Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

20180103. PHÓ GIÁO SƯ BÙI HIỀN NÊN DỪNG LẠI !

ĐIỂM BÁO MẠNG
PHÓ GIÁO SƯ BÙI HIỀN NÊN DỪNG LẠI !

NGUYỄN TRỌNG BÌNH/ GDVN 31-12-2017

Phó giáo sư Bùi Hiền, Tiến sĩ Đoàn Hương tham gia chương trình Cafe sáng với VTV3 xung quanh công trình của ông. Ảnh: VTV.vn.
Vừa qua, sau khi tiếp tục cho công bố phần 2 trong toàn bộ công trình nghiên cứu cải tiến chữ viết tiếng Việt của mình, Phó giáo sư Bùi Hiền có nói rằng những người “chân thành, văn minh hãy đọc kỹ đề xuất” của ông.
Thực lòng bản thân tôi kể từ sau bài viết “Khi tranh luận lạc đường” đăng trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã tự nhủ sẽ không nói gì thêm nữa.
Nhưng khi nghe được lời nhắn nhủ trên của ông, tôi lại xin được hưởng ứng coi như lần cuối cùng góp thêm vài lời về câu chuyện này.   
1. Thiếu cơ sở khoa học cả về lý luận lẫn thực tiễn
Bằng những hiểu biết của cá nhân, cùng với việc theo dõi tất cả những ý kiến phân tích đánh giá của dư luận thời gian qua về công trình này, đặc biệt là những ý kiến từ các nhà ngôn ngữ học, các chuyên gia văn hóa... có uy tín, một cách chân thành và nghiêm túc nhất, tôi có thể khẳng định:
Toàn bộ công trình nghiên cứu của Phó giáo sư Bùi Hiền chưa “đủ chuẩn” để có thể gọi là một công trình nghiên cứu khoa học đúng nghĩa.
Bởi lẽ, công trình của Phó giáo sư Bùi Hiền theo tôi không đáp ứng được hai điều kiện quan trọng và bắt buộc của một công trình nghiên cứu khoa học đó là: mục tiêu và phương pháp nghiên cứu.
Nói cách khác, đây là công trình sai ngay từ “vạch xuất phát”, hoàn toàn không có cơ sở khoa học cả về lý luận lẫn thực tiễn ngôn ngữ.
Đây là vấn đề đã được các chuyên gia ngôn ngữ và văn hóa như: Giáo sư Hoàng Dũng, Giáo sư Nguyễn Đức Dân, Giáo sư Trần Đình Sử, Tiến sĩ Hữu Đạt, Tiến sĩ Châu Minh Hùng (Chu Mộng Long), nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Đức… phân tích và chỉ ra rất rõ ràng và cụ thể.
Đặc biệt nhất phải kể đến hai bài viết rất kỹ lưỡng (một trên Báo Thanh Niên, một trên Báo Vietnamnet) của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lợi – một chuyên gia về ngữ âm học và âm vị học hàng đầu nước nhà hiện nay – ngay sau mỗi lần Phó giáo sư Bùi Hiền công bố công trình cứu của mình.
Và nếu như phải khái quát lại tất cả những vấn đề mà các nhà ngôn ngữ học đã đề cập nhằm cho thấy sự hạn chế và sai lầm của Phó giáo sư Bùi Hiền thì theo tôi có hai câu hỏi cũng là vấn đề cơ bản và quan trọng như sau:
Một là, cơ sở lý luận và thực tiễn nào để Phó giáo sư Bùi Hiền đặt vấn đề cải tiến toàn bộ chữ viết tiếng Việt hiện hành?
Cứ cho là chữ viết hiện nay có một những chỗ bất cập nhưng nó có bức thiết đến nỗi phải xóa bỏ tất cả để làm cuộc cách mạng như ông đề xuất không?
Hai là, cơ sở khoa học nào mà ông lại lấy tiếng Hà Nội để làm chuẩn từ đó đề xuất cách viết mới dùng chung cho cả nước?
Và cơ sở nào để ông gạt bỏ chữ “đ” ra khỏi bảng chữ cái, cũng như đề xuất thay thế cách viết các phụ âm, nguyên âm của chữ viết tiếng Việt hiện hành trong toàn bộ công trình của mình?
2. Ảo tưởng và bảo thủ?
Thiển nghĩ mọi chuyện đã rõ như ban ngày như vậy nhưng không hiểu sao cho đến nay tuy Phó giáo sư Bùi Hiền lúc nào cũng nói sẽ“lắng nghe” ý kiến phản biện từ các nhà chuyên môn, thế nhưng trên thực tế lại không phải như vậy.
Cá nhân tôi giờ phút này vẫn không thấy Phó giáo sư Bùi Hiền lên tiếng trao đổi lại với các nhà khoa học đã phản biện ông (như tôi đã dẫn ra ở trên) dù chỉ một lần.
Đã vậy, không biết dựa vào đâu mà có không dưới một lần Phó giáo sư Bùi Hiền xác quyết rằng công trình của ông “là công cụ sắc bén hơn, tiện lợi hơn cho công cuộc hội nhập quốc tế hiện nay:
Người nước ngoài dễ học tiếng Việt hơn, dễ tiếp cận với nền kinh tế, văn hoá, khoa học Việt Nam hơn… dễ làm cho bạn bè mau hiểu Việt Nam, chóng có cảm tình với tiếng nói và chữ viết của người Việt hơn”.
Thậm chí ông còn mạnh miệng khẳng định đề xuất của ông (nếu làm theo) sẽ giúp “tiết kiệm được khoảng 9% thời gian, công sức, tiền của, vật tư, tài nguyên số trong việc xây dựng tất cả các loại văn bản bằng viết tay hoặc gõ bàn phím.
Điều này cũng có nghĩa là làm tăng năng suất lao động hàng năm tới 8-9%”?
Chỉ riêng chỗ này thôi, tôi cho rằng, Phó giáo sư Bùi Hiền không những rất bảo thủ, không chân thành lắng nghe ý kiến phản biện nghiêm túc từ các nhà khoa học mà còn rất ảo tưởng về công trình nghiên cứu của mình.
Không những vậy, qua theo dõi và quan sát những gì đã diễn ra tôi buộc phải nói rằng tôi nghi ngờ về sự trung thực và cẩn trọng của ông liên quan đến công trình này.
Sở dĩ tôi nói như vậy là vì ngay khi công bố phần 2 công trình của mình, Phó giáo sư Bùi Hiền có trả lời trên Báo Tiền Phong rằng:
“Tôi phải gấp rút làm việc này. Tôi dự định tháng 3 công bố trong giới khoa học phần 2 nghiên cứu cải tiến chữ quốc ngữ nhưng bây giờ thì làn sóng xô đẩy tôi, bắt buộc tôi phải xong sớm.
Để kết thúc nó phải tăng tốc độ lên”.
Thiển nghĩ, nghiên cứu khoa học là công việc vô cùng vất vả, đặc biệt là với những công trình mang tính ứng dụng, hay có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của con người và xã hội.
Vì lý do đó, nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu ngoài năng lực chuyên môn, tư duy và phương pháp nghiên cứu thì sự nhẫn nại, kiên trì và cẩn trọng là những tiêu chí bắt buộc cần phải có.
Hay nói như Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn là “khoa học, nhà khoa học, nghiên cứu, trí thức, v.v.. không phải là những phù hiệu mà ai muốn mang vào ngực thì mang mà là những việc làm thực tiễn, những ý nghĩ hay những sáng kiến mới.
Muốn có những sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tế, nhà khoa học phải làm việc một cách gian khổ, bất vụ lợi, có khi rất lâu dài.
Có thể ví khoa học như một cái đỉnh chót vót của sự chính trực, công bằng và hợp lý. Nhưng cái đỉnh này rất trơn và dễ bị tuột.
Người ta cần phải có một sự cố gắng tột bực mới đến gần hay đứng trên nó được, và càng phải cố gắng hơn để đứng ở vị trí đó.”
Thế nhưng, qua lời phát biểu trên cùng với việc thay đổi nhanh chóng từ cách viết “Tiếq Việt” thành “Tiếw Việt” chỉ trong một thời gian ngắn làm tôi có cảm giác cảm giác ông đang bị sự tác động của dư luận nên phải cố làm cho xong.
Nói khác đi, đây là chỉ dấu cho thấy Phó giáo sư Bùi Hiền thiếu sự nhẫn nại và cẩn trọng cần thiết trong hoạt động nghiên cứu của một nhà khoa học trên cả hai phương diện tư duy lẫn phương pháp làm việc.
3. Hệ lụy của tư duy nước đôi và những lời khen vội vàng
Trong bài viết “Khi tranh luận lạc đường” trước đây tôi có nói đại khái rằng ở Việt Nam từ khi có mạng xã hội đến nay, mỗi khi có vấn đề nào đó gây tranh cãi, nhiều người thường hay lên tiếng phê phán những người chưa chi đã vội chê bai và “ném đá” người khác mà không chịu tìm hiểu hết ngọn nguồn sự việc.
Thế nhưng, ở chiều ngược lại, rất hiếm khi thấy có sự phê phán hay sự cảnh tỉnh nào dành cho những người cũng chưa chi đã vội vàng đưa ra những lời khen vô tội vạ nhằm chứng tỏ bản thân mình “cấp tiến” và luôn ủng hộ cái mới.
Hoặc những người trước một vấn đề nào đó hầu như chỉ dám khen, chê theo kiểu tư duy nước đôi, chỗ này khen một tẹo chỗ kia chê một tí thành ra cuối cùng cũng chẳng giải quyết được gì.
Trong tranh luận đặc biệt là tranh luận về những vấn đề học thuật mang tính chuyên sâu, mọi sự khen hay chê trong vội vàng đều nguy hại như nhau và đều vi phạm những nguyên tắc trong “văn hóa tranh luận”, “văn hóa phản biện”.
Thậm chí trong nhiều trường hợp những lời khen vội vàng có khi còn nguy hại hơn cả những lời chê rất nhiều.
Bởi vì khen như thế dễ tạo ra sự ảo tưởng cho đối tượng được khen, có nguy cơ gây ra sự rối loạn cho xã hội vì sự thật giả, “vàng thau lẫn lộn”...
Cố nhà văn Nguyễn Khải gọi đó là những lời “khen cho chết”...
Đến hôm nay, tôi vẫn bảo lưu quan điểm này của mình.
Tôi cho rằng, sự ảo tưởng và bảo thủ của Phó giáo sư Bùi Hiền về công trình của ông cho đến giờ phút này ít nhiều là do sự “góp sức” của một số cá nhân chưa chi đã vội vàng lên tiếng tung hô và nhất là cho rằng công trình của Phó giáo sư Bùi Hiền là “ý tưởng mới”, “ý tưởng hay” và “có cơ sở khoa học”...
Thậm chí có người còn lên cả đài truyền hình quốc gia lớn tiếng mắng mỏ những ai không ủng hộ Phó giáo sư Bùi Hiền bằng lời lẽ rất khó nghe.
Bên cạnh đó, chính cách tư duy nước đôi của số ít nhà khoa học khi đánh giá công trình của ông cũng là nguyên nhân gây nhiễu và rối loạn thông tin.
Lẽ ra, trước một vấn đề quan trọng có tác động và ảnh hưởng đến toàn xã hội như thế không cho phép những kiểu tư duy nước đôi trong nhận định và đánh giá mà cần một sự phản biện trên tinh thần khoa học, khách quan và nghiêm túc nhất để có thể đi đến tận cùng bản chất của sự việc.
Thế nhưng có người cố tình bênh vực và bao biện cho những sai lầm của Phó giáo sư Bùi Hiền trong công trình này với lý do rất ỡm ờ rằng:
Đây là “công trình của cá nhân”, ông “không lấy ngân sách Nhà nước” để nghiên cứu, hay “dù sao ông cũng lớn tuổi” rồi v.v và v.v...
Tôi cho rằng đây là sự ngụy biện trong tranh luận. Vì những lý do trên hoàn toàn không phải là những tiêu chí hay thước đo để đánh giá hiệu quả, sự đúng sai của một công trình khoa học.
Hơn nữa, trên thực tế chẳng có công trình nghiên cứu nào mà không thuộc về một hai một vài cá nhân nào đó?
Một khi Phó giáo sư Bùi Hiền đã quyết định công bố rộng rãi công trình của mình thì đó không còn là vấn đề của cá nhân ông nữa mà là vấn đề của xã hội.
Vì đề xuất của ông có nguy cơ gây ảnh hưởng đến toàn dân tộc.
Ngoài ra, tuy hiện tại Phó giáo sư Bùi Hiền không sử dụng ngân sách nhà nước để nghiên cứu nhưng cũng nên nhớ rằng Phó giáo sư Bùi Hiền luôn miệng khẳng định mình là nhà khoa học và ông đã nghiên cứu công trình này 40 năm rồi.
Điều đó cũng có nghĩa cái nền tảng tri thức để ông trong tư cách một nhà khoa học với học hàm Phó giáo sư và học vị Tiến sĩ trong 40 năm qua thực ra cũng từ ngân sách Nhà nước mà ra.
Chỉ có bác nông dân cả đời làm ruộng mới không nợ kinh phí của nhà nước mà thôi.
Còn chuyện ông đã lớn tuổi thì sao? Chẳng lẽ người lớn tuổi thì được quyền làm sai?
Nên nhớ rằng một nền khoa học muốn phát triển lành mạnh thì trước hết, bản thân những “người trong cuộc” phải sòng phẳng, rạch ròi với nhau trong các mối quan hệ.
Đạo đức trong khoa học không chấp nhận những phán xét, kết luận dựa trên cảm xúc, tình cảm ủy mỵ, riêng tư; cũng không chấp nhận việc mang “tinh thần đồng nghiệp”, “quan hệ bạn bè” hay truyền thống gia đình, dòng tộc ra để làm tiêu chí đánh giá. 
4. Thay lời kết
Có thể thấy, từ khi đề xuất cải tiến chữ viết tiếng Việt của Phó giáo sư Bùi Hiền được công bố cho đến nay đã vô tình gây ra sự phân hóa và chia rẽ giữa những người ủng hộ và phản đối ông.
Đặc biệt, theo tôi, công trình này đã làm cho các nhà khoa học nhất là các chuyên gia ngôn ngữ học sự nhọc lòng và “khổ tâm”.
Vì trong tư cách chuyên gia, nếu họ im lặng, không nói gì thì rất có thể câu chuyện sẽ còn dây dưa kéo dài và nhất là sẽ ầm ĩ lên (như thời gian qua chúng ta đã thấy).
Nhưng nếu buộc phải “ra mặt” lên tiếng hoài thì cũng rất “kẹt” cho họ.
Vì vừa mất thời gian mà có khi lại mang tiếng vì cũng có ý kiến cho rằng “chuyện này có đáng không mà sao nói hoài”?
Nói điều này để thấy công trình của Phó giáo sư Bùi Hiền rõ ràng đã và đang gây ra những “tác hại” và “phiền toái” nhất định cho xã hội chứ không phải không có.
Thế nên, nói đi cũng phải nói lại, tôi cho rằng đã đến lúc Phó giáo sư Bùi Hiền nên thể hiện sự tôn trọng dành cho tất cả mọi người đặc biệt là các chuyên gia ngôn ngữ học thời gian qua đã nhọc lòng và “khổ tâm” vì ông.
Mong Phó giáo sư Bùi Hiền bình tâm và dành thời gian tìm đọc tất cả những bài viết phản biện trên tinh thần học thuật khách quan mà các nhà khoa học đã công bố trên các phương tiện truyền thông.
Từ đó nhìn lại những việc làm của ông trong 40 năm qua.
Làm được điều này, theo tôi cũng là một cách ứng xử cho thấy sự chân thành và văn minh như chính ông đã đề nghị và mong mỏi.
Cuối cùng, thiển nghĩ câu chuyện này có lẽ cũng nên được khép lại tại đây, để không còn ai trong tất cả chúng ta vì chuyện này mà làm tổn thương nhau nữa.
Tài liệu tham khảo:
1.  “Phó giáo sư Bùi Hiền: Ai chân thành, văn minh hãy đọc kỹ đề xuất của tôi”.
2. “Phó giáo sư Bùi Hiền nêu lí do 'công bố' bản chuẩn cải tiến chữ quốc ngữ”.
3. “Đề xuất của Phó giáo sư Bùi Hiền không đúng với bản chất nguyên âm”.
4. “Giáo sư Ngôn ngữ học phản biện đề xuất cải tiến chữ viết tiếng Việt của Phó giáo sư Bùi Hiền”.
5. Hoàng Dũng, “Đường dẫn xuống địa ngục lót toàn bằng thiện ý” – về một đề xuất cải tiến chữ Quốc ngữ. Xem tại: https://www.facebook.com/dzung.hoang.501
6. Chu Mộng Long, “Về cải tiến chữ Quốc Ngữ theo sáng kiến của Bùi Hiền”.
Xem tại: https://www.facebook.com/Chumonglong/posts/1942481972432703
7. Hiền Hòa, “Tiếng Việt mà thành Tiếq Việt sẽ đứt gãy văn hóa dần dần”. Xem tại: https://tuoitre.vn/tieng-viet-ma-thanh-tieq-viet-se-dut-gay-van-hoa-dan-dan-20171127112804828.htm
8. Nguyễn Văn Tuấn –“Đi vào nghiên cứu khoa học”. Nhà xuất bản tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh, 2015
Nguyễn Trọng Bình

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

20180102. TOP TEN ẤN TƯỢNG VIỆT NAM 2017

ĐIỂM BÁO MẠNG
TOP TEN ẤN TƯỢNG 2017

TRƯƠNG DUY NHẤT/RFA/ BVN 1-1-2018

clip_image002
Hình minh hoạ. Blogger Trương Duy Nhất
Khắc hoạ toàn cảnh xã hội Việt và thời tiết chính trường, qua bộ “top ten ấn tượng 2017”.
1. Chiến cuộc “nhóm lò”
Một chiến cuộc “nhóm lò” rúng động chính trường Việt 2017. “Thiêu đốt” Uỷ viên Bộ chính trị Đinh La Thăng. Cuộc truy bắt có một không hai đưa Trịnh Xuân Thanh từ Đức về nước “đầu thú”, và các cuộc kỷ luật, triệt hạ hàng loạt tên tuổi đình đám khác. Bất luận bình xét theo chiều nào (chống tham nhũng hay triệt hạ phe cánh), “cái lò ông Trọng” là sự kiện chính trị nóng bỏng, ấn tượng nhất, khắc hoạ chân thật nhất tình hình đảng sự, cũng như sức khoẻ quốc gia qua từng thanh củi lửa.
2. Những nghi án sức khoẻ
Sau “sự cố” Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh từ các năm 2015, 2016, những nghi án sức khoẻ trong năm 2017 tiếp tục nhắm vào Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Uỷ viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh. Ông Huynh, coi như kết thúc sự nghiệp. Chủ tịch Trần Đại Quang thì lúc ẩn lúc hiện với hàng loạt đồn đoán về bệnh tình. Những nghi án sức khoẻ, khiến dân tình dễ liên tưởng đến một “bóng ma” Nguyễn Bá Thanh nào đấy ám ảnh chính trường Việt.
3. Đà Nẵng, điểm nóng chính trường Việt
Tựa chuyện Trịnh Xuân Thanh, câu chuyện Đà Nẵng được khơi mào từ chiếc xe của Bí thư Nguyễn Xuân Anh. Từ chiếc xe doanh nghiệp tặng, đến điểm nóng Sơn Trà, và sau đó là hàng loạt những bê bết về đất đai. Từ việc phế truất trung ương uỷ viên, tước hàm Bí thư thành uỷ đối với Nguyễn Xuân Anh, cảnh cáo Chủ tịch Huỳnh Đức Thơ, và cuối cùng là cuộc khám xét, khởi tố, truy nã Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm). Không chỉ thiêu đốt Đà Nẵng, biến đô thị “hiện tượng” này thành điểm nóng chính trường Việt 2017.
4. Sự cố Đồng Tâm và cuộc bắt giam vô tiền khoáng hậu 19 cảnh sát cơ động Hà Nội
Nếu những năm trước là Tiên Lãng, Dương Nội, Văn Giang, Vụ Bản…, thì 2017, điểm nóng đất đai nổi sóng nhất là sự cố Đồng Tâm, cùng cuộc bắt giam 19 cảnh sát cơ động tại nhà văn hoá thôn Hoành (Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội). Cuộc bắt giữ vô tiền khoáng hậu khiến Chủ tịch Hà Nội, Nguyễn Đức Chung phải thân chinh vào làng giải cứu. Chiến dịch giải cứu thành công, nhưng sự lật kèo từ chính Chủ tịch Chung và cuộc khởi tố điều tra nhắm vào dân làng Hoành sau đó đã đẩy chiến cuộc đất đai thôn Hoành lên một nấc thang mới, chưa biết đâu là đỉnh điểm. Dân Đồng Tâm có thể bị bắt, nhiều người có thể vào tù. Nhưng sự nghiệp chính trị của tướng Chung, Chủ tịch Hà Nội mãi hằn một vết nhơ về đức liêm sỉ và tính trung thực sau bản cam kết cùng cú lật kèo có một không hai của ông với dân chúng Đồng Tâm. Thắng dân là mất dân. Nhưng tướng Chung và chính quyền Hà Nội đã chọn cách thắng dân. Một “chiến thắng” hiếm có chính quyền liêm sỉ nào dám thắng.
5. BOT Cai Lậy và cuộc “cách mạng tiền lẻ”
Khởi phát từ BOT Bến Thuỷ (Nghệ An). Nhưng phải đến BOT Cai Lậy (Tiền Giang), chiến thuật dùng tiền lẻ qua trạm của cánh tài xế mới bùng lên như một cao trào, được ví như cuộc “cách mạng tiền lẻ” có một không hai trong lịch sử. Cuộc cách mạng không chỉ lật tẩy những mánh khoé cướp trấn tiền dân của các tập đoàn Mafia núp dưới hình thức BOT, mà còn minh chứng cho một sự trưởng thành từ nhận thức dân chúng, và hơn nữa, thành một phương cách phản kháng dân sự phi bạo lực mẫu mực. Để không chỉ là những cuộc “cách mạng tiền lẻ”, sẽ là tiền đề cho những cuộc “cách mạng khác”, những trận tuyến khác, không chỉ BOT.
6. Tràn ngập bắt bớ giới đấu tranh dân chủ, và những bản án nặng nề
Trên 30 người bị bắt, chủ yếu nhắm vào nhóm “Anh em dân chủ” của luật sư Nguyễn Văn Đài và các nhà đấu tranh dân chủ, các blogger phản biện độc lập. Cùng hàng loạt chiến dịch bắt bớ, là những bản án nặng nề đến tàn độc. Điển hình là các bản án 10 năm tù đối với Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, 9 năm với Trần Thị Nga, và 7 năm với Nguyễn Văn Hoá… Có thể nói, chưa năm nào bắt bớ dồn dập đến vậy. 2017 là năm đỉnh điểm nhắm vào giới đấu tranh dân chủ, nhân quyền.
7. Cuộc chiến vỉa hè và hiện tượng “Hải cẩu”
Một phong trào đầu voi đuôi chuột, như mọi phong trào khác, vô vàn trên nước Việt, không riêng gì thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng nó trở thành hiện tượng, bởi phương cách tàn khốc và hình ảnh khiếp sợ của một quan chức mang nickname “Hải cẩu” đầy mai mỉa. Sau vài tháng tan hoang như chiến trận, quận 1 vẫn không thể thành… Singapore, vỉa hè vẫn trở lại muôn dặm vỉa hè như cũ. Không thấy ông Đoàn Ngọc Hải, Phó Chủ tịch UBND quận 1 “cởi áo về vườn” như tuyên bố hùng hồn trước đó. Còn lại, lan truyền trên mạng chỉ là những bức ảnh ngài “Hải cẩu” với ánh mắt kinh sợ, và những đoạn clip cực hài về một vị quan suốt ngày ra đường rình bắt dân đi ị…
8. Những biệt phủ quan & nghề làm giàu của quan chức Việt
2017 là năm phát lộ nhiều khu biệt phủ quan cực đỉnh. Từ cụm biệt phủ đồi - đồi biệt phủ của giám đốc sở Tài nguyên - Môi trường (em ruột Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái) Phạm Sỹ Quý; đến biệt thự khủng của cựu Phó Thống đốc ngân hàng nhà nước Nguyễn Phước Thanh; biệt phủ của cựu Thứ trưởng Tài nguyên - Môi trường Bùi Cách Tuyến; dinh thự của cựu Phó ban nội chính tỉnh uỷ Đăk Lăk, Nguyễn Sỹ Kỷ; biệt phủ của Trưởng ban quản lý khu kinh tế tỉnh Kon Tum, Phạm Thanh Hà; dinh thự của Bí thư huyện Duy Tiên (Hà Nam) Nguyễn Đức Vượng; biệt thự của “cậu ấm chơi chim”, Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư Quảng Nam, Lê Phước Hoài Bảo; lầu son gác tía của “hot girl xứ Thanh” Trần Vũ Quỳnh Anh… “Ấn tượng” và khôi hài ở chỗ: Các cuộc thanh tra, chẳng những không truy được một dấu hiệu tham nhũng hay bất minh nào từ những khối tài sản khủng, mà còn cho thấy quan chức Việt biết tranh thủ làm giàu từ nhiều nghề cực sốc như: nuôi heo, chạy xe ôm, bán chổi đót, buôn men rượu, làm giá đỗ…
9. Dự luật “an ninh mạng” và nguy cơ về những cuộc “xâm lăng mới”
Một dự luật, được xem là giống nhau như hai giọt nước nếu so với Luật an ninh mạng Trung Quốc. Không chỉ về thuật ngữ, mà còn ở việc buộc phải cung cấp thông tin cá nhân, buộc đặt máy chủ trong nước, buộc người dùng và các doanh nghiệp cung cấp thành những “tên chỉ điểm”, ép doanh nghiệp công nghệ phải tuân thủ các “quy chuẩn kỹ thuật” của nhà nước, ép doanh nghiệp liên quan đến “thông tin quan trọng” phải thông qua “thẩm định của chính quyền” khi mua phần cứng, phần mềm… Một dự luật, nếu thông qua, không chỉ tước đoạt quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của công dân, không chỉ rào chắn cản ngăn những công cụ giao tiếp, truyền thông hiện đại, mà có thể còn là cuộc đánh đuổi những nền văn minh mới của nhân loại khỏi nước Việt. Không chỉ xây “Vạn lý trường thành” đánh đuổi Google, Facebook, Youtube, Twitter, Viber… Nhiều người đang đặt dấu hỏi về một nguy cơ khác: Đó là các cuộc “xâm lăng mới” của người Tàu mang tên Baidu, Renren, Youku, Tudou, Weibo, Baidu, Alibaba… thông qua dự luật này. Một dự luật an ninh, nhưng đầy rẫy những bất an.
10. Những “binh đoàn mạng”
Tiết lộ từ Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị quân đội nhân dân Việt Nam, tại hội nghị tổng kết công tác tuyên giáo năm 2017 gây sốc: đã hình thành một lực lượng trên 10.000 “chiến sĩ” là hạt nhân trên mặt trận không gian mạng (lực lượng mang bí số 47). Theo tướng Nghĩa, đây là lực lượng "vừa hồng vừa chuyên, kiên định lập trường, có trình độ, kỹ năng sử dụng công nghệ cao”. Ngoài binh đoàn 1 vạn quân biên chế quân đội, còn lực lượng nào nữa từ Bộ Công an, Ban Tuyên giáo…? Chắc chắn là một quân số khủng. Con số tiết lộ từ năm 2013, đã cho thấy cả nước có hơn 8 vạn “tuyên truyền viên miệng”. Riêng Hà Nội, đã tổ chức được đội ngũ 900 “dư luận viên”, 19 trang điện tử và hơn 400 tài khoản mạng. Thế giới mạng với những nguy cơ an ninh cùng chiến tranh mạng, thì việc hình thành những “binh đoàn mạng” là tất yếu. Nhưng, cứ liên tưởng đến những trận bom report và comment bẩn trên mạng, khiến rùng mình.
T.D.N.

10 NHÂN VẬT CHÍNH TRỊ NĂM 2017

LUẬT KHOA TẠP CHÍ /BVB / BVN 1-1-2018

Mười nhân vật, mười lát cắt khác nhau của một năm đầy biến động của chính trị Việt Nam.
Tham nhũng giống như hòn tuyết, một khi đã lăn thì nó cứ lớn mãi ra. (Corruption is like a ball of snow, once it’s set a rolling it must increase)
— Nhà văn Anh Charles Caleb Colton (1780 – 1832)

1. Đoàn Ngọc Hải
clip_image002
Ảnh: Infonet
Phó Chủ tịch Quận 1 – TP. Hồ Chí Minh nổi lên từ sau Tết Nguyên đán khi phát động chiến dịch “giành lại vỉa hè” với tuyên bố “không lấy lại được vỉa hè, tôi cởi áo về vườn”.
Tháng cuối năm, thông tin về ông trên báo chí chỉ còn lại hai tin nổi bật: “Vắng bóng ông Đoàn Ngọc Hải, vỉa hè quận 1 biến thành chợ” và “Người đàn ông ở Hải Dương dọa dùng súng giết ông Đoàn Ngọc Hải”. Bản thân ông Hải vẫn đang tại nhiệm, chưa về vườn.
Đoàn Ngọc Hải là đại diện tiêu biểu cho một lối tư duy máy móc về pháp luật và thượng tôn pháp luật. Những văn bản về giao thông đường bộ được ông coi như một thanh thượng phương bảo kiếm, có thể dùng để sát phạt bất cứ hành vi vi phạm nào mà không cần cân nhắc đến tính hợp lý của văn bản và quy trình áp dụng, đến văn hoá kinh tế vỉa hè của một đất nước có trình độ phát triển thấp, và đến hiệu quả của việc thực thi pháp luật.
Dù thiện chí biến quận 1 thành Singapore của vị quận phó này hãy còn là nghi vấn, ông cũng đã nỗ lực dùng “liệu pháp sốc điện” cho một hệ thống chính quyền cơ sở uể oải gần như hoàn toàn tê liệt trước nạn tham nhũng, cửa quyền, thiếu trách nhiệm và cả hành vi lấn chiếm vỉa hè của người dân. Chiến dịch giành lại vỉa hè của ông không có gì khác hơn một kiểu phong trào đoàn thể, vốn có vòng đời ngắn và chỉ có thể ồn ào chừng nào người ta còn đủ sức gồng mình lên để làm.
Vị quận phó Đoàn Ngọc Hải cũng nổi lên được nhờ những hiệu ứng dân tuý mà có thể chính ông cũng chẳng nghĩ đến.
Ông đánh vào một vấn đề bức xúc sát sườn với quyền lợi trước mắt của phần đông người dân, đưa ra một lời hứa hẹn phi hiện thực và sử dụng một nguồn lực bất thường để thực hiện lời hứa của mình.
Ông phân chia giới tuyến giữa “người dân” và những người lấn chiếm vỉa hè. Ông lên án các lãnh đạo phường vô trách nhiệm, làm việc kém hiệu quả, một kiểu thông điệp chống chính trị dòng chính (anti-establishment) quen thuộc của các chính trị gia dân tuý vốn rất được lòng những người dân chán ghét chính quyền. Ông cũng rao bán được một thứ tình cảm chính trị mà rất nhiều người khao khát: một tay anh hùng có khả năng chuyển xoay thời cuộc trong chớp mắt.
Hiện tượng Đoàn Ngọc Hải hoà chung với làn sóng dân tuý đang nổi lên ở khắp nơi trong năm qua, từ Mỹ, Pháp, Hà Lan cho đến Philippines. Và cũng như thứ chính trị dân tuý đang làm đất nước Venezuela chết dần chết mòn, thứ ông Đoàn Ngọc Hải làm được cũng chỉ là khuấy tung một đám ao bèo trong cơn bế tắc của quần chúng chứ không giải quyết được bất cứ điều gì.
2. Nguyễn Đình Thục

clip_image004
Ảnh: Chưa rõ nguồn
Kể từ khi thảm hoạ môi trường Formosa nổ ra vào tháng 4/2016, linh mục Nguyễn Đình Thục, quản xứ giáo xứ Song Ngọc (Nghệ An) trở thành một trong những chỗ dựa cho cả một cộng đồng giáo dân.
Ông tổ chức các thánh lễ cầu nguyện, dẫn đầu đoàn giáo dân đi khởi kiện Formosa Hà Tĩnh, cầm loa động viên đoàn giáo dân bình tĩnh và ôn hoà trước các đợt hành hung của chính quyền, trong khi bản thân ông cũng bị hành hung tới chảy máu. Ông sang Đài Loan gặp gỡ nhà chức trách tháng 12/2016 và nhỡ một chuyến gặp gỡ với Quốc hội Úc khi bị cấm xuất cảnh đúng một năm sau.
Hứng chịu rất nhiều cáo buộc từ cả báo chí nhà nước lẫn các trang mạng về việc kích động, gây rối và liên kết với các tổ chức “phản động” (trong đó có Việt Tân), ông tuyên bố kiên trì đường lối ôn hoà và đối thoại.
Linh mục Nguyễn Đình Thục đứng giữa tâm điểm của rất nhiều xung đột chính trong xã hội. Là một lãnh đạo Công giáo trong một xã hội có truyền thống Nho giáo, ông là đại diện của một cộng đồng đã và đang là thiểu số, vốn là đối tượng bị nhắm đến của nhiều triều đại phong kiến trong lịch sử. Chính quyền hiện nay cũng không phải là ngoại lệ. Thứ mà chính quyền e ngại không gì khác ngoài một cộng đồng hàng triệu người cùng chia sẻ một hệ thống niềm tin và giá trị, độc lập với hệ thống niềm tin và giá trị của đảng cầm quyền.
Giờ đây, ông còn đứng trước một thế lực mới, một đại công ty có vốn đầu tư 11,6 tỷ USD, tổ hợp gang thép khép kín lớn nhất Đông Nam Á. Điều đáng nói là công chúng chưa bao giờ biết được họ gần gũi với chính quyền đến mức nào. Minh bạch là điều xa xỉ linh mục Nguyễn Đình Thục chưa bao giờ đòi hỏi được ở chính quyền.
3. Lê Đình Kình

clip_image006
Ảnh: Zing
Cùng bạc tóc, cùng là đảng viên (đảng Cộng sản) và cùng tuyên bố chống tham nhũng, ông Lê Đình Kình không giành được thắng lợi giòn giã như người đồng chí của mình, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Trước tháng 4/2017, công chúng không biết Lê Đình Kình là ai. Vụ chính quyền huyện Mỹ Đức, Hà Nội xô xát và bắt giữ ông cụ 82 tuổi này vào ngày 15/4 đã thổi bùng làn sóng phản đối của người dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm, vốn đang có tranh chấp đất đai tại khu vực đồng Sênh.
Tất cả những diễn biến sau đó cho người ta thấy hình ảnh của một lãnh đạo cả về tinh thần lẫn quyết sách của những người nông dân Đồng Tâm. Ngoài trí tuệ minh mẫn và khả năng trình bày khúc chiết, ông Lê Đình Kình hội tụ nhiều yếu tố để trở thành người được tín nhiệm ở một làng nông thôn Bắc Bộ: cao tuổi, là đàn ông, đảng viên, và là cựu Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân, Bí thư Đảng uỷ xã những năm 1980.
Thân phận của những người nông dân cao tuổi như ông Kình gắn liền với những biến động cực lớn về mối quan hệ giữa con người với đất đai. Trong gần 20 năm đầu tiên của đời mình, ông chứng kiến ruộng đất nằm trong tay địa chủ. Đến khi cuộc Cải cách Ruộng đất diễn ra từ năm 1953, nông dân đột nhiên được sở hữu miếng đất của riêng mình. Nhưng chỉ năm năm sau, hầu hết ruộng đất lại được dồn vào các hợp tác xã. Đến những năm 1980 khi ông Kình làm lãnh đạo xã, hai chỉ thị 100 (1981) và 10 (1988) của đảng Cộng sản lại chia ruộng lại cho các hộ nông dân canh tác.
Giờ đây, khi đã ở tuổi gần đất xa trời, ông lại đối mặt với một vấn nạn khác: tham nhũng đất đai. Kẻ ông phải đối mặt, trớ trêu thay, lại chính là những đồng chí của ông. Bi kịch của ông, và có lẽ là cả thế hệ của ông, là đã dành cả đời phấn đấu và hy sinh xương máu để thay thế địa chủ và cường hào ác bá bằng một thể chế tự cho mình quá nhiều quyền hành trong việc định đoạt đất đai của người khác. Nói cách khác, ông vừa là nạn nhân, vừa là đồng phạm.
Như cách Vaclav Havel đã mô tả về xã hội Tiệp Khắc dưới chế độ cộng sản, “không ai trong chúng ta chỉ đơn thuần là nạn nhân cả, tất cả chúng ta đều là những kẻ góp phần tạo ra bộ máy đó”.
4. Nguyễn Thanh Lâm

clip_image008
Ảnh: Người Lao Động
Bức tranh ngôn luận năm 2017 không thể vắng bóng Nguyễn Thanh Lâm, Cục trưởng Cục Phát thanh – Truyền hình – Thông tin điện tử (Bộ Thông tin – Truyền thông).
Không phải là quan đầu ngành, nhưng về độ nổi bật, Nguyễn Thanh Lâm vượt xa sếp của mình là Bộ trưởng Trương Minh Tuấn cũng như Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng.
Rất tích cực đăng đàn trên báo chí để cổ xuý cho việc kiểm soát ngôn luận trên Internet, cựu nhà báo Nguyễn Thanh Lâm liên tục tuyên bố về quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ Việt Nam và hai gã khổng lồ công nghệ Google và Facebook. Theo đó, hàng nghìn video trên Youtube (của Google) và hàng trăm tài khoản Facebook có nội dung bị cho là “xấu, độc”, “xuyên tạc”, “kích động”, “xúc phạm” lãnh đạo Đảng (cộng sản) và nhà nước đã bị gỡ bỏ theo yêu cầu của chính phủ.
Tài năng nổi bật của Nguyễn Thanh Lâm là may được một tấm áo ngôn từ mới cho thứ tư duy tuyên giáo mang đậm màu sắc gia trưởng cũ kỹ từ những năm 50-60, và nhờ vậy, giành thêm được sự ủng hộ từ chính những nạn nhân của chế độ kiểm duyệt. Đây là điều gần như không quan chức nào ngày nay làm được.
Trong một thể chế coi kiểm duyệt ngôn luận là một trong những công cụ cai trị chính, đây rõ ràng là một thành tích không tệ chút nào. Năm 2017, các chỉ số tự do ngôn luận của Việt Nam đều xếp cuối bảng xếp hạng cùng với Lào, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.
5. Luật sư

clip_image010
Ảnh: Dân Trí
Không mang một cái tên người cụ thể nào, nhân vật nổi bật trong năm này là một cái nghề, nghề luật sư. 2017 là năm mà nghề luật sư bị tấn công trực diện vào hai nguyên tắc quan trọng bậc nhất của nó.
Thứ nhất, nguyên tắc bảo mật giữa luật sư và thân chủ bị Bộ luật Hình sự mới phá vỡ. Bộ luật Hình sự sửa đổi vào tháng 6/2017, có hiệu lực từ 1/1/2018, ép luật sư phải tố giác hành vi phạm tội của thân chủ trong các vụ án đặc biệt nghiêm trọng và vụ án an ninh quốc gia.
Nguyên tắc đặc quyền luật sư – thân chủ (attorney-client privilege) với tính bảo mật thông tin vốn được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Phá vỡ nguyên tắc này, luật sư và khách hàng không còn cơ sở để tin tưởng và hợp tác với nhau nữa. Cơ quan điều tra, truy tố, xét xử nhờ vậy càng dễ dàng tác nghiệp và lạm quyền hơn.
Thứ hai, nguyên tắc độc lập của nghề luật sư cũng bị tổn tại nghiêm trọng khi vào tháng 11, luật sư Võ An Đôn bị Đoàn Luật sư Phú Yên kỷ luật bằng cách xoá tên khỏi danh sách luật sư. Điều này đồng nghĩa với việc chấm dứt khả năng hành nghề luật sư tranh tụng của ông. Sự kiện này xảy ra chỉ vài ngày trước phiên toà chính trị của nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) mà luật sư Đôn lẽ ra sẽ là một trong những người bào chữa. Trước đó, vào năm 2014, liên ngành tư pháp Phú Yên đã gây sức ép để Đoàn Luật sư Phú Yên thực hiện việc này nhưng không thành.
Một nhát dao đâm vào nghề luật sư là một nhát dao đâm vào niềm tin vào công lý và thể chế pháp quyền. Điều đáng chú ý sau tất cả những nhát dao đó lại là phản ứng yếu ớt và thái độ chia rẽ của giới luật sư, khi không có nhiều nỗ lực đáng kể của họ trong việc bảo vệ những nguyên tắc nghề nghiệp của mình.
6. Trịnh Xuân Thanh

clip_image012
Ảnh: Chưa rõ nguồn
Năm 2017, không có gì đáng kinh ngạc hơn sự kiện Trịnh Xuân Thanh đột nhiên từ Đức về nước và “đầu thú” với cơ quan điều tra vào tháng 7.
Với một người đã dứt bỏ tư cách đảng viên (đảng cộng sản), công khai tuyên bố “không tin vào sự chỉ đạo của đồng chí Tổng bí thư” và đang xin tị nạn ở Đức, ít ai tin Trịnh Xuân Thanh có bất kỳ động cơ nào để về nước “đầu thú” như lời khẳng định của cơ quan điều tra Việt Nam.
Trong khi đó, các cơ quan công tố và ngoại giao Đức liên tục đưa ra cáo buộc rằng nhân viên tình báo và đại sứ quán Việt Nam tại Berlin đã tiến hành bắt cóc Trịnh Xuân Thanh và bí mật đưa về Việt Nam. Một số cán bộ tình báo và ngoại giao Việt Nam tại Đức bị trục xuất, quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước nhanh chóng bị phía Đức đình chỉ.
Vụ án mang màu sắc Hollywood này nằm ngoài mọi dự báo giàu tính tưởng tượng nhất của bất kỳ ai, có lẽ chỉ trừ Trịnh Xuân Thanh (nếu ông thực sự chủ động về nước) hoặc chính phủ Việt Nam (nếu họ thực sự là người đứng sau vụ bắt cóc như phía Đức cáo buộc).
Gia đình và luật sư Việt Nam của Trịnh Xuân Thanh chưa từng lên tiếng trên báo chí hay bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác. Cũng như mọi bị can, bị cáo khác trong chiến dịch “đốt lò” của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, mọi thông tin trên báo chí nhà nước đều theo hướng bất lợi cho ông Thanh.
Không ai ở Việt Nam có cơ hội công khai chất vấn chính phủ Việt Nam về nghi án bắt cóc, về cuộc khủng hoảng ngoại giao với Đức hay về cáo buộc tham nhũng đối với Trịnh Xuân Thanh. Các cơ quan điều tra, ngoại giao và vị lãnh đạo thực tế của họ, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, dường như đứng ngoài mọi sự kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Mọi thông tin cho đến nay có vẻ nghiêng về giả thuyết cơ quan tình báo Việt Nam thực sự đã bắt cóc và mang Trịnh Xuân Thanh từ Đức về Việt Nam. Nếu thực tế đúng là như vậy thì đây sẽ là một vụ án vô tiền khoáng hậu: lần đầu tiên hành vi bắt cóc công dân nhân danh công vụ của chính quyền Việt Nam sẽ bị soi xét bởi một nền tư pháp hạng nhất như của Đức.
7. Trương Hồ Phương Nga

clip_image013
Ảnh: Zing
Dường như mỗi ngày, người Việt Nam chúng ta đều cần một tin vui để khoả lấp cơn bế tắc triền miên trong gần như mọi vấn đề chính trị – xã hội. Cựu hoa hậu Trương Hồ Phương Nga đã mang lại một niềm vui như thế trong phiên toà của chính mình vào tháng 6.
Với tư cách là bị cáo trong một vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản lên tới 16,5 tỷ đồng, trong một xã hội dành nhiều định kiến cho những người đẹp có mối quan hệ với các đại gia, Phương Nga lẽ ra đã ở địa vị bất lợi trong mắt công chúng. Tuy nhiên, màn đối đáp ngang cơ của cô với đại diện Viện Kiểm sát và luật sư của bị hại Cao Toàn Mỹ đã lật ngược toàn bộ thế cờ.
Trong một nền tư pháp bị chính trị thao túng đến tận gốc rễ, một phiên toà hình sự công khai và tranh tụng bình đẳng không phải là thứ dễ tìm như củi nhóm lò. Việc báo chí và mạng xã hội tường thuật trực tiếp phiên toà đã cho Phương Nga một cơ hội bằng vàng để tranh thủ sự ủng hộ của dư luận.
Phương Nga đã không chỉ bảo vệ được mình và giành được lệnh tạm đình chỉ vụ án. Cô còn đi xa hơn thế rất nhiều khi gián tiếp dạy cho công chúng một trong những bài học quan trọng nhất mà một công dân cần học: địa vị ngang hàng của công dân trước chính quyền và quyền im lặng trước các cáo buộc phạm tội.
Không có bài giảng nào ở bất kỳ trường luật nào, hay bài báo nào của bất kỳ chuyên gia pháp lý nào giúp cho công chúng Việt Nam nhận thức được rõ ràng về nhân quyền và dân quyền của mình hơn lời đối đáp trước toà của Phương Nga.
Không ai biết được một công dân có khả năng làm những gì khi họ đã hiểu rõ quyền của mình. Nhân vật tiếp theo sẽ chứng minh điều đó một cách không thể thuyết phục hơn.
8. Tài xế Cai Lậy

clip_image015
Ảnh: Việt Nam Mới
Chưa khi nào trong lịch sử những đồng tiền 100, 200, 500 lại có giá trị cao đến thế. Với những ai theo dõi sát sao vụ tiền lẻ ở BOT Cai Lậy – Tiền Giang, đôi khi chỉ cần một vài cuộc mặc cả của tài xế đòi 100 đồng tiền thừa cũng đủ để BOT phải xả trạm nhiều giờ đồng hồ và thất thu hàng trăm triệu đồng tiền vé. Xa hơn thế, nó đẩy BOT Cai Lậy vào chỗ phải tạm dừng thu phí nhiều tháng trời và đặt ít nhất 8 trong số 88 trạm BOT trên toàn quốc trước một cuộc khủng hoảng mang tính sống còn.
Những người lái xe làm nên cuộc “cách mạng tiền lẻ” này đã thể hiện một tinh thần và chiến thuật phản kháng dân sự mẫu mực trước một vấn đề bất công trong xã hội: nạn thu phí trên đường công sản, mà bản chất là nạn mãi lộ có giấy phép. Bằng một nỗ lực tập thể, với sự sáng tạo và linh hoạt, mềm mỏng mà quyết liệt, họ đã tạo ra một phong trào sạch nước cản, không cho đối phương một cơ hội phản kháng thành công nào.
Phong trào phản kháng ở Cai Lậy thành công được một phần nhờ giải quyết được một bài toán cực khó: “bắt cóc” cả một tuyến đường huyết mạch làm con tin để mặc cả với chính quyền, đặt chính quyền trước một nguy cơ bất ổn thấy được ngay trước mắt, nhưng vẫn giành được sự ủng hộ rộng lớn và gần như tuyệt đối của xã hội. Các tài xế đã tìm được điểm cân bằng hoàn hảo để thuyết phục xã hội chấp nhận tình trạng lưu thông gián đoạn tạm thời ở Quốc lộ 1 để đổi lấy một lợi ích lớn hơn về dài hạn.
Những ai còn giữ tư duy “đấu tranh, tránh đâu”, “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, “con kiến mà kiện củ khoai” hẳn sẽ phải suy nghĩ lại sau cuộc “cách mạng tiền lẻ” này, rằng, nếu thực lòng muốn chống lại bất công, người ta sẽ luôn tìm ra cách. Bằng không, mọi lý lẽ dù hay ho đến đâu cũng chỉ là cách biện minh để né tránh và cam chịu.
9. Phan Kim Khánh

clip_image017
Ảnh: Chưa rõ nguồn
Khi bạn bè cấp tập ra trường và bắt đầu tìm việc làm, sinh viên Phan Kim Khánh đã lĩnh mác tội phạm chính trị với án tù lên đến sáu năm, cộng với bốn năm quản chế.
Khánh bị bắt và bị khởi tố theo Điều 88, Bộ luật Hình sự về tội tuyên truyền chống nhà nước vào tháng Ba và bị kết án vào tháng 10/2017. Ít ai ngờ được Chủ tịch Hội sinh viên Khoa Quan hệ Quốc tế của Đại học Thái Nguyên, MC nổi tiếng của trường và là thành viên của Sáng kiến Lãnh đạo trẻ Đông Nam Á (YSEALI) lại phải chấm dứt sự nghiệp học hành theo cách như vậy.
Khánh bị kết án vì đã lập và điều hành một số tờ báo mạng độc lập, trong đó có báo Tham Nhũng và Tuần Việt Nam. Cậu cũng bị cáo buộc vì liên kết với một số tổ chức “phản động hải ngoại” để chống phá chính quyền.
Trong một bài viết của mình, Khánh nói: “Tôi yêu chính trị. (…) Với tôi làm chính trị đơn giản là san cho con đường của các em nhỏ tới trường được dễ dàng, cho đất cày của bà con nông dân quê tôi được mềm, lúa cấy lên tươi tốt. Đơn giản là cho người với người sống yêu thương nhau...”
Cũng ở lứa tuổi đôi mươi như Khánh, một thanh niên An Nam tên là Nguyễn Tất Thành được cho là đã ra nước ngoài tìm đường cứu nước, còn Trần Phú đã là Tổng bí thư đầu tiên của đảng Cộng sản Đông Dương. Họ mở báo, họ lập hội, họ liên kết với nước ngoài. Không lý lẽ nào có thể giải thích được tại sao những con người này được vinh danh và tạc tượng, còn Phan Kim Khánh lại phải dành phân nửa tuổi trẻ của mình trong tù, như cách thực dân Pháp trước đây đã bỏ tù những người cộng sản?
Khánh chỉ là một trong số khoảng hơn 20 nhà báo độc lập, nhà hoạt động nhân quyền bị bắt và bị kết án trong năm 2017. Kể từ năm 2000 đến nay, đây là năm bị đàn áp khốc liệt nhất của phong trào dân chủ.
Bỏ tù những người như Khánh, đảng cầm quyền gửi đi một thông điệp mạnh mẽ tới toàn dân: họ đã, đang, và sẽ không khoan nhượng với bất kỳ ai hoài nghi về năng lực lãnh đạo và tính chính danh của họ.
10. Nguyễn Phú Trọng

clip_image018
Ảnh: AP
Mọi con đường đều dẫn đến… “Đảng ta”. Nhà lãnh đạo cao nhất của tổ chức “lãnh đạo nhà nước và xã hội” đương nhiên chiếm một vị trí trong danh sách này.
Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng là một người miền Bắc có nền tảng giáo dục nằm trọn vẹn trong mái trường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và Liên Xô. Trước khi trở thành Chủ tịch Quốc hội vào năm 2006, ông dành gần như toàn bộ sự nghiệp của mình cho công tác tư tưởng và lí luận.
Ông là người canh giữ linh hồn của đảng, và là người luôn tỏ ra đau đáu với sự tồn vong của đảng mình: “Nếu để suy thoái, hư hỏng mà mất Đảng, mất chế độ là mất tất cả, bao nhiêu thành quả cách mạng sẽ đổ xuống sông, xuống bể”.
Cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay đã được ông khởi động muộn nhất là vào tháng 1/2012, khi ông ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, hay còn được gọi là Nghị quyết Trung ương 4 về “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
Đến năm 2015, luật chơi có chút thay đổi căn bản: những ai “bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ” thì được miễn án tử hình, chuyển sang hình phạt chung thân. Một cửa sống mở ra cho tội phạm tham nhũng, có thể giúp cuộc chiến bớt căng thẳng hơn. Ý đồ thực sự đằng sau quy định mới này là điều khó đoán định được.
Những pha ghi bàn ngoạn mục của ông kể từ Đại hội 12 đến nay là gì mọi người đều đã rõ, nhưng đó có thực là cuộc chiến chống tham nhũng không?
Có thể nói mà không sợ sai, ông đã đưa vào lò những kẻ tham nhũng thực sự và bóc dần từng khối u mưng mủ mang tên “lợi ích nhóm”. Tuy nhiên, loại bỏ những kẻ tham nhũng không đồng nghĩa với việc loại bỏ cái cơ chế tham nhũng. Người ta có ít nhất hai nghi vấn dành cho ông Trọng.
Thứ nhất, bản thân ông có trong sạch như cách ông luôn tỏ ra ở bên ngoài hay không? Cho đến nay, ông Trọng chưa từng công khai tài sản và thu nhập của chính mình như yêu cầu trong Quyết định số 99-QĐ/TW ngày 3/10/2017 của Ban Bí thư mà ông là một thành viên. Ông từng mô tả “tham nhũng như ngứa ghẻ”, vậy thì công chúng có nghi ngờ ông bị “lây bệnh ghẻ” cũng là một nghi ngờ chính đáng.
Thứ hai, công chúng mới chỉ thấy ông chống cá nhân tham nhũng, chứ chưa chống cái cơ chế đã đẻ ra tham nhũng. Nếu ông thực sự “vở sạch chữ đẹp” và thực lòng chống tham nhũng thì cái cơ chế chống tham nhũng của ông dựa dẫm hoàn toàn vào đạo đức của ông. Công cụ đức trị trên thực tế đã được ông sử dụng thuần thục trong hơn một nhiệm kỳ qua, mà tiêu biểu nhất là Nghị quyết số 04-NQ/TW về 27 biểu hiện suy thoáithuộc ba nhóm tư tưởng – chính trị, đạo đức-lối sống, và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Tuy nhiên, Việt Nam đã có quá nhiều kinh nghiệm đau thương với thể chế đức trị, vốn luôn dẫn đến độc tài và lạm quyền. Cái Việt Nam cần là một thể chế pháp trị/pháp quyền (rule of law), nơi ngay cả người đứng đầu nhà nước cũng phải bị bỏ tù nếu tham nhũng.
Tiếc thay, những cơ chế tối thiểu để chống được tham nhũng thì đã bị cho vào “danh sách đen” trong Nghị quyết số 04 kể trên: đa nguyên, đa đảng; tam quyền phân lập; xã hội dân sự; và phi chính trị hoá quân đội và công an. Mặc dù đây là những cơ chế không hoàn hảo, loài người vẫn chưa nghĩ ra cách nào tốt hơn.
Không chỉ có thế, những người lên tiếng chống tham nhũng như sinh viên Phan Kim Khánh lại bị tống vào tù với những bản án nặng nề.
Chừng ấy biểu hiện không cho phép bất kỳ ai tin rằng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thực lòng chống tham nhũng.

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2018

20180101. BÀN VỀ ĐẤU TRANH PHI BẠO LỰC

ĐIỂM BÁO MẠNG
VÌ SAO NÊN PHI BẠO LỰC ?

PHẠM ĐOAN TRANG/ BVN 29-12-2017

Kết quả hình ảnh cho PHI BẠO LỰC

Không bàn chuyện đạo đức ở đây: Dưới đây là các lý do cực kỳ thực dụng để giải thích vì sao nên phi bạo lực khi chọn cách đấu tranh – theo Srdja Popovic, chuyên gia về đấu tranh phi bạo lực người Serbia.
1. KHẢ NĂNG THÀNH CÔNG CAO HƠN
Lý do thứ nhất, đơn giản là vì theo thống kê, trong tất cả 323 chính biến từ năm 1900 đến năm 2006 trên toàn thế giới, các phong trào phản kháng phi bạo lực có tỷ lệ thắng lợi (hoàn toàn hoặc một phần) cao gần gấp đôi những trận chiến bạo lực: 53% so với 26%.
Popovic trích dẫn thống kê của hai học giả Mỹ, Erica Chenoweth và Maria J. Stephan, và thống kê chỉ tính đến năm 2006. Nếu muộn hơn thì không thể không kể đến những trường hợp bi thảm: Ai Cập, Lybia, Syria. Chế độ độc tài cũ đã bị lật đổ, máu đã chảy, người đã chết, nhưng dân chủ, tự do vẫn không đến với những xứ sở này và không biết bao giờ mới đến.
2. THU HÚT ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI HƠN
Số người tham gia phản kháng phi bạo lực luôn luôn đông hơn hẳn số tham gia vào xung đột vũ trang, kể cả khi đó là những cuộc khởi nghĩa hoàn toàn chính đáng và anh hùng. Đó là bởi vì những người sẵn sàng lên núi hay vào rừng lập chiến khu, chịu đựng đủ mọi gian khổ, tích cóp vũ khí để chiến đấu không thể nào nhiều bằng những người hào hứng góp mặt trong các phong trào hay chiến dịch phản kháng đầy tính sáng tạo, thậm chí hài hước, vui nhộn. Tổn thất tất nhiên là phải có, song ít khi đến mức mất mạng.
Vì vậy, thay vì chỉ có một nhóm nhỏ dùng biện pháp đương đầu trực tiếp, sinh tử, một mất một còn với chế độ độc tài, những người đấu tranh hãy nên tìm cách kéo những người dân bình thường về phía mình, tách khỏi phía kẻ độc tài. Hãy cố gắng để có họ, mà cách đầu tiên là đừng làm họ sợ hãi. Song song với đó, có các hoạt động bào mòn tính chính danh của nhà cầm quyền độc tài, gây hao tổn nguồn lực của chúng, thay vì gài mìn, ném bom xăng, v.v.
3. TẠO ĐIỀU KIỆN CHO DÂN CHỦ
Đây sẽ là một lý do cực kỳ thuyết phục: Tại các nước thay đổi nhờ phản kháng ôn hòa, phi bạo lực, có tới 40% xác suất họ xây dựng hoặc duy trì được một nền dân chủ sau 5 năm. Với các nước thay đổi nhờ đấu tranh vũ trang, xác suất xác lập được dân chủ sau 5 năm chỉ là 5%.
Các nước chuyển đổi ôn hòa thì có 28% khả năng rơi vào nội chiến sau một thập kỷ. Với những nước lỡ chọn hoặc chẳng may phải chọn con đường đấu tranh vũ trang, sử dụng bạo lực để lật đổ độc tài, thì khả năng đó lên tới 43%.
Có nghĩa là, nếu chúng ta muốn xây dựng một nền dân chủ ổn vững sau khi lật đổ ách độc tài, thì rất, rất nên kiên trì với đường lối đấu tranh phi bạo lực, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, sao cho ai cũng cảm thấy họ là một phần của sự thay đổi, họ tạo nên sự thay đổi. Thay đổi xã hội không thể là cuộc chơi chỉ của một nhóm nhỏ, càng không thể là trò đảo chính cung đình của một phe phái nào đó trong chế độ nhằm cướp quyền lực về tay mình và mặc xác dân chúng.
Nói theo ngôn ngữ thời thượng là, chúng ta cần những cuộc cách mạng nhân dân, cách mạng quần chúng, chứ không cần những đảo chính cung đình trong đó người dân bị gạt ra rìa cuộc chơi quyền lực.
4. “OAN OAN TƯƠNG BÁO, BAO GIỜ MỚI DỨT?”
Một lý do nữa để không nên theo đuổi đường lối bạo lực, là việc bạo lực chắc chắn sẽ kéo theo bạo lực, tạo thành một cái vòng luẩn quẩn và tới lúc đó thì rất khó phân biệt đâu là tấn công, đâu là tự vệ chính đáng, cũng như rất khó xác định được bên nào là bên chính nghĩa.
Thế giới văn minh – lực lượng lớn nhất ủng hộ cho dân chủ và nhân quyền – cũng không ủng hộ bạo lực. Nói chung, đã qua rồi cái thời một nhóm người lên núi lập chiến khu, dùng súng đạn tiêu diệt quân thù trên chiến trường hay gài mìn đánh bom giết chúng ở “vùng tạm chiếm”. Cứ cho là mục đích chính đáng, hành động ấy vẫn có thể bị coi là khủng bố, nhất là nếu thiệt hại mà nó gây ra lan cả đến những dân thường vô tội.
Trong nhiều trường hợp, bạo lực đẻ ra bạo lực, khiến cuối cùng chẳng còn biết chính nghĩa thuộc về ai. Syria là một ví dụ: Đến giờ thì cộng đồng quốc tế, trong đó có cả chúng ta ở Việt Nam, chẳng hiểu vấn đề nằm ở đâu và nên ủng hộ ai nữa.
Vì thế, khi đi vận động quốc tế, nhất thiết bạn phải thể hiện rõ chủ trương thay đổi ôn hòa, phi bạo lực, nếu không sẽ chỉ phản tác dụng.
* * *
NHƯNG TÔN TRỌNG NHỮNG NGƯỜI CHỦ TRƯƠNG “NỢ MÁU TRẢ BẰNG MÁU”
Như trên đã nói, thế giới văn minh không ủng hộ bạo lực; cái thời làm cách mạng bằng vũ khí đã qua. Như vậy có nghĩa là cũng đã có những thời kỳ mà bạo lực, sức mạnh, đấu tranh vũ trang là một con đường đúng đắn.
Và vì thế, chúng ta có thể hiểu được thế hệ những con người đã ở lại Việt Nam sau năm 1975 để chiến đấu tới cùng chống cộng sản, chứ không tìm đường đào thoát ra nước ngoài. Những người đã vượt biên trở về nước cho những trận chiến mà họ biết là gần như vô vọng, chiến thắng là không thể, chỉ mong gây một tiếng vang nhằm thức tỉnh đồng bào. Những người đã chấp nhận hy sinh tuổi xuân, tự do và cả sinh mạng của họ để chiến đấu trực tiếp với độc tài.
Họ có thể thất bại, đường lối đấu tranh của họ có thể không còn hợp thời. Nhưng họ xứng đáng được tôn trọng, lòng can đảm của họ xứng đáng được tôn vinh, bởi họ dám sống và dám chết cho lý tưởng dân chủ tự do của mình.
Ý thức được rằng thời nay là thời của đấu tranh ôn hòa, phi bạo lực, chúng ta cũng không nên quên rằng có những lúc, bạo lực là không thể tránh khỏi. Lại có nhiều khi, đó chính là ý đồ của kẻ cầm quyền. Thường xuyên, chính lực lượng an ninh mới là bên khiêu khích và châm ngòi cho bạo lực, để làm mất tính chính danh, chính nghĩa của những người đấu tranh.
Thật khó có cách đối phó thống nhất trong những trường hợp đó; tuy vậy, bạn có thể coi việc sử dụng bạo lực như một chiến thuật, nghĩa là chỉ sử dụng ngắn hạn, tức thời, tùy hoàn cảnh cụ thể, và nhất là: MỤC TIÊU PHẢI CỤ THỂ, CÓ GIỚI HẠN, VÀ CHỈ NHẰM VÀO MỤC TIÊU ĐÓ THÔI, KHÔNG ĐỂ LIÊN LỤY NGƯỜI KHÁC, ĐẶC BIỆT LÀ DÂN THƯỜNG.
Hy sinh dù chỉ một người dân để trừ khử một kẻ ác cầm quyền cũng là tội ác.
P.Đ.T.

TIẾP NỐI PHẠM ĐOAN TRANG

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 30-12-2017
Ngày 29/12 Bauxite Việt Nam đăng bài “Vì sao nên phi bạo lực” của Phạm Đoan Trang. Tác giả nêu ra 4 lý do: 1- Khả năng thành công cao hơn; 2-Thu hút được nhiều người hơn; 3- Tạo điều kiện cho dân chủ; 4- Oan oan tương báo bao giờ mới hết.
Tôi tán thành các ý kiến của Phạm Đoan Trang. Chỉ xin bổ sung vài ý kiến rút ra từ thực tế cuộc đấu tranh bạo lực của dân Việt Nam trong mấy chục năm của thế kỷ 20, đó là những hậu quả tai hại của “bên thắng cuộc” phải gánh chịu sau chiến thắng.
1- Các gia đình chính sách. Đó là các gia đình thương binh, liệt sĩ, những người có công, những bà mẹ anh hùng, những lão thành cách mạng, những cán bộ tiền khởi, những nạn nhân chất độc… Họ được ưu đãi hoặc được trợ cấp là đúng. Nhưng sự ưu đãi này ngốn của ngân sách một khoản không nhỏ. Nếu đấu tranh phi bạo lực có thể tránh được phần lớn khoản này, tập trung nguồn vốn cho phát triển kinh tế, văn hóa. Đó là chưa nói đến một số không ít dựa vào sự ưu đãi này để gian dối, trục lợi.
2- Thói quen xấu từ bạo lực. Trong chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh du kích thường phải dùng đến những dối trá, những mưu mô để lừa địch. Người ta ca ngợi những việc làm đó, xem như là khôn khéo, thông minh. Dần dần những thứ đó nhiễm vào, tạo thành nhận thức và tính cách của một số người.
3- Tạo thành lực lượng kiêu binh. Đó là một số người có nhiều chiến công trong bạo lực hoặc chiếm được vị trí cao trong tổ chức. Họ kể công và đòi quyền lợi. Nếu không đủ quyền lợi vật chất thì phải cho họ chức vụ và quyền lực trong các ngạch dân sự. Nhưng số người vừa có tài trong chiến trận vừa có tài trong dân sự là khá hiếm. Phần nhiều trong số họ vì cậy công và không có trình độ tương xứng mà trở thành những kẻ ngăn cản sự phát triển của xã hội. Khi họ dùng những mưu lược lừa địch và cách chỉ huy trong chiến trận để quản lý dân sự thì càng nguy. Những người như vậy làm cho chính quyền nát bét và thích cai trị độc tài. Ngoài những cá nhân thì còn những tổ chức kiêu binh. Vụ quân đội chiếm đất dự trữ của sân bay Tân Sơn Nhất để chia nhau làm nhà và làm sân gôn là một thí dụ, tạo nên sự thiệt hại rất lớn cho đất nước.
4- Thiệt hại về trí tuệ. Chiến tranh, nhiều người chết, nhiều công trình bị phá hủy, thiệt hại đó là rõ ràng, nhưng thiệt hại về trí tuệ ít thấy được. Đó là trong số những người đã hy sinh, họ đều là những người con ưu tú của dân tộc, có không ít những người có trí tuệ cao về các lĩnh vực.
5- Tốn kém cho kỷ niệm. Chiến tranh càng dài, càng khốc liệt sẽ tạo ra nhiều anh hùng, nhiều kỳ tích. Cần xây nhiều tượng đài, nhiều công trình kỷ niệm, nhiều buổi lễ cho những con người và sự kiện như vậy. Khi đất nước giàu có thì không sao, nhưng khi còn khó khăn, cứ cố làm rồi để con cháu phải trả nợ thì cũng khổ cho chúng nó.
Có vài ý kiến, gọi là tiếp nối, mong làm phong phú các khía cạnh của một vấn đề. Xin cám ơn bạn Phạm Đoan Trang đã viết bài để tôi có dịp “tát nước theo mưa”.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN