ngoài nước không phủ kín được 3 đặc khu này, mô hình kinh tế đặc khu ở ta sẽ là hoàn toàn phá sản. Lúc ấy, một đặc khu với nhiều quyền tự quyết sẽ sẵn sàng nới lỏng tài nguyên thiên nhiên cho các nhóm lợi ích thay nhau xâu xé.
Một nhà nước trong một nhà nước, thậm chí đa sắc tộc cũng chẳng có gì đáng lo. Quân đội của ta hiện nay cũng đang là một thứ từa tựa như thế. Cũng có toà án, VKS, nhà tù và các công ty kinh doanh độc lập. An ninh quốc phòng cũng không phải là điều đáng ngại bởi chủ quyền của ta là không thể phủ nhận. Điều đáng lo hơn cả là bộ óc quản lý, tầm nhìn chiến lược và sự liêm chính của lãnh đạo trung ương. Không có cái nhìn tổng quan dựa trên sự so sánh, nghiên cứu thực tế mà chỉ sao chép, copy một cách vội vàng, hệ luỵ cho con cháu sẽ là những điều tệ hại khôn lường. Thậm chí, hậu quả của nó để lại khó có cơ hội để sửa chữa.
Không dám nghĩ tới một điều rủi ro lớn hơn nhưng với 1 thế kỷ giao đất thì mọi thứ đều có thể xảy ra nếu không nằm trong sự tính toán. Nó đủ thời gian cho những gì bất lợi nhất về chủ quyền lớn mạnh.
N.A.T.
Nguồn: https://www.facebook.com/inbachkhoa/posts/1970534536325284

LUẬT SƯ NGUYỄN TIẾN LẬP: MÔ HÌNH ĐẶC KHU ĐÃ LỖI THỜI

pv TRÍ LÂM/MTG/ BVN 1-6-2018
http://images.motthegioi.vn:8080/media/trilam/24_02_2018/bHVhdC1naWEtbmd1eWVuLXRpZW4tbGFwLW1vLWhpbmgtZGFjLWtodS1kYS1sb2ktdGhvaQ==.jpg
Luật sư Nguyễn Tiến Lập, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam - Ảnh: Cafef
Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng thay vì đi con đường cũ là xây dựng đặc khu, Việt Nam cần cải cách tổng thể, nhằm trở thành một đất nước thực sự hấp dẫn cho đầu tư và sinh sống của bất cứ ai - chính là biến cả quốc gia thành một đặc khu của khu vực và thế giới.
Nhân dịp Quốc hội thảo luận về đặc khu kinh tế, phóng viên báo điện tử Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với luật sư Nguyễn Tiến Lập, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam nhằm cung cấp thêm góc nhìn về vấn đề này.
Đặc khu kinh tế đã lỗi thời
- Thưa ông, mô hình đặc khu kinh tế đã phát triển trên thế giới từ nhiều năm và bối cảnh kinh tế, chính trị cũng khác với sự hội nhập sâu rộng hiện nay rất nhiều, nhưng bây giờ Việt Nam mới thử nghiệm mô hình này thì liệu có cần thiết hay không?
Luật gia Nguyễn Tiến Lập: Trên thế giới có đặc khu kinh tế đầu tiên vào năm 1959 và tới nay có 4.300 đặc khu. Còn Việt Nam thực ra đã thử nghiệm chính sách đặc khu từ năm 1979 với Vũng Tàu - Côn Đảo và sau đó là Khu kinh tế mở Chu Lai.
Cả hai khu này rốt cuộc không mang lại điều gì đáng kể và bị quên lãng. Nay dự luật về đặc khu hành chính kinh tế Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc đang bị tranh cãi gắt gao, cơ bản là từ góc nhìn chính sách kinh tế và phát triển.
Cá nhân tôi đồng tình với nhiều quan điểm trên thế giới rằng chính sách đặc khu kinh tế hay thương mại đã trở nên lỗi thời.
Bởi thứ nhất, đặc khu là thiết lập không gian tự do trong một môi trường phi tự do. Tuy nhiên, các khuôn khổ pháp lý cho tự do hóa đầu tư và thương mại toàn cầu đã được thiết lập rồi và mỗi nước đều đang cải cách để đạt hội nhập vào cuộc chơi chung thì cần gì phải tạo ra các vùng tự do con con như vậy.
Thứ hai, cách tiếp cận theo hướng tạo thêm ưu đãi về thuế, tiếp cận đất đai, hạ thấp việc bảo vệ quyền của người lao động và tiêu chuẩn môi trường cũng không còn ý nghĩa bởi lợi nhuận từ đầu tư trung và dài hạn không còn đến từ kiểu trục lợi chính sách như vậy.
Thay vào đó là các yêu cầu về sự kết nối của hệ thống hạ tầng chung, chuỗi cung ứng và giá trị liên hoàn quốc gia, khu vực và toàn cầu, và cả sự tôn trọng các giá trị chung về nhân quyền, bảo vệ người tiêu dùng và môi trường toàn cầu nữa.
Tóm lại, điều Việt Nam nên làm hiện nay là hãy cải cách thể chế để hội nhập theo các tiêu chuẩn chung đã cam kết thông qua WTO, BTA và FTA đã ký, qua đó làm cho cả nền kinh tế trở nên hấp dẫn hơn là tạo ra vài cái đặc khu nhỏ bé và mang tính cục bộ.
- Nhưng nếu vẫn quyết làm đặc khu, việc lựa chọn Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc để làm đặc khu với hàng loạt ưu đãi có phù hợp không bởi những địa phương này không cần ưu đãi thì các nhà đầu tư cũng đã đua nhau đến đây rồi, thưa ông?
Có nhiều người đã đặt câu hỏi tương tự rằng nếu lựa chọn mục tiêu thu hút đầu tư cho phát triển thì phải thành lập đặc khu ở các địa phương khác, nơi còn nghèo và tụt hậu chứ không phải Vân Đồn hay Phú Quốc, là nơi đã tràn ngập tiền và phát triển sôi động rồi. Tôi đồng ý với quan điểm đó.
Tuy nhiên, phỏng đoán rằng có lẽ quyết định này dựa trên bài học thất bại của Chu Lai hay Vũng Tàu - Côn Đảo trước kia, nơi cũng dành cho những ưu đãi nhất định mà đầu tư vẫn không đến được. Tức là để bảo đảm chắc chắn cho sự thành công của quyết định, theo cách nói trần tục là chúng ta đang “té nước theo mưa”.
Tuy nhiên, cái tôi e ngại thật sự là đó có phải là đầu tư thực sự, đúng với lĩnh vực và mục tiêu cần đạt được của nền kinh tế hay không, cũng như có gắn với hiệu quả và tác động bền vững hay không?
Ưu đãi là cho tiền, vậy cái thu lại là gì?
- Dự thảo luật cũng đưa ra hàng loạt ưu đãi lớn về thuế, tiền thuê đất trong một khoảng thời gian rất dài. Ông có lo ngại việc ưu đãi này sẽ khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài kiếm lời ngắn hạn, không thu hút được nhà đầu tư chất lượng dài hạn, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu công bằng, làm phát sinh tiêu cực như lách luật, trốn thuế, chuyển giá?
Cần nói thẳng ra rằng ưu đãi tức là nhà nước cho tiền, bởi đáng lý thu thì nay không thu nữa. Với nhà đầu tư, đó là được tiền vì cắt giảm chi phí, còn đối với nhà nước là mất tiền vì sẽ không thu được trong tương lai, chưa nói còn là chi phí ứng trước đối với các khoản đáng lẽ thu được ngay từ đầu như tiền thuê đất.
Vậy thì đó phải là bài toán tài chính. Bỏ tiền ra thì sẽ thu được gì? Cá nhân tôi và cũng nhiều chuyên gia kinh tế khác đã không nhìn thấy nhà nước và thậm chí cả nền kinh tế sẽ thu được gì hay ít nhất là cái thu được có tương xứng không, so với các khoản chi và bỏ ra đó.
Còn về cái lý lẽ rằng muốn thu hút đầu tư thì cần có ưu đãi, thậm chí là “ưu đãi vượt trội”, xin thưa, ngoài lý do tôi đã nói thì còn cả cách nhìn nữa. Đó là chúng ta thu hút đầu tư để làm gì?
Với những khoản tiền đầu tư khổng lồ mang vào đâu đó, có thể sẽ làm cho các con số thống kê về thành tích tăng trưởng đẹp hơn một cách nhất thời, nhưng tôi lại thấy nỗi lo lớn bởi tiền đầu tư chảy vào một quốc gia chính là nợ, nếu nó không tạo ra các giá trị gia tăng mang tính hoàn trả và lợi ích phát triển bền vững sau đó.
Do đó, nếu gắn đầu tư với ưu đãi thì đó luôn luôn là đầu tư ngắn hạn và trục lợi, hay về bản chất chính là đầu cơ.
Ngoài ra, đầu tư là kinh doanh và gắn với các quy luật của thị trường, hiểu theo nghĩa môi trường tổng thể chứ không phải cục bộ. Nói một cách khác, để hưởng lợi chính sách, các nhà đầu tư sẽ tìm cách đặt trụ sở doanh nghiệp, tìm kiếm đất đai để đặt ít nhất một phần dự án của họ tại các đặc khu. Tuy nhiên, một cách tự nhiên sẽ có những hoạt động kinh doanh mở rộng và có tính liên kết ở khắp nơi.
Khi đó, không thể tránh khỏi các hoạt động quản trị có tính chất lách luật, chuyển giá, trốn thuế hay thậm chí rửa tiền, trong bối cảnh giảm thiểu sự kiểm soát của chính quyền thông qua hệ thống các cơ quan chức năng đang tồn tại. Thực tế này đã là một bài học được rút ra ở các nước.
- Có nhiều ý kiến lo ngại nhà đầu tư chiến lược sẽ chi phối đặc khu. Thậm chí khi ưu đãi cho nhà đầu tư chiến lược quá, sẽ biến đặc khu thành “con tin” của doanh nghiệp lớn. Quan điểm của ông ra sao?
Tôi cho rằng lo ngại này là có cơ sở. Nếu chúng ta quá chú trọng đến thu hút đầu tư theo kiểu bằng mọi giá thì cái giá phải trả cũng sẽ lớn. Đó là phải chạy theo các đòi hỏi của nhà đầu tư vì lợi ích cá nhân của họ mà giảm nhẹ hay bỏ qua các lợi ích của cả nền kinh tế, người dân và xã hội. Mâu thuẫn hay xung đột lợi ích này sẽ trở thành rủi ro cả về chính trị và pháp lý đối với Nhà nước Việt Nam.
Đặc biệt lưu ý trong trường hợp có các nhà đầu tư quốc tế, hay nhà đầu tư trong nước nhưng hoạt động dưới danh nghĩa pháp nhân nước ngoài. Khi đó, các cam kết của chính phủ Việt Nam, dù là cấp độ chính quyền đặc khu, thông qua các giấy phép và hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh không chỉ của pháp luật Việt Nam mà cả pháp luật quốc tế.
Hệ quả là bất cứ sự thiếu tôn trọng và vi phạm nào của phía nhà nước, dù trực tiếp hay gián tiếp, dẫn đến gây thiệt hại cho nhà đầu tư thì đều có thể bị khiếu nại, khởi kiện quốc tế và phải bồi thường. Rủi ro này là nhãn tiền và đã trở thành hiện thực trong mấy năm qua.
- Liệu các đặc khu có trở thành thỏi nam châm thu hút đầu tư khiến các địa phương khác ảnh hưởng, thưa ông?
Điều này theo tôi không đáng lo ngại, chưa nói đến các đặc khu dự kiến là Vân Đồn, Vân Phong hay Phú Quốc chỉ ở quy mô địa lý và hành chính cấp huyện.
Ngoài ra, tiềm năng chung về ngành nghề của các nơi nay cũng khá giới hạn. Xu hướng các nhà đầu tư đến Việt Nam với ý định nghiêm túc và dài hạn càng ngày càng ít quan tâm đến các chính sách ưu đãi của Chính phủ mà là môi trường chính sách vĩ mô tổng thể và một thị trường chung với một trăm triệu dân.
Để kinh doanh theo chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu, nhà đầu tư luôn luôn cần sự kết nối với hệ thống hạ tầng, mạng lưới xã hội và doanh nghiệp đối tác, các tổ chức trung gian về tài chính, dịch vụ chuyên nghiệp và nguồn lao động, là những thứ không có ở các đặc khu nhỏ bé kia.
Tuy nhiên, sẽ có thể có một hệ quả khác là sự cạnh tranh tự nhiên về chính sách đầu tư ở cấp địa phương giữa các vùng miền, qua đó tạo ra sự bất ổn vĩ mô nhất định và điều này chưa chắc là tốt đối với tổng thể nền kinh tế.
Thuê đất 99 năm: Đầu cơ hơn là đầu tư
- Ông đánh giá thế nào về quy định các nhà đầu tư nước ngoài có thể thuê đất tới 99 năm? Nhiều người cho rằng quy định này có thể mở đường cho việc “di dân” và không có lợi ở nhiều khía cạnh khác, như an ninh quốc phòng. Quan điểm của ông thế nào về quy định này?
Trước hết vấn đề di dân là hệ quả của chính sách và kiểm soát về di trú và lao động được dự kiến sẽ nới lỏng ở các đặc khu, hơn là chính sách đất đai. Dự báo hệ quả này có lẽ đúng, nhưng theo khía cạnh riêng đáng lưu ý.
Đó là dòng chảy lao động có tay nghề thấp đến từ các nước láng riềng và chủ yếu từ Trung Quốc, nơi nguồn cung đang rất cao kết hợp với chính sách “xuất khẩu con người” của họ.
Đối với quyền thuê đất tới 99 năm, tôi muốn đánh giá từ góc độ kinh tế. Chính sách này e rằng sẽ khuyến khích đầu cơ hơn là đầu tư.
Bất cứ nhà đầu tư tư nhân lọc lõi nào cũng nhìn thấy khả năng thương mại hóa đất đai để vừa vốn hóa kết hợp với kinh doanh theo kiểu đầu cơ bất động sản.
Nếu có trong tay quyền sử dụng đất tới 99 năm, anh có thể thế chấp để vay vốn ngân hàng và khi dự án của anh ít lời hay đổ bể, anh sẽ dễ dàng chuyển nhượng nó dưới hình thức này hay hình thức khác, mà vẫn có thể kiếm lời.
Tôi cũng thực sự ngạc nhiên và khó hiểu về sự khăng khăng với đề xuất này của một số cơ quan chức năng bởi về bản chất và là điều ai cũng biết, rằng kinh doanh ngày nay trong thời đại “cách mạng công nghiệp 4.0” không còn gắn với chủ quyền sử dụng đất dài như trước, dù chỉ là 30, 50 hay 70 năm, chưa nói tới cả một thế kỷ. Nhất là khi ta còn nói tới thu hút các ngành công nghệ cao.
- Nhiều đặc khu trên thế giới đã gặp thất bại, theo ông, Việt Nam cần rút ra bài học gì?
Tôi được nghe nhiều chuyên gia kinh tế và chính sách từng nói châm biếm và chơi chữ rằng “Chính sách khu kinh tế đặc biệt chẳng có gì đặc biệt”. Sau thời gian nở rộ, người ta đã kiểm điểm khá nhiều thất bại của các đặc khu này. Tựu trung do 3 nguyên nhân chính liên quan đến việc quá nới lỏng kiểm soát về đất đai, lao động và môi trường.
Các hậu quả tiêu cực và phức tạp cả về kinh tế, xã hội, thể chế và môi trường do các đặc khu để lại là khá lâu dài và khó khắc phục. Từ các bài học đó, chúng ta cần làm rõ mục tiêu của chính sách đặc khu là gì, đồng thời phân tích cái được và cái mất đi kèm với nó.
Cụ thể, đối với Vân Đồn và Phú Quốc, ai cũng biết hai nơi này chủ yếu có tiềm năng du lịch và chỉ mới bàn đến triển vọng thành đặc khu thì đã tấp nập đầu tư cùng với chiếm đất rồi, vậy có cần thành lập đặc khu nữa không hay chỉ nên kiểm soát quy hoạch và ban hành chính sách đặc thù thôi?
Còn với Vân Phong, không nhất thiết phải là đặc khu thì mới phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế và dịch vụ hậu cần được. Có thể có lập luận rằng cần thiết thành lập đặc khu phức hợp về hành chính - kinh tế để thử nghiệm mô hình cải cách về thể chế, nhưng nếu vậy thì các địa điểm dự kiến lại có quy mô quá nhỏ và không điển hình cho điều kiện mặt bằng chung của cả nước.
Cho nên, kết hợp với tư duy và nhãn quan mới về phát triển, tôi cho rằng thay vì đi tiếp con đường cũ là xây dựng đặc khu kinh tế, Việt Nam cần không trì hoãn việc cải cách tổng thể để giải quyết bài toán cạnh tranh quốc gia. Mục tiêu trở thành một đất nước thực sự hấp dẫn cho đầu tư và sinh sống của bất cứ ai, chính là biến cả quốc gia thành một đặc khu của khu vực và thế giới.
- Xin cảm ơn ông!
Trí Lâm thực hiện
Nguồn: http://motthegioi.vn/kinh-te-c-67/luat-su-nguyen-tien-lap-mo-hinh-dac-khu-da-loi-thoi-89267.html

CHO THUÊ ĐẤT ĐẶC KHU 99 NĂM CHỈ LỢI CHO ĐẠI GIA BẤT ĐỘNG SẢN

LAM THANH/ MTG/BVN 1-6-2018

Một Thế Giới – 'Nói thẳng ra, cho thuê đất tối đa 99 như dự thảo luật đặc khu chỉ có lợi cho đại gia bất động sản. Còn các lĩnh vực khác, không ai dám cam kết sẽ làm lĩnh vực đó suốt 99 năm, thậm chí 50 năm cũng còn cân nhắc', chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói.

https://baomoi-photo-1-td.zadn.vn/w700_r1/18/05/24/255/26153087/1_232109.jpg

Thời gian thuê đất 99 năm là bất hợp lý
Trao đổi với phóng viên báo điện tử Một Thế Giới về quy định cho nhà đầu tư nước ngoài thuê đất lên tới 99 năm tại các đặc khu, PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh, Học viện Tài chính cho rằng đây là điều bất hợp lý. "99 năm là thời gian quá dài, bằng 4 thế hệ con người. Hơn nữa, hầu hết các quốc gia trên thế giới, thời gian cho thuê đất chỉ khoảng 50 năm, một số hiếm hoi lên tới 70 năm".
"Trong thực tế, tất cả vòng đời của một dự án đầu tư chỉ khoảng 20-25 năm chứ không nhà đầu tư nào dám cam đoan sẽ đầu tư một dự án lên tới 99 năm cả. Hết vòng đời của dự án thì họ nhượng lại dự án đó cho nhà đầu tư khác", ông Thịnh nói.
Theo chuyên gia này, giá đất thay đổi từng ngày. Một số đất tại đặc khu từ các đây 2 năm đã tăng lên khoảng 100 lần. Giá đất tăng thì tiền thuê đất cũng tăng nhưng Việt Nam đã “đóng khung” mức tiền thuê đất đó trong thời gian quá dài thì sẽ thiệt hại lớn cho ngân sách.
"Việc thời hạn thuê đất lên tới 99 năm chỉ có lợi cho doanh nghiệp bất động sản, nghỉ dưỡng. Họ mua đi bán lại các dự án đó trong tương lai vì họ sẽ nắm được quyền sử dụng đất trong thời gian rất lâu dài", ông Thịnh nhấn mạnh.
Tại buổi thảo luận về chính sách ưu đãi thuế tại các đặc khu kinh tế diễn ra chiều 23.5 do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách tổ chức, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, nên bỏ quy định cho thuê đất lên tới 99 năm.
Lý do là cách mạng công nghệ sẽ khiến các vòng đời sản phẩm ngắn lại. Khi máy móc thay thế con người ở những việc giản đơn như may mặc, lắp ráp điện tử sẽ "hồi hương" về các nước phát triển. “Nếu chúng ta không thấy rõ tuổi thọ của các ngành đến đâu trong thời đại mở hiện nay thì việc đưa ra ưu đãi lớn, thời gian thuê đất quá lâu sẽ là thừa thãi".
"Thời hạn cho thuê đất tại các đặc khu tối đa 99 năm là một chính sách rất tệ, không nên áp dụng. Tôi thử hỏi, với thời buổi công nghệ thay đổi nhanh chóng hàng ngày; Cách mạng 4.0 đang diễn ra, có ai dám đảm bảo mình sẽ vẫn làm ngành đó, nghề đó và lĩnh vực đó trong thời hạn 90 năm hay thậm chí 70 năm? Đây là 3 - 4 vòng đời sản phẩm, gần 2 thế hệ người Việt. Chưa kể, họ chỉ làm được chục năm không hiệu quả họ lại bán đi thì ai quản lý?”, bà Lan nói.
Bà Lan nhấn mạnh: “Nói thẳng ra, cho thuê đất tối đa 99 như dự thảo luật đặc khu chỉ có lợi cho đại gia bất động sản. Còn các lĩnh vực khác, không ai dám cam kết sẽ làm lĩnh vực đó suốt 99 năm, thậm chí 50 năm cũng còn cân nhắc. Thời hạn cho thuê đất 99 năm được đưa vào chính sách là có bóng dáng của doanh nghiệp bất động sản, du lịch, nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, không đất nước nào giàu lên bằng bất động sản cả”.
Không cẩn thận sẽ là nơi "di dân"
Theo ĐBQH Lê Thu Hà (Lào Cai), cần cân nhắc thêm về việc quy định thời hạn sử dụng đất 99 năm. “Theo thông lệ chung của thế giới, 99 năm là con số tượng trưng cho sự lâu dài vượt quá một đời người, có hàm ý pháp lý là sự tô nhượng hay trao quyền sở hữu đối với lãnh thổ”, bà Hà nói.
Theo đó, trong điều kiện các quyền kinh doanh của tổ chức, cá nhân nước ngoài được mở rộng theo các hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia. Thực chất điều này sẽ tạo cho họ các quyền pháp lý độc lập mang tính sở hữu về đất đai và lãnh thổ hơn là tạo mặt bằng để đầu tư và kinh doanh đơn thuần.
Đại biểu này nhận định, để huy động vốn đầu tư thì các nhà đầu tư sẽ sử dụng chính các quyền sử dụng đất được cấp miễn phí nhưng có giá trị thương quyền lớn để thế chấp vay vốn. Khi đó từ góc độ tài chính một dự án đầu tư công nghiệp có thể bị sự hấp dẫn của các yếu tố kinh doanh bất động sản chi phối, làm cho biến dạng với mục tiêu cam kết ban đầu.
Cũng theo bà Hà, cần lưu ý thêm quyền thu hồi đất theo Luật Đất đai trên thực tế không dễ sử dụng bởi thường gắn với hệ lụy pháp lý rất phức tạp. Vấn đề quyền sử dụng đất nói chung và quyền sử dụng đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài nói riêng sẽ còn trở nên nhạy cảm hơn nữa trong trường hợp cụ thể của Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.
Đại biểu Dương Trung Quốc cho rằng: “Chúng ta là những người đương đại, liệu có thể đại diện cho thế hệ chúng ta 100 năm nữa không? Đặc khu chúng ta đang thử nghiệm. Thử nghiệm có thể có thành công và thất bại. Không thể phiêu lưu được”.
Về địa chính trị, ông Quốc phân tích cả chuyện bất động sản, nếu không cẩn thận sẽ là nơi để di dân thôi. “99 năm thì tôi nghĩ là những nhà đầu tư công nghệ cao ở thời đại 4.0 này họ không cần đến thời gian. Chỉ có các nhà đầu tư bất động sản hoặc đầu cơ bất động sản thôi”.
“Mấy hôm nay trên đài truyền hình giới thiệu dự án này với tất cả con số dự kiến sẽ thu được bao nhiêu tiền từ thuế, đất, kể cả thu nhập bình quân. Đó là con số dự kiến thôi. Nhưng nếu có tính cộng lại, là một nguồn lực rất lớn đối với chúng ta nhưng rất nhỏ với thiên hạ. Chúng ta theo dõi tin tức thế giới, người ta sẵn sàng bỏ ra số tiền gấp bội số đó để họ mua cảng, vùng đất. Tôi nhắc lại 99 năm chúng ta hết sức cẩn trọng”, ông Quốc nói.
Đại biểu này cũng đề nghị khi lấy biểu quyết, nên có một biểu quyết riêng và minh bạch ý kiến đại biểu, vì bấm nút này chỉ có con số chung chung. “Chúng ta phải chịu trách nhiệm với tương lai, với cử tri đã bầu ra mình. Tất cả chúng ta phải bày tỏ ý kiến của mình trên những vấn đề nhạy cảm và quan trọng”.
Nói trước Quốc hội, đại biểu của TP.HCM Trương Trọng Nghĩa cũng đề nghị bỏ thời hạn giao đất 99 năm, vì không có vòng đời của dự án đầu tư nào hiện nay cần đến 99 năm. Thời hạn này thực chất là ưu đãi bổ sung để nhà đầu tư có thể được chuyển nhượng sau khi khai thác xong, hoặc là thay đổi dự án giữa chừng mà không phải trả lại đất.
“Theo tôi, thời hạn này ngang với 3-4 thế hệ con người, thực chất là hình thức nhượng địa mà hiện nay chỉ những đất nước nghèo đói lạc hậu và hoang sơ mới cần đến”, ông Nghĩa nói.
Chuyên gia Đinh Trọng Thịnh cũng có lo lắng tương tự. "Hiện tại đã hình thành nên các khu phố của người ngoại quốc ở rất nhiều các tỉnh thành. Nếu cho thời hạn thuê lên 99 năm thì rất có thể tạo điều kiện cho việc “di dân” của một số quốc gia đến các đặc khu này. Đây là điều có ảnh hưởng rất lớn đến an ninh quốc gia và chính trị sau này".
Bộ trưởng KH-ĐT đề nghị giữ nguyên thời gian thuê đất 99 năm
Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Nguyễn Chí Dũng đề nghị cho phép giữ nguyên như dự thảo, vì đây cũng là một chính sách vượt trội. Tuy nhiên, Bộ trưởng Dũng cũng đồng tình là phải quy định rõ ràng đâu là điều kiện đặc biệt và đâu là điều kiện để được Thủ tướng phê duyệt và phải quy định thật rõ và thật thận trọng trong quá trình xem xét đối với những dự án gọi là đặc biệt và có thể hưởng quy định 99 năm.
“99 năm hiện nay đã có nhiều nước làm việc này rồi, như đảo British Virgin Islands, UAE, Malaysia, nhiều nước người ta cũng đã làm. Tuy nhiên, ta chỉ để mở nhưng vẫn đang ở điều kiện đặc biệt và phải được Thủ tướng ưu đãi. Như thế nào là đặc biệt và quy trình thủ tục như thế nào được xem xét sẽ thiết kế ở quy định sau cho rõ ràng và minh bạch, thận trọng”, Bộ trưởng nói.
L.T.
Nguồn: https://baomoi.com/cho-thue-dat-dac-khu-99-nam-chi-loi-cho-dai-gia-bat-dong-san/c/26153087.epi

ĐẶC KHU KINH TẾ: NHIỀU NƯỚC RƠI CẢNH 'ĐƯỢC ĂN CẢ, NGÃ VỀ KHÔNG'

Ngọc Linh (tổng hợp)/ BVN 1-6-2018
TP - Lợi ích của việc thành lập các đặc khu kinh tế đã thể hiện qua sự phát triển của hơn 3.000 đặc khu kinh tế trên khắp thế giới. Nhưng bên cạnh những thành công, nhiều nước “ngậm đắng nuốt cay” khi các đặc khu kinh tế thất bại như ở châu Phi.
Đặc khu kinh tế tạo ra hơn 500 tỷ USD
Mô hình khu kinh tế hiện đại đầu tiên được thành lập tại Puerto Rico (vùng quốc hải ở phía Đông Bắc biển Caribe thuộc chủ quyền của Mỹ) năm 1942. Từ cuối những năm 1960, các mô hình khu kinh tế tự do, đặc khu kinh tế, đặc khu hành chính, thành phố tự do phát triển mạnh ở nhiều quốc gia châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, UAE, Nhật Bản, Indonesia, Đài Loan, Malaysia…
Số lượng các đặc khu kinh tế tăng nhanh qua từng thời kỳ. Sự phát triển của các đặc khu kinh tế góp phần quan trọng thúc đẩy thương mại toàn cầu, tạo ra trên 70 triệu việc làm trực tiếp và hơn 500 tỷ USD doanh thu.
Theo Bộ KH&ĐT, 5 yếu tố tạo nên sự thành công của các đặc khu kinh tế gồm: vị trí địa kinh tế, chính trị chiến lược (gần cảng biển quốc tế, các tuyến giao thông quan trọng của đất nước, kết nối dễ dàng với khu vực và quốc tế); Chiến lược và mục tiêu phát triển rõ ràng với ngành, nghề ưu tiên phát triển và có lợi thế so sánh vượt trội; Môi trường đầu tư kinh doanh và chính sách ưu đãi; Có sự hỗ trợ ban đầu của Chính phủ để đầu tư phát triển các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng và phát triển nguồn nhân lực; Bộ máy quản lý hành chính tinh gọn và hiệu quả.
“Các khu vực Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc đáp ứng các yếu tố quyết định thành công đặc khu kinh tế theo kinh nghiệm quốc tế”, Bộ KH&ĐT cho biết.
66% đặc khu ở Ấn Độ thất bại
Để tránh rơi vào “vết xe đổ”, Ban soạn thảo Dự thảo luật cũng nghiên cứu nguyên nhân thất bại của một số đặc khu kinh tế trên thế giới. Theo nghiên cứu Quốc tế của FIAS (2008), Pakistan, một số đặc khu kinh tế của Ấn Độ, một số quốc gia ở châu Phi (Senegal, Namibia, Liberia, Bờ Biển Ngà, Công gô, Nam Phi), Ukraine, Moldova thất bại khi xây dựng mô hình đặc khu kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại như vị trí không thuận lợi khiến chi phí đầu tư lớn; Chính sách cạnh tranh chỉ dựa vào ưu đãi thuế, lao động cứng nhắc; Giá thuê và các dịch vụ mang tính bao cấp; Mô hình quản lý và tổ chức bộ máy cồng kềnh, có quá nhiều cơ quan tham gia vào việc quản lý đặc khu.
Từ năm 2000-2014, Ấn Độ đã cấp phép cho 564 đặc khu kinh tế, nhưng tính đến tháng 6/2014, chỉ có 192 khu là còn hoạt động, chiếm 34%. Bộ Thương mại Ấn Độ đã tìm ra nguyên nhân thất bại do Chính phủ Ấn Độ đã dành các ưu đãi cho các đối tượng nằm ngoài đặc khu kinh tế và rút bớt ưu đãi cho các đặc khu kinh tế khi ký các thỏa thuận mậu dịch tự do.
Nguồn: https://www.msn.com/vi-vn/money/topstories/%C4%91%E1%BA%B7c-khu-kinh-t%E1%BA%BF-nhi%E1%BB%81u-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-r%C6%A1i-c%E1%BA%A3nh-%E2%80%9C%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-%C4%83n-c%E1%BA%A3-ng%C3%A3-v%E1%BB%81-kh%C3%B4ng%E2%80%9D/ar-AAr0wqR

CHO THUÊ ĐẤT ĐẶC KHU 99 NĂM: SAI CHUẨN !

THÙY DƯƠNG/NLĐ/ BVN 1-6-2018

Việc cho thuê đất đặc khu thời hạn 99 năm là quá dài, chưa nói đến yếu tố an ninh, quốc phòng khi 3 đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc án ngữ biển Đông của nước ta.

Bên hành lang Quốc hội ngày 24-5, một số đại biểu Quốc hội tiếp tục tranh luận về quy định cho thuê đất đặc khu đến 99 năm. Trước đó, dự án Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt (đặc khu) Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc đã được Quốc hội cho ý kiến vào sáng 23-5.
Lấy đâu ra nguồn thu!
Đại biểu Trần Hoàng Ngân (TP HCM), thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, phản đối quy định trên. Ông Ngân dẫn chứng Philippines quy định thời hạn giao đất 50-70 năm và xem xét gia hạn một lần khoảng 1/2 thời hạn cho thuê ban đầu. Ví dụ, cho thuê đất 50 năm thì gia hạn một lần không quá 25 năm. Trong thời gian cho thuê đầu tiên, họ sẽ đánh giá xem dự án đó có hiệu quả hay không rồi mới gia hạn tiếp. Như thế sẽ bảo đảm thời hạn thuê dài, có yếu tố cạnh tranh. "Vì sao chúng ta không quy định thời hạn cho thuê đất, giao đất là 70 năm và cho phép gia hạn một lần tối đa không quá 20-30 năm. Hết 70 năm, đánh giá lại dự án đó có thực sự hiệu quả hay không, có tính lan tỏa hay không, bảo đảm môi trường hay không? Lúc đó, Thủ tướng rất dễ quyết định" - ông Ngân gợi ý.
Ông Ngân còn cho rằng nếu giao đất tới 99 năm cho những trường hợp đặc biệt và quyền quyết định thuộc về Thủ tướng tức là "làm khổ Thủ tướng". Đó là chưa kể đến quy định như thế nào là "trường hợp đặc biệt" cũng không rõ; từ đó có thể dẫn đến việc nhà đầu tư "chạy qua bộ này, bộ kia để chứng minh mình thuộc trường hợp đặc biệt".
Về vấn đề lo ngại nhượng địa, di dân, ông Ngân cho rằng không cần tới 99 năm mới diễn ra việc này. Vấn đề là chúng ta cần kiểm soát chặt chẽ an ninh tài chính, an ninh quốc gia, quốc phòng; cần rất thận trọng trong xem xét cấp giấy phép. "Minh chứng qua 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, chúng ta đã thu hút trên 332 tỉ USD và giải ngân 178 tỉ USD. Hiện nay, Việt Nam vẫn là điểm đến của các nhà đầu tư. Họ tới vì nhiều lý do: thể chế chính trị ổn định, nền tảng kinh tế vĩ mô và tiềm năng phát triển kinh tế. Vì thế, không nên tập trung quá nhiều ưu đãi, mà hoàn thiện thể chế, môi trường thuận lợi... mới là điểm quan trọng, then chốt. Chúng ta đầu tư "không", cuối cùng không thu thuế, lại cho thuê đất dài hạn thì lấy đâu ra nguồn thu" - ông Ngân lưu ý thêm.

ho thuê đất đặc khu 99 năm: Sai chuẩn! - Ảnh 1.
Đề xuất cho thuê đất 99 năm ở Phú Quốc cùng với Vân Đồn, Bắc Vân Phong đang gây ra nhiều tranh luận, lo ngại. Ảnh: CÔNG TUẤN
70 năm cũng quá dài
Trong khi đó, đại biểu Dương Trung Quốc (Đồng Nai) cho rằng thời hạn cho thuê đất 70 năm vẫn là quá dài, nếu xét theo những rủi ro có thể có về mặt an ninh, quốc phòng, trật tự xã hội. "Chúng ta muốn kéo đến đây những ai? Đó là những nhà đầu tư thật sự. Điều kiện kéo dài thời gian thuê đất thì các nhà đầu tư chân chính không cần. Họ cần môi trường đầu tư tốt, chính sách thuế, hạ tầng, các quan hệ xã hội, giao dịch sòng phẳng, minh bạch hơn là việc được ở lâu" - ông Quốc phân tích.
Nhà sử học này cũng chỉ rõ chúng ta đã làm sai chuẩn khi vẫn lấy mô hình của những đặc khu được coi là thành công của 20-30 năm trước, áp dụng các ưu đãi đã lỗi thời như: ưu đãi thời gian sử dụng đất, nhân công rẻ mạt, casino. Đánh giá việc này là "lấy thành công của quá khứ thành lợi thế của tương lai", ông Dương Trung Quốc cảnh báo đó là cách nghĩ rất đáng lo ngại.
Ông Quốc khuyến cáo chúng ta luôn luôn phải tư duy về địa - chính trị, nhất là khi 3 đặc khu được coi là "mặt tiền" của đất nước án ngữ trước biển Đông. "Tôi xem truyền hình tuyên truyền ủng hộ cho dự án này bằng những con số rất cụ thể nhưng đấy chỉ là trên giấy. Nếu cộng tất cả lợi ích đó, tôi cho là con số rất nhỏ với túi tiền của thiên hạ. Người ta sẽ tung tiền để mua. Tôi rất muốn các đại biểu của các tỉnh có đặc khu như Quảng Ninh, Khánh Hòa... nói xem bao nhiêu nhà cửa người Trung Quốc mua rồi? Tệ hại ở chỗ, chính người Việt Nam tiếp tay cho họ lách luật" - ông Quốc lo lắng.
Nhiều nước chỉ cho thuê 30-50 năm
Theo quy định hiện hành của Indonesia, các công ty nước ngoài chỉ được thuê đất thời hạn 30 năm, gia hạn thêm 10 năm. Chính phủ nước này đang xem xét tăng thời hạn cho thuê nhưng cũng chỉ trong 50 năm và chỉ được gia hạn thuê sau 15 năm. Tương tự tại Campuchia, chính quyền nước này cũng chỉ cho gia hạn thuê đất ở đặc khu kinh tế lên đến 50 năm. Còn tại Trung Quốc, kể từ sau năm 1981, chính phủ cho phép các nhà đầu tư thuê đất đặc khu với thời hạn ban đầu từ 20-50 năm tùy theo lĩnh vực hoạt động và có khả năng gia hạn sử dụng đất.
Ở Myanmar, các nhà đầu tư nước ngoài được phép thuê các đặc khu kinh tế tại Myanmar thời hạn 50 năm, có thể gia hạn thêm 25 năm. Riêng ở Rwanda, theo chính sách cũ vào năm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép thuê đất trong khi các nhà đầu tư trong nước được ưu tiên mua chúng để sở hữu toàn diện. Trong cải cách mới, dù chính quyền Rwanda cho phép các nhà đầu tư thuê đất đặc khu dài hạn nhưng cũng không thể vượt quá 99 năm.
Tại Thái Lan, theo Bộ Luật Dân sự và Thương mại, thời hạn tối đa cho nhà đầu tư thuê đất chỉ là 30 năm, được gia hạn thuê thêm 30 năm. Từ năm 1999, Đạo luật Cho thuê đất của Thái Lan cho phép thuê đất đặc khu đến 50 năm, cho gia hạn thêm 50 năm nhưng quy định, thủ tục rất nghiêm ngặt. Mới đây, chính phủ Thái Lan đề xuất nâng thời hạn cho thuê các đặc khu kinh tế lên đến 99 năm và vấp phải ngay làn sóng phản đối của người dân. X.MAI
T.D.
Nguồn: https://nld.com.vn/thoi-su/cho-thue-dat-dac-khu-99-nam-sai-chuan-20180524222746676.htm
ĐẶC KHU KINH TẾ+ THUÊ ĐẤT TRĂM NĂM = MỒI NGON CHO TRUNG CỘNG

Đặc khu là gì? Là khu đơn vị hành chánh - kinh tế đặc biệt. Khu này được thành lập để hưởng những ưu đãi riêng mà các khu khác không có. Có 2 loại, đặc khu hành chính và đặc khu kinh tế.
Đặc khu hành chính là một nơi có quy chế quản lí nhà nước riêng, khác biệt với phần chung của đất nước đó.
Hồng Kông là một ví dụ, năm 1997 Hồng Kông trở về với Trung Quốc và giữ nguyên mô hình quản lý nhà nước kiểu Anh trong vòng 50 năm. Vì thế nên mới có từ "một quốc gia hai chế độ". Hệ thống pháp luật hoạt động như thời thuộc Anh, hệ thống tòa án theo mô hình thông luật của Anh Quốc, đơn vị tiền tệ vẫn giữ nguyên như thời thuộc Anh thuộc... Chỉ có đặc khu trưởng là người của chính quyền Bắc Kinh.
Đặc khu kinh tế là nơi có những ưu đãi về những chính sách kinh tế khác với khung pháp luật áp dụng chung cho toàn quốc. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều đặc khu như thế. Tại nơi đó, người ta cho những nhà đầu tư được hưởng những ưu đãi đặc biệt như: miễn thuế vài năm đầu, rồi nhiều năm tiếp theo được hưởng mức thuế suất thấp, được miễn thuế nhập thiết bị, được ký hợp đồng thuê đất ưu đãi vượt ra khỏi quy định chung của luật pháp... Mục đích là chính phủ muốn thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào bằng mọi giá, bất chấp những thiệt hại lâu dài.
Đặc khu kinh tế tốt hay xấu? Để biết tốt hay xấu thì nên đặt ngược câu hỏi, tại sao chính quyền không cho mọi thành phần kinh tế, bất kể nhà đầu tư trong ngước hay FDI đều hưởng những ưu đãi đó? Mà sao lại chỉ gói gọn lại một khu nào đó để cho một số đối tượng có đặc quyền đặc lợi riêng? Từ đó chúng ta thấy, đặc khu kinh tế là một loại cởi trói cho một nhóm nhà đầu tư trong khi hầu hết là bị trói. Tại những đặc khu, chủ yếu là nhà đầu tư nước ngoài đến và hưởng lợi. Mà nếu ưu đãi cho những doanh nghiệp nước ngoài hơn trong nước thì đấy là giết chết con ruột ưu đãi người dưng. Một chính sách cần phải loại bỏ vì nó bất công.
Hiện nay nhà đầu tư Trung Cộng vào đây với cường độ ngày càng mạnh như những cuộc xâm lăng thầm lặng. Nếu đặc khu có nhiều nhà đầu tư Âu, Mỹ, Nhật, Hàn thì không nguy hiểm, nhưng nếu Trung Cộng chiếm lĩnh những đặc khu đó thì sao?
Hiện nay nhà đầu tư Mỹ, Nhật trên đất Việt chịu lép vế trước những nhà đầu tư Trung Cộng. Formosa vỏ Đài ruột Trung Cộng đã chiếm lĩnh nguyên một khu của riêng nó như là một khu tự trị trong lòng Việt Nam. Phái đoàn cấp bộ của Bộ TNMT không được phép vào, và mọi thứ hoạt động bên trong chính quyền không thể kiểm soát. Nhiều những đặc khu như thế này thì chắc chắn đấy là những nơi mà Trung Cộng nhắm đến để chiếm lĩnh và xây dựng lãnh địa riêng ngay trên đất nước này.
Với một nền chính trị kém minh bạch, những hợp đồng riêng dành cho phía Trung Cộng là những bí mật quốc gia, cộng vào đó là phía nhà đầu tư Trung Cộng được "thuê" đến 99 năm ngang bằng với thời gian Anh Quốc sở hữu Hồng Kông thì điều gì xảy ra? Trung Quốc nhờ sự hùng mạnh của mình, đồng thời nhờ sự tử tế của nước Anh mà Hồng Kông về lại Trung Cộng. Nhưng Việt Nam - Trung Quốc khác Anh Quốc - Trung Quốc. 100 năm sau, ai sẽ thu hồi lại trong khi những hợp đồng ký tá dân không hề biết?
Đặc khu kinh tế là những cửa mở cho phía Trung Cộng vào chiếm lĩnh. Họ rải khắp bờ cõi và sở hữu những đặc khu với ưu đãi trăm năm. Đất nước đã rất bất an. Kẽ hở đó dân còn nhìn thấy thì không lý gì Bắc Kinh không nhìn ra cả. Với GDP 11.000 tỷ USD lớn hơn 50 lần GDP Việt Nam, Trung Cộng đầu tư sang Việt Nam không thèm kiếm lời cũng được, mục đích là chiếm lĩnh với thời hạn 100 năm bằng mọi giá. Kinh tế phụ thuộc Trung Cộng, mở cửa cho Trung Cộng hết cỡ thì đất nước này sẽ ra sao?
Mấy ngày nay, Quốc hội bàn cho ra quy chế đặc khu và thêm vào đó là luật cho thuê đất 99 năm. Ai cũng biết chỉ thị này từ ĐCS, nhưng cái gốc của điều này không phải ở ĐCSVN, nó ở xa hơn. Hãy đặt câu hỏi ai có lợi nhất khi 2 điều luật này thông qua thì biết. Ai cũng thấy 2 điều luật này là 2 điều luật dọn đường. Quốc hội vỗ ngực tự xưng là đại diện cho dân nhưng đang bán đứng dân tộc. Rõ ràng là như vậy.
Đ.N.
Nguồn: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1423505334416830&id=100002721323393