Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

20171203. KHÍ THẢI LUYỆN THÉP FORMOSA CÓ AN TOÀN CHO MÔI TRƯỜNG ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
TỪ VIỆC CHO PHÉP XẢ KHÍ THẢI CỦA FORMOSA-NHÌN LẠI LỖI HỆ THỐNG

TÔ VĂN TRƯỜNG/ BVN 2-12-2017

clip_image001
Formosa Hà Tĩnh
Công luận vẫn còn nhớ ông Nguyễn Văn An nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Trưởng ban tổ chức Trung ương, năm 2010 khi trò chuyện với Tuần Việt Nam - VNN góp ý cho việc chuẩn bị đại hội Đảng khóa XI, ông đã thẳng thắn phân tích xung quanh vấn đề lỗi hệ thống. Người dân thì hiểu thực chất là hệ thống này được thiết kế và thi công dựa trên nguyên lý sai, nên phải được xây dựng lại từ nền móng.
Như vậy, cái lỗi của hệ thống tức lỗi lớn từ thượng tầng kiến trúc đã lộ diện nhưng chủ thể không thừa nhận, nên theo quy luật nó, có cơ hội tồn tại và phát sinh nhiều thứ lỗi khác. Một trong các lỗi đó là lỗi do sự thiếu chặt chẽ hiểu biết đầy đủ một cách hệ thống về chuyên môn thường gặp trong các văn bản của các cơ quan nhà nước khiến dư luận phải phản ứng quyết liệt vì mỗi năm có đến hàng trăm văn bản trái luật (Báo Tuổi trẻ ngày 29/11/2017 “Đầy rẫy văn bản vi phạm luật”). Không chỉ ở lĩnh vực lập quy mà ngay cả lĩnh vực lập pháp cũng sai lầm, điển hình như bộ luật hình sự 2015 đã được Quốc hội thông qua, phải tạm hoãn thi hành vì có đến hàng trăm lỗi phải sửa lại.
Gần đây, công luận lại nói về Bộ TN&MT "đặc cách" cho Formosa xả thải vượt chuẩn "hàm lượng oxy tham chiếu" rồi mang Bộ TNMT ra réo và xỉ vả. Vấn đề Formosa không chỉ là lỗi riêng của Bộ TNMT mà gốc rễ của nó là lỗi hệ thống từ giai đoạn cho phép đầu tư. Vụ bauxite Tây Nguyên cũng vậy, sai lầm từ khâu cho phép đầu tư vì đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Trường hợp vụ sửa QCVN 51 gần đây về "hàm lượng oxy tham chiếu" liên quan với Formosa muốn giải thích có lý, có tình thì phải dẫn chiếu các luận cứ khoa học và thực tiễn chặt chẽ để chứng minh ý kiến của Bộ Công thương và Hiệp hội thép cho phép với lò thiêu kết của ngành công nghiệp thép được áp dụng hàm lượng oxy không khí dư (tham chiếu) trong khói thải 15% là đúng đắn.
Luận giải
Thông thường QCVN mới thắt chặt quy định hơn so với QCVN cũ, đằng này QCVN 51:2013 đã quy định tất cả các cơ sở từ 2015 phải áp dụng hàm lượng oxy tham chiếu là 7%, tức là ngặt nghèo (chặt) hơn rồi. Chưa kể trong dự thảo QCVN 51 (phiên bản 2017) sửa đổi trùng khớp một cách đáng ngờ với lộ trình lắp đặt các công trình xử lý khí thải của Formosa, cho nên cộng đồng dị nghị, phê phán cũng không có gì lạ! Trước đây, tôi đã viết bài phân tích về “Mổ xẻ lỗi thứ 53 của Formosa”.
Bộ TNMT với "truyền thống sai đâu sửa đấy" chạy theo phản biện của dư luận sẽ không có cách giải thích nào thuyết phục vì khi xây dựng các văn bản pháp quy (bao gồm cả các QCVN) đã không cân nhắc nghiêm túc đúng như trách nhiệm đáng ra phải làm, mà chỉ thực hiện theo kiểu “hoàn thành đối phó” lệnh chỉ đạo của cấp trên.
Đứng về góc độ khoa học, không riêng gì QCVN 51 đối với khí thải công nghiệp sản xuất thép mà cả QCVN 22:2009 đối với khí thải công nghiệp nhiệt điện, QCVN 30:2010 về khí thải là đốt chất thải công nghiệp cũng có quy định về nồng độ oxy dư trong khí thải. Nhưng QCVN 19:2009 thì lại không có quy định về nồng độ oxy dư khí thải. Điều này đang thể hiện sự chưa nhất quán về phương pháp xác định phát thải của Bộ TNMT.
Các chất phát thải được đánh giá bao gồm CO; SOx; NOx; bụi; cadmi (Cd); đồng (Cu); chì (Pb); kẽm (Zn); antimoan (Sb); tổng chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC); dioxin/furan được tính theo đơn vị mg/Nm3 nghĩa là số mg chất thải trong 1 m3 tiêu chuẩn của khói thải. Như vậy, cùng một lượng mg phát thải thì nếu khối lượng khói thải lớn hơn ta sẽ có hàm lượng đo được nhỏ đi nếu ta đo bằng thiết bị đo thông thường.
Quá trình cháy nhiên liệu luôn cần không khí để cung cấp oxy cho phản ứng cháy là phản ứng oxy hóa các thành phần cháy được mà chủ yếu là carbon (C) và hydro (H), lưu huỳnh (S) để tạo ra CO2; H2O và SOx. Nếu quá trình cháy là hoàn toàn và tối ưu như lý thuyết thì sản phẩm cháy (khói) sẽ có nồng độ oxy là 0%. Tuy nhiên, quá trình cháy không thể lý tưởng như lý thuyết nên quá trình cháy vẫn cần một lượng không khí thừa dẫn đến hàm lượng oxy trong khói thải lớn hơn 0%.
Hàm lượng oxy khói thải càng lớn thì quá trình cháy càng kém hiệu quả nhưng nó lại có thêm khí để cho nồng độ phát thải giảm đi một lượng đáng kể. Bởi lẽ đó, nhiều nơi người ta có đường bí mật hòa trộn thêm không khí vào phần khói thoát ra để khi đưa thiết bị đo vào ống khói, hàm lượng chất thải đo được sẽ nhỏ hơn hàm lượng phát thải thật. Trong tình hình đó, một số tiêu chuẩn đặt ra nồng độ oxy tham chiếu để quy mọi nồng độ phát thải đo được vào cùng một trị số không khí thừa. Nồng độ oxy tham chiếu càng thấp thì tiêu chuẩn càng khắt khe.

clip_image003
Sơ đồ quá trình thiêu kết
Zone 1: Burning-off lubricants, Zone 2: Sintering, Zone 3: Re-carbonizing, Zone 4: Cooling, G: Gas inlet, S: Smoke and gas outlet.
Nguyên liệu để thiêu kết-quặng, kể cả bùn chứa sắt như bùn đỏ từ nhà máy alumina đi vào từ phía phải qua các khu vực sau:
Zone 1: Tại đây đây các chất dầu mỡ bị đốt khử ở nhiệt độ khoảng 600-700oC. Đây là nhiệt dư thừa từ khí thải của quá trình thiêu kết.
Zone 2: Tại đây xảy ra quá trình thiêu kết ở nhiệt độ tới 1200oC, sắt sẽ chảy và dính thành cục, thành hòn, thành mảnh.
Zone 3: Tái hóa các bon (re-carbonizing) ở nhiệt độ 850oC.
G: Lối khí đốt và cả khí ô xy vào,
S: Khói và khí thải ra.
Kiểm tra công thức tính nồng độ
Trong công thức tính nồng độ thực này sẽ có mặt của thông số "hàm lượng oxy tham chiếu trong khí thải" (tức là nồng độ oxy dư trong khí thải) quy định trong các QCVN tương ứng.
Theo quy định của Thông tư 24/2017/TT-BTNMT quy định kỹ thuật quan trắc môi trường, mục V của Phụ lục 6 về tính toán kết quả khi sử dụng thiết bị đo trực tiếp thì:
clip_image005
Trong đó:
Cstd: nồng độ chất ô nhiễm tại giá trị nồng độ ôxy tham chiếu, mg/Nm3
Cm: nồng độ chất ô nhiễm tại giá trị nồng độ ôxy đo được, mg/Nm3
%O2(std): nồng độ oxy tham chiếu cho phép (theo quy định của pháp luật)
%O2(m): nồng độ oxy đo được tại hiện trường.
Theo công thức này thì hàm lượng (nồng độ) oxy tham chiếu càng nhỏ, giá trị nồng độ chất ô nhiễm thực sẽ càng lớn, tức là càng vượt giới hạn quy định trong QCVN.
Để minh chứng, tôi áp dụng tính thử ví dụ cụ thể như sau:
Tiêu chuẩn cho phép với nồng độ NOx của lò thiêu kết là 850 mg/Nm3 theo cột B1 của tiêu chuẩn được áp dụng kể từ ngày 1/1/2015 còn các cơ sở sản xuất thép đầu tư mới sau khi phát hành tiêu chuẩn thì phải áp dụng cột B2, nồng độ cho phép còn thấp hơn.
Nồng độ oxy thực trong khói thải của lò thiêu kết là 5%.
Hàm lượng NOx đo được thực là 1040,363 mg/Nm3.
Với giá trị nồng độ tham chiếu oxy là 7% ta sẽ tính được hàm lượng NOx là 909,5 mg/Nm3, cao hơn tiêu chuẩn 1,07 lần.
Với nồng độ oxy tham chiếu là 15% thì hàm lượng NOx tính toán được chỉ còn là 386,05 mg/Nm3 thấp hơn nhiều tiêu chuẩn cho phép.
Formosa là một doanh nghiệp sản xuất thép rất lớn nên lưu lượng khói thải chắc chắn là cao hơn 100.000 m3/giờ. Trong trường hợp đó hệ số lưu lượng nguồn thải Kp sẽ là con số 0,8 tức là yêu cầu khá chặt chẽ. Tuy nhiên, bằng chiêu nâng nồng độ oxy tham chiếu lên gấp đôi, doanh nghiệp có thể xả thải ra bầu khí quyển của chúng ta một cách thoải mái mà không lo bị cảnh sát môi trường làm khó dễ.
Theo tôi hiểu lỗi của Bộ TNMT ngay từ đầu đã không nghiên cứu cẩn thận khi dự thảo QCVN 51:2017. Nhìn chung, thì tiêu chuẩn sau thường chặt hơn tiêu chuẩn trước, nay vì sự thiếu chặt chẽ chuyên môn văn bản mới lại cho thấy tiêu chuẩn sau nới rộng quá lớn như vậy so với tiêu chuẩn trước thì công luận làm sao không thắc mắc và cơ quan ra văn bản lại phải mất công giải trình, giải thích mà vẫn mất uy tín.
Là một cơ sở sản xuất lớn, lượng phát thải của Formosa cũng rất lớn, con số tuyệt đối về phát thải cũng lớn trong một khu vực quan trọng của đất nước. Ở đây, lượng phát thải vượt tiêu chuẩn của Formosa là SOx và NOx. Các phát thải này là có khả năng tạo thành mưa axit trên diện rộng về lâu dài.
Lời kết
Việc thay đổi nồng độ oxy tham chiếu từ 7% lên 15% tạo ra sự thay đổi rất lớn có thể nhanh chóng biến một doanh nghiệp có phát thải gấp 2,5 lần tiêu chuẩn trở thành phát thải dưới quy chuẩn. QCVN 51 mới với hàm lượng oxy tham chiếu cho công nghiệp thép (trừ lò cốc) là 15% đặc biệt là lò thiêu kết, khi đi vào hoạt động chính thức thì có khả năng phát thải nhiều chất độc hại vượt giới hạn quy định cho phép, không chỉ riêng NOx và SOx.
Dư luận đòi hỏi Bộ TNMT lập hội đồng khoa học đánh giá minh bạch tính hợp lý nồng độ oxy tham chiếu trong quy chuẩn quốc gia, tham khảo quy chuẩn của quốc tế nhằm có được phương pháp tính nhất quán phù hợp đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và những hậu quả lâu dài cho đất nước, con người Việt Nam. Đặc biệt tải lượng phát thải khi Formosa đi vào hoạt động đủ công suất cũng cần được đánh giá lại một cách khách quan và thực tế nhằm xác định và kiểm soát hữu hiệu những tác động lâu dài đối với môi trường khu vực.
T.V.T.
Tác giả gửi BVN

SỞ TÀI NGUYÊN HÀ TĨNH PHẢN ỨNG BỘ TÀI NGUYÊN VỀ VỤ FORMOSA: NỘI BỘ ĐÁNH NHAU ?

THIỀN LÂM / CALITODAY/ BVN 4-12-2017


Vietnam – Cali Today news – Phải gần hai năm sau khi xảy ra vụ xải thải gây thảm họa môi trường biển chưa từng có ở Việt Nam, mới xuất hiện một văn bản đầu tiên có vẻ mang tính trung thực từ một cơ quan chức năng: Sở Tài nguyên và Môi trường (TNMT) tỉnh Hà Tĩnh – được ký bởi quan chức Phan Lam Sơn – Phó Giám đốc Sở TNMT.
Văn bản trên nhấn mạnh: “Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh thấy rằng Công ty Formosa đang sử dụng các loại nguyên liệu đầu vào như hiện nay nhưng khí thải tại lò thiêu kết có nhiều thời điểm vượt quy chuẩn như đã nêu trên, do đó trường hợp công ty Formosa tái sử dụng các loại bùn, bụi mà chưa đầu tư hệ thống khử Lưu huỳnh, Nitơ, Dioxin (theo báo cáo của Formosa dự kiến đến năm 2020 mới thi công xong), thì việc xử lý khí thải tại xưởng thiêu kết sẽ không đảm bảo theo QCVN 51:2013/BTNMT”.
Ông Phan Lam Sơn cũng nêu: “Gần đây, theo kết quả quan trắc khí thải hàng ngày của Viện Công nghệ Môi trường (đơn vị được Bộ Tài nguyên và Môi trường giao thực hiện giám sát môi trường Dự án Formosa), tại xưởng thiêu kết cho thấy: Tại cột kết quả phân tích có đưa ra 2 giá trị kết quả đo khí thải lò thiêu kết, trong đó một cột kết quả tính toán theo hàm lượng oxy tham chiếu là 7% và một cột kết quả tính toán theo hàm lượng oxy tham chiếu là 15%.
clip_image002
Văn bản của Sở TNMT gửi đi khác hẳn với những gì Tổng cục môi trường Bộ TNMT loan báo. Ảnh: Motthegioi.vn
Nội dung chính trong văn bản trên của Sở TNMT tỉnh Hà Tĩnh là hoàn toàn trái ngược với một thông báo của Tổng cục môi trường của Bộ TNMT, trong đó có đoạn: “Trong quá trình nâng công suất sản xuất để kiểm tra, đánh giá toàn diện hiệu quả của các thiết bị xử lý khí thải, tại một số thời điểm cục bộ, chỉ có thông số SO2 và một vài lần thông số NOx đo được cao hơn so với quy chuẩn Việt Nam. Việc để thông số SO2, NOx một vài lần vượt quy chuẩn tại một số thời điểm là để tính toán nâng công suất xử lý của hệ thống xử lý khí thải”.
Tổng cục môi trường được phụ trách bởi quan chức Bùi Cách Tuyến, từng là thứ trưởng Bộ TNMT. Gần đây, báo chí bất chợt phản ánh Formosa được ông Bùi Cách Tuyến đặc cách cho xả khí thải vượt quy chuẩn 2013 mà Việt Nam đã quy định rất chặt chẽ, và hiện thời Tổng cục môi trường đang sửa quy chuẩn 2013 để Formosa hưởng lợi từ nâng thông số phát thải tham chiếu oxy 7% lên 15%.
Ông Bùi Cách Tuyến cũng đang bị một số trang mạng xã hội không định danh và sau đó là một số tờ báo nhà nước phanh phui khu “biệt phủ” của ông ở Quận 9, Sài Gòn mà ông cho con gái mình đứng tên.
Cần nhắc lại, sau khi nổ ra quá nhiều bức xúc của dư luận xã hội, Bộ TNMT đã phải xác định  Formosa Hà Tĩnh vi phạm 53 lỗi, nhưng đã khắc phục 52 lỗi. Riêng lỗi cốt tử là tự động thay đổi công nghệ dập khô sang ướt, phá bỏ cam kết đầu tư ban đầu, thì phải đến năm 2019 hoặc 2020 mới khắc phục xong. Trong khi lỗi cốt tử này còn đang trong vòng lập lờ, mới đây Tổng cục môi trường lại tiếp tục sửa quy chuẩn Việt Nam để ưu ái cho Formosa.
Vụ xả thải khủng khiếp của Formosa bị “hồi tố” vào tháng 11/2017 và quy trách nhiệm cho Bộ TNMT đang dần trở thành một chủ đề nóng bỏng không chỉ trong dư luận xã hội mà còn mang màu sắc “chính trị nội bộ”.
Dấu hỏi rất lớn là tại sao cho đến ngày 6/11/2017, tức sau gần hai năm kể từ khi phát hiện hậu quả vụ xả thải của Formosa, Sở TNMT Hà Tĩnh mới phát đi văn bản gửi Bộ TNMT đề nghị xem xét, chỉ đạo việc Formosa Hà Tĩnh đang xả khí thải vượt ngưỡng QCVN 51:2013, mà không phải là trước đó – khi hàng loạt cuộc biểu tình của giáo dân và ngư dân miền Trung liên tiếp nổ ra đòi hỏi chính quyền phải minh bạch trách nhiệm cơ quan cấp phép xả thải, bao gồm Bộ TNMT và Sở TNMT Hà Tĩnh cũng như giới quan chức lãnh đạo Hà Tĩnh.
Cho tới nay, biển miền Trung đã gần như “chết”, tàu cá của ngư dân nằm treo bất động, không thể đi biển vì chẳng còn cá sạch để đánh bắt, mà có đánh bắt thì cũng chẳng bán được. Đời sống rất nhiều gia đình ngư dân cũng bởi thế đã trở nên khốn đốn, dự trữ cạn dần.
Trong khi đó, nhiều gia đình ngư dân phản ánh họ vẫn chỉ nhận được rất ít hoặc chưa nhận được số tiền bồi thường mà chính phủ đã hứa với họ. Con số 500 triệu USD mà Formosa đã thực chuyển vào tài khoản của Bộ TNMT để bồi thường cho ngư dân Việt Nam – theo một thỏa thuận bí mật giữa Formosa và chính phủ Nguyễn Xuân Phúc mà không thèm tham khảo ý kến người dân – đã bị bộ này “ngâm” trong một thời gian quá dài mà không thể hiểu khác hơn là Bộ TNMT đã cố ý làm thế để hưởng lãi đến vài ba trăm tỷ đồng từ số tiền “mượn ngư dân” đó.
“Để lâu cứt trâu hóa bùn” – những hậu quả khủng khiếp của nạn xả thải Formosa đã trôi dần vào dĩ vãng, trong khi một trong những nhân vật bị xem là “tội phạm bảo kê cho Formosa” – quan chức Võ Kim Cự, cựu bí thư Hà Tĩnh – có vẻ đã được Tổng bí thư Trọng che chắn để cuối cùng ông Cự không phải chịu bất kỳ một trách nhiệm hình sự nào.
Vậy tại sao mãi đến lúc này Sở TNMT Hà Tĩnh mới phát văn bản phản đối Bộ TNMT về vụ Formosa?
Sở TNMT lại nằm dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, sẽ khó có chuyện sở này tự phát văn bản phản ứng Bộ TNMT mà không được chấp thuận bởi lãnh đạo tỉnh.
Còn có một dấu hiệu “lạ” khác: không biết bằng cách nào, văn bản trên của Sở TNMT Hà Tĩnh đã đến tay nhiều tờ báo nhà nước. Một số tờ báo đã bắt đầu lên tiếng về vụ việc này.
Một dấu hỏi rất lớn nữa đang hình thành: phải chăng các cơ quan chức năng chính quyền chỉ buộc phải làm rõ và đẩy trách nhiệm cho nhau trong bối cảnh cuộc chiến giữa các phe phái trong nội bộ đảng đang có dấu hiệu tái khởi động, còn trước đây khi dân kêu cứu hoặc đòi hỏi làm rõ thì không một cơ quan nào thèm quan tâm?
Một số dư luận cũng một lần nữa đang đề cập đến vai trò và trách nhiệm của ông Hoàng Trung Hải – hiện là ủy viên bộ chính trị, bí thư Hà Nội, từng là phó thủ tướng “phụ trách Formosa”…
Rồi đây, có thể sẽ có vài ba quan chức nào đó bị “lên thớt” do trách nhiệm cấp phép và liên đới với Formosa. Nhưng dân tình thì chẳng có gì đáng vui mừng về chuyện đó: trong thực tế đã có quá nhiều vụ việc chứng minh vụ việc chỉ bị tung tóe khi nội bộ đảng ẩu đả lẫn nhau.
T.L.

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

20171202. NHÀ NƯỚC NÊN TĂNG HAY GIẢM CHI CHO GIÁO DỤC?

ĐIỂM BÁO MẠNG
GIÁO DỤC- 'BÚ TÍ' MÃI BAO GIỜ MỚI LỚN ?

XUÂN DƯƠNG/ GDVN 1-12-2017

Trong bài “Bộ Giáo dục muốn tăng lương nhà giáo thì phải làm được những việc dưới đây” [1] người viết nêu ý tưởng về xã hội hóa giáo dục qua một ví dụ cụ thể là xóa bỏ các Trung tâm giáo dục thường xuyên tại hơn 700 quận huyện cả nước.
Bên cạnh ý kiến ủng hộ, một số bạn bè tâm huyết gửi thư nói thẳng: “Ông nêu ý tưởng ấy là dồn gánh nặng lên vai người dân bởi học sinh ngoài công lập phải đóng học phí rất cao”.
Xin được thông qua bài viết này để trả lời câu hỏi, có thật xã hội hóa giáo dục là dồn gánh nặng lên vai người dân?
Mong muốn của người viết không chỉ là với cấp trung học phổ thông mà tất cả các cấp, từ mầm non đến đại học.
Vậy điều này có mâu thuẫn gì với chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến tới miễn học phí cả cấp trung học cơ sở?
Nhận xét sau đây có thể chỉ là suy nghĩ cá nhân nhưng xuất phát từ kinh nghiệm suốt chặng đường hơn 40 năm đi dạy:
“Hình như lãnh đạo ngành Giáo dục qua các thời kỳ đều chưa thoát khỏi tư tưởng bao cấp, nói đến giáo dục là nói đến ngân sách.
Không ít người cho rằng giáo dục không thể phát triển nếu không được “chu cấp” đầy đủ”?
Khoản 1 Điều 105 Luật Giáo dục hiện hành quy định:
“Học phí, lệ phí tuyển sinh là khoản tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục.
Học sinh tiểu học trường công lập không phải đóng học phí.
Ngoài học phí và lệ phí tuyển sinh, người học hoặc gia đình người học không phải đóng góp khoản tiền nào khác”.
Thực tế hiện nay, đối với học sinh tiểu học công lập, cứ đầu năm học là đầy rẫy các khoản thu dưới chiêu bài tự nguyện mà cha mẹ học sinh buộc phải chấp nhận, có nơi số tiền phải nộp lên đến cả chục triệu đồng.
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017:
“Các trường khai giảng vào ngày 5/9/2016. Kết thúc học kỳ II (hoàn thành kế hoạch giảng dạy và học tập) trước ngày 25/5/2017. Kết thúc năm học trước ngày 31/5/2017”.
Như vậy một năm học diễn ra trong gần 9 tháng, với số tiền phải nộp mà báo chí đề cập, chia bình quân mỗi tháng phụ huynh phải “tự nguyện” đóng góp trên dưới một triệu đồng.
Số tiền này không khác mấy so với học phí phải đóng cho trường ngoài công lập.
Rõ ràng là nếu cho con em học trường tư thục hoặc dân lập, các khoản đóng góp không chênh lệch nhiều so với công lập trong khi phụ huynh có toàn quyền chọn trường cho con em mà không phải “chạy” vì trái tuyến;
Họ có quyền đề nghị thay giáo viên nếu chất lượng giảng dạy không đảm bảo và quan trọng là không phải “tự nguyện” đóng góp nếu thấy bất hợp lý mà không sợ con em bị “ảnh hưởng”.
Xu hướng của cư dân tại các thành phố, thị xã, thị trấn là chọn trường chất lượng cao cho con em chứ không phải là trường học phí thấp.
Trong hoàn cảnh ngân sách còn hạn hẹp, việc xã hội hóa ngay từ cấp tiểu học tại các địa bàn nói trên sẽ tạo điều kiện tập trung đầu tư cho vùng sâu, vùng xa và nâng cao thu nhập cho nhà giáo.
Đối với các Trung tâm giáo dục thường xuyên, việc duy trì các trung tâm này tạo nên nhiều hệ lụy cả về chất lượng đào tạo lẫn ngân sách nhà nước:
Báo Nld.com.vn viết: “Kinh phí xây mới cho một trung tâm là 10,8 tỉ đồng. Riêng Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Nhà Bè được duyệt 16 tỉ đồng để xây một trung tâm đa chức năng gồm dạy bổ túc văn hóa, hướng nghiệp nghề, dạy ngoại ngữ - tin học”. [2]
Giả thiết tất cả hơn 700 đơn vị hành chính cấp huyện đều có Trung tâm giáo dục thường xuyên và giả thiết mức đầu tư cho mỗi trung tâm là 10 tỷ đồng thì nguồn vốn ngân sách phải đầu tư không dưới 7.000 tỷ đồng.
Mỗi Trung tâm giáo dục thường xuyên đều có Giám đốc, Phó Giám đốc, kế toán, văn thư, giáo viên và giả thiết mỗi trung tâm bình quân có 10 biên chế thì số viên chức, công chức tại đây sẽ vào khoảng 7.000 người.
Vậy sẽ mất bao nhiêu tiền trả lương cho đội ngũ này?
Cứ cho lương bình quân là 5 triệu đồng một người một tháng thì ít nhất mỗi năm ngân sách phải bỏ ra hơn 400 tỷ đồng để trả lương.
Trong khi phải đầu tư một nguồn kinh phí rất lớn như vậy thì chất lượng đào tạo tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên ra sao?
Báo Nhandan.com.vn viết: "không ít học sinh hệ giáo dục thường xuyên cho rằng, để vượt qua được kỳ thi “hai trong một” này là điều không dễ dàng vì lượng kiến thức của các em quá “mỏng” trong khi đó lại thi chung đề với học sinh trung học phổ thông…
Khác học sinh trung học phổ thông, phần lớn học sinh hệ giáo dục thường xuyên vừa đi học, vừa đi làm”. [3]
“Lượng kiến thức của các em quá “mỏng” là lỗi chủ yếu của người học hay cũng còn do chất lượng giảng dạy?
Mặt khác, vì “phần lớn học sinh hệ giáo dục thường xuyên vừa đi học, vừa đi làm” nên nhà nước có nhất thiết phải “ôm” hệ đào tạo này?
Sự tồn tại của các trung tâm giáo dục thường xuyên tạo nên bất bình đẳng xã hội.
Bởi học sinh các trung tâm này thi tốt nghiệp ít môn hơn so với các trường công lập và ngoài công lập song vẫn nhận được bằng tốt nghiệp phổ thông và xét tuyển hoặc thi đại học, cao đẳng.
Nhìn nhận trên mọi phương diện, bán đấu giá các Trung tâm giáo dục thường xuyên là điều không nên bàn cãi.
Nếu chấp nhận phương án bán các Trung tâm giáo dục thường xuyên cho tư nhân, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên có kế hoạch chuyển đổi các trung tâm này thành trường trước khi mời thầu.
Mặt khác cần có chế tài để giải quyết việc làm cho nhân sự tại các trung tâm, tránh việc mua trường rồi biến thành cơ sở kinh doanh các lĩnh vực khác bởi không ít trung tâm tại thành phố lớn có vị trí đắc địa.
Với chủ trương tiến tới bãi bỏ học phí cấp trung học cơ sở, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên xem xét phương hướng quản trị nhà nước với khối trung học phổ thông, cao đẳng và đại học.
Nên chăng tập trung nhân tài vật lực vào mầm non, tiểu học và trung học cơ sở, từng bước thực hiện xã hội hóa các bậc học còn lại.
Một báo cáo cho thấy: “Chính phủ Hàn Quốc chi khoảng 4% GDP cho giáo dục, nếu tính cả phần đóng góp của người dân thì tổng chi cho giáo dục của Hàn Quốc khoảng trên 10% GDP” [4]
Tỷ lệ này của Việt Nam là khoảng 20% nhưng chất lượng giáo dục, đào tạo khó có thể nói là tương đương Hàn Quốc.
Nếu cứ đầu tư dàn trải như hiện nay, nếu cứ bám lấy “bầu sữa ngân sách” thì giáo dục Việt Nam mãi mãi vẫn là đứa trẻ cần “bú tí”.
Thời phong kiến, hầu như không có hệ thống giáo dục công lập, chính quyền chỉ tập trung tổ chức các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình để chọn nhân tài, việc học và dạy do dân tự tổ chức.
Tư tưởng ỷ lại vào “quốc sách hàng đầu” đã khiến không ít người chịu trách nhiệm lãnh đạo ngành Giáo dục đánh mất sự sáng tạo, công việc chiếm nhiều thời gian là ngồi phòng lạnh để cho ra các “văn bản trên trời”.
Khá hơn một chút là “ban hành thử” để nghe ngóng phản ứng của dư luận sau đó đúc kết lại thành văn bản chính thức.
Xin dẫn chứng về chủ trương sửa Luật Giáo dục để tăng lương nhà giáo, đến năm 2017 này Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đề xuất xếp lương nhà giáo cao nhất khối hành chính sự nghiệp.
Sau bao nhiêu năm chịu cảnh “chuột chạy cùng sào”, sau bao nhiêu bài báo nói đến sự bất cập, Bộ mới “nhận thấy”, mới “tự đề xuất” cái việc mà ai cũng biết từ vài chục năm trước.
Đề xuất tăng lương nhà giáo nhưng Bộ lại không nghĩ đến chuyện ngân sách lấy đâu ra tiền?
Từ xưa đến nay, đã có vị tư lệnh ngành nào hứa trước Quốc hội khi nhậm chức rằng sẽ phấn đấu giảm tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục xuống còn 15%?
Đã có vị nào dám hứa trong nhiệm kỳ của mình sẽ hoàn thành việc tổ chức lại mạng lưới giáo dục đại học theo hướng giao quyền tự chủ và xã hội hóa triệt để?
Hình như những người được giao trọng trách lãnh đạo ngành Giáo dục (không riêng tại Bộ Giáo dục và Đào tạo) đều có “niềm tin mãnh liệt” rằng Giáo dục phải nhận được 20% ngân sách;
Và giờ đây, qua đề xuất mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo có lẽ sẽ phải là hơn 20%.
Thế thì chẳng lẽ việc san sẻ gánh nặng ngân sách không phải trách nhiệm của ngành Giáo dục?
Báo cáo tổng kết năm học 2016-2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trang 9 có nêu:
“Rà soát, sắp xếp lại các trường tiểu học, trung học cơ sở có quy mô nhỏ theo hướng sáp nhập, thành lập trường liên cấp, liên xã phù hợp với tình hình thực tế và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục”.
Số lượng trường năm học 2016-2017 so với năm học 2015-2016 (nguồn Vụ Kế hoạch - Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Người viết cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn chưa mạnh dạn bởi đề xuất chỉ mới dừng ở các trường “quy mô nhỏ”.
Khi Bộ đã đề xuất cấp trung học cơ sở cũng được miễn giảm học phí như cấp tiểu học thì có nghĩa là hai cấp này sẽ bị chi phối bởi cùng một chế tài, một chính sách và do đó việc sáp nhập là hợp lý.
Tại một huyện ngoại thành Hà Nội, có xã có hai trường tiểu học và trung học cơ sở cách nhau chỉ một hàng rào.
Ba trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông một xã khác cũng cùng nằm trên một mảnh đất quay lưng vào nhau.
Ghép hai cụm này lại thành trường liên cấp sẽ giảm bớt được 3 ban giám hiệu và lực lượng phục vụ.
Vấn đề là vì sao chưa ai, cơ quan nào dám quyết?
Nếu kiên quyết sáp nhập 15.032 trường tiểu học với 10.155 trường trung học cơ sở thì ít nhất cũng sẽ giảm được khoảng trên 10 nghìn ban giám hiệu, nghĩa là khoảng vài chục nghìn biên chế quản lý và phục vụ.
Thông tin (chưa được kiểm chứng) cho biết, tính đến ngày 18/8/2017, Việt Nam có 11.164 đơn vị hành chính cấp xã, (bao gồm 1.587 phường, 589 thị trấn và 9038 xã). [5]
Nếu mỗi đơn vị hành chính cấp xã thành lập một trường liên cấp thì số lượng trường sẽ là 11.164, con số này gần khớp với việc ghép hai cấp học như đã nêu trên.
Tính chính xác thì số trường giảm bớt là 15.032 + 10.155 - 11.164 = 14.023.
Nếu mỗi trường chỉ có 01 hiệu trưởng, 01 hiệu phó, 01 kế toán và 01 văn thư thì số biên chế dôi dư sẽ là 56.092 người.
Bạn đọc có thể dễ dàng tính mỗi năm ngân sách sẽ dôi ra bao nhiêu nghìn tỷ đồng?
Với các địa bàn bị chia cắt như miền núi, vùng sông nước thì nên duy trì các điểm trường (tiểu học) hợp lý để trẻ em bớt phải đi xa, nhưng mỗi xã dứt khoát chỉ nên có một trường liên cấp.
Cũng nên biết số cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ hiện nay (theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Cục Nhà giáo) là 426.318 người, số giáo viên là 1.246.188 người, bình quân cứ 2.9 nhà giáo có một người quản lý và phục vụ.
Đây là tỷ lệ hiếm thấy trên thế giới.
Nếu giảm được 30% những người không làm được việc mà con “tham nhũng vặt” - như ý kiến một vị lãnh đạo -  Giáo dục sẽ tiết kiệm được bao nhiêu tỷ đồng?
Ở các bậc học cao hơn, người viết cho rằng Nhà nước chỉ cần tập trung đầu tư cho khoảng hơn một chục đại học gồm hai Đại học Quốc gia, ba Đại học Bách Khoa, ba Đại học Y, chừng 3-5 Đại học Sư phạm, hai Đại học Nông nghiệp.
Các cơ sở này đảm nhận vai trò trung tâm nghiên cứu, đào tạo, các trường còn lại để cho các tập đoàn kinh tế hoặc tư nhân quản lý, điều hành và đương nhiên không sử dụng ngân sách nhà nước.
Hy vọng nếu thực hiện những kiến nghị đã nêu, ngành Giáo dục sẽ có một nguồn kinh phí đủ để nâng lương cho nhà giáo mà không cần xin tăng từ ngân sách, thậm chí còn dôi dư để đầu tư cho cơ sở vật chất, cải thiện tình trạng trường tạm, lớp tạm như hiện nay tại một số địa phương
Cũng cần nói thêm, nâng lương phải đi kèm nâng cao chất lượng dạy học của nhà giáo, sự minh bạch về tuyển dụng, luân chuyển và tài chính,… điều này xin được đề cập trong các bài viết khác.
Tài liệu tham khảo

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

20171201. NGHĨ VỀ NGƯỜI LÀM BÁO VIỆT

ĐIỂM BÁO MẠNG
LÀM BÁO ỄNH ƯƠNG

NGÔ NHÂN DỤNG/ NV/ BVN 27-11-2017

clip_image002
Bữa trước chắc quý vị đã nghe tin Việt Cộng đem gạo giả đi phát cho người nghèo bị nạn lụt ở vùng quê tỉnh Quảng Ngãi [Xem: Thu hồi gạo hỗ trợ lũ lụt bị chảy nhũn, kết mảng khi cháy]. Báo chí ở nước ngoài loan tin đó chỉ dựa trên những báo mạng trong nước.
Nếu tò mò lên mạng tìm thêm tin tức về câu chuyện này, để coi tin đó từ đâu ra, thì chắc quý vị cũng thất vọng như chúng tôi: Ít tin quá! Đọc tin đó trên tờ báo thứ nhất, rồi mở thử coi tờ báo thứ nhì, thứ ba, vân vân, thấy họ viết giống nhau quá!
Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy chi tiết, được các báo trong nước nhắc đi nhắc lại. Mấy ngày liền không có tin gì mới! Hơn thế nữa, quý vị sẽ thấy đại đa số các báo viết giống nhau như hệt, không sai một chữ! Các báo này cũng không ghi cho độc giả biết bản tin đó do một nguồn tin chung nào cung cấp khiến họ cùng đăng lại nguyên văn như vậy.
Đối với một người gần 80 tuổi, từng đọc báo và làm báo hơn nửa thế kỷ, đã quen sống ở những xã hội tương đối tự do, hiện tượng này thật kinh hoàng! Bởi vì loài người thường không làm báo như vậy!
Các nhà báo tự do, mỗi khi nghe ai kể một tin lạ, một hiện tượng bất thường, ai cũng chạy đi tìm các chi tiết mới, viết thêm, kể thêm cho độc giả, thính giả của mình biết. Nghe tin một người nấu phải gạo giả, cũng đủ khiến nhà báo nhảy chồm lên, chạy đi tìm coi hạt gạo nó ra sao! Phải đi đếm coi bao nhiêu người đã khám phá ra gạo giả. Mà đây lại là gạo cứu trợ người bị họa lũ lụt, đề tài này càng khêu gợi trí tò mò! Cái Mặt trận Tổ Cú này nó làm ăn ra sao mà lại đi mua gạo giả? Ông nào, bà nào đi mua gạo, mua của ai, thương gia là “người mình” hay “người lạ?”
Phải đi tìm, phải kể lại. Đó là máu nhà báo, nó nằm trong DNA của người làm nghề truyền thông khắp thế giới. Chúng ta không thể tưởng tượng được tại sao hàng chục báo, đài, hàng trăm ký giả trong một nước, tất cả cùng lập lại một bản tin giống hệt nhau. Như nghe đàn ễnh ương trong cả một cánh đồng cùng kêu lên, ồm ồm, ào ào, trước sau cùng một giọng điệu!
Loài người không làm báo như vậy. Một đàn thú vật sống tự do ngoài thiên nhiên cũng không thông tin cho nhau theo lối như vậy. Làm báo kiểu này là trái tự nhiên! Tại sao các báo, đài, các ký giả ở nước mình lười biếng như thế?
Tôi tin chắc rằng các nhà báo ở trong nước cũng không ai muốn làm báo kiểu ễnh ương như thế, kể cả những người làm trong báo Nhân dân. Làm báo như vầy không những ngượng với cả vợ con mình, chính mình khi soi gương cũng thấy hổ thẹn. Cha mẹ sinh ra đã cho mình một cái đầu, không đem dùng riết rồi nó rỉ sét thì sao?
Chỉ có một cách giải thích, là quý đồng nghiệp của tôi ở Việt Nam không được phép… làm báo! Họ bắt buộc phải giả bộ làm báo! Chỉ có thứ báo chí “Ma dzê in Việt Nam” mới làm như vậy. Trong câu chuyện gạo giả, chúng ta thấy cả nghề làm “báo giả!”
Nhưng các đồng nghiệp của chúng tôi vẫn cố gắng… làm báo! Dù bị trói chân trói tay, bịt mắt, bịt tai. Cho nên, khi điểm qua các báo đài trên mạng, chúng ta vẫn thấy những người tìm cách dùng cái đầu của mình.
Chẳng hạn, người ta đặt tựa bản tin hơi khác nhau một chút. Đọc thử, thấy một báo viết tựa đề: “Người nghèo Quảng Ngãi nhận gạo cứu trợ có biểu hiện lạ”. Một báo khác viết, “Gạo nghi là hạt nhựa có mùi khét sau khi rang”. Hoặc “Quảng Ngãi: Xôn xao nghi vấn gạo giả hỗ trợ người nghèo”. Quý hóa lắm. Người làm báo không mất hẳn cái máu làm báo; cho nên lúc nào họ cũng muốn tìm cái mới lạ cung cấp cho độc giả. Dù chỉ đi tìm một chữ, một câu khác, nêu ra thêm một chi tiết cụ thể.
Nếu quý vị tò mò muôn biết câu chuyện đem gạo giả đi cứu trợ tới đâu rồi, thì xin báo tin mừng: Hai hôm sau, các báo trong nước đã có tin mới. Các tờ báo đều đưa ra tựa lớn: “Không có gạo giả trong cứu trợ đồng bào vùng lũ lụt!” Hầu hết các báo đều viết tựa như vậy. Và hầu hết đều mở đầu bản tin giống nhau: “Đó là khẳng định của ông Lê Văn Sáu, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi vào chiều ngày 24 Tháng Mười một khi trao đổi với phóng viên (các báo được phép để tên báo mình vào chỗ này) về số gạo một đơn vị cứu trợ tại xã Tịnh Hà và huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi”. Và các báo đều in đậm hoặc in nghiêng lời đính chính: “Ông Lê Văn Sáu, khẳng định gạo cứu trọ ở xã Tịnh Hà không phải là gạo giả”.
Ông khoe: “… tôi đã trực tiếp đi kiểm tra, đã làm việc với lãnh đạo xã Tịnh Hà và huyện Sơn Tịnh, đã gặp những người có trách nhiệm …”
Nhưng bản tin mới lại tự mâu thuẫn. Vì lời khẳng định trên trái ngược với một câu viết sau đó: “Trước đó, ông Trần Hồng Long, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tịnh Hà, cho biết vừa rồi xã nhận của một đơn vị 50 bao gạo để hỗ trợ cho người dân vùng lũ và phát hết cho các thôn, sau đó có người phát hiện gạo khi đốt, bắt lửa và kết dính, xã đã thu hồi toàn bộ số gạo và gửi lên các đơn vị kiểm định chất lượng”.
Giữa một ông Chủ tịch xã và một ông Phó chủ tịch Mặt trận Tổ Cú cấp tỉnh, chắc phải có một ông nói sai. Người đọc báo ngu đến mấy cũng thắc mắc. Cho nên, nhà báo còn viết thêm: “Tuy ông Sáu khẳng định như vậy, nhưng các cơ quan chức năng cần sớm có kết luận về số gạo nói trên để minh bạch mọi sự việc”.
Ông Lê Văn Sáu có lời giải thích đúng lập trường nhất! Ông đổ tội cho “những thế lực thù nghịch!” Ông nói: “Tôi đang nghi ngờ có một bàn tay phá hoại liên quan đến việc tiến hành thử nghiệm gạo”. May phước cho các báo, đài ở Việt Nam là khi đăng bản tin đầu tiên họ đã đăng kèm hình ảnh, Nhìn đám “cơm” cháy đen, dẻo dính vào nhau, không ai dám nghi ngờ họ làm báo nói láo… chống đảng!
Nhưng người đọc báo tinh ý một chút thì sẽ thấy có cách giải thích khác lời ông Sáu. Vì trong lời biện hộ, ông cũng đưa ra một bằng chứng hùng hồn: “Gạo được hỗ trợ của một đơn vị rất gần gũi với Mặt trận. Tôi đã ăn thử và chắc chắn không phải gạo giả” [Xem: Uỷ ban MTTQVN Quảng Ngãi khẳng định không phải gạo giả, nghi ngờ bị phá hoại]. Những chữ “chìa khóa” trong câu này là “một đơn vị rất gần gũi với Mặt trận”. Tức là ông Sáu đã mua gạo của một nhà cung cấp rất “gần gũi”. Gần gũi nghĩa là gì? Bà con ta ở trong nước đọc câu này chắc đều cười ồ lên, vì ai cũng hiểu hai chữ “gần gũi”. Lửa gần rơm sẽ bén. Nhà buôn gần các quan, gần mãi, thế nào cũng bén! Thế là dân được cho ăn gạo giả!
Cũng như mọi người ở ngoài nước Việt Nam, người làm báo cũng chỉ căn cứ vào tin đăng trong nước mà thuật lại. Nhưng khi đọc các tin tức đó, chúng ta còn thấy một hiện tượng này, là ngôn ngữ của nhà báo chính là ngôn ngữ của nhà nước!
Người làm báo ở các nước Cộng sản đã tìm ra một cách sống an toàn, là không dùng ngôn ngữ của mình, không dùng ngôn ngữ bình thường mọi người nói hàng ngày. Muốn không bị “kiểm thảo”, không bị “tố cáo” tội phá hoại, trở thành “một bàn tay phá hoại”, thì cứ dùng những ngôn ngữ mà các quan Cộng sản đã dùng. Cho nên, một nhà báo viết, “người dân nhận gạo… phát hiện có biểu hiện bất thường”; hoặc “gạo cứu trợ có biểu hiện lạ”. Nhà báo không nhắc đến những chữ “gạo giả”, hoặc nói thẳng “gạo bằng chất nhựa”, hay “gạo plastic”. Viết như thế là phạm húy!
Đọc báo Cộng sản chúng ta thấy họ tránh không dùng những chữ cụ thể, mọi thứ cụ thể đều được biến thành trừu tượng. Trong tiểu thuyết Bác Sĩ Zhivago, Pasternak đã nhận xét về hiện tượng “trừu tượng hóa” này. Mùa đông ở Matxcơva, ông bác sĩ thấy có đống gỗ ở bên đường, đã lén rút trộm, đem về nhà đốt lò sưởi vì đứa con đang bệnh. Nhưng, Pasternak cũng nhận xét, dưới chế độ cách mạng Bôn Sơ Vích, không ai dám nói đến chuyện “thiếu củi đốt lò sưởi”. Các báo chỉ viết: Chúng ta có vấn đề nhiên liệu!” Tức là thiếu chất để đốt.
Thói quen “trừu tượng hóa” bắt đầu từ các cán bộ, các quan chức. Báo chí nhắc lại lời các quan cho yên thân, dần dần cũng bắt chước. Trừu tượng hóa làm cho ngôn ngữ bay trên mây, không dính đến sự thật dưới trần gian.
Thí dụ, quý vị thử nghe một câu mở đầu bản tin ngày 13 Tháng Mười một, trên báo Người lao động: “Thành phố Thanh Hóa đã chỉ đạo UBND xã Thiệu Dương rà soát lại danh sách cấp quà ủng hộ khắc phục lũ lụt sai đối tượng, có phương hướng xử lý và cấp đúng cho đối tượng được hưởng” [Xem: Vợ bí thư thôn đi nhận cứu trợ lũ lụt: Yêu cầu thu lại quà cấp sai]. Có ai hiểu họ nói chuyện gì hay không?
Nếu làm báo ở một xứ tự do, người ta sẽ mở đầu bản tin như vầy: “Bí thư, trưởng thôn 4 xã Thiệu Dương gian lận cho vợ được nhận quà cứu trợ không đáng hưởng, thành phố Thanh Hóa đang điều tra”.
Cái thói quen trừu tượng hóa, trốn tránh sự thật, khiến các quan chức trốn trách nhiệm, cả chế độ cũng trốn trách nhiệm. Trên báo chí, các chuyện ăn cắp, tham nhũng, giết người trong đồn công an, vân vân, đều được gọi là “sai phạm!” Một đứa trẻ ăn trộm miếng bánh gọi là sai phạm, ông Thủ tướng ôm cả tỷ đô la của các hãng thầu nước ngoài cũng gọi là sai phạm!
Chúng ta phải thông cảm với các nhà báo sống trong các nước Cộng sản. Họ không được làm báo. Họ phải làm báo giả, giống như người dân được cứu trợ gạo giả. Tất cả báo đài đã bị bắt buộc phải đóng vai đàn ễnh ương kêu òm òm. Họ không được phép thấy, không được phép nghĩ, không được đi tìm sự thật. Dân là nạn nhân. Đảng Cộng sản bắt nhà báo làm ễnh ương vì họ coi dân như súc vật.
N.N.D.

TẠI SAO BỨC XÚC VÌ CHỮ 'BỨC XÚC' ?

NGÔ NHÂN DỤNG/ NV/ BVN 30-11-2017

Một tờ báo trong nước loan tin: “Bức xúc vì bí thư, trưởng thôn trao quà hỗ trợ lũ lụt cho vợ.” Đọc tựa đề này, tôi cảm thấy có gì thiêu thiếu! Tôi cảm thấy viết tiếng Việt Nam như vậy không ổn. Có lẽ vì không đọc hàng ngày báo xuất bản trong nước nên tôi không quen với lối nói mới, viết mới này.
Lúc đầu, tôi nghĩ cảm giác “lạ lạ” của mình là do chữ “bức xúc”. Hai tiếng này người miền Nam mới làm quen từ 40 năm qua. Nghe riết rồi cũng quen; nhưng cho tới nay quả thật tôi vẫn chưa hiểu hai chữ này nghĩa đích xác là gì. Đó là một cảm tưởng bực bội, bứt rứt, khó chịu, tức giận? Cảm giác nhẹ hay mạnh, ở mức nào thì nói là “bức xúc”? Nhưng có lẽ hai chữ này cũng không thể gây cho tôi cảm giác “thiêu thiếu,” khó chịu, “bức xúc” khi đọc câu trên.
Mấy ngày sau, đọc lại cái tựa đó vài lần nữa tôi mới nghĩ ra lý do khiến mình khó chịu. Lý do là: Câu trên không có chủ từ.
Nhà báo nào đó viết “Bức xúc vì…” nói trống không; người đọc không biết ai bức xúc. Vì thế khi đọc lần đầu tôi cảm thấy “bất ổn”. Nó thiêu thiếu cái gì đó mà chưa nghĩ ra ngay. Té ra, vì câu đó thiếu chủ từ.
Tìm ra nguyên nhân rồi, tôi lại ngạc nhiên sửng sốt! Lý do giản dị như thế, tại sao khi đọc lần đầu mình không thấy?
Đã làm nghề dạy học và viết tiếng Việt hơn nửa thế kỷ, khi đọc một câu không có chủ từ, mình phải nhận ra ngay chớ? Trước đây 50 năm khi tôi dạy học ở Sài Gòn, nếu một học sinh viết câu như vậy chắc tôi đã vạch đỏ lèm và phê: Thiếu chủ từ! Mà có lẽ thời 1960, 70 các học sinh của tôi cũng không ai viết một câu thiếu chủ từ như thế. Tại sao bây giờ tôi lại chỉ cảm thấy “bứt rứt khó chịu” cảm thấy có “cái gì thiêu thiếu”? Giống như nhai miếng cơm có hạt sạn mà không biết vì sao, chỉ thấy răng mình hơi khó chịu. Vì cao tuổi nên đầu óc tôi đã kém bén nhậy hay chăng?
Cũng phải nghĩ ngợi giây lâu tôi mới khám phá ra rằng không phải tại mình già. Lý do chính là báo chí trong nước bây giờ hay viết tiếng Việt không có chủ từ; đọc riết mình cũng quen, không nghĩ tới nữa.
Một cái tựa trên báo khác viết thế này: “Quảng Ngãi: Xôn xao nghi vấn gạo giả hỗ trợ người nghèo”. Chủ từ của câu này là cái gì? Cái nghi vấn nó xôn xao? Hay người dân xôn xao với nghi vấn? Trước năm 1975 khi làm báo ở Sài Gòn nếu bắt được tin tức này, chắc các anh Chu Tử, Lê Xuyên đã đặt tựa: Ai phát gạo giả cho nạn nhân lụt Quảng Ngãi? Đặt một cái tựa như vậy ai cũng biết đó là một nghi vấn, và nó đủ làm dư luận xôn xao.
Không hiểu sao các đồng nghiệp của tôi bây giờ không thích đặt câu hỏi thẳng như vậy?
Tại sao họ lại viết: “Xôn xao nghi vấn…?”
Có lẽ vì họ đang được “đảng lãnh đạo”. Câu không có chủ từ là mặt nổi, bên dưới là một xã hội mà người ta không ai nhận trách nhiệm, đặc biệt là giới cầm quyền. Lỗi tại ai? Chúng ta! Tức là không có ai cụ thể! Ai bức xúc? Cũng không có ai cụ thể! Chẳng lẽ viết “nhân dân bức xúc”? Viết vậy là tuyên truyền chống đảng rồi!
Trong gọng kìm kẹp mồm kẹp miệng của đảng Cộng sản, nhà báo không được phép đặt những câu hỏi thẳng thắn, cụ thể. Đặt câu hỏi tức là “có ý đồ” chống chế độ, có thể bị kết tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân! Anh Nguyễn Văn Hóa, mới bị đưa ra tòa án ở tỉnh Hà Tĩnh xử bảy năm tù chỉ vì cho bạn bè coi video tố cáo tội ác của Formosa. Bản cáo trạng viết anh Hóa “…lập tài khoản cá nhân trên facebook để kết bạn, trao đổi thông tin với một số đối tượng xấu; …bài viết, video, hình ảnh có nội dung tiêu cực, kích động, xuyên tạc sự thật, tuyên truyền các luận điệu phản động trái với đường lối, chính sách của đảng và nhà nước”.
Anh Nguyễn Văn Hóa mới 22 tuổi, điếc không sợ súng. Còn các nhà báo của chúng ta, nhiều người đã lão thành, không ai dại dột đặt câu hỏi “Ai bức xúc?” vì hỏi tức là muốn nhà nước và đảng phải trả lời, rõ ràng “trái với đường lối, chính sách của đảng và nhà nước”.
Dưới gông cùm tuyên giáo, các nhà báo không dám đặt câu hỏi, và cũng không dám nêu lên những chuyện cụ thể.
Lại nói chuyện gạo giả ở Quảng ngãi, một tờ báo trong nước loan tin với tựa đề “Người nghèo Quảng Ngãi nhận gạo cứu trợ có biểu hiện lạ”.
Đọc câu trên, nếu còn giữ thói quen suy nghĩ, chúng ta phải bật cười. Ông/Bà nhà báo này viết như một triết gia hay một nhà nghiên cứu triết học. “Biểu hiện” là ngôn ngữ triết học, ai đọc các triết gia hiện sinh chắc đã nghe quen. Người bình thường thì sẽ viết một cách cụ thể: Gạo nấu cơm biến thành than! Ai cũng biết là ăn không được, nuốt không vô. Nhưng trước mắt các triết gia, gạo nấu thành than chỉ là một “biểu hiện lạ”. Họ viết chữ “lạ” mà không cần đánh dấu tán thán, “lạ!”. Viết như thế là mất cái vẻ trầm tư mặc tưởng của một triết nhân.
Nhà báo học chữ “biểu hiện lạ” ở đâu ra vậy? Họ không học Martin Heidegger hay Jean Paul Sartre mà học các triết gia Tuyên giáo. Các ngài đã sáng tạo ra chữ “tàu lạ”. Biết mà không dám nói nó là tàu của ai, tàu nước nào, các đỉnh cao trí tuệ làm mới ngôn ngữ Việt Nam với hai tiếng “tàu lạ”. Đám quần chúng nhân dân người trần mắt thịt không dám phạm húy nên cứ thế viết theo. Lúc nào bí thì bất cứ cái gì xấu xa, bẩn thỉu cứ gọi là “biểu hiện lạ”! Đỡ mất công suy nghĩ. Tránh bị tù như chú Nguyễn Văn Hóa!
Một biểu hiện lạ trong nghề báo ở nước ta bây giờ là chúng ta quen viết, quen nói như thế rồi, 50 hay 70 năm sau không ai cảm thấy bức xúc khi viết và đọc báo nữa! Đầu óc con người nó cũng tập thói quen giống như thân thể. Đọc “tàu lạ”, và “biểu hiện lạ” riết rồi không ai cảm thấy nó “lạ” nữa. Ai cũng quen với lối suy nghĩ trừu tượng, nói năng trừu tượng. Người viết và cả người đọc không ai bức xúc nữa. Cả nước biến thành triết gia lúc nào không ai biết!
Bài trước trong mục này viết, “thói quen trừu tượng hóa, trốn tránh sự thật, khiến các quan chức trốn trách nhiệm, cả chế độ cũng trốn trách nhiệm… Một đứa trẻ ăn vụng miếng bánh gọi là sai phạm, ông thủ tướng ôm cả tỷ đô la của các hãng thầu nước ngoài cũng gọi là sai phạm”! Diễn tả theo lối các triết gia hiện sinh trong nước hiện nay, phải gọi đó là một “lỗi hệ thống”! Mấy chữ “lỗi hệ thống” chính là một thứ ngôn ngữ trừu tượng!
Nhưng tại sao những nhà trí thức phê bình chế độ lại dùng những chữ “lỗi hệ thống” trong khi người bình dân chúng tôi thích nói “nhà giột từ nóc giột xuống” hoặc “rỗng (tối) từ trong ruột ruỗng (thối) ra”?
Có lẽ đây cũng là một thứ kết quả của thí nghiệm Pavlov. Người ta quen nói như thế rồi, nghe tiếng kẻng là nhễu nước miếng.
Do đó, mới có chữ “bức xúc”. Nhiều độc giả báo Người Việt coi “bức xúc” là “tiếng Việt Cộng”. Nếu hiểu Việt Cộng là viết tắt những chữ Cộng Sản Việt Nam, giống như Trung Cộng là Cộng Sản Trung Quốc, thì tôi thấy gắn nhãn hiệu Việt Cộng cho hai chữ “bức xúc” là lầm.
Phải nói lại “bức xúc” là “tiếng Chống Việt Cộng”. Không biết chữ này được dùng trong văn chương, báo chí miền Bắc Việt Nam từ năm nào, nhưng chúng ta có thể đoán nhà văn đầu tiên dùng các chữ đó muốn diễn tả một điều mà đảng cấm, ban Tuyên huấn cấm. Thay vì diễn tả một tâm trạng của người dân hay của mình bằng những chữ “tức giận”, hay “nổi giận” hoặc “phẫn nộ”, nhà báo phải tìm một chữ mới hoàn toàn, một chữ nằm ngoài danh sách các chữ bị cấm. Thế là bật ra hai tiếng “bức xúc”!
Các ông bà Tuyên huấn đọc hai chữ đó, không thấy ông Lê Duẩn hay ông Trường Chinh cấm, cứ cho nó xuất hiện. Thế rồi người ta nghe quen tai. Cả nước không ai dám nói mình “giận dữ” hoặc “chịu không thấu” nữa. Ai cũng bức xúc. Người người bức xúc, ngành ngành bức xúc. Bởi vì từ mới này không có nghĩa chính xác như khi nói “bực tức” hoặc “uất hận” cho nên nó được sống sót sau bao lần chỉnh huấn! Đồng bào miền Bắc được dùng hai tiếng bức xúc tự do, khi các quan cán bộ hỏi: “Bố anh bị giết oan, anh có oán đảng không?”. “Dạ không ạ, chỉ bức xúc thôi ạ!”. Các quan trên hài lòng. Dân nhìn nhau, cũng hài lòng, vì họ hiểu hai chữ bức xúc theo nghĩa của họ! Các quan Tuyên huấn bắt dân “trừu tượng hóa” thì dân chúng tôi tìm cách “cụ thể hóa”!
Cho nên tôi đoán người sáng tạo ra hai tiếng “bức xúc” chủ tâm né tránh, đã tìm cách “chơi” đảng, “chơi” Ban Tuyên huấn! Cũng giống như nhà trí thức né tránh khi viết “Lỗi Hệ Thống”. Ông hay bà này “đánh du kích” trong mặt trận ngôn ngữ. Thế rồi người dân thấy hai tiếng đó diễn tả đúng tâm trạng mình, cũng đua nhau dùng, khi cần nói một điều cụ thể trong lòng mà đảng không cho dùng những tiếng cũ. Bức Xúc trở thành tiếng nói của người dân không được phép nói. Phải coi đó là “tiếng chống Cộng” chứ không phải tiếng Việt Cộng!
Sau năm 1975, đồng bào miền Nam mới nghe chữ bức xúc, nghe lạ tai, khó chịu, lại thấy nó hài hước vì ý nghĩa không rõ ràng. Dân miền Nam đã dùng chữ bức xúc theo nghĩa nhạo báng, bị bồ bỏ rơi bèn “bức xúc”, khi bị đảng cướp sạch tài sản bằng cách đổi tiền, cũng bức xúc. Bây giờ quý vị thử tìm trên Facebook sẽ thấy nhiều tiếng mới như vậy, con cháu của Bức Xúc! Xin quý vị độc giả đừng phổ biến bài này, bọn Tuyên huấn chúng nó lại cấm các nhà báo, những bạn đồng nghiệp của tôi, không cho ai dùng hai tiếng Bức Xúc nữa!
N.N.D.