Thứ Hai, 3 tháng 7, 2017

20170703. QUANH DỰ THẢO NĐCP VỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

ĐIỂM BÁO MẠNG
GÓP Ý VỚI DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH CHÍNH PHỦ VỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

TS DƯƠNG XUÂN THÀNH /GDVN 3/7/2017

Dự thảo Nghị định của Chính phủ về tự chủ đại học công lập không đề cập đến khối trường cao đẳng. (Ảnh minh hoạ: Xuân Trung/giaoduc,net,vn)
I. Những vấn đề mang tính kỹ thuật
Dự thảo Nghị định tự chủ đại học trong các trường công lập (Dự thảo) khi chính thức ban hành sẽ có tác động đến 2 loại đối tượng: con người và phi con người (tức là cơ sở vật chất, chính sách, chế độ,…)
Đối với con người có 4 đối tượng chịu tác động: lãnh đạo, giảng viên, cán bộ nhân viên (người làm theo hợp đồng ngắn hạn) và người học (sinh viên).
Trong khi Hiệu trưởng, Giám đốc đại học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ nhiệm thì lực lượng lao động còn lại do cơ sở ký hợp đồng lao động - kể cả Trưởng khoa, Những người lao động thời vụ trong trường không phải là viên chức.
Như vậy các đối tượng làm việc trong các đại học được điều chỉnh bởi các luật khác nhau gồm Luật Cán bộ, Công chức, Luật Viên chức và Luật Lao động.
Vì sao căn cứ được nêu trong dự thảo Nghị định không đề cập đến Luật Cán bộ Công chức và Luật Lao động mà chỉ có Luật Viên chức?
Giáo dục đại học được hiểu gồm hai trình độ là đại học và cao đẳng.
Theo thông lệ quốc tế giáo dục đại học hay giáo dục bậc cao (higher education) là giai đoạn giáo dục ở các trường đại học, viện đại học, đại học, trường cao đẳng, học viện hoặc viện công nghệ.
Giáo dục đại học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đẳng, đại học, và sau đại học.
Như vậy dự thảo nghị định đã bỏ qua khối trường cao đẳng bởi nếu bao gồm cả khối này thì phải dựa vào Luật Giáo dục nghề nghiệp, điều này chưa thấy nêu trong phần “căn cứ vào…”.
Xin nêu một vấn đề cụ thể:
Khoản 6 điều 3 Dự thảo ghi: “chi phí tiền lương là tiền lương, tiền công của công chức, viên chức, người lao động trong cơ sở giáo dục đại học”.
Tiền lương, tiền công của công chức, viên chức và người lao động bị điều chỉnh bởi các chế tài khác nhau trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau chứ không chỉ riêng Luật Ngân sách hay Luật Viên chức.
Có thể thấy ngay từ những dòng đầu tiên của Dự thảo Nghị định đã có những vấn đề nên được xem xét, bổ sung hoàn thiện.
II. Một số bất cập
Khoản 1 điều 4 quy định: “Học phí đối với cơ sở giáo dục đại học thực hiện cơ chế tự chủ tài chính được thực hiện theo cơ chế dịch vụ giáo dục đào tạo quy định tại Nghị định này”.
Tuy nhiên điều 5 Dự thảo lại ghi: “Danh mục dịch vụ giáo dục đào tạo sử dụng kinh phí nhà nước do Thủ tướng chính phủ quyết định phê duyệt trên cơ sở đề xuất của Bộ Giáo dục và Đào tạo sau khi có ý kiến của Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư”.
Khoản 2 điều 5 ghi: “Căn cứ vào danh mục dịch vụ đào tạo quy định tại khoản 1 điều này, các cơ quan quản lý cấp trên xác định số lượng của từng dịch vụ để đấu thầu hoặc đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thực hiện theo quy định hiện hành”.
Tìm trong khoản 1 điều 5 không hề có “danh mục dịch vụ đào tạo” mà phải bắc cầu sang một quy định khác sẽ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sau.
Có thể thấy sự chưa khoa học, thậm chí là tùy tiện trong các quy định mà Dự thảo đề cập, chẳng hạn Dự thảo không quy định những điều mà khoản 1 điều 4 hướng dẫn phải tìm cụ thể ở đâu?
Muốn thực hiện Nghị định phải chờ nhiều văn bản khác do các Bộ và Thủ tướng xem xét, phê duyệt sau.
Mục C khoản 1 điều 6 quy định: “đối với đào tạo liên thông và đào tạo từ xa phải được Hội đồng trường quyết nghị thông qua”.
Câu hỏi đặt ra là hiện nay, bao nhiêu đại học đã thành lập Hội đồng trường?
Nếu Nghị định được ban hành, các trường chưa có Hội đồng trường liệu có bị cấm đào tạo liên thông và đào tạo từ xa?
Trong trường hợp các trường đã “trót” đào tạo có buộc phải chấm dứt hoặc “xin” cơ quan quản lý cho phép tiếp tục đào tạo, nếu phải “xin” thì “xin” cơ quan nào và cơ quan nào được phép “cho”?
Mục c, khoản 2, điều 7 “Cơ sở giáo dục đại học được tự chủ về nhân sự” quy định:
“Tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và quản lý viên chức, người lao động đáp ứng các yêu cầu, điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định”.
Với quy định này rõ ràng cơ sở giáo dục đại học chưa hoàn toàn được tự chủ về nhân sự bởi đối tượng chịu tác động là “viên chức, người lao động” chứ không gồm công chức.
Nói cách khác Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn nắm quyền bổ nhiệm lãnh đạo đại học.
Nếu kết quả tổ chức thi tuyển Hiệu trưởng, Giám đốc hoặc đề xuất của toàn thể cán bộ, giáo viên không “hợp” với ý cấp trên thì kết quả có thể bị hủy bỏ, điều này đã từng xảy ra tại Đại học Luật Hà Nội, vậy có thể coi các trường đã được “tự chủ về nhân sự”?
Mục d, khoản 1 điều 8 quy định những trường thực hiện “tự chủ” sẽ tiếp tục được ngân sách hỗ trợ đến 2020, sau năm 2020 sẽ được cấp theo cơ chế “đặt hàng, giao nhiệm vụ”.
Đây có phải là một điều tế nhị, nó có giống như một điều khoản được “cài” sẵn bảo đảm tĩnh hữu hiệu của cơ chế “xin - cho”?
Đơn vị nào khéo “xin” sẽ được “đặt hàng, giao nhiệm vụ”, đơn vị nào không biết “xin” đương nhiên sẽ không có khoản kinh phí “đặt hàng” này?
Đối với người học, Dự thảo quy định “chi học bổng khuyến khích học tập theo quy định phù hợp với mức học phí hiện hành của cơ sở đào tạo”.
Vậy thế nào là phù hợp với mức học phí hiện hành của cơ sở?
Hai cơ sở có mức thu học phí như nhau nhưng học bổng có thể hoàn toàn khác nhau có tạo nên sự không công bằng trong chính sách xã hội, đặc biệt là với sinh viên thuộc vùng miền khó khăn, diện chính sách?
Tạm thời xin không nêu tiếp một số điều chưa hợp lý trong Dự thảo, người viết tin rằng nếu đọc lại thật kỹ, các chuyên gia của Bộ chắc chắn sẽ phát hiện ra chứ không cần chờ đến đóng góp của những người không được trả lương để làm công việc này.
Điều đọng lại sau khi đọc toàn bộ Dự thảo là một chút thất vọng, một chút tiếc nuối vì cơ quan chắp bút cho Dự thảo hình như hơi vội vã, hơi chủ quan nếu không nói là còn có chỗ chưa nắm bắt thấu đáo về các quy định pháp luật cũng như tính logic của một văn bản quy phạm pháp luật.
Nêu nên một số điều không phải là “bới bèo ra bọ” mà với mục đích giúp cơ quan soạn thảo có cái nhìn tổng thể nhằm hoàn thiện Dự thảo, chẳng hạn những quy định về Hội đồng trường, về tài chính và một số quy định khác cần tiếp tục được bàn thảo.
Tiến sĩ Dương Xuân Thành

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

20170702. QUANH CHỦ ĐỀ QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ

ĐIỂM BÁO MẠNG
QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ-NÊN HAY KHÔNG ?
QUỐC PHONG/ DV 1-7-2017

quan doi lam kinh te - nen hay khong? hinh anh 1
Viettel là tập đoàn viễn thông mạnh, hiệu quả trực thuộc quân đội. Ảnh: Viettel

(Dân Việt) Thực ra, quân đội ta làm kinh tế cũng có phần tham khảo từ quân đội Trung Quốc ngay sau khi đất nước ta thống nhất được vài năm.

Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, vai trò của quân đội tham gia làm kinh tế có thể có sự nhìn nhận khác nhau. Phải thừa nhận rằng, có những thời kỳ, chủ trương này là rất cần thiết bởi nếu không có cách làm đó, chủ yếu là việc tạo ra của cải vật chất như nông sản, thực phẩm thì nhà nước cũng không kham nổi cho toàn quân “ăn no đánh thắng” kẻ thù xâm lược và đó là cái được.
Song, khi đất nước hoà bình đã lâu, phát triển một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mô hình quân đội làm kinh tế xem ra có gì đó bất ổn. Nó rất dễ tạo ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp với nhau. Bên cạnh đó, có những cái là vô hình cũng đã lộ ra, khiến cho cái mất cũng không nhỏ.
Tại buổi làm việc của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mới đây với lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh có sự tham gia của lãnh đạo một số bộ, ngành trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng - Thượng tướng Lê Chiêm cho biết: “Hiện nay, Bộ Quốc phòng có chủ trương là quân đội không làm kinh tế nữa mà tập trung cho xây dựng quân đội vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại để bảo vệ Đảng, nhân dân. Quân đội sẽ không làm kinh tế vì như thế sẽ không thể hiện sức mạnh quân đội. Tất cả các doanh nghiệp quân đội sẽ cổ phần hóa, thoái vốn hết. Cái nào của quốc phòng chỉ để phục vụ cho quốc phòng”.
Theo tôi, đây là một chủ trương đúng mà Quân uỷ Trung ương đã bàn kỹ. Điều này có lẽ cũng xuất phát từ thực tiễn quân đội làm kinh tế nhiều năm gần đây đã bộc lộ những bất cập nhất định. Chủ trương mới này có thể chỉ là vô tình trùng khớp với thời điểm nhạy cảm sân bay Tân Sơn Nhất thiếu chỗ đậu máy bay, tính chuyện đi “ngủ nhờ” ở Cần Thơ làm dân bức xúc chứ không liên quan gì đến chuyện Bộ Quốc phòng cho thuê đất sân bay Tân Sơn Nhất 50 năm để Công ty Him Lam xây dựng sân golf cùng biệt thự, nhà hàng ...khiến dư luận râm ran bàn tán.
Vụ án Thiếu tướng Nguyễn Trường Xuân - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng cùng nhiều bị cáo là cán bộ chỉ huy các cấp lợi dụng chính sách đổi mới cơ chế quản lý kinh tế phạm tội đầu cơ, buôn lậu, tham ô, cố ý làm trái… đã bị Toà án quân sự cấp cao xét xử ngày 7.9.1987, xử rất nghiêm minh là bài học xương máu của việc quân đội chúng ta làm kinh tế nhưng lại thiếu sự kiểm soát chặt chẽ, buông lỏng quản lý của nhà nước.
Nhà nước thì tin vào sự quản lý của nội bộ quân đội với những chế tài cần thiết như các cơ quan nhà nước có thể kiểm soát nó, tránh sự tự ý vượt rào rất tai hại.
Ngày ấy, thực ra đây cũng là cách làm mang lại “lợi ích công tư” có lợi đủ bề nhưng rồi cuối cùng thì khiến cho Đảng ta mất cán bộ. Những người vốn rất giỏi làm kinh tế ngày đó và từng được xem là “người hùng” của quân đội bởi họ có tư duy rất mới trong một vấn đề cực mới: quân đội làm kinh tế...
Thời gian gần đây, có một thực tế không thể phủ nhận được, đó là những mô hình doanh nghiệp quân đội làm ăn rất hiệu quả, có tốc độ tăng trưởng đáng nể phục như Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MBBank )...
Nếu nói những doanh này được hưởng sự ưu đãi từ quân đội, tôi nghĩ cũng chưa đúng hoàn toàn trừ MBBank thì có thể có phần nào (do các đơn vị trong quân đội họ dùng địa chỉ này để giao dịch, xem như điều kiện bắt buộc của các đơn vị thuộc quân đội quản lý)...
Song , dư luận cũng xì xầm bàn tán về một vài doanh nghiệp quân đội làm giàu nhờ cơ chế, nhờ quyền lực, nhờ chuyển đổi giá trị đất đai từ đất quốc phòng sang cho doanh nghiệp quân đội rồi từ doanh nghiệp quân đội lại một lần nữa chuyển sang dân sự...
Dư luận, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân không khỏi lo ngại chuyện doanh nghiệp quân đội với ưu thế của mình dễ có lợi thế nhất định trong kinh doanh.
Sau khi Thượng tướng Lê Chiêm nói về vấn đề này, ông Lê Việt Trường - Nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội đã bày tỏ, khi ông còn tham gia Quốc hội khoá 13, ông đã từng đi khảo sát tình hình quản lý và sử dụng đất quốc phòng - an ninh trên phạm vi cả nước để chuẩn bị tham gia xây dựng Luật Đất đai (sửa đổi).
Qua khảo sát, đoàn công tác của ông cũng đã nhìn ra vấn đề. “Cá nhân tôi cũng nêu ý kiến băn khoăn về chuyện đất được giao để sử dụng vào mục đích quốc phòng lại chuyển giao cho các doanh nghiệp của quân đội làm kinh tế. Nếu so sánh với các doanh nghiệp dân sự thì doanh nghiệp dân sự phải đi thuê đất và phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, còn doanh nghiệp quân đội thực hiện nghĩa vụ đó thế nào?” - ông Lê Việt Trường nêu vấn đề.
Ông Trường cho biết: “Qua tìm hiểu trong thời gian khoảng giữa nhiệm kỳ Quốc hội khóa 13, tôi cũng được biết lúc đó việc giao đất quốc phòng cho doanh nghiệp được thí điểm với Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn (trực thuộc Quân chủng Hải quân) và Viettel, còn các doanh nghiệp khác của quân đội thì không. Nếu như vậy rõ ràng không bình đẳng. Khi đã làm kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì mọi thành phần kinh tế, các doanh nghiệp phải bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi và nghĩa vụ.
Việc này nếu được duy trì quá lâu (ưu đãi các doanh nghiệp quân đội) sẽ làm méo mó những nguyên tắc kinh tế, nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh phải bình đẳng trước pháp luật từ việc sử dụng tài nguyên của đất nước, đến nghĩa vụ thuế.

 quan doi lam kinh te - nen hay khong? hinh anh 2
Quân đội diễu binh, diễu hành 70 năm Quốc khánh. Ảnh: Ngọc Thọ

Thực ra, quân đội ta làm kinh tế cũng có phần tham khảo từ quân đội Trung Quốc ngay sau khi đất nước ta thống nhất được vài năm. Những điển hình làm ăn tốt hồi đó có lẽ phải kể đến là các quân khu như Quân khu 3, 7, 9 ... Tuy nhiên, thời kỳ đó, cũng ít có chuyện các doanh nghiệp quân đội phải đấu thầu hay chỉ định thầu nhiều và bất cập như bây giờ.
Cách đây khoảng 20 năm, trong một lần tôi cùng một đoàn nhà báo phía báo Thanh niên Trung Quốc đi thăm Quảng Ninh, họ đã hỏi tôi một chuyện rất tình cờ khiến tôi mới vỡ lẽ thêm.
Trong lúc chờ mua vé qua trạm dọc đường, họ thấy chiếc xe ca biển đỏ đi sát chiếc xe chúng tôi không phải mua vé. Họ hỏi tại sao xe đó không phải mất vé?
Tôi bảo ở Việt Nam, xe biển đỏ là của quân đội cho nên được miễn phí cầu đường. Thấy tôi trả lời vậy, họ hỏi: Nếu quân đội các bạn mà làm kinh tế thì chi phí này sẽ tính toán thế nào? Nếu giả dụ như xe này họ chở cán bộ đi làm ở một doanh nghiệp quân đội thì họ sẽ không mất đồng nào phải chi vào giá thành sản xuất. Và như vậy, quân đội các bạn sẽ không cần cạnh tranh cũng đã chắc thắng các doanh nghiệp kinh doanh cùng lĩnh vực!
Tôi đã suy nghĩ chuyện họ nói mà thấy quả là không ổn. Rất mừng là cả chục năm nay, sự ưu tiên vô lý này đã không còn nữa, thay vào đó, xe quân đội mua vé theo quý, theo năm.
Tôi từng là một người lính làm Tuyên huấn ở Sư đoàn bộ 319, Quân khu 3 những năm chiến tranh (79-80).
Tôi thấy mừng và tự hào khi sau này, đơn vị đó được chuyển đổi thành Tổng Công ty xây dựng 319 và đã từng lớn mạnh nhanh. Nhưng rồi tôi cũng hiểu, vì sao Tổng Công ty này phát triển vượt bậc lại không phải nhờ tài năng của ai mà là nhờ được ưu ái đặc biệt về đất quốc phòng mà bản thân những doanh nghiệp khác trong quân đội dù có mơ cũng không được!
Tôi hiểu vì sao ông Việt Trường lại nói vậy và cảm thấy không ổn nếu quân đội ta còn tiếp tục làm kinh tế, sẽ lợi ít hơn hại.
Còn bên Trung Quốc, khi ông Giang Trạch Dân thay ông Đặng Tiểu Bình làm Chủ tịch Quân ủy, họ cũng đã quyết định thu hẹp dần số lượng các đơn vị vũ trang làm kinh tế.
Năm 2012, khi tiếp quản quyền lực, Chủ tịch Tập Cận Bình lập tức bắt tay vào thực hiện kế hoạch cải tổ quân đội trong đó có quan điểm quân đội có nên làm kinh tế nữa hay không bởi ông đã nhìn thấy từ chủ trương này, quân đội của họ không hề mạnh nếu nhìn vào sức chiến đấu và tệ tham nhũng cũng một phần lộng hành từ đây.
Hơn 50 sĩ quan và cựu sĩ quan cấp cao quân đội Trung Quốc đã bị truy tố vì tham nhũng, bao gồm 2 lãnh đạo, đều cấp Thượng tướng, cựu Phó Chủ tịch Quân ủy trung ương, một động thái chưa từng có tiền lệ. Chính điều này khiến họ lo lắng cho sức mạnh chiến đấu của họ nếu có chiến tranh nổ ra một khi đã nảy sinh tư tưởng thích làm giàu và thể hiện lối sống xa hoa trong sỹ quan.
Chủ tịch Quân uỷ Trung Quốc thành lập một nhóm lãnh đạo nhỏ trong Quân ủy Trung ương để thúc đẩy cải cách quân sự và loại trừ sự tham dự của các cựu tướng lĩnh.
Sau hội nghị cải cách Quân ủy Trung ương vào mùa Thu 2015, ông Tập Cận Bình quyết định cắt giảm 300.000 quân, đương nhiên trong số này có một phần là lực lượng làm kinh tế trong quân đội của họ.
Có thể bằng thực tiễn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương gần đây đã thấy câu chuyện giao quân đội làm kinh tế đang ít nhiều gây ảnh hưởng đến sức mạnh chiến đấu của quân đội ta trong khi bảo vệ Tổ quốc mới là nhiệm vụ tối quan trọng của quân đội.
Bên cạnh đó, chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước là hướng đi tất yếu của kinh tế thị trường hiện nay. Vì lẽ đó, nếu đã cổ phần hoá doanh nghiệp thì tất nhiên, quân đội cũng không cần thiết “ôm” làm gì để bộ máy thêm cồng kềnh mà hiệu quả thực tế chưa chắc đã cao nếu thực sự muốn làm ăn lành mạnh.
Để thay lời kết bài này, tôi xin trích lại câu nói của Đại tướng Phạm Văn Trà - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trên Dân Việt điện tử: “Những doanh nghiệp của quân đội hoạt động kinh tế bình thường, chẳng hạn như làm xây dựng thì nên cổ phần hóa, thứ hai là cấm quân đội tham gia buôn bán... Đối với những đơn vị quân đội làm kinh tế đơn thuần, cũng không nên cho dùng các phương tiện của quân đội, không đi xe biển số đỏ nữa… Việc này đã và đang được lãnh đạo Bộ Quốc phòng triển khai. Tôi được biết thời gian qua bên quân đội cũng đã thu lại nhiều xe ô tô biển số đỏ của những đơn vị làm kinh tế. Vấn đề nữa là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng dần dần sẽ rút ra khỏi biên chế quân đội. Như vậy các doanh nghiệp quân đội hoạt động kinh tế đơn thuần sẽ không còn lợi thế từ những nguồn lực khác trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo sự bình đẳng”.

TẠI SAO TƯỚNG NGÔ XUÂN LỊCH PHẢI XIN LỖI ?

TRẦN VĂN/ Blog VOA/ BVB 1-7-2017

Tướng Ngô Xuân Lịch

Đã có rất nhiều người bảo rằng, sở dĩ Bộ Quốc phòng Việt Nam liên tục vướng vào đủ thứ scandal là vì được phép “làm kinh tế”. Đảng CSVN dung dưỡng cho quân đội nói riêng, lực lượng vũ trang nói chung là vì cần duy trì sự trung thành của lực lượng này đối với mình. Thiếu sự trung thành ấy làm sao có thể duy trì mong muốn “muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ”.

Các tổ chức chính trị đối lập tại Nhật đang đòi bà Tomomi Inanda, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật từ chức vì hôm 27 tháng 6, bà đã lấy tư cách Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tư lệnh Lực lượng Phòng vệ Nhật (Self Defense Forces, có thể xem như quân đội Nhật - SDF), kêu gọi dân chúng Nhật bỏ phiếu ủng hộ Đảng Dân chủ Tự do (Liberal Democratic Party – LDP) - đảng đang điều hành chính quyền Nhật, trong cuộc bầu cử vào tháng tới. Những tổ chức chính trị đối lập này lập luận, về nguyên tắc, SDF phải duy trì sự độc lập về chính trị, không thể chấp nhận việc bà Inanda lợi dụng SDF để hỗ trợ cho LDP.
Dẫu bà Inanda đã xin lỗi vì lỡ lời nhưng các tổ chức chính trị đối lập tại Nhật không chấp nhận. Họ mới tiến thêm một bước, đòi ông Shinzo Abe - Thủ tướng Nhật phải nhận trách nhiệm vì đã bổ nhiệm bà Inanda làm Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tư lệnh SDF...
Chuyện đang diễn ra tại Nhật làm người ta liên tưởng đến những chuyện đã và đang diễn ra ở Việt Nam.
***
Từ đầu năm đến nay, Bộ Quốc phòng Việt Nam dính vào hàng loạt scandal.
Scandal đầu tiên là làm lá chắn cho một số doanh nghiệp liên tục moi cát trong nhiều năm ở những đoạn bờ biển xung yếu để bán cho Singapore, bất chấp sạt lở đang là tai họa nhãn tiền. Dù có những bằng chứng rất rõ ràng là những doanh nghiệp này chỉ “mua đi bán lại” quyền “nạo vét” để hưởng lợi, bán mười - khai một trốn đủ loại thuế nhưng nhờ khoác vỏ “quốc phòng”, đến nay, không có doanh nghiệp nào “mắc nạn”.
Scandal thứ hai là gây ra vụ nổi loạn ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội do thu hồi “đất quốc phòng”.
Thập niên 1960, xã Đồng Tâm từng bị thu hồi 300 héc ta đất vì Bộ Quốc phòng muốn xây dựng tại đó một xạ trường (trường bắn Miếu Môn). Thập niên 1980, xã Đồng Tâm mất thêm khoảng 54 héc ta đất nữa vì Bộ Quốc phòng muốn xây dựng thêm một phi trường quân sự tại Đồng Tâm (phi trường Miếu Môn). Tuy nhiên kế hoạch xây dựng “phi trường Miếu Môn” bất thành. Do thiếu đất canh tác, dân chúng xã Đồng Tâm đã đề nghị Lữ đoàn 28 thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân (phía được giao quản lý 54 héc đất bị thu hồi) cho họ thuê đất để trồng trọt. Từ đó, Lữ đoàn 28 sắm vai trò như địa chủ, chuyên “phát canh, thu tô”.
Theo đề nghị của chính quyền địa phương, năm 2007, Lữ đoàn 28 giao lại cho chính quyền huyện Mỹ Đức 6,78 héc ta trong dự án “phi trường Miếu Môn”, 47,3 héc ta đất còn lại vẫn bị bỏ hoang. Gần đây, Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định đem toàn bộ đất của dự án “phi trường Miếu Môn” giao cho Viettel - một công ty của Bộ Quốc phòng. Dân chúng xã Đồng Tâm nổi loạn vì không chấp nhận chuyện phải giao lại 6,78 héc ta đất mà Lữ đoàn 28 đã trả hồi 2007 thêm một lần nữa.
Sự bất bình âm ỉ suốt sáu năm trước chuyện Bộ Quốc phòng cương quyết giữ 157 héc ta đất ở phi trường Tân Sơn Nhất để cho Công ty Long Biên thuê làm sân golf, bất kể phi trường Tân Sơn Nhất nghẽn cả trên trời lẫn dưới đất đã bùng phát thành scandal thứ tư. Mức độ phẫn nộ của dân chúng Việt Nam trước scandal này mãnh liệt tới mức, một Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phải hứa: “Quân đội sẽ không làm kinh tế nữa”! Trước viễn cảnh sẽ không còn phải nhìn thấy quân xa chở hàng lậu, các doanh trại trở thành kho chứa hàng cấm, Bộ Quốc phòng Việt Nam thôi làm con rối múa may dưới tác động của chủ một số doanh nghiệp, cả báo chí lẫn dân chúng đồng loạt hoan hô.
Tuy nhiên tiếng vỗ tay chưa dứt thì scandal thứ năm bùng lên. Sau khi người sử dụng Internet tại Việt Nam chia sẻ với nhau những tấm ảnh chụp cảnh ba núi đá vôi ven vịnh Hạ Long, vốn bất khả xâm phạm vì thuộc khu vực đã được UNESCO xác định là “di sản thiên nhiên của thế giới” đang bị băm ra để lấy vôi, ngày 28 tháng 6, ông Vũ Văn Hợp, Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, to63 chức họp báo để phân biện, ba núi đá vôi đang bị phá nằm trên “đất quốc phòng”, do Lữ đoàn 170 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân CSVN quản lý. Việc phá ba núi đá vôi là nhằm thực hiện một “công trình quốc phòng” đã được Bộ Quốc phòng Việt Nam phê duyệt. Chính quyền tỉnh Quảng Ninh không can dự.
Theo ông Hợp, Bí thư tỉnh Quảng Ninh đã phê bình và yêu cầu Lữ đoàn 170 tạm ngưng phá núi lấy vôi, đồng thời đã đề nghị Bộ Quốc phòng phối hợp giải quyết việc thực hiện “công trình quốc phòng” vừa kể.
Ngay sau scandal thứ năm là scandal thứ sáu, Ủy ban nhân dân quận Tân Bình cấp báo và đề nghị chính quyền thành phố Sài Gòn kiểm tra ngay doanh trại của Sư đoàn 370 Không quân vì sư đoàn này đã lấy đất của phi trường Tân Sơn Nhất giao cho một số doanh nghiệp xây dựng các khu giải trí, dịch vụ mà không hề xin phép. Chính quyền quận Tân Bình giải thích thêm, sở dĩ họ phải cấp báo vì họ không được phép vào “khu vực quân sự” để kiểm tra!
***
Đã có rất nhiều người bảo rằng, sở dĩ Bộ Quốc phòng Việt Nam liên tục vướng vào đủ thứ scandal là vì được phép “làm kinh tế”. Nhiều người khác bảo rằng, quân đội được phép “làm kinh tế” chỉ là một vế trong một mệnh đề lớn hơn. Đó là Đảng CSVN dung dưỡng cho quân đội nói riêng, lực lượng vũ trang nói chung là vì cần duy trì sự trung thành của lực lượng này đối với mình. Thiếu sự trung thành ấy làm sao có thể duy trì mong muốn “muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ”.
Không may cho chúng ta là dù chẳng giống ai nhưng tại Việt Nam, chuyện lực lượng vũ trang (gồm cả quân đội lẫn công an) công khai thề trung thành với Đảng CSVN vẫn còn được xem như đương nhiên. Đem chuyện đó so với thiên hạ, nêu thắc mắc hay đề nghị chỉ chuốc thêm phiền hà. Học thiên hạ, sau một số scandal, dân ta đã từng đòi Bộ trưởng Giáo dục, Bộ trưởng Y tế từ chức nhưng trước những scandal nghiêm trọng hơn (kiểu như sân golf Tân Sơn Nhất, hay chuyện hàng loạt nghi can, bị can thi nhau chết trong trại giam), chưa ai dám đòi Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Công an từ chức. Chuyện này không lạ và cũng chẳng khó hiểu vì cả hai bộ đã dư cả súng lẫn còng lại đông thuộc hạ.
Hồi đầu tháng 6, khi đến thăm Nhật, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chính thức nhờ Nhật bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là “lãnh đạo cấp chiến lược” của Việt Nam. Theo Thông tấn xã Việt Nam thì chuyện bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo của Việt Nam đã chính thức trở thành một trong những thỏa thuận liên quan đến hợp tác Việt – Nhật để “phát triển nguồn nhân lực”. Khi nhờ Nhật bồi dưỡng đã trở thành “chủ trương của Đảng và Nhà nước”, nhân chuyện mới xảy ra tại Nhật với bà Inanda, có thể đề nghị Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam hướng sang Nhật học một chút những chuyện mà hệ thống trường Đảng chưa dạy, đó là xin lỗi đồng đội, đồng chí, đồng bào vì chưa chu toàn trách nhiệm, để xảy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng không?
Bạn nghĩ sao về đề nghị này? Nó có quá đáng đến mức không thể chấp nhận được hay không?
Trân Văn/(Blog VOA)

Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2017

20170701. QUANH CHỦ TRƯƠNG 'BỎ ĐIỂM SÀN' TUYỂN SINH ĐẠI HỌC

ĐIỂM BÁO MẠNG
ĐẠI HỌC: VÀO CŨNG DỄ , RA CHẲNG KHÓ KHĂN, VẬY CHẤT LƯỢNG Ở ĐÂU?
     
  PHAN TUYẾT/ GDVN 1-7-2017

Hình ảnh thí sinh đăng kí nộp hồ sơ vào trường đại học. (Ảnh: giaoduc.net.vn)
Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các trường đại học, cao đẳng ở nước ta, nhiều ý kiến cho rằng cần phải bỏ quy định về điểm sàn xét tuyển “lẽ ra giáo dục đại học phải siết chặt đầu ra, sàng lọc quá trình đào tạo thì chúng ta lại chỉ chăm chăm quản lý đầu vào”.
Chuyện mở đầu vào, siết chặt đầu ra trong giáo dục đại học đã được nhiều nước phát triển trên thế giới áp dụng. Nhờ đó, chất lượng đào tạo của họ được kiểm soát, sinh viên ra trường có kiến thức, chuyên môn vững vàng.
Nếu giáo dục đại học của chúng ta cũng mở cửa đầu vào và siết chặt đầu ra, liệu có đảm bảo sẽ làm một cách nghiêm túc như một số nước đang làm không, hay chúng ta lại tạo điều kiện cho một số người có cơ hội làm những việc khuất tất để hưởng lợi?
Ở bài viết này, xin được kể một số câu chuyện về giáo dục đại học bên xứ người và ngay chính quê hương mình để người đọc có cái nhìn toàn diện và câu trả lời nên hay không thuộc về mỗi chúng ta. 
Chuyện học đại học nơi xứ người
Người chị họ của tôi vốn tốt nghiệp một trường đại học trong nước nhưng vì theo chồng qua Mỹ sinh sống, muốn có công việc ổn định nên chị phải đăng kí học ở một trường đại học tại Mỹ. 
Do, bằng tốt nghiệp đại học của nước ta không được họ công nhận nên chị phải học lại từ đầu. Chị nói: đăng kí học quá dễ nhưng tốt nghiệp ra trường lại rất khó. Những kỳ thi diễn ra vô cùng nghiêm túc, nếu bản thân không vận động sẽ chẳng có cách nào qua được. 
Qua tìm hiểu, chị thấy có nhiều sinh viên học tới 6, 7 năm nhưng vẫn chưa thể tốt nghiệp vì không qua được các kỳ thi sát hạch, thi kiểm tra, thi tốt nghiệp. Ngược lại, có sinh viên mới chỉ học 3 năm nhưng đã đủ điều kiện ra trường. Bởi vậy, chị phải học ngày, học đêm vì không có cách nào khác. 
Với sự cố gắng, nỗ lực hết mình của bản thân 4 năm sau chị mới cầm được tấm bằng đại học. Chị nói: “so với những năm tháng học đại học ở quê nhà thì 4 năm học bên này công sức phải bỏ ra nhiều gấp hàng chục lần như thế”.
Chuyện học đại học xứ mình
Không ít sinh viên đại học của ta nói rằng: “sướng như học đại học”. Bởi, thích thì lên giảng đường nghe, không thích thì ở nhà đi chơi, đi làm, miễn thi học phần đạt là được rồi”. 
Nghe vậy, một số sinh viên cười và bật mí “có rất nhiều cách như vào phòng thi mở tài liệu quay bài, nhờ các mối quan hệ thân thiết để xin điểm…có trường hợp mua điểm hẳn hoi”.Không ít sinh viên lợi dụng vào điều này mà thỏa sức chơi bời, chuyện ở nhà tự học và nghiên cứu tài liệu bổ sung kiến thức cho mình hầu như không thấy, nhưng, không học sao có kiến thức để thi hết học phần? 
Có em kể và đưa luôn dẫn chứng:
 “Thầy trưởng khoa trong trường em học nổi tiếng ra đề khó. Môn của thầy sinh viên lúc nào cũng trượt hơn một nửa. Thế nhưng, nếu ai biết điều lại rất dễ đỗ”.
“Biết điều” ở đây được mọi người bật mí là có “phong bì” đi trước bảo kê. Một bạn sinh viên trong lớp có lực học khá môn này nên nhất quyết không chịu đóng tiền chung với cả lớp. Cuối cùng, bạn phải thi đến lần thứ hai mới đỗ.
Những ưu điểm của hai hình thức
Thứ nhất: siết chặt đầu vào đại học, học sinh phải miệt mài học tập mới mong thi đỗ vào trường đại học. Như vậy, những em đỗ đại học phần lớn phải có lực học từ khá trở lên. Nhưng đỗ rồi, không ít em lại cho phép mình thả lỏng, nghỉ ngơi, chểnh mảng học hành. 
Bởi thế, khi tốt nghiệp ra trường, kiến thức học và tích lũy bao năm cũng chẳng có nhiều. Đây cũng là nguyên nhân hàng ngàn sinh viên ra trường vừa hổng về kiến thức, vừa yếu về chuyên môn nghiệp vụ.
Thứ hai: bỏ điểm sàn đại học (tức là mở đầu vào nhưng siết chặt đầu ra) thì ai cũng có thể vào được. Chuyện quan trọng bằng cấp vẫn tồn tại trong suy nghĩ nhiều người. Có gia đình sẵn sàng vét đến đồng xu cuối cùng, vay mượn khắp nơi để cho con vào học đại học mà không cần biết sau này các em ra trường sẽ làm gì.
Chỉ cần con học đại học là thấy oai, thấy vui, thấy “nở mày nở mặt” với  xóm làng. Chắc chắn, những năm đầu thực hiện, lượng học sinh đăng kí vào các trường đại học sẽ rất đông. Sẽ có những em ra trường chỉ sau vài năm học nhưng có không ít em 5 -7 năm sau vẫn chưa thể tốt nghiệp. 
Lúc này, những học sinh yếu sẽ có suy nghĩ việc mình vào đại học là đúng hay sai lầm, vào học nhưng không thể tốt nghiệp làm tốn kém bao thời gian, tiền bạc của bản thân và gia đình.
Nếu siết chặt đầu ra đại học thì (phải làm nghiêm túc) buộc các em muốn ra trường phải lăn vào học hỏi, tìm tòi, tích lũy kiến thức, chuyên môn. Bù lại, chúng ta sẽ nâng chất lượng đào tạo, sinh viên ra trường vừa có kiến thức, vừa vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ.
Hình thức nào cũng có những ưu điểm nổi trội, trong các trường đại học của chúng ta, những giảng viên như thầy trưởng khoa vừa nói trên tuy không nhiều nhưng không hoàn toàn là không có. 
Những chuyện như: mua luận văn, đồ án, tiểu luận tốt nghiệp vẫn thường xảy ra hàng năm ở một số trường đại học, nếu những tiêu cực này vẫn tồn tại thì ai có thể dám chắc việc “siết đầu ra” là nghiêm túc, công bằng? 
Sợ rằng tới lúc, vào đại học cũng dễ mà tốt nghiệp đại học cũng chẳng khó khăn gì thì tình trạng “phổ cập đại học” toàn dân như một số người lo sợ còn đáng buồn hơn rất nhiều.
Phan Tuyết
ĐÃ ĐẾN LÚC CHÚNG TA PHẢI MẠNH DẠN BỎ ĐIỂM SÀN
SÔNG TRÀ/ GDVN 29/6/2017
Theo kế hoạch đến năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chính thức bỏ quy định về ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, bỏ quy định về điểm sàn đồng nghĩa với việc trao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học, còn các thí sinh, họ có quyền đăng ký bất kỳ trường nào, ngành nào với mức điểm thi không giới hạn.
Năm vừa rồi, trong dự thảo tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra chủ trương trên và nhận được hai luồng ý kiến trái chiều, một bên phản đối; một bên đồng tình từ dư luận xã hội, trong đó có các nhà quản lý giáo dục bậc Đại học.
Bên phản đối chỉ rõ những hậu quả tiêu cực khôn lường khi bỏ điểm sàn đại học:
Thứ nhất: các trường đại học xếp hạng dưới, khó tuyển sinh ở những năm trước sẽ được “thả cửa” tuyển sinh trong năm học tới. Kéo theo đó, chất lượng nguồn nhân lực sẽ bị giảm sút đáng kể.
Thứ hai: việc học đại học sẽ mất đi ít nhiều những giá trị của nó. Thực tiễn cho thấy, thời gian gần đây, chất lượng đào tạo của các cử nhân tốt nghiệp Đại học ở nước ta rất thấp. Trình độ, tay nghề của người sở hữu tấm bằng không tương ứng với kết quả được ghi trên tấm bằng đó.
Vì vậy, việc các cử nhân ra trường không có việc làm, không làm được việc đang ở mức báo động đỏ. Nếu tiếp tục thả nổi cánh cửa xét tuyển đầu vào như sắp tới, e rằng chất lượng nguồn nhân lực của đại học đào tạo ra sẽ còn xuống thấp hơn nữa. 
Thứ ba: các trường đại học bị phân hóa rõ rệt. Nghĩa là, thí sinh sẽ được chọn các trường đại học lớn, chất lượng. Ở vị trí các trường, việc càng nhiều thí sinh sẽ giúp cho nguồn tài chính thêm dồi dào mà không chịu bất cứ quy định trói buộc nào.
Thứ tư: hầu như các trường cao đẳng, trung cấp sẽ “hết cửa” tuyển sinh vì thí sinh quá dễ dàng để vào được trường đại học nên sẽ không mặn mà tới các trường phía sau.
Cuối cùng: việc bỏ quy định điểm sàn sẽ đi ngược lại với mục tiêu định hướng nguồn nhân lực của xã hội. Khi thí sinh đồng loạt có nhu cầu của một ngành, nghề nào đó thì các trường sẽ mở ra để đáp ứng nhu cầu. Điều này sẽ dẫn tới việc thừa, thiếu nguồn nhân lực cục bộ ở các ngành nghề, ảnh hưởng đáng kể tới các mục tiêu phát triển.
Những người đồng tình, ủng hộ lại đưa ra ý kiến, phân tích, minh chứng cũng rất xác đáng:
Hai năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép các trường có thể tuyển sinh riêng bằng cách xét học bạ trung học phổ thông, nhưng các trường cũng không tuyển được nhiều thí sinh theo phương thức này.  
Năm 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo có quy định ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, song có hơn 100.000 thí sinh trên ngưỡng này không nộp đăng ký xét tuyển, nhiều trường tuyển sinh không đủ chỉ tiêu.
Điều này cho thấy thí sinh ngày nay đã có sự tính toán, lựa chọn trường, không cố gắng vào đại học bằng mọi giá. Vì thế, không phải các trường cứ hạ điểm chuẩn là có thể tuyển đủ chỉ tiêu. Trái lại, việc hạ thấp điểm chuẩn làm cho uy tín của trường bị ảnh hưởng, càng khiến cho thí sinh “quay lưng”.
Mặt khác, khi được trao quyền chủ động, nhiều trường đại học sẽ được tự do đưa ra những chiến lược, kế hoạch để tuyển sinh sao cho phù hợp với đặc thù ngành, nghề mà ngôi trường đó đào tạo.
Điều đó hoàn toàn có lợi cho những sinh viên tương lai và cho chính danh tiếng ngôi trường đó. Bởi, kết quả thi đại học không phải yếu tố duy nhất để đánh giá năng lực của thí sinh cũng như để “đo” xem thí sinh đó liệu có “triển vọng” để theo đuổi ngành nghề mình đã chọn hay không.
Người học đã tốt nghiệp trung học phổ thông là có đủ điều kiện để vào đại học nhưng để được vào thì phải do chính trường đó quy định riêng.
Bởi, mục tiêu của các trường là tuyển đủ chỉ tiêu nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng đầu vào. Theo đó, trường có chất lượng cao sẽ có tiêu chuẩn xét tuyển cao hơn.
Hơn nữa, có thể ở nước ta, chuyện mở cửa đầu vào, siết chặt đầu ra là “mới” nhưng với các nước phát triển trên thế giới, đó lại là định hướng giáo dục đã được áp dụng từ rất lâu.
Là tác giả của bài viết, tôi hoàn toàn đồng tình với chủ trương bỏ điểm sàn Đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2018.
Đây là hướng đi mới ở nước ta, phù hợp với nhiều mô hình đại học trên thế giới, giúp các trường Đại học thoải mái với cơ chế tự chủ theo Luật giáo dục đại học, còn người học có quyền quyết định, lựa chọn bậc học, ngành học của mình.
Đã đến lúc, chúng ta cần xem các trường Đại học như “thị trường” bình đẳng, tự chủ phát triển, cạnh tranh công bằng. Trường nào đào tạo kém, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động thì tự khắc “thua cuộc”, “đóng cửa”.
Các trường Đại học tự cân nhắc khi đặt điều kiện đầu vào của trường cho phù hợp để đảm bảo chất lượng nhằm xây dựng uy tín của trường.
Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt đối với các trường Đại học về việc công khai điều kiện đảm bảo chất lượng, báo cáo tình hình sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm, công khai chuẩn đầu ra theo khung trình độ quốc gia, đồng thời, triển khai mạnh mẽ kế hoạch kiểm định chất lượng.
Việc kiểm soát chất lượng đào tạo, do đó, không chỉ tập trung ở đầu vào mà được thực hiện trong suốt quá trình đào tạo cho đến khi sinh viên tốt nghiệp ra trường. 
Khi bỏ điểm sàn Đại học, chắc chắn trong thời gian đầu (4 - 5 năm) sẽ không tránh khỏi tình trạng ngổn ngang, lộn xộn, vàng - thau lẫn lộn, số cử nhân thất nghiệp nhiều…đó là cái giá phải trả cho việc thay đổi đó.
Nhưng, đây cũng là động lực tạo nên “cuộc cách mạng” làm đổi thay, lột xác về chất lượng đối với các trường Đại học, nhất là các trường yếu kém hay co ro, giậm chân tại chỗ, không chịu làm mới mình.
SÔNG TRÀ
BỎ ĐIỂM SÀN TUYỂN SINH: XU THẾ VÀ NHỮNG HỆ LỤY
XUÂN DƯƠNG/ GDVN 2-1-2017 
Bỏ điểm sản có phải là "tháo khoán"? (Ảnh: giaoduc.net.vn)
Trong Dự thảo Quy chế tuyển sinh đại học năm 2017, Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) không quy định điểm sàn, các trường cao đẳng, đại học (CĐ-ĐH) tự quy định điều kiện tuyển sinh của mình.
Việc quy định điểm sàn có lẽ là sự độc đáo trong công tác tuyển sinh đại học của ngành Giáo dục Việt Nam bởi lẽ tốt nghiệp trung học phổ thông chưa phải là đã đủ điều kiện theo học bậc đại học.

Có ý kiến phân vân, có ý kiến không đồng tình và cũng có những ý kiến đồng tình “già nửa” nghĩa là tán thành chủ trương bỏ điểm sàn song phải có lộ trình vài năm hoặc không bỏ điểm sàn với các trường chưa qua kiểm định,…

Hơn 30 năm trước, người viết từng chứng kiến công tác tuyển sinh tại một đại học thuộc Cộng hòa Séc (Tiệp Khắc cũ).
Học sinh tốt nghiệp phổ thông đăng ký ngành học, trường giao cho khoa tổ chức phỏng vấn, những ai qua vòng phỏng vấn là được nhập học.

Vậy bỏ điểm sàn có phải là “tháo khoán”, có phải là chủ trương nhằm cứu các trường tốp dưới, các trường ngoài công lập đang “thoi thóp”?
Nói theo cách hài hước của một tác giả là việc bỏ điểm sàn giống như quyết định tăng cường “bón cháo và không rút ống thở” với nhóm trường này?

Quan điểm của Bộ GD&ĐT là mở đầu vào (tuyển sinh), quản lý chặt đầu ra (tốt nghiệp). Người viết cho rằng đây là chủ trương đúng, là hướng đi tất yếu của giáo dục phù hợp với thực tế mà các nước tiên tiến đang áp dụng.

Bỏ điểm sàn phù hợp với chủ trương tạo điều kiện cho công dân học tập suốt đời, những người tốt nghiệp THPT sau một thời gian đi làm vẫn có thể tiếp tục đăng ký học bậc đại học mà không quá lo lắng cho kỳ thi tuyển sinh.
Bỏ điểm sàn cũng có thể bớt đi một kỳ thi thứ hai mà các trường phải tự tổ chức - như quyết định của ĐH Quốc gia Hà Nội vừa qua.
Vấn đề là có phải là Bộ Giáo dục & Đào tạo đang “tháo khoán”?
Người viết cho rằng không phải như vậy vì câu chuyện “tháo khoán” đã tồn tại từ lâu rồi.
Để chứng minh cho nhận định này xin lấy số liệu thống kê mà Bộ đã công bố (riêng mảng đại học):

Theo số liệu thống kê mới nhất mà Vụ Kế hoạch Tài chính - Bộ GD&ĐT  công bố trên website Bộ [1], năm học 2015-2016, cả nước có 223 đại học (163 công lập, 60 ngoài công lập). Tổng số sinh viên là 1.753.174 người.
Số sinh viên tuyển mới là 470.044 người. Số giảng viên đại học là 69.591 người trong đó có 550 giáo sư, 3.317 phó giáo sư, 13.598 tiến sĩ, 40.426 thạc sĩ.

Căn cứ vào Thông tư số: 32/2015/TT-BGDĐT ban hành ngày 16/12/2015, hệ số quy đổi học hàm học vị như sau: đại học: 0,5;  thạc sĩ: 1; tiến sĩ: 2; tiến sĩ khoa học, phó giáo sư: 3; giáo sư: 5.

Vì các giáo sư, phó giáo sư đều là tiến sĩ nên số lượng tiến sĩ khi quy đổi sẽ chỉ là 9731 người, số người mới tốt nghiệp đại học, chưa có bằng thạc sĩ hoặc cao hơn là 15.747 người.

Theo quy định khối ngành khi tuyển sinh, số lượng sinh viên/giảng viên tương ứng với các khối ngành như sau: khối ngành I, III, VII là 25, khối ngành IV, V là 20, khối ngành VI là 15 và khối ngành II là 10. 
Nếu lấy bình quân là 20 sinh viên/ giảng viên và hệ số quy đổi theo quy định thì số sinh viên đại học được phép tuyển sẽ là (40426+9731*2+3317*3+550*5+15747*0.5)*20 = 1.609.205 người. 
So với số liệu công bố, số sinh viên tuyển dư là 143.924 người, bằng gần 30% số sinh viên tuyển mới trong năm học (470.044 người).

Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT cho phép quy đổi cả những người có bằng đại học (hệ số 0,5) để làm căn cứ tuyển sinh trong khi điều 77 Luật Giáo dục quy định phải có bằng thạc sĩ trở lên mới được giảng dạy chuyên đề (môn học) tại các đại học.

Nếu không quy đổi số giảng viên “chưa đủ chuẩn” này thì số lượng sinh viên được phép tuyển chỉ là 1.451.780 và khi đó số tuyển dư sẽ là 301.394 người.
Với số lượng sinh viên tuyển thừa nhiều như vậy liệu có nên lo khi bỏ điểm sàn mức độ “tháo khoán” sẽ còn tăng thêm nữa?
Trở lại vấn đề bỏ điểm sàn, dù biết rằng đó là xu thế tất yếu, dù đồng tình với chủ trương của Bộ Giáo dục & Đào tạo, người viết vẫn muốn nhắc lại ý kiến đã nêu trước đây, đó là việc quản lý công tác tuyển sinh của các đại học, đặc biệt là quản lý đội ngũ giảng viên cơ hữu. [2]

Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định.
Không ít đại học, đặc biệt là trường ngoài công lập thiếu trầm trọng giảng viên cơ hữu, phần lớn là giáo viên thỉnh giảng “đội lốt” cơ hữu.
Có trường hiện nay như Đại học Hùng Vương, Vtc.vn ngày 8/3/2016 đưa tin doanh nhân Đặng Thành Tâm đã “đuổi toàn bộ giảng viên ĐH Hùng Vương”, tại Đại học Lương Thế Vinh phần lớn giảng viên cũng đã bị cho nghỉ việc,…
Nếu Bộ không quản lý chặt chẽ danh sách giảng viên thì tình trạng phản ánh trong bài báo “Tự chủ tuyển sinh: trường lừa, bộ ngơ, thí sinh đừng nhẹ dạ” [3] liệu có được khắc phục?
Bộ trường Phùng Xuân Nhạ dù quyết tâm đến mấy thì cũng không thể trực tiếp kiểm tra các “danh sách ma” mà một số đại học gửi về Bộ.
Các bộ phận giúp việc Bộ trưởng (Vụ Đại học, Cục Nhà giáo, Thanh tra, khảo thí,…) không thể nói là không biết tình trạng này song đều làm ngơ cho các đơn vị vi phạm, nói như tác giả bài báo đã dẫn: “việc Bộ phê duyệt cho họ tự chủ tuyển sinh thực chất là đồng lõa với hành động lừa đảo”.
Khi cơ quan quản lý cao nhất ngành Giáo dục còn chưa thực hiện nghiêm túc chức năng quản lý nhà nước của mình mà hy vọng “mở đầu vào (tuyển sinh), quản lý chặt đầu ra (tốt nghiệp)” liệu có hơi chủ quan?
Trước khi yêu cầu các trường quản “lý chặt đầu ra”, Bộ trưởng có nên “quản lý chặt” chính đội ngũ chuyên viên của mình?
Trước khi “mở đầu vào” cho các trường, Bộ có nên học tập kinh nghiệm “Hà Nội không vội được đâu”, tiếp tục “mở” cho các nhà quản lý thêm một thời gian nữa?
Câu hỏi này có thể làm Bộ trưởng không hài lòng nhưng đành phải nói thật, rằng nếu Bộ trường có yêu cầu, người viết sẵn sàng cung cấp hàng loạt dẫn chứng.
Điều có thể khẳng định là những chuyện “lùm xùm” không phải chỉ liên quan đến các trường mà còn chính tại một số bộ phận thuộc cơ quan Bộ.
Chỉ còn 6 tháng nữa là đến kỳ tuyển sinh 2017, thời gian tuy không nhiều song cũng đủ để Bộ rà soát danh sách giảng viên, lập ngân hàng dữ liệu giảng viên từ đó loại trừ những “danh sách ma” mà các trường đã hoặc sẽ trình Bộ.
Người viết cho rằng quan điểm cần phải qua kiểm định mới cho các trường tuyển sinh là không khả thi bởi số trường ĐH-CĐ đến nay là hơn 400.
Nếu tất cả các Trung tâm Kiểm định đều hoạt động hết “công suất” thì một năm (ước tính) cũng chỉ có thể kiểm định khoảng 40 trường và mất hơn 10 năm mới kiểm định xong.
Việc đơn giản trong tầm tay Bộ nên làm ngay đầu năm 2017 là yêu cầu các trường thực hiện “ba công khai”, trong đó quan trọng nhất là công khai danh sách giảng viên cơ hữu.
Không ít đại học hiện nay để trống mục ba công khai hoặc mập mờ bằng cách chỉ công bố vài số liệu mà không có thông tin cụ thể.
Có thể có đôi chút châm chước về cơ sở vật chất (trường lớp, phòng thí nghiệm,…) nhưng tuyệt đối không thể châm chước về đội ngũ thày/cô giáo.
Thay vì phải qua kiểm định, nếu trường nào không công bố các số liệu “ba công khai” hoặc số liệu không đáp ứng các quy định hiện hành thì kiên quyết tạm dừng tuyển sinh năm 2017.
Người viết đề nghị Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ chỉ đạo Cục Công nghệ Thông tin của Bộ tổng hợp số liệu và công bố danh sách giảng viên các ĐH-CĐ cả nước để những người quan tâm có thể theo dõi.
Sẽ không thiếu người tâm huyết thay Bộ làm việc kiểm tra những số liệu này (nếu các thông tin hình thành một cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh).
Khi sự trung thực trong kinh doanh luôn là thứ hàng xa xỉ thì không thể đặt trọn niềm tin vào những người xem đầu tư vào giáo dục cũng chỉ là một cuộc “lướt sóng” kiếm lời.
Nói thế không có nghĩa là các “nhà” không đầu tư (lãnh đạo của một số trường công lập) cũng đủ trung thực để xã hội có thể tin tưởng.
Công việc cần làm tiếp theo là cải tổ bộ máy quản lý tại cơ quan Bộ theo ý kiến Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam từng đề cập.
Một số chủ trương mà Bộ trưởng Công Thương đưa ra nhận được sự đồng tình cao của xã hội, đặc biệt là cơ cấu lại các bộ phận và nhân sự.
Người viết có cảm giác Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đang tập trung vào những bức xúc của người dân mà các đại biểu Quốc hội đã đề cập như giao quyền tự chủ cho các đại học, dạy thêm - học thêm, sách giáo khoa,… 
Ngay cả những tâm huyết mà Bộ trưởng đang thực hiện liệu sẽ thành công nếu bộ máy giúp việc Bộ trưởng vẫn không có gì thay đổi, vẫn là những con người cũ với “niềm tin mãnh liệt”, rằng chiếc ghế chuyên viên tại cơ quan bộ là không thể thay thế?
Bỏ điểm sàn nếu không kèm theo cơ chế kiểm soát liệu có như câu nói dân gian “thả gà ra đuổi”?
Nếu chưa thể làm toàn bộ hệ thống thì ít nhất Bộ cũng cần công bố cho người dân biết số liệu “đảm bảo chất lượng” của 223 đại học.
Người viết tin rằng chỉ cần một trang tính Excel là quá thừa để lưu trữ dữ liệu của 69.591 giảng viên và Cục Công nghệ Thông tin của Bộ thừa khả năng để làm việc này.
Nghi ngờ các nhà đầu tư hay lãnh đạo các trường là không có cơ sở, nhưng như Các Mác đã nói “lợi nhuận lên đến 300% thì treo cổ họ vẫn sẵn sàng” và cũng nên nhắc lại câu nói “Hỡi nhân loại, ta yêu người nhưng hãy cảnh giác”.
Là công bộc của dân, liệu lãnh đạo Bộ có yên tâm khi các bậc phụ huynh không biết, không được cung cấp các thông tin cần thiết (hoặc thông tin thiếu trung thực) về những trường mà họ đang muốn cho con em nhập học?
Liệu có nên cảnh giác khi không ít người đang tìm đủ chiêu trò để “dối Bộ, lừa dân”?
Ủng hộ chủ trương của Bộ nhưng người viết vẫn mong Bộ “cảnh giác” để không diễn ra tình trạng người dân thất vọng khi con em họ mất bốn năm năm theo học để rồi cầm trong tay tấm bằng thật nhưng chất lượng “dởm”, để rồi không ít cử nhân phải giấu tấm bằng đi khi xin việc.
Tài liệu tham khảo:
[1] http://www.moet.gov.vn/thong-ke/Pages/thong-ko-giao-duc-dai-hoc.aspx?ItemID=4041
[2] http://giaoduc.net.vn/Goc-nhin/Nha-giao-lao-thanh-gui-vai-y-kien-toi-Bo-truong-Phung-Xuan-Nha-post168362.gd
[3] http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Tu-chu-tuyen-sinh-truong-lua-bo-ngo-thi-sinh-dung-nhe-da-post142000.gd
Xuân Dương