Thứ Năm, 6 tháng 7, 2017

20170706. VẪN QUANH CHỦ ĐỀ 'QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ'

ĐIỂM BÁO MẠNG
KẾT HỢP KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG-NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC LÂU DÀI: CHỦ TRƯƠNG LỚN VẪN NGUYÊN GIÁ TRỊ

QĐND/ 4-7-2027

Đại tướng Phạm Văn Trà. 

Đại tướng PHẠM VĂN TRÀ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng:

Đó là nhiệm vụ chính trị, không phải vì kinh tế đơn thuần
Tôi đồng tình với nội dung các bài viết về vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng của Báo Quân đội nhân dân nêu lên gần đây. Cách đây ít lâu, khi thực hiện cuốn hồi ký “Đời chiến sĩ”, tôi cũng dành nhiều tâm sức tổng kết vấn đề này. Tôi cho rằng, kết hợp kinh tế-quốc phòng (KTQP) với các cơ sở công nghiệp quốc phòng là ngoài sản xuất hàng quốc phòng, cần phải sản xuất hàng tiêu dùng, phát huy tính năng lưỡng dụng của cơ sở. Với các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) thì tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống cho bộ đội và tăng cường thế trận hậu cần nhân dân. Lực lượng khoa học kỹ thuật của quân đội có thể kết hợp phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Nếu thực hiện tốt, quân đội sẽ trở thành một trường học lớn của thế hệ trẻ. 
Vì thế, ngay từ những ngày đầu làm lãnh đạo Bộ Quốc phòng, tôi đã đưa vấn đề ra bàn bạc trong tập thể lãnh đạo bộ nhưng không phải ngay từ đầu đã có sự thống nhất. Có một số anh không đồng tình, cho rằng làm kinh tế là đi buôn. Nhưng dần dà, các anh ấy cũng nhận ra quân đội kết hợp kinh tế với quốc phòng là vì nhiệm vụ chính trị, chứ không phải là kinh tế đơn thuần.
Hiện nay, nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng của ta được trang bị máy móc tương đối hiện đại, nhưng nhu cầu sản xuất hàng quốc phòng chỉ 20-30%, không kết hợp sản xuất hàng dân dụng thì lấy gì để tồn tại, nuôi dưỡng tiềm lực quốc phòng? Nhà máy Z76 là một ví dụ, nhờ sản xuất hàng dân dụng mà doanh thu hàng nghìn tỷ, trở thành một thương hiệu có uy tín quốc tế đồng thời có tiềm lực đầu tư trang thiết bị hiện đại cho nhiệm vụ quân sự. Tổng công ty trực thăng Việt Nam, bằng vốn tự tích lũy qua sản xuất kinh doanh đã trang bị cho mình hàng chục chiếc máy bay trực thăng thuộc loại hiện đại nhất nhì thế giới. Tập đoàn Viễn thông Quân đội khi ra đời cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng qua thực tiễn hoạt động đã chứng minh là một mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước hiệu quả, xây dựng và nhân lên tiềm lực KTQP không chỉ trong lĩnh vực viễn thông.
Trong lịch sử, Quân đội ta cũng đã có những bài học thấm thía vào cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 của thế kỷ trước. Miền Bắc hòa bình, quân đội cho chuyển ngành hàng loạt công nhân quân giới, vì vậy khi chiến tranh xảy ra, các nhà máy quân giới thiếu nhân lực trầm trọng. Để tránh đi vào “vết xe” cũ, chúng ta phải “kết hợp” sao cho thật tốt, để không bị động, không suy giảm sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.
Một vấn đề tôi hết sức tâm đắc là xây dựng các khu KTQP. Có một điều trái ngược giữa ta với một số nước láng giềng là ở ta, dọc theo biên giới dân cư rất thưa thớt. Trong khi đó ở Thái Lan, Ma-lai-xi-a… dọc đường biên rất đông đúc, sầm uất. Tôi cho rằng, phải đưa dân ra sát đường biên. Lực lượng bảo vệ mốc chủ quyền vững chắc nhất, không ai khác là nhân dân. Nước ta có hơn 4.500km đường biên, địa hình chủ yếu là núi non hiểm trở. Phải biến những “vùng rừng không dân” nơi biên cương Tổ quốc thành những vùng KTQP, những nông, lâm trường ở những địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, làm nền tảng cho thế trận quốc phòng-an ninh.
Từ năm 2000, Bộ Quốc phòng đã phối hợp với các địa phương xây dựng đề án trình Chính phủ cho phép xây dựng 12 khu KTQP. Sau đó, do những tình hình ở một số khu vực biên giới, đặc biệt là vụ gây rối đầu năm 2001 tại Tây Nguyên, mà ở đó, Binh đoàn 15 với khu KTQP trải dài trên ba tỉnh đã góp phần quan trọng ổn định tình hình, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định mở rộng thêm một số khu KTQP, đến nay đã có 28/33 khu KTQP được triển khai, tạo nên thế trận vững chắc nơi phên giậu biên cương của Tổ quốc.
Hiện nay, việc sắp xếp lại các doanh nghiệp quân đội (DNQĐ) đang theo hướng đi đúng đắn. Các doanh nghiệp xây dựng thì cổ phần hóa, quân đội cũng không tham gia buôn bán, thương mại. Các đơn vị kinh tế cũng không được dùng xe biển số đỏ, vừa rồi Bộ Quốc phòng đã triển khai rất quyết liệt, nhanh chóng. Các đơn vị tham gia sản xuất kinh tế đều phải tuân thủ pháp luật bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh.
Về lâu dài, quan điểm, chủ trương quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng vẫn còn nguyên giá trị kể cả khi đất nước phát triển. Bởi vì những nơi vùng sâu vùng xa, biên giới khó khăn vẫn cần các đơn vị quân đội và những lĩnh vực phát huy tốt tính chất lưỡng dụng thì hiệu quả KTQP càng cao.
NGUYÊN MINH (ghi)
Tiến sĩ Kinh tế Võ Trí Hảo, Phó trưởng khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh: Cơ cấu lại hoạt động kinh tế của quân đội
Tôi đánh giá cao việc Bộ Quốc phòng chủ trương rút gọn các đơn vị kinh tế, cải cách một cách cơ bản để trình Chính phủ như Báo Quân đội nhân dân đề cập. Đây là chủ trương, bước đi phù hợp với thực tiễn xây dựng quân đội trong thời kỳ mới, hướng đến chính quy, hiện đại. Việc rút gọn các đơn vị kinh tế cũng giúp cho việc quản lý cũng như giám sát, tăng cao hiệu quả hoạt động của các DNQĐ được chặt chẽ, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Có ý kiến cho rằng, quân đội phải ngưng làm kinh tế ngay. Lập luận như vậy chưa đúng và phiến diện. Nhìn ở góc độ tổng thể và chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó quân đội giữ vai trò nòng cốt và nhìn từ quá trình lịch sử hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, quân đội đã luôn thể hiện sự tự lực, tự cường, tích cực tăng gia sản xuất, xây dựng kinh tế để bổ trợ cho nhiệm vụ SSCĐ và chiến đấu.

TS Võ Trí Hảo.

Với thực tiễn hiện nay, khi kinh tế phát triển, đất nước hòa bình, ổn định và việc sắp xếp, cơ cấu và rút gọn hoạt động kinh tế theo hướng hiệu quả là tất yếu, nhưng không vì thế mà phải ngưng hoàn toàn các hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng. Hiện nay, ở nhiều địa bàn biên giới, hải đảo, các đơn vị kinh tế của quân đội đang phát huy được những lợi ích hiệu quả cao, huy động được nguồn lực và trên thực tế không gây chèn ép lên hoạt động kinh tế dân doanh, thực hiện rất hiệu quả trong việc kinh tế kết hợp với quốc phòng. Vì thế, việc sắp xếp các DNQĐ cần hướng đến nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư có chiều sâu vào công nghệ và nâng cao hiệu quả quản trị, thực hiện nhiệm vụ kinh tế kết hợp với quốc phòng bền vững. Còn đối với những đơn vị quân đội sau khi Bộ quốc phòng cơ cấu giảm thì cần chuyển đổi thành đơn vị kinh tế thuộc Nhà nước quản lý. Tôi tin tưởng rằng, với việc tái cơ cấu mạnh mẽ, đề án Bộ Quốc phòng đang trình Chính phủ sẽ giúp cho quân đội thực hiện tốt chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng.
ĐẶNG TRUNG KIÊN (ghi)

Ông LÙ VĂN THANH, Chủ tịch UBND huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên):Có đến các vùng biên giới mới hiểu 
Địa bàn huyện vùng cao biên giới Mường Nhé chúng tôi là nơi đặc biệt khó khăn không chỉ do địa hình xa xôi, hiểm trở mà còn bởi tình hình phức tạp của nạn di cư tự do và truyền đạo trái phép. Nhiều năm qua, cùng với nỗ lực của cả hệ thống chính trị và đồng bào các dân tộc, phải khẳng định vai trò vô cùng to lớn của Đoàn KTQP 379 (Quân khu 2). Đơn vị đã không chỉ tích cực tham mưu, giúp đỡ cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, bảo đảm an ninh chính trị mà còn góp phần đáng kể trong thay đổi nhận thức, tình hình kinh tế-xã hội tại địa phương. Từ khi chia tách khỏi huyện Mường Tè năm 2003, nhiều xã của huyện Mường Nhé không có đường giao thông, cơ bản là đi bộ, nếu không có nguồn lực của quân đội, công sức của Đoàn KTQP 379 thì nhiều nơi khó có thể phát triển kinh tế-xã hội được. Từ các dự án làm đường, công trình thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, trồng rừng, phát triển cây cao su đến xóa mù chữ, chống tái trồng cây thuốc phiện, khám, chữa bệnh… đều có mồ hôi, nước mắt của bộ đội trong đó. Đặc biệt đối với Đề án 79/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh trên địa bàn huyện Mường Nhé.
Đồng chí Lù Văn Thanh. 
Hiện nay, huyện Mường Nhé vẫn đang có 4 đội sản xuất của Đoàn KTQP 379 đang công tác tại các xã: Sín Thầu, Chung Chải, Mường Nhé, Quảng Lâm. Có đến các vùng biên như nơi đây thì mới hiểu được việc khẳng định kết hợp kinh tế với quốc phòng là nhiệm vụ chiến lược lâu dài đúng như Báo Quân đội nhân dân đề cập.
TRƯỜNG GIANG (ghi)

Ông NGUYỄN VĂN QUÂN, Phó bí thư Đảng ủy xã Song Thuận (huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang):Cần lắm bộ đội tham gia phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa
Đúng như Báo Quân đội nhân dân đề cập, bộ đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh là một trong ba chức năng, nhiệm vụ của quân đội do Bác Hồ sáng lập, rèn luyện. Văn kiện Đại hội Đảng qua hàng chục năm cũng đều khẳng định chủ trương lớn này. Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược này, việc quân đội tham gia trên mặt trận sản xuất là lẽ đương nhiên.
Ông Nguyễn Văn Quân. 
Trong thời bình nên phát huy vị trí, vai trò của các đơn vị bộ đội để khai phá các vùng còn hoang hóa, dân không đủ sức làm hay những vùng sâu, vùng xa còn nghèo khó. Ở những nơi ấy, bộ đội đã thực sự trở thành “bà đỡ” để nhân dân xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng địa phương. Trước đây vùng Đồng Tháp Mười cũng phần lớn là do bộ đội vào khai phá, khơi thông lấy nước ngọt phục vụ nhân dân. Bây giờ cũng nên phát huy tinh thần đó.
THÚY AN (ghi)

ĐỪNG ĐEM UY TÍN THẾ CHẤP CHO CÁC NHÓM LỢI ÍCH CẦM SÚNG ĐEO LON

FB ĐỖ MINH TUẤN/ BVN 6-7-2017

Đừng đem uy tín thế chấp cho các nhóm lợi ích cầm súng đeo lon

(Phản bác ông cựu Thượng thư Bộ Binh Phạm Văn Trà) (*)
Chủ trương lớn ngày xưa giá trị xuyên nhiệm kỳ, bất chấp mọi chủ trương mới của tập thể lãnh đạo hôm nay? Ông Phạm Văn Trà vẫn đang ở Bộ Chính trị sao mà nói như TBT vậy? Đúng là ở những vùng như vĩ tuyến 17 ngày xưa hay ở Tây Nguyên bây giờ bộ đội làm kinh tế là nhiệm vụ chính trị tổng hợp, vừa kết nối lòng dân, vừa giữ gìn an ninh, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng đừng đánh đồng, đánh tráo các việc đó với việc chiếm đất của dân, để dự án treo mấy thập kỷ như để thịt nhậu của một nhóm người trong tủ lạnh. Và càng không thể đánh đồng việc kết hợp kinh tế với quốc phòng theo nội dung và phương pháp truyền thống với việc quân đội đeo lon vác súng đi buôn, chiếm đất của dân, chiếm đất của sân bay làm ùn tắc thành phố, xả sim rác ra khắp cả nước làm ô nhiễm tâm trí nhân dân.
Các vị tướng tiền bối được dân kính trọng đừng làm những việc có thể bị hiểu lầm là vì thiện ý trong sáng mà đem uy tín thế chấp cho các nhóm lợi ích cầm súng đeo lon nào đó có thể có trong cơ chế quân đội làm kinh tế. Mặt khác, một thể chế có hai lực lượng bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân là quân đội và công an, mà chỉ quân đội có ngân hàng, có các công ty kinh doanh kiếm lời, còn công an thì bị trói trong nguyên tắc an toàn đạo đức, như thế có bất công không? Thay vì Quân đội tự biện hộ cho két sắt và sân Golf của mình, hãy đưa ra Quốc hội xin ý kiến về việc nên để QĐ cả hai tay cầm súng, sẵn sàng chiến đấu BVTQ hay tiếp tục khoác súng trên vai, tay ôm két tiền, tay xách gậy Golf một mình làm kinh tế? Và nếu QĐ có thể tiếp tục làm kinh tế như chủ trương lớn nào đó trong quá khứ, thì có nên để cho ngành công an cùng làm, cạnh tranh trên thị trường định hướng XHCN cho sạch nước cản về sự công bằng và nhất quán trong quản lý vĩ mô? Và trong từ điển, ngoài các cụm từ "tư bản thân hữu", "tư bản rừng rú", "tư bản không có Luật" nên thêm các cụm từ "tư bản cầm súng", "tư bản đeo lon".
Đ.M.T.
Nguồn: FB Đỗ Minh Tuấn

QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ LÀ GÁNH VIỆC NGAY CẢ DNNN KHÔNG LÀM

pv PHẠM HUYỀN/ VNN 7-7-2017

quân đội làm kinh tế,kinh tế quốc phòng,quân đội,Vũ Khoan,quốc phòng

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan chia sẻ về nhiệm vụ làm kinh tế trong quân đội. Ảnh: Trọng Hải
- Quân đội làm kinh tế là còn phải gánh các nhiệm vụ chính trị và những việc ngay cả DNNN không làm, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan chia sẻ.

Sau những thông tin tranh luận về việc "quân đội làm kinh tế hay không làm kinh tế", một tọa đàm khoa học đã được báo Quân đội nhân dân tổ chức hôm nay với chủ đề "Kết hợp kinh tế với quốc phòng - nhiệm vụ chiến lược lâu dài", có sự góp mặt của nhiều đại diện trong, ngoài Bộ Quốc phòng.
Gen bảo vệ là gen trội, gen kinh tế là bổ sung
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã bình luận tới 40 phút về vấn đề này, song ngay từ lời đầu, ông bày tỏ: "Khi nhận được lời mời, tôi hơi ngạc nhiên vì việc này rõ như ban ngày rồi, việc gì phải bàn".
"Đảng ta đưa ra quan điểm là quốc phòng gắn với kinh tế, kinh tế với quốc phòng. Điều này đã được đưa vào Văn kiện của Đảng và điều 68 của Hiến pháp năm 2013. Cương lĩnh nêu rõ, kết hợp quốc phòng an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn", ông trích dẫn lại.
Kể lại trải nghiệm trong chính gia đình mình, khi cả bố ông và các anh em trong nhà đều đã làm quản lý trong doanh nghiệp quân đội, nguyên Phó Thủ tướng nhìn nhận: "Đơn vị quân đội làm kinh tế nhưng trong đó, nhân tố chính trị rất rõ. Gen bảo vệ đất nước vẫn là gen trội, gen kinh tế là gen bổ sung".
Ông cũng cho biết: "Trong làm kinh tế của quân đội, yếu tố sản xuất là chính, làm kinh doanh thấp hơn. Đặc biệt, quân đội gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà không ai có thể làm được. Đơn cử như chúng ta quan niệm DN nhà nước làm những cái mà DN tư nhân không làm thì quân đội cũng phải làm những việc mà ngay cả DNNN không làm".
"Ví dụ như làm đường tuần tra biên giới, có ai lên làm được đâu. Nhiệm vụ ban đầu giao cho địa phương nhưng địa phương làm lủng củng, sau đó, quân đội nhân dân làm và chỉ có quân đội mới làm được. Nhờ đó mà có tuyến đường dọc biên giới như ngày nay", nguyên Phó Thủ tướng dẫn chứng.
Ông lưu ý: "Quân đội làm kinh tế là trong khuôn khổ luật pháp. Nhưng vì tính đa dạng của quân đội nên không thể áp dụng kinh tế thị trường một cách thuần khiết. Vì thế cần có đặc thù, xây dựng thể chế kinh tế đa dạng cho các lực lượng quân đội làm kinh tế. Nếu áp dụng nguyên xi thể chế kinh tế dân sự vào là không làm được, sẽ lẫn lộn, dư luận có thể hiểu sai".
Đặc biệt, nguyên Phó Thủ tướng thẳng thắn: "Cũng giống như các thành tố trong xã hội, lực lượng làm kinh tế của quân đội không thể không có tiêu cực xảy ra. Công tác đấu tranh để làm trong sạch đội ngũ quân đội không thể không làm, thậm chí phải làm nhiều hơn. Vì, tai tiếng của quân đội sẽ ảnh hưởng đến an nguy của quốc gia".
Cần một nghị quyết TƯ về quân đội làm kinh tế
GS.TS Hoàng Chí Bảo chia sẻ đánh giá, nhiệm vụ chức năng của quân đội cần được soi xét với tư duy hiện đại, nhất là trong hội nhập kinh tế.
 
"Từ thực tiễn dựng nước và giữ nước, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vai trò của quân đội trong chiến đấu là quá rõ. Nhưng còn có dấu ấn lịch sử của quân đội không thể phủ nhận là trong sản xuất và xây dựng kinh tế. Chúng ta đã có cả một đội ngũ công nhân quốc phòng không chỉ đóng góp trong quân sự mà cả dân sự", GS Bảo nói.

quân đội làm kinh tế,kinh tế quốc phòng,quân đội,Vũ Khoan,quốc phòng
Toạ đàm khoa học về kinh tế kết hợp quốc phòng do báo Quân đội nhân dân tổ chức. Ảnh: Trọng Hải
 
Ông cho rằng: "Tới đây, các DN quân đội theo hướng cổ phần hoá là để nhằm hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, chứ không có nghĩa là quân đội không làm kinh tế nữa. Ngược lại, quân đội cần tiếp tục tham gia để có những nghiên cứu khoa học công nghệ áp dụng".
Nhìn theo chiều dài lịch sử, Thiếu tướng, TS Võ Hồng Thắng, Cục trưởng Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng  lý giải về sự tất yếu của một nền kinh tế trong quân đội.
"Đường biên giới của ta dài khoảng 4.500 km, đường bờ biển dài hơn 3.000 km. Đời sống của nhân dân nhiều vùng còn lạc hậu khó khăn, nhiều nơi trắng dân, trắng chính quyền, trắng đảng viên. Vì thế, chúng ta cần có quân đội đứng chân, với nhiệm vụ đưa dân ra sinh sống, giúp dân khai hoang, phát triển kinh tế địa phương, an cư lạc nghiệp, tạo nên thế trận lòng dân, vận động nhân dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc", Thiếu tướng phân tích.
Ông cho hay: "Quân đội thành lập các đoàn kinh tế quốc phòng chính là để thực hiện nhiệm vụ này. Hiện cả nước thực hiện được 28/33 khu kinh tế quốc phòng. Nếu có chiến tranh thì chính các tập đoàn kinh tế quốc phòng này sẽ trở thành lực lượng chiến đấu, bảo vệ dân, bảo vệ Tổ quốc".
Ông cũng thông tin thêm: "Nhiều cơ sở sản xuất quốc phòng được Nhà nước chăm lo cũng tương đối hiện đại và đều phải đáp ứng được yêu cầu khi có chiến tranh. Nếu trong thời bình chỉ dùng có 20-30% thì sẽ bị hao mòn vật chất, lãng phí, có tội với Nhà nước và nhân dân. Vì thế phải để các cơ sở quốc phòng này sản xuất để tận dụng tốt nhất dây chuyền công nghệ".
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đúc kết: "Quân đội làm kinh tế mục đích đầu tiên chính là gia tăng sức mạnh của bản thân quân đội, từ đó gia tăng sức mạnh quốc gia. Quân đội làm kinh tế để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ với các trang bị quốc phòng".
Nguyên Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Quốc phòng cần có tổng kết căn cơ về vấn đề này trong 30 năm đổi mới. Chủ trương, nhiệm vụ làm kinh tế trong quân đội cần có một văn bản ở tầm Bộ Chính trị, cần có nghị quyết TƯ ban hành, tránh những tuyên truyền sai lệch về vai trò làm kinh tế của quân đội.
Trong phương án mở rộng sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tính cả việc sử dụng đất sân golf để mở thêm đường cất hạ cánh.
Phạm Huyền

Thứ Tư, 5 tháng 7, 2017

20170705. BÀI VIẾT VỀ 'TỰ DIỄN BIẾN'-'TỰ CHUYỂN HÓA' CỦA VŨ NGỌC HOÀNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
VỀ 'TỰ DIỄN BIẾN', 'TỰ CHUYỂN HÓA'

VŨ NGỌC HOÀNG/ TG/ VST/BVN 4-7-2017

Kết quả hình ảnh cho vũ ngọc hoàng

Một số năm gần đây, nhiều văn bản của Trung ương, và gần nhất là nghị quyết TW 4 khóa XII, khi nói về vấn đề suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, đã nhấn mạnh cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng còn các cách hiểu không giống nhau. Đó là lý do khiến tôi muốn tiếp cận vấn đề này, mong góp vài ý kiến để bạn đọc tham khảo.
“Tự” là tự mình, do mình, chứ không phải do ai bắt mình phải thế. Tự mình thì mình phải chịu trách nhiệm chứ không đổ lỗi cho ai, tức là loại trừ nguyên nhân kẻ khác phá ta. Phá là việc của họ, còn tự diễn biến, tự chuyển hóa là việc của chính ta, tự ta, do ta. Nhưng “tự diễn biến” muốn nói ở đây là “tự” của ai? Theo tôi, không phải là của nhân dân. Nhân dân không có “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trách nhiệm trực tiếp trong việc này nếu để xảy ra sẽ thuộc về nhà nước và đảng cầm quyền, chứ không phải do nhân dân.
Trước đây ít năm ta hay nói về việc phải cảnh giác các âm mưu của thế lực thù địch và cơ hội chính trị tác động lôi kéo nhân dân theo hướng “diễn biến hòa bình” nhằm thay đổi chế độ chính trị. Nhưng đó là nói về “diễn biến hòa bình”. Còn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tôi hiểu là nói về hệ thống chính trị, trước nhất là cán bộ của hệ thống chính trị ấy. Mà cán bộ không có chức vụ quan trọng thì dù cá nhân người ấy có thay đổi cũng không dễ gì chuyển hóa được ai. Đáng lo và đáng đề phòng nhiều, chính là cán bộ có chức quyền, nhất là cấp chiến lược.
Thế giới và cuộc sống quanh ta không đứng yên, không cố định, không bất biến, mà ngược lại nó phải vận động, biến đổi liên tục, không ngừng. Vận động là phương thức tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng. Đó là quy luật tất yếu của cuộc sống. Tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là một sự vận động, do vậy, nó cũng là tất yếu khách quan. Ba mươi năm qua, Đảng CSVN đã chủ trương đổi mới. Hiện tại cũng đang chủ trương phải tiếp tục đổi mới, mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn. Chủ trương đó là đúng, rất đúng, không có gì phải bàn cãi. Trong quá trình thực hiện đổi mới, ta đã độc lập tư duy, tự mình nghĩ ra việc này, việc khác và cũng tự mình tổ chức thực hiện để thay đổi. Tự là đúng, là chủ động, không bị động. Đó là tự đổi mới. Bản thân việc tự đổi mới cũng là tự diễn biến, tự chuyển hóa đó thôi. Cho nên, việc tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là đương nhiên, tất yếu, và không hàm ý là xấu hay tốt. Để nói nó tốt hay xấu thì phải xem thử nó diễn biến theo hướng nào. Hướng nào đó sẽ là tốt, là cần thiết. Hướng nào đó sẽ là xấu, là nguy hại, phải ngăn ngừa. Và cũng có hướng không tốt, không xấu, đó là trạng thái tạm thời. Trong một số văn bản chính thống, cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường viết trong ngoặc kép. Tôi nghĩ thế là đúng, hàm ý muốn chỉ ra một xu hướng không lành mạnh, một xu hướng xấu, phải đề phòng, phải ngăn ngừa, chứ không phải là tự diễn biến, tự chuyển hóa một cách bình thường.
Như đoạn trên đã nói, biến đổi không ngừng là một tất yếu, là yêu cầu nội tại, tự nó, của sự vật, và xã hội. Trong thời kỳ quá độ, sự biến đổi như vậy càng nhiều hơn.  Mọi việc không thể đứng yên. Nếu không tốt thì sẽ xấu. Vì vậy, cần phải tốt, để không bị xấu. Muốn có sự biến đổi theo hướng tốt, không bị rơi vào xu hướng xấu thì phải liên tục dẫn dắt và tác động theo hướng tốt. Tích cực đổi mới, kể cả thường xuyên và căn bản, theo đúng hướng, có cơ sở khoa học-khách quan, là cách tốt nhất để không rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu. Cuộc sống biến đổi liên tục, không đổi mới thì tất yếu sẽ tha hóa. Sự bảo thủ và trì trệ giam cầm cuộc sống, kìm hãm nó, trong khi cuộc sống nhất thiết không chịu đứng yên, phải vùng vẫy để thoát ra, vậy là mâu thuẩn và xung đột, mà rồi trước sau gì cũng phải mở lối đi cho cuộc sống tiến lên. Tốt nhất là nên chủ động đổi mới sớm, không để bị động. Không thể khác được. Không chống lại quy luật được. Trong lịch sử, mọi triều đại đã phải đi qua, chỉ có sự thật bướng bỉnh thì còn ở lại. Không nhận thức rõ điều đó, mà cứ bảo thủ, không chịu đổi mới, không đủ nhạy bén để chủ động thúc đẩy theo hướng đi đúng thì đến một lúc nhất định sẽ phải trả giá đắt. Thậm chí là đổ vỡ.
Thế nào là tự diễn biến, tự chuyển hóa theo hướng tốt?Đó là sự vận động tự nhiên, theo đúng quy luật khách quan, với sự lành mạnh về động cơ, với các quyết định có đủ cơ sở khoa học, đem lại lợi ích chính đáng, hiệu quả, bình đẳng cho từng con người và cho cả cộng đồng xã hội. Mấy năm trước cũng có một số ý kiến cho rằng có những người tuy có “lợi ích nhóm” nhưng họ có khả năng đổi mới thì nên giao cho họ làm, tham nhũng đủ rồi thì không tham nhũng nữa, còn tốt hơn là không “lợi ích nhóm” nhưng bảo thủ trì trệ? Tôi đã có lần viết và trả lời phỏng vấn là coi chừng “gởi trứng cho ác”. Đó là một kiểu suy nghĩ không trên nền tảng của văn hóa. Chẳng thể nào có thể dẫn dắt xã hội đi theo hướng tốt bằng những động cơ xấu, cá nhân chủ nghĩa và bè phái vụ lợi. Đạo đức là cái gốc. Đó là ý kiến của Bác Hồ, và cũng là tư duy khoa học. Đạo đức là cái cốt lõi của văn hóa. Văn hóa là những gì thuộc về con người, là dấu vết của con người “in” trong tự nhiên, là tính người, chất người, là chữ “Người” viết hoa. Không có đạo đức thì mất tính người, mất chất người. Không thể trao gởi cơ đồ, sự nghiệp của dân tộc và đất nước vào tay những con người vô đạo đức. Đừng nghe họ lập luận kiểu mị dân. Mặt khác, chỉ có động cơ tốt chưa chắc thúc đẩy được xã hội theo hướng tốt. Nếu như chủ quan, bảo thủ, bất chấp khoa học, không đủ nhạy bén và thông minh để nhìn ra lẽ đúng thì cũng có thể sai lầm, dẫn xã hội đi theo hướng xấu, thậm chí là đến bờ vực của sụp đổ, dù không cố tình như vậy. Trong trường hợp đó, vẫn là có lỗi, thậm chí là có tội với nhân dân, dù có thể không phải động cơ xấu, mà chỉ là do không đủ trí tuệ, năng lực và lòng dũng cảm.
Thế nào là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu? Nguyên nhân tại đâu và ngăn ngừa cách nào? Để nói sự diễn biến và chuyển hóa ấy là xấu hay tốt thì phải căn cứ vào kết quả, hậu quả do nó gây ra. Thực tiễn là cơ sở để kiểm nghiệm chân lý. Tốt xấu là khách quan. Các ý muốn chủ quan bảo thủ, duy ý chí không phải là căn cứ để khẳng định tốt xấu, dù cho nó đã được ghi trong nhiều văn bản. Kết quả thực tế và cơ sở khoa học mới là căn cứ để đánh giá. Nhưng đối với một sự vật hay hiện tượng đang diễn biến, đang chuyển hóa thì chưa có kết quả thực tế cuối cùng để đánh giá là tốt hay xấu, mà đợi cho đến khi có kết quả cuối cùng thì quá lâu hoặc phải trả giá quá đắt, vì vậy, đối với các trường hợp ấy, căn cứ chủ yếu, và trong nhiều trường hợp là căn cứ duy nhất, để đánh giá tốt xấu, đó là các cơ sở khoa học và tư duy lô-gic. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, một người nào đó, chỉ một mình, ngồi trong phòng làm thí nghiệm, vẫn có thể tìm ra được chân lý. Còn trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, sự tiếp cận chân lý chủ yếu phải bằng tranh luận, đối thoại bình đẳng, thông qua các hội thảo, các diễn đàn khoa học và thông qua thực chứng (nếu có thể). Nói vậy để thấy rằng, để đánh giá sự diễn biến và chuyển hóa cần phải có cách tiếp cận mở, chứ không phải áp đặt bằng ý chí chủ quan. Đối với xã hội VN hiện tại, xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo nhất không phải là từ ý nghĩ, tư tưởng mà là do hành động, từ hành động. Tất nhiên, phần lớn hành động của con người đều gắn với những suy nghĩ, tư tưởng; các quan điểm sai trái nếu lan rộng cũng dẫn đến “tự diễn biến”. Nhưng cái “tự diễn biến” nguy hiểm nhất chính là hành động trên thực tế, chứ không phải lời nói. Đối với luật pháp tiến bộ thì suy nghĩ không cấu thành tội phạm. Suy nghĩ, tư tưởng của con người là cái tự do. Xã hội không thể không có tự do về tư tưởng. Chỉ có chế độ toàn trị mới quản lý, giám sát tư tưởng của con người. Mà toàn trị là thứ chống lại tự do - giá trị thiêng liêng đối với cuộc sống của con người. Toàn trị không phải là chế độ dân chủ và tiến bộ, mà là một chế độ lạc hậu, xa lạ và trái ngược với CNXH. CNXH phải là dân chủ và tự do, chứ không phải là toàn trị. Nếu cứ bám theo hướng của chế độ toàn trị thì thực chất đó là sự chệch hướng khỏi mục tiêu XHCN, rời bỏ CNXH. Phải đề phòng nhiều lúc cái “phi XHCN” lại nhân danh CNXH. Cần phải có tư duy sắc bén trước những vấn đề như vậy. Không nhầm lẫn cái nó nhân danh với bản chất thực của chính nó.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm nhất chính là sự thoái hóa về chính trị do “lợi ích nhóm” gây nên. Ban đầu, các “nhóm lợi ích” nói chung, không phải đã có mục đích xấu về chính trị, mà chỉ là do lòng tham quá lớn, nặng chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Từ đó, đồng tiền làm tha hóa họ về đạo đức. Đạo đức là giá trị lõi của văn hóa. Đạo đức hỏng tức là nền tảng văn hóa hỏng. Mặt khác, đạo đức của cán bộ hỏng thì dẫn đến chất lượng của hệ thống chính trị giảm và niềm tin của mọi người đối với Đảng và Nhà nước không còn. Khi chất lượng của hệ thống chính trị suy giảm nghiêm trọng và niềm tin của nhân dân không còn tức là nền tảng chính trị đổ vỡ và do đó, chế độ chính trị không còn chỗ dựa để tồn tại. Về bản chất thì các “nhóm lợi ích” mâu thuẫn với nhau, không thống nhất được, do luôn có xung đột lợi ích. Tuy nhiên, có những thời điểm, khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước quyết liệt thực thi pháp luật về chống tham nhũng thì, do sự mất còn về “lợi ích” cá nhân và sinh mạng chính trị, các “nhóm lợi ích” có thể sẽ thỏa hiệp và liên kết với nhau để đối phó và bằng mọi cách nhằm chống lại các cơ quan lãnh đạo. Kể cả việc họ sử dụng một bộ phận truyền thông để tác động thông tin nhằm làm cho dư luận lẫn lộn “trắng-đen”, “phải-trái”, kể cả họ xuyên tạc ý nghĩa và mục đích của cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng và Nhà nước phát động và lãnh đạo. Họ xuyên tạc rằng, đây là “nhóm này đánh nhóm kia”, nhằm tác động tư tưởng gây khó cho việc thực hiện chủ trương chống tham nhũng và bảo vệ cho “nhóm lợi ích”. Khi cần và nếu có thể được thì họ cũng sẵn sàng thay đổi lãnh đạo để bảo vệ cho quyền lợi bất chính của họ. Đây không phải là sự đổi mới trong sáng vì lợi ích chung và hầu hết sự thay đổi như thế sẽ hình thành chế độ độc tài, thối nát, do “maphia-lợi ích nhóm” chi phối. Như vậy, quá trình đó bắt đầu là chuyện kinh tế, tiếp theo là văn hóa và cuối cùng thành chuyện chính trị. Nếu giới hạn vấn đề ở mức thấp hơn, chỉ có tham nhũng và “nhóm lợi ích”, đương nhiên đã gắn với cán bộ có chức quyền, và dừng lại ở đó, không đi xa hơn về chính trị, thì bản thân việc phá hỏng niềm tin cũng đã là chính trị rồi.
Tự diễn biến, tự chuyển hóa là một sự thay đổi, tự thay đổi, mà chủ yếu muốn nói ở đây là đối với lĩnh vực chính trị, có thể theo hướng tốt, hoặc theo hướng xấu. Tốt xấu là so với cái gì, căn cứ vào cái gì để nói tốt hay xấu? Thường thì mọi người vẫn hay lấy ý muốn chủ quan của mình để làm căn cứ. Phương pháp tiếp cận đó chưa phải là khoa học. Những ý muốn chủ quan, giáo điều, bảo thủ, không đủ cơ sở khoa học, thì chưa phải là căn cứ khoa học, cùng lắm thì đó cũng mới là ý kiến tư biện có lô-gich. Nếu diễn biến và chuyển hóa theo hướng tốt thì chẳng có gì đáng phải lo ngại. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo là sự thay đổi của chế độ chính trị theo hướng xấu, nói cách khác đó là một sự thoái hóa nghiêm trọng về chính trị. Thế nào là sự thoái hóa về chính trị? Trước tiên thử xem thế nào là một nền chính trị tốt? Đó phải là một nền chính trị chân chính, dân chủ và tự do, dân là chủ, do nhân dân làm chủ, nhà nước là công cụ bảo vệ và phục vụ nhân dân, bảo đảm đầy đủ các quyền con người và quyền dân chủ,  con người được thật sự tự do về tư tưởng, về ngôn luận và các quyền tự do khác trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chính trị ổn định và tác động tích cực cho kinh tế phát triển, văn hóa lành mạnh và nhân văn, mọi người hạnh phúc. Nếu tự diễn biến, tự chuyển hóa theo hướng tạo ra một nền chính trị tốt như vừa nói thì chẳng có gì đáng ngại, mà là cần thiết, là mong muốn, kể cả phải thúc đẩy nữa. Đó mới là XHCN chân chính. Còn nếu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu, xa rời mục tiêu một nền chính trị tốt, để hình thành một nền chính trị không chân chính, giả hiệu và mị dân, mất dân chủ, nhân dân không được làm chủ, không có tự do, không được nhà nước bảo vệ và phục vụ, mà là đối tượng bị cai trị, bị ức hiếp, tham nhũng và “lợi ích nhóm” tràn lan, các “nhóm lợi ích” thâu tóm kinh tế và chính trị, xã hội bị phân hóa giàu-nghèo bất hợp lý và gây nên mất ổn định, gia tăng sự bất bình và mâu thuẫn xã hội, cuộc sống của nhân dân không có hạnh phúc, thì cái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” kiểu ấy chúng ta không cần, phải ngăn chặn, phải phòng chống. Xa rời mục tiêu của một nền chính trị tốt để chuyển theo hướng một nền chính trị xấu, đấy chính là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phê phán và đề phòng; cũng chính là sự chệch hướng, xa rời mục tiêu XHCN chân chính và khoa học. Tôi muốn dùng chữ “chân chính” và “khoa học” để phân biệt với “CNXH” giả hiệu và ngộ nhận, ảo tưởng. Điều đó là rất đáng lưu ý, bởi vì, như tôi hiểu, trong tư duy cũ, từ Liên-xô và Trung Quốc đã tác động vào Việt Nam ta, cách hiểu, cách nghĩ về CNXH có nhiều điều không đúng khoa học, không đúng theo cách tư duy của K.Marx, đến nay qua đổi mới ta đã điều chỉnh khá nhiều, nhưng vẫn còn không ít vấn đề cần phải đổi mới nữa, một cách căn bản (sẽ bàn sau, trong các chuyên đề khác).
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo hướng xấu do cái gì gây nên? Có ý kiến muốn nhấn mạnh nguyên nhân do sai lầm về nhận thức. Có nguyên nhân ấy thật! Nhưng nếu đó là nhận thức của một người bình thường thì tác động không nhiều, vì họ không có quyền lực để áp đặt, và vì nhận thức của cộng đồng xã hội có tư duy không dễ bị mê hoặc, lừa phỉnh. Cái đáng lo là nhận thức của lãnh đạo, của những người có quyền lực, có thể áp đặt tư duy của mình lên cộng đồng. Như vậy, cái chính ở đây là lãnh đạo phải lo giữ mình, chứ không phải bận tâm nhiều về việc các cá nhân nào đó nói ý kiến khác lãnh đạo. Nói đi rồi cũng phải nói lại để góp cho cái nhìn toàn diện hơn. Một người nào đó nói khác ý kiến lãnh đạo thì lãnh đạo hoàn toàn có quyền phản biện và tranh luận để làm rõ chân lý. Đó là sự phản biện khoa học, rất cần thiết. Chứ tại sao không? Tại sao người khác thì được nói ý kiến phản biện của mình còn nhà lãnh đạo thì không được? Nếu vậy thì mất dân chủ ngược. Thật là không công bằng khi thấy một nhà lãnh đạo nào đó có ý kiến phản biện lại, tranh luận lại thì cho rằng ông ấy mất dân chủ, ông ấy áp đặt. Chỉ có điều là, đối với khoa học, thì phải khách quan và bình đẳng, lãnh đạo hay người bình thường đều bình đẳng như nhau, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng ý kiến khác mình, không ai áp đặt cho ai, không được quy chụp nhau, đó là  thái độ khoa học và ứng xử có văn hóa, biết khoan dung và rộng mở, tôn trọng sự đa dạng trong văn hóa và trong tư duy. Đó là con đường tiếp cận chân lý, con đường phát triển nhân tố con người – cái lõi quan trọng nhất đối với mọi sự phát triển, cũng như đối với những cuộc “cách mạng” xã hội sâu sắc bậc nhất. Xã hội ta rất cần những người lãnh đạo sẵn sàng đối thoại, tranh luận với mọi người. Với cách đó, các ý kiến đúng của đôi bên sẽ được lan tỏa và góp phần hoàn thiện tư duy lẫn nhau, cho cả cộng đồng. Nếu lãnh đạo có nhiều ý kiến đúng thì sự lan tỏa sẽ lớn và rất cần cho xã hội. Nếu lãnh đạo có ý kiến sai hoặc chưa đúng thì sẽ sớm được điều chỉnh, cũng là có lợi, vừa lợi cho việc chung, vừa lợi cho chính các lãnh đạo ấy. Mặt khác cũng là tạo điều kiện để nhân dân phát huy quyền dân chủ, dễ đánh giá và lựa chọn những người lãnh đạo.
Như phần trước của bài viết đã nói, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đáng lo nhất thuộc về nguyên nhân do “lợi ích nhóm” gây nên. Nó không phải từ lời nói, mà từ việc làm, từ hành động. Nó phá vỡ các nền tảng, các trật tự. Các “nhóm lợi ích” có thể vẫn nói những lời, hô to những khẩu hiệu tưởng như “quan điểm lập trường” vô cùng vững vàng. Nhưng họ làm khác. Nói kiểu này nhưng làm kiểu khác, nói một đường làm một nẻo. Đó cũng là cách hoặc do bị ngộ nhận, hoặc là “đánh lạc hướng” mà những người “ngây thơ” dễ bị lầm tưởng, mất cảnh giác. Lâu nay, khi nói đến chuyện đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì các nhà tuyên truyền thường tập trung vào những người có ý kiến khác với lãnh đạo, khác với văn bản, nghị quyết, nhất là về quan điểm, chứ ít người nhấn mạnh về “lợi ích nhóm” và nạn tham nhũng – cái đang hàng ngày hàng giờ làm sụp đổ lòng tin, tức là sụp đổ nền tảng chính trị.
Các nhà tuyên truyền thì cho rằng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là đấu tranh về quan điểm (chứ không phải hành động?). Nói quan điểm là để ngăn chặn hành động sai, mục đích chính là vậy, chứ nếu không cần quan tâm đến hành động thì lời nói chỉ là chuyện “gió bay”. Quan điểm cũng là quan trọng, quan điểm sai cũng cần phải “đấu tranh”, nhưng hành động mới là quan trọng hơn, quan trọng nhất. Khi buộc phải dùng từ “đấu tranh” về quan điểm như các văn bản chính thống đã nêu, tôi muốn viết chữ ấy trong ngoặc kép là nhằm tránh sai lầm về phương pháp mà lâu nay ta vẫn gặp. Nó là sự thuyết phục lẫn nhau chứ không phải là sự áp đặt và quy chụp, càng không được dùng biện pháp hành chính để đối phó. Trong các quan điểm khác với lãnh đạo ấy có nhiều động cơ khác nhau mà phải phân tích rất kỹ và ứng xử phù hợp mới có hiệu quả thiết thực, nếu không, đôi khi lợi bất cập hại. Có người có động cơ xấu, chống cộng cực đoan, muốn chống phá, muốn gây mất ổn định tư tưởng để dẫn đến mất ổn định chính trị, thì đúng là phải đấu tranh vạch rõ cái sai để cho mọi người cùng hiểu. Mà ngay cả đối với loại này vẫn phải có cách trình bày rõ cơ sở khoa học của vấn đề một cách thuyết phục, chứ không phải “đao to búa lớn” mà có kết quả. Trường hợp khác, đối với những người do cách hiểu, do nhận thức thì càng cần phải làm rõ cơ sở khoa học để thuyết phục nhau bằng chân lý. Chưa thuyết phục được thì thuyết phục nữa. Không đủ sức thuyết phục thì yếu kém của người nói, chứ đừng đổ lỗi cho người nghe. Trường hợp khác nữa là những ý kiến mới, khác với quan điểm đã có, khác với lãnh đạo, nhưng đúng, có cơ sở khoa học, cần được khuyến khích, trân trọng và lắng nghe một cách cầu thị, tiếp thu để hoàn thiện hoặc điều chỉnh đường lối. Đó chính là sự phản biện xã hội đối với các chủ trương đường lối mà chúng ta rất cần, trong một xã hội dân chủ. Lắng nghe những ý kiến khác ấy – đó chính là dân chủ và khoa học. Mà dân chủ và khoa học thì vừa là mục tiêu vừa là động lực. Nếu không có những ý kiến khác ấy thì xã hội sẽ một chiều, không còn sự đa dạng văn hóa, mất sức đề kháng và mất sức sống, giống như thế giới tự nhiên sẽ tàn lụi dần khi bị triệt tiêu tính đa dạng sinh học. Đừng chủ quan nghĩ rằng, mọi cái đã nêu ra đều đúng và đúng mãi. Nghĩ vậy là không duy vật, cũng chẳng biện chứng. Nói thì duy vật và biện chứng mà làm thì duy tâm và siêu hình. Thỉnh thoảng tôi thấy có bài viết hoặc nói nhân danh bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ, nhưng toàn đi “trên mây”, tung hô ca ngợi thành tích một chiều và cường điệu, hô vang các khẩu hiệu. Kiểu ấy chẳng những không thuyết phục được ai mà còn làm người ta chán, thậm chí nguy hiểm hơn nữa là vô tình “đẩy” đến sụp đổ khi mà tình thế đang đứng trước một bờ vực. Nếu người làm tuyên truyền không đủ trí tuệ và tầm văn hóa thì rất dễ đẩy tất cả mọi người có ý kiến khác về phía đối lập, làm cho đảng và nhà nước bị cô lập, giảm uy tín về trí tuệ và văn hóa, gây nên sự xơ cứng và thụ động cho hệ thống chính trị và cho cả xã hội, trong khi rất cần sự năng động, chủ động và liên tục khai hóa văn minh. Công tác tư tưởng, xét cho đến cùng, chỉ có lợi và đáng làm khi nó là công việc khai phá văn minh, nâng đỡ cái tốt và cái đẹp, chống lại sự kìm hảm lạc hậu, cái xấu và cái ác, chứ không phải là “cảnh sát tư tưởng”, làm cho một tập thể đảng và tầng lớp trí thức bị thụ động, từ đó mà lan ra làm cho một dân tộc phải thụ động. Nói gọn lại là phải khai phá văn minh, chứ không được ngu dân. Còn đối với những người hàm hồ, chưởi đổng, ngôn ngữ “chợ búa” hoặc cố tình xuyên tạc, nói xấu người khác và nói xấu các tổ chức, thì có lẽ cũng chẳng đáng ngại lắm. Tự họ đang tích cực hạ thấp và vô hiệu hóa chính họ đó thôi, kể cả đối mặt với pháp luật nữa nếu như họ vu cáo. Với trình độ dân trí của ngày nay thì nói chung cán bộ và nhân dân sẽ không khó khăn lắm để hiểu đâu là chính đâu là tà.
Chuyện tự diễn biến, tự chuyển hóa, lần này xin được góp một số ý kiến như vậy.
Quảng Nam tháng 6. 2017
V.N.H.
Nguồn: http://www.viet-studies.net/kinhte/VuNgocHoang_TuDienBienChuyenHoa.html. Những câu in đậm là do Viet-studies.

CẢM NHẬN VỀ BÀI VIẾT CỦA ÔNG VŨ NGỌC HOÀNG VỀ 'TỰ DIỄN BIẾN', 'TỰ CHUYỂN HÓA'

TÔ VĂN TRƯỜNG/ KYDUYEN BLOG 28-6-2017

Theo thiển nghĩ của người viết bài này, trước hết phải nói rằng cụm từ  “tự diễn biến, tự chuyển hóa” bản thân nó chẳng hề mang ý xấu, ý tiêu cực nào cả! Cũng như dạo chiến tranh và sau chiến tranh hễ cứ nói đến hai từ ” lãng mạn” trong văn học nghệ thuật là nhiều vị lại giẫy nẩy lên và bắt mọi người phải ngoắc thêm vào sau hai từ nữa là “cách mạng” cho…yên tâm. Thế cái lãng mạn trong “Truyện Kiều”, trong “Tây Tiến” thì gọi là lãng mạn gì nhỉ?
Nội dung cốt lõi bài của ông Vũ Ngọc Hoàng là bàn về khái niệm “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Ông đã rẩt sâu sắc trong tư duy, khi trao đổi về vấn đề này với cách tiếp cận khoa học, mạch lạc, dễ hiểu! Từ đó, đã chỉ ra rằng trong mọi nguyên nhân của sự thay đổi  thì nguyên nhân chủ quan, nội tại là quyết định.
Liên Xô và khối XHCN tan rã sụp đổ chủ yếu là do “tự diễn biến, tự chuyển hóa” đấy chứ! Có xe tăng, đại bác nào của Mỹ và NATO khai hỏa đâu! Mà nếu Mỹ, NATO dùng vũ lực thì chưa chắc Liên Xô và khối Đông Âu đã sụp đổ nhanh như thé, có khi Mỹ và NATO còn bươu đầu sứt trán ấy chứ!
Ý của ông Vũ Ngọc Hoàng còn sâu sắc ở chỗ này: Chính Đảng và Nhà nước Việt Nam đã buộc phải “ diễn biến và chuyển hóa” khi đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, tức là buộc phải “đổi mới”! Rõ ràng quá trình ” diễn biến và chuyển hóa” là tự nhiên như một quy luật khách quan, tốt hay xấu là tùy thuộc kết quả và góc tham chiếu mà thôi. Điều hấp dẫn và thú vị khi đọc các bài viét của ông, hầu như chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản, phổ thông, nhưng duới một góc nhìn mới, sắc sảo, mạnh dạn, thẳng thắn hơn và có gì đó rất khác với nhiều người ở cương vị và lĩnh vực tương đương.
Tuy nhiên, là người đã từng giữ ngôi vị thứ hai (Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương Đảng) , ông Vũ Ngọc Hoàng vẫn tỏ ra điềm tĩnh không để cho ngòi bút của mình trượt đi theo cảm xúc. Bởi thế, đọc các bài viết của ông, người đọc cảm nhận rất rõ sự thông tuệ mà bình dân, tự tin mà khiêm nhường của tác giả. Đó chính là bản lĩnh của một người đã từng đứng ở tâm điểm của những dòng xoáy các trào lưu tư tưởng chính trị.
Sống trong dân, trong tổ chức, nhiều đảng viên cùng chung suy nghĩ chưa thấy ai phát hiện ra hiện tượng, hay cụm từ “Tự diễn biến, tự chuyển hóa”  mà chỉ được biết nó trở thành một chủ trương hành động chính trị xã hội, khi đọc các văn bản của Đảng.
Nhiều người có chung nhận định, cách diễn giải hình thù cụ thể của “Tự diễn biến và tự chuyển hóa “, nếu không phân tích làm rõ một cách biện chứng, thuyết phục thì rất nguy hiểm bởi vì :
  • Chỉ là cái mũ người (nhóm) này chụp cho người (hay nhóm) kia trong cuộc đấu đá nội bộ.
  • Cái thuật ngữ này chỉ là “nhát ma” những người hay “sợ ma”!
  • Nếu Đảng tự diễn biến, tự chuyển hóa để khắc phục những yếu kém đang cản trở sự phát triển xã hội, để phục vụ nhân dân thực chất hơn, tốt hơn thì lại có ý nghĩa tích cực, là cái mà người dân mong đợi.
  1. Nhận xét chung:
  • Bài viết về “Từ diễn biến-tự chuyển hóa” 6/2017 của ông Vũ Ngọc Hoàng khá dài 4.550 từ. Các nội dung trong bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng được phân tích thuyết phục: (1) Sự sụp đổ nhà nước XHCN Liên Xô và các nước Đông Âu là không tránh khỏi bởi lý luận khô cứng khuyết tật và mô hình nhà nước, hệ thống quản trị thiếu khoa học; (2) Quản trị quốc gia lấy vũ trang (Quân đội, Công an) làm công cụ chính thì đó là biểu hiện của chế độ độc tài toàn trị. Đó là những bài học và luận cứ thực tiễn chúng ta cần tiếp thu.
  • Phương pháp diễn đạt phân tích, phản biện vấn đề có tính logic cao trong khuôn khổ lý luận mang tính thực tiễn và xã hội học (chưa phải lý luận triết học) diễn ra trong một chế độ nhà nước do Đảng cộng sản cầm quyền có nền kinh tế, luật pháp,… kiểu XHCN (giống như tổ chức nhà nước và luật pháp ở Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu trước đây, Trung Quốc, Cu Ba).
  • Vì vậy bài viết của tác giả mang tính phản ánh/tổng kết đánh giá một số nguyên nhân của những thực trạng bất cập trong tư tưởng, tồn tại về phát triển kinh tế xã hội, một số hướng giải quyết khắc phục dựa trên các Nghị quyết của Trung ương Đảng CSVN.
  • Đây là nội dung và cách hành văn của một giáo trình có nhiều ý kiến tham luận hay, luận giải thích hợp (không cực đoan) về hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho công tác tuyên huấn và bồi dưỡng chính trị cho cán bộ đảng cơ sở trong khuôn khổ thực hiện nghị quyết TW Đảng và ý tưởng sử dụng công cụ chống tự diễn biến, tự chuyển hóa nhằm hạn chế tình trạng tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước các cấp hoạt động thiếu hiệu quả của TBT Nguyễn Phú Trọng.
  1. Thảo luận:
  • Lịch sử phát triển xã hội loài người đến nay đã cho thấy rằng, bộ máy quyền lực nhà nước được thiết lập và thực hiện dựa trên những ý tưởng và luận điểm triết học của các triết gia chứ không phải của bộ máy quyền lực. Tranh luận triết học với trình độ các nhà triết học VN với thế giới chắc là việc khó nên không bình luận ở đây. (Nếu các cố triết gia Trần Đức Thảo và Nguyễn Mạnh Tường còn sống, may ra còn có diễn đàn tranh luận về triết học…).
  • Thực trạng của xã hội VN chúng ta hiện nay, mọi cơ chế tổ chức và pháp luật đều do bộ máy quyền lực nhà nước thiết lập, nên hình như có điều gì đó về triết học là thiếu tính khoa học để kiểm soát và điều chỉnh xã hội theo hướng tiến bộ và phát triển. Khi một chủ trương được Đảng cầm quyền coi là phương châm, ở một Nhà nước một Đảng, thì tất cả những ý kiến trái chiều cho dù xuất xứ là những người được coi từ xưa là chính thống, cũng  dễ bị “chụp mũ”  cho là phản nghịch, không khác lắm với Galileo dám nói là quả đất quay, trái với Giáo Hội La Mã, suýt nữa bị hỏa thiêu. Do đó, những dẫn chứng về sự bất cập thực tế và nguyên nhân gây bất ổn trong bộ máy quyền lực trong bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng phù hợp với trình độ của cán bộ và nhân dân, rất đáng được trân trọng.
  • Chủ trương về đất đai mà chúng ta biết, nghe thì hay, vì nói đất đai là sở hữu toàn dân, Nhà nước quản lý, nhưng trong thực tế, thiếu những cơ sở khoa học cho việc thực hiện pháp lý dài hạn vì Nhà nước là cán bộ quản lý với một hoặc hai nhiệm kỳ, sau đó, có thể tiếp tục làm cố vấn. Người cán bộ đó cũng là một con người, cũng có những nguyện vọng tầm thường của một con người khi không được kiềm chế, kiểm soát, rất khó tránh khỏi móc nối với các tổ chức trong hoặc ngoài Chính phủ, các nhóm lợi ích được hình thành, và trong thực tế đang chi phối đời sống của chúng ta. Ở môi trường Việt nam, một nước Á châu, chủ trương đó rất dễ được lãnh đạo chấp nhận, và đã chấp nhận rồi, chống lại là một việc rất khó khăn và phức tạp.
  • Chủ trương chính sách “khoán 10” trong nông nghiệp cũng là một hiện tượng tự diễn biến tích cực phù hợp trong một thời điểm để khắc phục sai lầm của mô hình sản xuất tập thể gọi là Hợp tác xã, chứ không phải một luận cứ khoa học cho phát triển nông nghiệp tiên tiến lâu dài. Cho đến nay, VN vẫn là một nước nông nghiệp, vậy mà nông dân không phải là người chủ thực sự trên mảnh đất của mình, thì khó mà xây dựng được nền kinh tế thị trường, theo định hướng XHCN. Tương tự như vậy trong lĩnh vực công nghiệp, sự thất bại của các doanh nghiệp Nhà Nước, theo văn kiện của Đảng lãnh đạo, vốn được coi là chủ đạo theo định hướng XHCN, điển hình là hai doanh nghiệp hút nhiều vốn nhất là Vinashin và Vinalines, đã là minh chứng của lập luận lúc đầu nghe cũng có vẻ thuyết phục, nhưng thực tế lại khác 180 độ.
  • Cũng như hiện tượng Tự diễn biến, tự chuyển hóa,… “lợi ích nhóm” và nhiều hiện tượng khác trong xã hội cũng có cả nghĩa tích cực và tiêu cực, không phải phạm trù triết học nào cả, nó sinh ra và cùng tồn tại với xã hội phụ thuộc vào thể chế quản lý nhà nước mà nó tốt hay xấu. Phương pháp quản trị nhà nước mạnh và khách quan thì nó yếu, ngược lại quản trị nhà nước yếu thì nó phát triển mạnh theo hướng tiêu cực lúc đầu là lợi dụng quyền lực nhà nước sau đó là thủ tiêu nhà nước.
  • Như vậy, vấn đề là lựa chọn mô hình (từ phân tích tổng hợp thành tựu của thế giới về các thể chế nhà nước văn minh hiện đại) và hoàn thiện thể chế đáp ứng được ngày càng cao đòi hỏi về sự bình đẳng, quyền lợi dân tộc và người dân. Tiếp theo là xây dựng nền tư pháp thực thi nghiêm chỉnh Hiến pháp của nhà nước theo thể chế đó. Đó chính là cơ sở khoa học mà ông Vũ Ngọc Hoàng coi là điểm tựa để phân xử tranh luận đúng sai của các giải pháp và hiện tượng được tác giả phân tích đề xuất.
  • Việc lựa chọn xây dựng mô hình nhà nước và pháp luật cần có một tầng lớp trí thức tinh hoa mà Việt Nam chưa có (ngay cả khoa học tự nhiên và kỹ thuật-công nghệ, mặc dù có một số nhà Khoa học VN nổi tiếng nhưng chúng ta cũng chưa có tầng lớp trí thức này). Nếu đào tạo nghiêm chỉnh cũng phải mất nhiều chục năm may ra mới có, nên tốt nhất là vừa đào tạo vừa thuê các trí thức từ các nước có nền khoa học và quản lý nhà nước tiên tiến, như các nước công nghiệp mới phát triển đã thực hiện.
  1. Lời kết
Shakespeare nhà viết kịch nổi tiếng trên thế giới người Anh ở thế kỷ 16 (thời kỳ phục hưng) đã để cho nhân vật Hamlet có câu nói bất hủ cho đến tận ngày nay :”To be or not to be” có nghĩa là “tồn tại hay không tồn tại”. Nhiều người dân Việt Nam vẫn còn nhớ thời kỳ cuối thập niên 80, nhất là khi khối Đông Âu suy yếu và tan rã, trước các yêu cầu bức xúc của cuộc sống, để tồn tại, Đảng và Nhà nước ta đã tự cứu mình bằng cách tiến hành đường lối Đổi mới, tạo ra các bước đột phá đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng, trì trệ. Vậy, đây có phải là “tự diền biến, tự chuyển hóa “ mà lá cờ đầu chính là Tổng bí thư Trường Chinh cho viết lại toàn bộ Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI?
Bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng hoàn toàn mang tính xây dựng và không hề cực đoan.  Ngẫm suy, quan điểm của chúng ta là “năng nhặt chặt bị”, đừng bỏ phí bất kể điều gì tốt đẹp trong xã hội vẫn còn rất nhiều nhiễu nhương.
“Gieo trăm gặt một thế cũng là
Được bao nhiêu cũng là được cả
Một thời khô héo một thời hoa”.
(Thơ Việt Phương)
Nổi bật nhất bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng chính là những nội dung cơ bản Đảng cộng sản VN có đủ khả năng kế thừa, định hướng, triển khai nếu muốn đất nước VN phát triển, biết nhận thức và tiếp thu khoa học khách quan về lý luận và quản trị nhà nước. Còn cứ đổ tội cho hiện tượng này nọ, cải cách vụn vặt, ngẫu hứng sẽ chỉ tốn thời gian công sức, và làm mất cơ hội phát triển.
Trước đây không lâu, lãnh đạo của VN không đánh giá cao doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa. Ngày nay,  lại coi đó là một lực lượng quan trọng, phải chăng chúng ta đã buộc phải đổi hướng, nhưng không nói ra?
Còn cái gì nữa mà chúng ta sẽ buộc phải nói ra? Sự thay đổi dù không nói ra này có phải là Đổi mới tư duy không? Đổi mới tư duy có gì khác với tự diễn biến, tự chuyển hóa? Nếu ta hiểu mấy thuật ngữ này theo nghĩa tiêu cực, nghĩa là thụt lùi, thì ta không nói theo Triết học  nữa. Vậy thì ta không Đổi mới, cứ làm như cũ chăng, thì  nguy cơ “cái gì đến ắt sẽ đến” nếu ta không biết nhìn lại mình cho rõ hơn và không biết vượt lên chính mình.

BÀN THÊM VỀ BÀI VIẾT 'TỰ DIỄN BIẾN'-'TỰ CHUYỂN HÓA' CỦA ÔNG VŨ NGỌC HOÀNG

Một trong số rất hiếm hoi những người có trí lự mà vẫn yêu đảng, yêu chế độ nồng nàn là anh Vũ Ngọc Hoàng. Thật đáng trọng. Tôi trọng những người như anh và sổ toẹt vào đám giả cầy (cả hai chiều) mồm miệng leo lẻo cnxh này nọ, thực chất họ chỉ biết lợi lộc của họ thôi, đ... biết gì đâu.
VỀ “TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HOÁ” là một bài viết hay, đáng đọc. Các ông bà “có lý luận” trong đảng nên đọc bài này, nếu muốn cứu đảng cứu chế độ.
Trong đó anh Vũ Ngọc Hoàng đưa ra một khái niệm "cnxh giả hiệu" rất đáng quan tâm. Nói rằng có cnxh giả hiệu tức là có cnxh thật. Có đúng có cnxh thật không? Theo tôi là có. Bởi nó nằm trong quy luật phát triển của nhân loại, hết tư bản thì lên cnxh thôi chứ chạy đi đâu được. Nhưng cnxh thật đó không thể có được nhờ đảng cộng sản tự thân đổi mới để cải tạo cnxh giả hiệu thành cnxh thật được đâu anh Hoàng ạ. Bởi vì làm thế là đốt cháy giai đoạn, trái qui luật.
Cnxh thật này (tức cnxh theo đúng tiêu chí của Mác, không phải tiêu chí của Lê Nin hay Stalin) phải do các nước tư bản hiện đại tiên tiến “tự chuyển hoá”, “tự diễn biến” mà thành. Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Úc, Đức, Anh… đang đi theo hướng đó (Mỹ thì còn lâu nhé!). Tôi đồ rằng trong vòng vài chục năm tới sẽ có hơn chục nước nữa xây dựng cnxh thật theo hướng này. Sang thế kỷ 22 trở đi, tất cả các nước tư bản tiên tiến hiện nay sẽ dần dần chuyển đổi thành cnxh thật; một nửa thế giới sẽ sống trong cnxh mà chúng ta mơ ước đó anh. Đảng cs sẽ không có vai trò gì trong cuộc chuyển đổi vĩ đại này đâu, anh đừng mơ mộng hão.
Chúng ta muốn có cnxh thật thì trước hết phải xây dựng một nước tư bản hiện đại tiên tiến, đó là con đương duy nhất đúng và duy nhất ngắn, thưa anh.
Nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Nói thật đi anh, anh nói được mà.
Kính anh
Nguyễn Quang Lập
(100% không có lý luận
)
Nếu phân tích kỹ bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng thì sẽ thấy, ý tưởng mà bạn Nguyễn Quang Lập muốn đề xuất với tác giả thật ra cũng đã nằm trọn trong những điều tác giả định gửi gắm. Trong đoạn sau đây, ông Hoàng nêu lên hai vế: một vế ông đối lập dứt khoát chế độ toàn trị với tư tưởng tự do dân chủ, vế khác ông xác nhận chế độ toàn trị “hoàn toàn xa lạ và trái ngược với CNXH”. Mà CNXH theo ông lại là một thành quả của dân chủ và tự do: “Đối với luật pháp tiến bộ thì suy nghĩ không cấu thành tội phạm. Suy nghĩ, tư tưởng của con người là cái tự do. Xã hội không thể không có tự do về tư tưởng. Chỉ có chế độ toàn trị mới quản lý, giám sát tư tưởng của con người. Mà toàn trị là thứ chống lại tự do - giá trị thiêng liêng đối với cuộc sống của con người. Toàn trị không phải là chế độ dân chủ và tiến bộ, mà là một chế độ lạc hậu, xa lạ và trái ngược với CNXH. CNXH phải là dân chủ và tự do, chứ không phải là toàn trị. Nếu cứ bám theo hướng của chế độ toàn trị thì thực chất đó là sự chệch hướng khỏi mục tiêu XHCN, rời bỏ CNXH. Phải đề phòng nhiều lúc cái “phi XHCN” lại nhân danh CNXH. Cần phải có tư duy sắc bén trước những vấn đề như vậy. Không nhầm lẫn cái nó nhân danh với bản chất thực của chính nó”.
Thử hỏi, trên thế giới trước đến nay, loại mô hình chế độ toàn trị vẫn tuyên xưng rằng mình “giương ngọn cờ xây dựng CNXH”, thậm chí đến lúc chủ nghĩa xã hội đã đồng loạt sụp đổ mà vẫn còn ra sức “xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, là thứ mô hình nào? Nếu chẳng phải là cái mô hình đảng cộng sản nắm quyền cai trị một cách tuyệt đối, toàn diện – đã từng có ở nước Nga từ 1917 đến 1990, và hiện vẫn đang tồn tại ở Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Triều Tiên... – thì còn gì vào đấy nữa? Các loại mô hình toàn trị khác có thứ mô hình nào mà lại dám vỗ ngực tự xưng chính nó sẽ đưa dân chúng đến thiên đường XHCN đâu. Vậy thì luận giải của ông Vũ Ngọc Hoàng trước sau cũng đồng quy ở một điểm giống hệt với Nguyễn Quang Lập, nào có khác gì nhau: “CNXH thật” không bao giờ sản sinh từ bàn tay chèo lái của đảng cộng sản được cả, dù đảng ấy có tự thân đổi mới mấy đi nữa, bởi một lẽ giản đơn là nếu đảng cộng sản vẫn còn thì cơ chế toàn trị vẫn còn, mà như trên đã thấy, toàn trị theo ông Vũ Ngọc Hoàng chính là khắc tinh của CNXH. Nghĩa là con đường mà đảng cộng sản dẫn dắt dân chúng không hề lấp ló một chút ánh sáng nào ở phía trước, dẫu là đi đến muôn đời chứ không phải đến cuối thế kỷ này.
Là người được nếm “trái đắng” CNXH giả cầy trong suốt mấy chục năm qua, cho đến tận bạc đầu rồi mà vẫn cứ phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”, thiết tưởng chúng ta phải nhạy bén hơn ai hết với những hệ luận mà ông Hoàng thốt lên từ chính con tim của mình: “Phải đề phòng nhiều lúc cái “phi XHCN” lại nhân danh CNXH”, cũng như lời cảnh báo thâm thúy của ông: “Không nhầm lẫn cái nó nhân danh với bản chất thực của chính nó”. Đúng! Mỗi chúng ta hôm nay chẳng phải đang cố gắng chỉ tên vạch mặt cái bản chất “phi XHCN” từng làm khổ chúng ta – và vài ba thế hệ trước chúng ta – gần suốt cả một đời đấy là gì. Nếu có muốn chỉnh sửa chút ít gì vào đây thì theo chúng tôi có lẽ là ở cấp độ của sự đánh giá: Không phải là “nhiều lúc” nữa mà là hầu như mọi lúc mọi nơi cái “phi XHCN” được một lũ người ngu dốt vận hành, cứ nghênh ngang trơ tráo mà phá hoại dần mọi nền tảng vốn được xây dựng vững bền trên đất nước Việt Nam, khiến cho không chỉ kinh tế kiệt quệ mà môi trường xã hội, cho đến đạo đức, văn hóa... tức là cốt cách dân tộc cũng suy tàn. Hiểm họa của cái “phi XHCN” do chế độ toàn trị gây nên quả là ghê gớm vậy!
Bauxite Việt Nam

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

20170704. BÀN VỀ BẢN HIẾN PHÁP VNDCCH 1946

ĐIỂM BÁO MẠNG
LẬP LẠI MỘT BẢN HIẾN PHÁP DÂN CHỦ NHƯ HIẾN PHÁP 1946 LÀ SỨ MẠNG CỦA THẾ HỆ TRẺ

PHAN BÁ PHÚC/ BVN 3-7-2017

Kết quả hình ảnh cho hiến pháp 1946

Một số bạn đọc, sau khi xem phần cuối bài “Quan sát cuộc bầu cử ở Pháp 2017” đăng trên Bauxite VN ngày 30/6/2017 đặt câu hỏi “Tại sao bản Hiến pháp dân chủ 1946 không được kế thừa đến bây giờ?”.
Để trả lời câu hỏi này, trước tiên chúng ta phải trả lời 2 câu hỏi sau đây: “Dân chủ khác với dân chủ tập trung ở điểm nào?” và “Hoàn cảnh ra đời của bản Hiến pháp VNDCCH 1946 khác với hoàn cảnh ra đời 4 bản hiến pháp sau đó 1959, 1980, 1992 và 2013 như thế nào?”.
Trước hết, thế giới đã định nghĩa “Dân chủ là gì?”. Có nhiều cách định nghĩa nhưng đều hội tụ ở một điểm rằng “Tất cả cáccông dân trưởng thành đều có quyền lựa chọn đại diện cho mình để điều hành quốc gia”. Việc lựa chọn đó được luật định để bảo đảm tính minh bạch và công bằng - đó chính là quyền bầu cử. Nó cũng bao gồm cả quyền ứng cử và quyền tranh cử.
Có 3 hình thức dân chủ: Dân chủ trực tiếp (direct democracy) - Dân chủ đại diện (representative democracy) và Dân chủ hiến định (consitutional democracy). Từ cuối thế kỷ 18 đến nay, dân chủ hiến định đã trở thành hình thức dân chủ phổ biến nhất trên thế giới. Nó có 8 đặc điểm sau:
1- Bầu cử được tổ chức định kỳ. Cử tri được tự do lựa chọn dân biểu.
2- Các đảng chính trị được tự do tranh cử.
3- Tất cả các công dân trưởng thành đều có quyền đi bầu cử.
4- Quyết định chính trị dựa trên ý nguyện của đa số.
5- Quyền lợi của thiểu số được bảo vệ.
6- Ngành tư pháp (tòa án) độc lập.
7- Hiến pháp bảo vệ các quyền dân sự cơ bản.
8- Dân có cơ hội thay đổi các định chế chính phủ theo thể thức đã được chuẩn thuận.
Trong hầu hết các nền dân chủ hiến định, hiến pháp còn quy định:
- Những giới hạn cho việc sử dụng quyền lực của các định chế nhà nước và ấn định sự tương tác giữa chúng.
- Những quyền lợi của công dân khi đối phó với quyền lực của nhà nước.
- Phương sách để hiến pháp có thể được sửa đổi.
Các đảng chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một nền dân chủ hiến định, vì chúng được xem là phương tiện để dân chúng thể hiện quyền lực chính trị của họ, cũng như để thay đổi chính phủ khi cần thiết. Sự cạnh tranh chính trị giữa các chính đảng là sự khác biệt giữa một thể chế dân chủ đích thực và một thể chế độc đảng dân chủ giả hiệu. Các chính đảng trong nền dân chủ hiến định đều độc lập với nhà nước. Họ cạnh tranh với nhau để thu phục lòng tin và lá phiếu của cử tri với mục đích để cầm quyền. Các đảng không cầm quyền vẫn có thể ảnh hưởng đến chính sách và tiến trình lập pháp thông qua tranh luận của dân biểu thuộc phái của họ trong Quốc hội. Sự có mặt của các đảng không cầm quyền trong Quốc hội buộc chính phủ phải nghiêm túc và hiệu quả hơn trong việc quản trị đất nước. Trong nền dân chủ hiến định, Nội các đối lập sẽ sẵn sàng thay thế chính phủ khi chính phủ không còn được dân chúng tín nhiệm. Đó là một cơ chế thay đổi quyền lực bằng cách hòa bình. Dùng những giải thích về “dân chủ” như trên để đối chiếu, ta thấy không thể lấy cụm từ “tập trung dân chủ” vốn là nguyên tắc tổ chức của Đảng Cộng sản của Lenin (đã bị Rosa Luxemburg chỉ trích) để đặt tên cho một chế độ chính trị. ĐCSVN đã lạm dụng nguyên tắc tập trung dân chủ buộc dân chúng phải lựa chon đại biểu mà Đảng đã chọn thông qua một cánh tay nối dài là Mặt trận Tổ quốc. Với cách áp đặt này, ĐCSVN đã biến Quốc hội thành một công cụ của họ và dùng Hiến pháp để thể chế hóa cương lĩnh của Đảng. Cùng với một bộ máy bạo lực đàn áp, ĐCSVN dùng Hiến pháp để áp đặt sự độc quyền lãnh đạo và cầm quyền. Từ đó ta không lạ gì khi nghe giải thích Hiến pháp 2013: “Tại Việt Nam, Hiến pháp là văn kiện chính trị quan trọng nhất sau cương lĩnh của ĐCSVN”. Điều này cũng bộc lộ lý do vì sao ĐCSVN không chấp nhận sự cạnh tranh của các đảng khác, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng và do đó ở Việt Nam không có cơ chế trao đổi quyền lực một cách hòa bình như ở các nước tự do dân chủ Phương Tây.

Tại sao Hiến pháp 1946 được đánh giá là Hiến pháp dân chủ nhất từ khi có nước VNDCCH đến giờ?

Ngày 20/9/1945, Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước VNDCCH đã được thành lập tại Hà nội, có 7 thành viên, gồm ông Hồ Chí Minh, ông Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại đã thoái vị), các ông Đặng Thái Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh). Để dự thảo Hiến pháp, ngày 2/3/1946 Quốc hội đã bầu ra một Tiểu ban dự thảo Hiến pháp có 11 thành viên, trong đó có 5 người của Việt Minh, 2 người thuộc Đảng Dân chủ, 4 người thuộc Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội và Việt Nam Quốc dân Đảng. Bản Dự thảo Hiến pháp được Quốc hội thông qua ngày 2/11/1946 trở thành thành bản Hiến pháp của nước VNDCCH, được công bố ở kỳ họp thứ hai của Quốc hội trong tháng 11/1946, cách đây 71 năm.
Ngày 19/12/1946 nổ ra cuộc toàn dân kháng chiến lần thứ nhất nên Hiến pháp 1946 chưa chính thức công bố trong toàn quốc và chưa có hiệu lực về pháp lý.
Hiến pháp của nước VNDCCH 1946 gồm lời nói đầu, 7 chương, 70 điều.
* Lời nói đầu khẳng định 3 nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp 1946:
- 1 là đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo.
- 2 là đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
- 3 là thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của toàn dân.
Những nguyên tắc cơ bản này của Hiến pháp 1946 đã giúp Chính phủ VNDCCH tập hợp được rất nhiều trí thức và những nhà khoa học có tài trong nước và ở nước ngoài, cùng nhiều nhân sĩ nổi tiếng tham gia gánh vác việc nước trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn phức tạp của những năm mới cướp được chính quyền, thành lập nước VNDCCH và những buổi đầu của cuộc kháng chiến lần thứ nhất.
Trong những nhân sĩ nổi tiếng tham gia việc nước lúc đó có cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Bùi Bằng Đoàn, ông Nguyễn Văn Tố, ông Hồ Đắc Điềm. Những nhà tư sản dân tộc nổi tiếng đã hiến tài sản cho Chính phủ là ông Đỗ Đình Thiện, ông Trịnh Văn Bô, ông Nguyễn Sơn Hà, Bà Nguyễn Thị Năm (tức Cát Hanh Long). Những nhà khoa học nổi tiếng đã đi theo ông Hồ Chí Minh và Chính phủ Kháng chiến là các ông Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Trần Hữu Tước, Trịnh Đình Thảo, Phan Tư Nghĩa, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Văn Huyên, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Xiển, Nguyễn Thúc Hào, Lương Định Của, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường.
Kể từ sau năm 1951, 3 nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp 1946 không còn được nhắc đến nữa. Nếu 3 nguyên tắc cơ bản đó được thực thi thì chắc chắn đã không xảy ra những cuộc đấu tố, tùy tiện giết oan người vô tội như đã xảy ra trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc 1953-1956; không xảy ra những vụ tịch thu, cướp bóc tài sản của dân trong những chiến dịch đánh tư sản ở miền Bắc và miền Nam; không có những thuyền nhân phải liều chết vượt biển chạy khỏi quê hương sau ngày 30/4/1975.
* Chương 1 của Hiến pháp 1946 quy định “chính thể của nước Việt Nam là Dân chủ Cộng hòa”. Trong chương này không có một điều khoản nào quy định một đảng hay một ý thức hệ nào độc tôn, độc quyền lãnh đạo đất nước như trong các bản Hiến pháp 1980 và 2013.
* Chương 2 quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật. Trong chương này không có một điều khoản nào cho phép quan có tội chỉ cần xin lỗi và rút kinh nghiệm, còn dân có tội thì phải trừng trị theo luật.
Hiến pháp 1946 công nhận các quyền cơ bản của công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền khiếu nại tố cáo. Điều 10 của Hiến pháp 1946 quy định rõ các quyền tự do cá nhân của công dân như sau: “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tư do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Sau này, Hiến pháp 1959 và các Hiến pháp của CHXHCNVN 1980, 2013 lập theo mẫu của Hiến pháp Liên Xô 1977, đã hạn chế những quyền tự do này và không chịu đưa các quyền tự do này vào luật.
* Chương 3 quy định về Nghị viện nhân dân, trong đó không có điều khoản nào quy định Nghị viện (Quốc hội) là một cơ quan của Đảng Cộng sản.
* Chương 4 quy định về Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc.
Hiến pháp 1946 quy định vai trò và quyền lực của Chủ tịch nước rất lớn. Chủ tịch nước có quyền lực tương tự quyền lực của Tổng thống trong thể chế Tổng thống, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, không thể bị khởi tố, trừ tội phản quốc; có thể từ chối công bố các đạo luật do Quốc hội ban hành và yêu cầu Quốc hội thảo luận lại. Sau này, chịu ảnh hưởng của Hiến pháp Liên Xô, Chủ tịch nước còn ít quyền lực và chủ yếu làm chức năng nghi lễ, đại diện quốc gia.
Theo đánh giá của Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội khóa 13 thì Hiến pháp 1946 đã phản ánh đúng tinh thần pháp quyền, quy định những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho không thể xảy ra lạm quyền và bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân. Quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ, có cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau. Quyền năng giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng được phân chia rõ ràng.
Theo đánh giá của Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn, Đại học Saarland CHLB Đức thì Hiến pháp VNDCCH 1946 đã được soạn thảo theo tinh thần học thuyết “tam quyền phân lập”, đã có những yếu tố thể hiện cơ chế phân công quyền lực, kiểm soát và cân bằng quyền lực.
* Chương 5 quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định về cơ quan hành chính (ủy ban hành chính và hội đồng nhân dân) các cấp.
* Chương 6 quy định về cơ quan tư pháp bao gồm tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp.
Theo Hiến pháp 1946 thì vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm, các cơ quan khác không có quyền can thiệp.
* Chương 7 quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết Hiến pháp của dân. Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định Nghị viện nhân dân (Quốc hội) không được tự mình sửa đổi Hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải đưa ra toàn dân phúc quyết. Cho đến nay, những quy định này của Hiến pháp 1946 vẫn bị bỏ qua và Quốc hội khóa 13 vẫn còn nợ dân “Luật trưng cầu dân ý”.

Đánh giá chung về những ưu việt của Hiến pháp 1946

- Giáo sư Trần Ngọc Đường, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội (năm 2006) cho rằng Hiến pháp 1946 đã nổi bật những tư tưởng lập hiến sáng suốt, như: tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân, tư tưởng pháp quyền, những quy định về quyền con người và bảo đảm quyền công dân, cơ chế bảo hiến, sửa đổi hiến pháp.
- Giáo sư Phạm Duy Nghĩa, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng Hiến pháp 1946 vẫn còn nguyên giá trị cho một xã hội dân chủ và pháp quyền ở Việt Nam (xem bài của GS Phạm Duy Nghĩa đăng trên báo Tuổi trẻ cách đây 10 năm, với đầu đề “Bản Hiến pháp 60 năm về trước và những món nợ lịch sử”).
- Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng thì cho rằng Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kỳ bản hiến pháp nào trên thế giới.

Vì sao Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ như vậy lại bị lãng quên?

Bây giờ bất cứ người Việt Nam nào cũng biết trước năm 1945 Đảng Cộng sản Việt Nam (có tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) là đảng lãnh đạo phong trào phản đế và phản phong ở Việt Nam. Sau khi cướp được chính quyền vào tháng 8 năm 1945 từ Chính phủ Trần Trọng Kim đến nay, đảng này vẫn là đảng lãnh đạo chính quyền, nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau, đã sản sinh ra các bản Hiến pháp khác nhau, về mức độ dân chủ hay độc tài toàn trị.
Hiến pháp VNDCCH năm 1946 ra đời trong tình thế chính trị hết sức phức tạp: số đảng viên cộng sản có khoảng 600 người (có tài liệu ghi vống lên là 5.000); lực lượng vũ trang mới hình thành vừa nhỏ, vừa trang bị thô sơ; ngân khố trống rỗng; dân miền Bắc vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, đang thiếu lương thực; VNDCCH chưa được bất cứ một quốc gia nào công nhận; Liên Xô còn bận hàn gắn vết thương chiến tranh và viện trợ cho các nước cộng sản Đông Âu mới hình thành; Mao Trạch Đông và quân giải phóng Trung Hoa còn đang trên căn cứ địa Diên An. Từ vĩ tuyến 16 trở ra đã có mặt 20 vạn quân Tầu Tưởng tràn sang làm nhiệm vụ của Đồng Minh, giải giáp quân Nhật, nhưng cũng sẵn sàng “tiêu diệt Việt Cộng” nếu họ thấy cần thiết. Các đảng Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng), Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội) từ nước ngoài về cũng có mặt ở Hà Nội và trên miền Bắc Việt Nam. Đối với giới nhân sĩ trí thức Việt Nam, khẩu hiệu “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc trốc tận rễ” của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo vẫn còn in đậm trong trí nhớ của họ. Nếu lúc này Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn hoạt động công khai và làm một cuộc cách mạng vô sản thì giới nhân sĩ trí thức Việt Nam dù yêu nước đến đâu cũng chỉ ủng hộ nền độc lập về tinh thần chứ không đi theo ông Hồ Chí Minh; quân Tầu Tưởng vốn không đội trời chung với Cộng sản Tầu sẽ không để yên cho Việt Cộng tồn tại. Trước tình thế đó, ngày 11/11/1945 Đảng Cộng sản Đông Dương đã tự tuyên bố giải tán, bí mật lãnh đạo chính quyền VNDCCH thông qua Mặt trận Việt Minh. Từ đó, hầu hết mọi người dân chỉ biết đến Việt Minh chứ không biết tung tích của Đảng Cộng sản. Lúc nàychủ nghĩa dân tộc là nguyên nhân chủ yếu để ông Hồ Chí Minh và chính quyền VNDCCH non trẻ lúc bấy giờ có sức hấp dẫn mạnh và tồn tại được trước sóng gió của tình thế. Cùng với việc ký Hiệp định 6/3/1946 với Pháp, ông Hồ Chí Minh, lúc đó là Chủ tịch nước, đã thể hiện sách lược khôn khéo, vận dụng thành công vào Việt Nam bài học kinh nghiệm của Hòa ước Brest-Litovsk giữa Liên Xô và Đức Quốc xã ngày 3/3/1918 cứu Liên bang Xô viết non trẻ khỏi bị tiêu diệt. Trong tình thế này, tư tưởng ban đầu của Nguyễn Ái Quốc (sau là Hồ Chí Minh) từ năm 1941, chủ trương xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân mà ông hình dung là Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đã được thể hiện tại Điều 1 Hiến pháp VNDCCH năm 1946: “Tất cả quyền bính trong nước đều là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” và Hiến pháp 1946 đã có hình dáng một nền Cộng hòa, với khẩu hiệu “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”.
Nhưng từ năm 1951, sau khi ông Hồ Chí Minh gặp Mao Trạch Đông và Stalin, Đảng Cộng sản Việt Nam ra công khai đổi tên là Đảng Lao động Việt Nam với Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Marx, Engels, Lenin, Stalin và Tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng tư tưởng”... thì tình hình chính trị ở nước VNDCCH đã rẽ ngoặt sang con đường của cách mạng vô sản với mục đích cuối cùng là thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam (ghi trong điều lệ sửa đổi tại Đại hội lần thứ 3 ĐLĐVN). Chấp nhận chủ nghĩa Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng tư tưởng ắt phải chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp, từ bỏ 3 nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp 1946. Phải có Điều 4 trong các Hiến pháp 1980, 1992 và 2013 tương tự Điều 6 của Hiến pháp Liên Xô 1977; phải “thổ địa cải cách” theo kinh nghiệm của Mao đã làm; phải xóa bỏ tư hữu như Lenin và Stalin đã làm, phải cướp tài sản của các nhà tư sản dân tộc bằng cách tịch thu trưng thu; phải giam hãm nông dân trong các hợp tác xã nông nghiệp; phải cấm tư nhân kinh doanh và buôn bán… để rồi phải sửa sai, gọi là “đổi mới” từ năm 1986 mà đến nay vẫn chưa mới được để thích ứng với thời đại đã thay đổi.
Liên Xô đã tự sụp đổ, đem theo Điều 6 của bản Hiến pháp năm 1977 nhưng ở nước CHXHCNVN, điều 4 Hiến pháp 2013 đã đem lại quá nhiều đặc quyền đặc lợi cho giới đảng viên chóp bu có chức quyền nên không thể tự xóa bỏ. Vì vậy xã hội Việt Nam ngày nay “đang vỡ trận” bởi các quốc nạn không thể ngăn chặn và tình cảnh bi thương của người dân thì không sao kể xiết ở chế độ CHXHCNVN này (xem bài “Thủ tướng chưa hiểu rõ chế độ ta” của ông Nguyễn Đình Ấm, đăng trên Bauxite VN ngày 01/7/2017).

Bây giờ phải làm sao?

Trong bài “Cảm nhận bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng về tự diễn biến, tự chuyển hóa” đăng trên Bauxite VN ngày 30/6/2017, ông Tô Văn Trường gợi ý: “Sự sụp đổ nhà nước XHCN Liên Xô và các nước Đông Âu là không tránh khỏi, bởi những lý luận khô cứng khuyết tật và mô hình nhà nước, hệ thống quản trị thiếu khoa học; quản trị quốc gia lấy vũ trang làm công cụ chính thì đó là biểu hiện của chế độ độc tài toàn trị. Đó là những luận cứ và thực tiễn mà chúng ta cần tiếp thu. Vấn đề là ta phải lựa chọn mô hình, từ phân tích tổng hợp thành tựu của thế giới về các thể chế nhà nước văn minh hiện đại và hoàn thiện thể chế, đáp ứng được ngày càng cao đòi hỏi về sự bình đẳng, quyền lợi dân tộc và người dân. Tiếp theo là xây dựng nền tư pháp thực thi nghiêm chỉnh Hiến pháp của Nhà nước theo thể chế đó. Đổi mới tư duy có khác gì tự diễn biến, tự chuyển hóa. Nếu Đảng tự diễn biến, tự chuyển hóa để khắc phục những yếu kém đang cản trở sự phát triển của xã hội, để phục vụ nhân dân thực chất hơn, tốt hơn thì có ý nghĩa tích cực, là cái mà người dân mong đợi”.
Trở lại bài này. Trong quá khứ, nước ta đã có Hiến pháp VNDCCH năm 1946, được đánh giá là bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ nhất trong các bản Hiến pháp đã có. Nếu chưa sáng tạo ra được bản Hiến pháp nào dân chủ hơn, tiến bộ hơn thì sao không khôi phục để dùng. Hầu hết những người được sống cùng lúc ra đời bản Hiến pháp 1946 đã từ biệt thế gian này hoặc đã quá già yếu. Lập lại bản một Hiến pháp dân chủ như Hiến pháp 1946 chắc chắn phải là sứ mạng của thế hệ trẻ.
Hà Nội, 03/7/2017
P.B.P.
Tác giả gửi BVN.