Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

20170402. BÀN VỀ 'TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN'

ĐIỂM BÁO MẠNG
BỎ 'TIÊN HỌC LỄ' THÌ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI SẼ RA SAO?
NGUYỄN VĂN NGHỆ/ BVM 1-4-2017
Kết quả hình ảnh cho tiên học lễ hậu học văn
 Giải phóng miền Nam và “giải phóng” luôn cả “Tiên học lễ” ra khỏi học đường.
Trước ngày 30/04/1975 tất cả các phòng học của Trường Tiểu học Công lập cũng như Tư thục thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều treo câu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ và Văn là nền tảng đào tạo nên một con người tốt cho xã hội. Sách
Luận ngữ có viết: “bác ngã dĩ văn, ước ngã dĩ lễ” (dùng văn chương mở rộng kiến thức của ta, dùng lễ để ước thúc hành vi bản thân ta).
Còn ở miền Bắc Việt Nam thì sao? Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã ghi lại: “Thế hệ tôi, sinh trưởng ở miền Bắc, đi học trường phổ thông 10 năm (từ lớp 1 đến lớp 10) vào những năm 1954-1964, thì khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” hầu như không để lại ký ức gì. Là vì ở miền Bắc thời đó, những gì được xem như gắn với “tư tưởng phong kiến” đều bị coi là lạc hậu, cần tránh xa, cần chống lại; mà “tiên học lễ, hậu học văn” thì rõ ràng là tư tưởng của Nho giáo, là thuộc hệ tư tưởng phong kiến rồi! Cho nên dễ hiểu là không hề thấy khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” xuất hiện trong khuôn viên bất cứ ngôi trường nào trên miền Bắc thời gian ấy; cũng hầu như không có giáo viên hay cán bộ nào trong ngành giáo dục thời ấy dám nói đến khẩu hiệu đó trước các đám đông”.
Giữa đám người “có miệng ăn mà không có miệng nói” thì vào năm 1973, nhà giáo Nguyễn Lân (1906-2003) viết bài “Có nên vận dụng phương châm “tiên học lễ hậu học văn” trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?” (đăng tạp chí Văn hóa nghệ thuật ở Hà Nội, số 31, tháng 7/1973) mà động cơ viết bài này, theo lời của chính tác giả Nguyễn Lân, là do thực tế “một số trẻ em không ngoan, trong nhà thì bướng bỉnh với cha mẹ, ra đường thì hỗn láo với mọi người, đến trường thì xấc xược với thầy giáo” (trích bài báo đã dẫn). Ngay sau khi bài báo xuất hiện, trên báo Tiền phong của Trung ương Đoàn (số 2351, ra ngày 16/08/1973) có bài báo dài của tác giả Thanh Bình nhan đề “Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo”, với những kết luận chém đinh chặt sắt: “…chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo và hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó”… “Chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lãnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy!”
Tiếp theo bài báo này, báo Tiền phong còn định ra cả một loạt bài khác nữa để công kích sự đề xuất kể trên của nhà giáo Nguyễn Lân, nhưng ông Phạm Văn Đồng đã can thiệp dừng lại.(1)
Sau khi cộng sản vào “giải phóng” miền Nam câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” cũng được Đảng “giải phóng” khỏi các trường học ở miền Nam Việt Nam và học sinh buộc phải học “đạo đức cách mạng”. Mãi đến những năm cuối của thập kỷ 80 và đầu những năm của thập kỷ 90 của thế kỷ trước mới thấy xuất hiện lại trong tất cả các trường học trên cả hai miền Nam và Bắc của đất nước ta. Biển hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” được ngành giáo dục cho sơn phết thật to được treo ở mặt trước của mỗi trường học, nhưng dường như câu khẩu hiệu ấy chỉ là câu sáo rỗng vô hồn được viết ra bởi quán tính mà thôi!
Bỗng dưng vào năm 2014 Trường Trung học cơ sở Tô Hoàng (Hà Nội) đã đi tiên phong bỏ biển hiệu “Tiên học lễ hậu học văn”. Bài viết: “Đại học, học… đại và yêu nước có học” được đăng trên Vietnamnet ngày 18/05/2014 đã đăng tải sự kiện ấy: “…Không chỉ tổ chức chào cờ, xếp nghi thức, Trường Trung học cơ sở Tô Hoàng ở Hà Nội đã có cách biểu thị tinh thần tự tôn dân tộc “dài hơi” khi thể hiện tư tưởng thoát khỏi cái bóng ám ảnh của Khổng giáo trong trường học. Từ năm học này, trường đã thay biển hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” (của Khổng tử), bằng các câu của người Việt (“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”) và UNESCO (“Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”)”.(2)
Giữa các quốc gia trên thế giới luôn có sự tiếp thu văn hóa lẫn nhau không phân biệt Tây hoặc Tàu. Văn hóa hay chúng ta tiếp thu, văn hóa không hợp với thuần phong mỹ tục thì chúng ta chối từ. Để có câu nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” cụ Thân Nhân Trung cũng phải trải qua con đường “Tiên học lễ, hậu học văn” mới đúc kết nên câu nói ấy. Không có “Lễ” thì kẻ hiền tài sẽ không được trọng dụng và những kẻ trình độ “a, bờ, cờ” sẽ làm lãnh đạo!

Lễ là để cho con người ngày có văn hóa hơn

Để trở thành một con người có văn hóa, thì phải có “Lễ”. Sách Quản tử viết: “Lễ, nghĩa, liêm, sỉ thị vi tứ duy” (Lễ, nghĩa, liêm, sỉ là bốn giềng mối chính) và Lễ đứng đầu trong bốn giềng mối ấy. Không có Lễ sẽ trở nên vô thần, phủ nhận thần thánh: “Dân chi sở do sinh, lễ vi đại. Phi lễ vô dĩ tiết sự thiên địa chi thần dã…” (Trong những cái của dân cậy mà sinh hoạt thì lễ là to hơn cả. Không có lễ thì không thể thờ thần của trời đất cho có thứ bậc…- Lễ ký: Ai Công vấn XXVII). Lễ là cốt để giữ chừng mực cho sự hành vi của người ta: “Đạo đức nhân nghĩa, phi lễ bất thành; giáo huấn chính tục, phi lễ bất bị; phân tranh biện tụng, phi lễ bất quyết; quân thần, thượng hạ, phụ tử, huynh đệ, phi lễ bất định; hoạn học sự sư, phi lễ bất thân; ban triều, trị quân, lỵ quan, hành pháp, phi lễ uy nghiêm bất hành; đảo từ, tế tự, cung cấp quỷ thần, phi lễ bất thành, bất trang thị dĩ quân tử cung kính tổn tiết, thoái nhượng dĩ minh lễ” (Đạo đức nhân nghĩa, không có lễ không thành; dạy bảo sửa đổi phong tục, không có lễ không đủ; xử việc phân tranh kiện tụng, không có lễ không quyết; vua tôi, trên dưới, cha con, anh em, không có lễ không định; học làm quan, thờ thầy, không có lễ không thân; xếp đặt vị thứ trong triều, cai trị quân lính, đi làm quan, thi hành pháp lệnh, không có lễ, không uy nghiêm; cầu khẩn, tế tự, cung cấp quỷ thần, không có lễ không thành kính, không trang chính. Bởi thế cho nên quân tử dung mạo phải cung, trong bụng phải kính, giữ gìn pháp độ, thoái nhượng để làm sáng rõ lễ - Lễ kí: Khúc lễ thượng).
Lễ khiến cho hành vi của người ta hợp với đạo Trung dung: “Cung nhi vô lễ tắc lao; thận nhi vô lễ tắc tỷ; dũng nhi vô lễ tắc loạn; trực nhi vô lễ tắc giảo” (Cung kính mà không có lễ thì phiền; cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ hãi; dũng mà không có lễ thì loạn; trực mà không có lễ thành ra vội vã - Luận ngữ: Thái Bá VIII, 2).
Để cho người ta khỏi làm điều bậy bạ thì phải có Lễ: “Lễ giả, nhân nhân chi tình nhi vi chi tiết văn, dĩ vi dân phường giả dã” (Lễ là nhân cái thường tình của người ta mà đặt ra tiết độ; văn vẻ, để làm cái ngăn giữ cho dân - Lễ ký: Phường ký, XXX).

“Nhìn tổng quát lại đất nước ta có bao giờ được thế này không?”

Vào tháng 11/2016 tại thôn Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Có lẽ nhìn lại chưa bao giờ quê hương ta đẹp như thế này, chưa bao giờ quê hương ta có đời sống văn hóa, kinh tế phát triển, xã hội ổn định…”, nhưng rồi sau đó ông lại nêu ra: “Mặc dù bây giờ ra đường lắm chuyện khó chịu, nghe báo chí nói rất nhiều chuyện tiêu cực hàng ngày, rất là bực mình. Tệ tham nhũng, cán bộ hư hỏng có cả nhưng nhìn tổng quát lại đất nước ta có bao giờ được thế này không?”
Trên khắp nước Việt Nam hiện nay, từ thành phố đến làng quê, đâu đâu cũng bắt gặp cổng chào ghi: “Tổ dân phố văn hóa”; “Làng (thôn) văn hóa”, đi đến đâu cũng nghe cái từ “văn hóa” nào là “văn hóa ứng xử”; “văn hóa ẩm thực”; “văn hóa phong bì”; “văn hóa từ chức”… Ấy vậy mà ngay trong môi trường giáo dục, tỷ lệ nói dối của học sinh tăng dần theo tuổi. Tại hội thảo “Thực trạng văn hóa học đường và nhu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học” tổ chức ngày 24/09/2013, GS-TSKH Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Lý luận và Ứng dụng (ĐHQGTPHCM) đã đưa ra một kết quả điều tra: tỷ lệ nói dối cha mẹ ở học sinh cấp Tiểu học là 22%; cấp Trung học cơ sở là 50%; sinh viên là 80%.(3)
Trong môi trường giáo dục mà còn như thế, hỏi thử ngoài xã hội sẽ như thế nào? Ngay tại thủ đô Hà Nội “nạn mất dạy” đang trong tình trạng báo động: “một bộ phận các bạn trẻ là học sinh trung học, các ca sĩ, người dẫn chương trình… có những lời nói thô tục, những ứng xử không có văn hóa nơi công cộng làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của thành phố”. UBND Thành phố Hà Nội có công văn số 3802/VP-VX do Phó Chủ tịch Thành phố Hà Nội Lê Hồng Sơn chỉ đạo gửi đến Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND quận, huyện, thị xã kiểm tra, xem xét có biện pháp xử lí‎ cụ thể, nhằm hạn chế cao nhất những hành vi thiếu văn hóa trong nhà trường và ngoài xã hội. Trước đó nhiều tờ báo và trang tin đã có phản ánh về nạn “mất dạy” tràn lan ở Thành phố Hà Nội, trái tim, Thủ đô của cả nước khiến dư luận bức xúc.(4)
Hàng loạt tiêu cực xảy ra trong xã hội khiến bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan phải lên tiếng: “Sáng nay tôi xem truyền hình biết tin một số cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại một số xã ở Hà Tĩnh biển thủ tiền của người nghèo, đau lòng quá. Tôi nghĩ bảo hiểm y tế có những mảng tối cần phải chỉ ra. Ví như chuyện những người có thẻ bảo hiểm y tế không được đối xử công bằng như những người có tiền. Địa phương muốn giữ người có bảo hiểm không muốn chuyển lên tuyến trên dẫn đến bệnh thêm trầm trọng. Rồi chuyện chi trả chậm, bớt xén. Vậy khắc phục tình trạng này thế nào?”. Bà Phó Chủ tịch nước còn tiết lộ: “Đến tiền của các cháu dân tộc thiểu số mà hiệu trưởng cùng với một số cán bộ còn biển thủ đến gần 3 tỷ, vừa rồi mới khởi tố. Cái liều vacxin tiêm cho một cháu lại san ra tiêm cho hai cháu ngay tại Hà Nội… Tôi càng đi càng thấy buồn, “ăn” của dân không từ một cái gì”.(5)
Vụ học sinh Trần Chí Kiên lớp 2A4 trường Tiểu học Nam Trung Yên (Cầu Giấy, Hà Nội) bị xe ô tô chở bà Tạ Thị Bích Ngọc, Hiệu trưởng của trường, đâm gãy chân đã biến thành chuyện học sinh này tự ngã và bị gãy chân, bởi lẽ 100% con người ở ngôi trường này đều xác nhận vào thời điểm em Kiên gãy chân không có xe ô tô vào trường. “Những thầy cô quay lưng lại với lại với sự thật, quay lung lại với tai nạn thương tâm của chính học trò mình, những thầy cô có nhiệm vụ trồng người mà “làm chứng dối” như vậy sẽ cảm giác như thế nào khi đứng trên bục giảng nói về sự thật thà về đạo đức công dân?”.(6)
Trước đó tại trường Tiểu học Nguyễn Khả Trạc (Cầu Giấy, Hà Nội), bà Tạ Thị Bích Ngọc đã phạm một lỗi rất xấu về đạo đức là đã “lập quỹ đen từ tiền cắt bớt khẩu phần ăn của 400 học sinh”. Vụ việc đã có kết luận từ Thanh tra cũng như Ủy ban Nhân dân quận Cầu Giấy nhưng thay vì bị kỷ luật “lại được chuyển sang một trường khác làm hiệu trưởng thì rõ ràng cái tư cách, cái tác phong đó của cô Tạ Thị Bích Ngọc không chỉ là riêng của cô. Phải có nhiều người “đồng cảm” với cô, chống lưng cho cô thì cô mới có cái quyền tiếp tục ngồi cao gây ra cái sự kiện náo loạn nhân tâm tại trường tiểu học Nam Trung Yên! Cô mới có đủ thế lực tiếp tục tại vị cho tới ngày 21/02/2017, mấy tuần lễ sau sự kiện đó! Ngoài ra, cái tác phong đó của cô, trong đời thường không ai trong số các lãnh đạo của cô nhận ra sao? Tại sao cô vẫn được thăng tiến trong ngành? Phải chăng chính sách nhân sự của ngành, chính sách đề bạt của ngành không xem đạo đức đương sự là tiêu chuẩn quan trọng?”(7)
Hoặc như vụ bà Phạm Thị Minh Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận, bẻ cành hoa anh đào để chụp hình bất chấp sự can ngăn của người dân tại khu vực hồ Tuyền Lâm, Đà Lạt. Bà đã cật vấn người can ngăn: “Em là ai mà có quyền nói chị vậy? Em là chủ ở đây à? Em cho chị xem giấy tờ…”(8)
Ngoài ra còn “lắm chuyện khó chịu”; “nhiều chuyện tiêu cực hàng ngày” được bao che và chỉ một phần rất nhỏ các vụ việc trên được phanh phui trên các phương tiện thông tin “lề phải”. Và “có lẽ nhìn lại chưa bao giờ quê hương ta đẹp như thế này!”.
Bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trong góp ý dự thảo văn kiện tại Quốc hội sáng ngày 23/10/2015 đã nói: “Tại sao có tình trạng trên nói dưới không nghe, nói một đằng, làm một nẻo, đảng viên không thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc thực hiện nhiệm vụ với tính chất rất hình thức, sử dụng không hết giờ làm việc, công suất làm việc cống hiến rất hạn chế”.(9)
Bà Nguyễn Thị Doan nêu câu hỏi “Tại sao?” Tất cả cũng bởi “vô lễ” mà ra! Xã hội mà “vô lễ” thì “trên không ra trên, dưới không ra dưới”. Người xưa nói: “Bất học lễ vô dĩ lập” (Không học lễ thì không nên người được) hoặc: “Bất tri lễ vô dĩ lập” (Không biết lễ thì không nên người được). Người có văn hóa “thật sự” sống theo phương châm: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (không phải lễ thì chớ trông, không phải lễ thì chớ nghe, không phải lễ thì chớ nói, không phải lễ thì chớ làm - Luận ngữ: Nhan Uyên, XII)

“Sao bây giờ không ai sợ pháp luật, sợ bị trừng trị nữa?”

Cũng tại phiên họp cho ý kiến về báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế giai đoạn 2009-2012 ngày 11/09/2013 bà Nguyễn Thị Doan phát biểu: “Sao giờ không ai sợ pháp luật, sợ trừng trị nữa? Mỗi ngày người ta “ăn” từng tí của dân, từ liều vacxin con con đến tiền chữa bảo hiểm…”.(10)
Pháp luật chỉ để trị cái đã rồi, còn lễ thì ngăn cấm được việc chưa xảy ra: “Phàm nhân chi tri, năng kiến dĩ nhiên, bất kiến tương nhiên. Lễ giả cấm ư tương nhiên chi tiền, nhi pháp giả cấm ư dĩ nhiên chi hậu… Lễ vân, lễ vân, quí tuyệt ác ư vị mạnh, nhi khởi kính ư di diểu, sử dân nhật tỉ thiện viễn tội nhi bất tự tri dã” (Phàm cái biết của người ta chỉ biết được cái đã có rồi, không biết được cái sắp có. Lễ là để cấm trước cái sắp có, pháp luật là để cấm sau cái đã có rồi… Lễ vậy, lễ vậy, lễ quí là dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm ra, dấy lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, để cho dân ngày ngày đến gần điều thiện, xa điều tội, mà tự mình không biết - Đại Đái Lễ ký: Lễ tế).
Thánh nhân chỉ trọng lễ chứ không trọng hình luật bởi vì tác dụng của lễ thật là quảng đại, thật là tinh vi. Hồ Thích đã nói trong sách Trung Quốc triết học sử rằng: “Trong cái nghĩa rộng chữ lễ có hàm cái tính chất pháp luật, nhưng lễ thì thiên trọng về cái quy củ tích cực, mà pháp luật thì thiên trọng về cái cấm chế tiêu cực. Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì và không nên làm điều gì; pháp luật thì cấm không cho làm những việc gì, hễ làm thì phải tội. Người làm điều trái lễ thì chỉ bị người quân tử chỉ nghị chê cười, chứ người làm trái pháp luật thì có hình pháp xét xử” (Trần Trọng Kim, Nho giáo - Quyển thượng, in lần thứ 4, tr. 155, Nxb Tân Việt, Sài Gòn).

Bỏ “tiên học lễ” là một sai lầm lớn

Cô giáo Nguyễn Thị Thuận, Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Tô Hoàng (từ năm 2008), cho biết khi trường quyết định bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”: “ở mình có những cái đã quá lâu, quá cũ nhưng nhiều người vẫn ngại thay đổi khi đã cần phải thay đổi”. Đừng chê “tiên học lễ” là “cái đã quá lâu, quá cũ”, bởi vì sự giáo hóa của lễ rất tinh vi và có hiệu quả rất sâu xa: “Lễ chi giáo hóa dã vi, kỳ chỉ tà dã ư vị hình, sử nhân nhật tỉ thiện, viễn tội, nhi bất tự tri dã” (Sự giáo hóa của lễ rất cơ mầu, ngăn cấm điều bậy lúc chưa hình ra, khiến người ta ngày ngày đến gần điều thiện, tránh xa điều tội, mà tự mình không biết - Lễ ký: Kinh giải, XXVI).
Hiện nay tình trạng đạo đức của công chức nhà nước ngày càng xuống cấp, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng có nhận định: “Bây giờ đạo lý xã hội suy đồi, cái đúng cái sai không phân biệt được. Ở Việt Nam bây giờ, ngay trên các phương tiện truyền thông đại chúng và quan niệm xã hội rất lệch lạc nên cái đúng cái sai người ta không hiểu được. Điều này rất đáng buồn. Những người biết cái đúng và muốn tuyên truyền thì có khi nhà nước không cho làm. Những xã hội dân sự muốn truyền bá cái đúng thì lại không được nhân rộng, phổ biến, cho nên những điều không đúng có dịp sinh sôi nảy nở. Nói cho cùng người ta gọi nhà dột từ nóc dột xuống là như thế”. (xem “Công chức bẻ hoa chụp ảnh: Nhà dột từ nóc?”)(11)
Đạo đức xã hội hiện nay được Giáo sư Tiến sư Nguyễn Thế Hùng kết luận là “dột từ nóc dột xuống”, ấy vậy mà nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân lại đề xuất: “Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn”, vốn có xuất xứ từ Khổng tử, càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại, để từ nay chỉ được nên ghi nhận như một trong những thứ ta đã vay mượn, thời quá khứ xa xưa”. Không biết nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân chưa bao giờ nghe những cụm từ như: “giao thoa văn hóa”; “tiếp thu văn hóa”; “tiếp biến văn hóa”… hay sao mà lại có đề xuất ấu trĩ như vậy?
“Tiên học lễ” tuy nó quá cũ nhưng nó như một bờ đê ngăn cản “những điều không đúng” trong xã hội: “Phù lễ cấm loạn chi lễ do sinh, do phường chỉ thủy chi tự lai dã” (Lễ là cấm loạn sinh ra, như bờ đê giữ nước không đến vậy - Lễ ký: Kinh giải, XXVI). Người giàu sang biết lễ thì không dâm tàn, không kiêu căng; người bần tiện biết lễ thì không nản chí, không làm bậy; người lãnh đạo có biết lễ thì mới biết trọng dụng hiền tài, biết trị nước, an dân.
Diên Khánh, Khánh Hòa, 31/3/2017
N.V.N.
__________

Chú thích:

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

20170401. 'THOÁT TRUNG' HAY PHẢI VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
ỨNG PHÓ VỚI CHIẾN LƯỢC BIÊN GIỚI MỀM: 'THOÁT TRUNG' HAY VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH?
TS TRẦN CÔNG TRỤC/ GDVN 1-4-2017
Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.
Bảo vệ và quản lý biên giới, mốc giới quốc gia, các hoạt động của cộng đồng dân cư qua lại biên giới là một nhu cầu tất yếu, cần thiết của bất kỳ một quốc gia nào và đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ với quốc gia láng giềng theo một quy chế quản lý biên giới hết sức chặt chẽ và chi tiết.
Phạm vi điều chỉnh của Quy chế quản lý biên giới được ký kết giữa các quốc gia có chung đường biên giới, sau khi đã hoàn thành giai đoạn hoạch định, phân giới cắm mốc quốc giới, là Vùng biên giới.  
Trong Vùng biên giới có thể có khu vực biên giới, vành đai biên giới, vùng cấm, cửa khẩu, được thiết lập theo sự cần thiết của mỗi một quốc gia liên quan. Khái niệm cụ thể chúng tôi nêu phía cuối bài, quý bạn đọc quan tâm xin mời tìm hiểu thêm.
Khi nào cần thiết lập khu vực biên giới, vành đai biên giới hay vùng cấm biên giới?
Thực tiễn quốc tế cho thấy không phải quốc gia nào cũng đều có nhu cầu thiết lập khu vực biên giới, vành đai biên giới, vùng cấm.
Tuy nhiên, Khu vực biên giới, Vành đai biên giới, Vùng cấm trên biên giới đất liền thường xuất hiện vào thời kỳ có sự xung đột hay tranh chấp căng thẳng giữa các quốc gia có chung đường biên giới, nhưng không chung lợi ích địa-kinh tế, địa-chính trị, địa- chiến lược…
Các khu vực này thường được thiết lập với những quy định hết sức chặt chẽ và khắt khe; có thời kỳ, hầu như tạo ra một “vùng trắng”, không có dân cư, không có sinh hoạt giao lưu kinh tế, văn hóa…. để các lực lượng vũ trang dễ bề kiểm soát, khống chế đối phương…
Trong bối cảnh quan hệ quốc tế thời kỳ Chiến tranh Lạnh, xu hướng chung là các quốc gia yếu hơn thường quan tâm đến việc thiết lập ra các phạm vi không gian này, giống như xây đắp “con đập” ngăn nước tràn từ cao xuống thấp. 
“Nước” càng cao thì “đê” càng phải bền vững. Các quốc gia hùng mạnh thường ít quan tâm đến việc “đắp đê” mà chủ yếu là tìm cách “phá đê” của đối phương. 
Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong lĩnh vực bảo vệ, quản lý biên giới đất liền trong một thời gian dài đã phản ánh thực trạng này. 
Tuy nhiên, sự phát triển của quan hệ quốc tế trong kỷ nguyên hội nhập, hợp tác, phát triển vì lợi ích chung của nhân loại, việc bảo vệ, quản lý biên giới cũng đã có một số chuyển biến mới về tư duy và phương thức hành xử trên thực tế. 
Nhu cầu hợp tác kinh tế vùng biên và bài toán quản lý biên giới thời hội nhập
khu vực biên giới, vành đai biên giới, vùng cấm…dù vẫn còn tồn tại, nhưng không có nghĩa là phải tạo nên sự ngăn cách bởi có “vùng trắng” trên biên giới như trước đây. 
Việc bảo vệ quản lý biên giới có hiệu quả và vững bền hơn chính là phải dựa vào dân, do dân, phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội ở nơi biên cương. 
Vì vậy, phải đưa dân ra vùng biên giới, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, văn hóa, xã hội nơi vùng cao, biên giới. 
Đó là chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam mà hiện nay, các bộ, ngành, địa phương trong cả nước, đặc biệt là các địa phương biên giới, hải đảo đang triển khai thực hiện Nghị quyết số 142/2016/QH13.
Đây là Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII. Điểm 9 của Nghị quyết đã nhấn mạnh:  
“Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. 
Tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân nhất là ở khu vực biển đảo; chủ động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, lợi ích quốc gia và lợi ích người dân trên biển. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế quốc phòng”.
Để triển khai thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo vệ và phát triển vùng biên giới, chúng ta không thể không đề cập đến chiến lược “sức mạnh mềm”, “biên giới mềm” mà Trung Quốc đã và đang triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau trên các vùng biên giới đất liền.  
Trước hết, chúng ta cùng tìm hiểu về nội dung của chiến lược này.  
Chiến lược “biên giới mềm” của Trung Quốc
Giáo sư Josheph Nye, học giả chính trị Đại học Harvard, Mỹ đã đề cập đến khái niệm này trong một cuốn sách viết về sự thay đổi trong bản chất quyền lực Mỹ năm 1990.
Sau đó, ông Josheph Nye tiếp tục khái quát hóa và nghiên cứu sâu về “sức mạnh mềm” trong các cuốn sách tiếp theo.
Giáo sư Josheph Nye cho rằng, đối với mỗi quốc gia, dân tộc, “sức mạnh mềm” được tạo dựng trên 3 yếu tố: văn hóa quốc gia, giá trị quốc gia và chính sách quốc gia. 
Trong bài viết đăng trên Wall Street Journal (Asia) cách đây hơn 10 năm, số ra ngày 29-12-2005, Giáo sư Josheph Nye từng chỉ ra rằng, “quyền lực mềm” của Trung Quốc đang gia tăng mạnh mẽ ở châu Á và Mỹ nên có động thái trước sự gia tăng này.  
Nhiều người nói rằng, sự giàu có về kinh tế đã tạo điều kiện để Bắc Kinh triển khai mạnh mẽ việc truyền bá văn hóa Trung Quốc ra bên ngoài.
Và sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc đã khiến các nước láng giềng lo ngại cho dù Bắc Kinh đưa ra thuyết “phát triển hòa bình”. 
Bên cạnh văn hóa, hàng hóa Trung Quốc cũng tràn ngập Đông Nam Á. Các nhãn hiệu hàng hóa của Trung Quốc như TCL, Haier, Huawei, Lenovo… ngày càng trở nên phổ biến với người tiêu dùng Đông Nam Á. 
Tuy nhiên, giới nghiên cứu cho rằng, người Trung Quốc nói chung chưa tạo được ấn tượng tốt đối với thế giới. Bởi mỗi khi nói tới người Trung Quốc, người ta vẫn nghĩ chủ yếu đến sự thô lỗ, sự vô cảm và sự gian lận. 
Mặc dù thế giới hiện dùng khá nhiều hàng hóa Trung Quốc, nhưng người ta vừa dùng vừa cảm thấy bất an. 
Trung Quốc được đánh giá có một nền văn hóa lâu đời và đặc sắc, là một trong hai nền văn hóa cổ đại đặc sắc và có ảnh hưởng nhất nhân loại, bên cạnh nền văn hóa cổ đại Hy Lạp.
Tuy nhiên, hầu như tất cả những tinh hoa và tinh túy của văn hóa Trung Quốc đều thuộc thời Trung Đại nên khó khiến mọi người ngưỡng mộ và theo đuổi. 
Hơn 2000 năm trước, Trung Quốc tự hào vì tạo ra “Con đường tơ lụa” kết nối với Myanmar và Ấn Độ.
Theo giới truyền thông, Trung Quốc hy vọng xây dựng hành lang kinh tế kết nối giữa Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ và Myanmar nhằm phục hưng “Con đường tơ lụa” có từ hơn 2000 năm trước. 
Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tìm hiểu cảng chiến lược Piraeus, Hi Lạp phục vụ chiến lược con đường tơ lụa, ảnh: CBA.
Nếu tuyến đường này thành công sẽ là cây cầu trên bộ nối liền các quốc gia Nam Á với vùng huyết mạch và các địa phương duyên hải phía đông Trung Quốc. 
“Con đường tơ lụa” này sẽ được mở ra hướng biển với tên gọi mới là “con đường tơ lụa trên biển”, được Trung Quốc ra sức quảng bá như là một “sáng kiến vĩ đại” của thế kỷ XXI. 
Và, đây được coi là “biên giới mềm” của đại Trung Hoa. Trung Quốc hy vọng, tỉnh Vân Nam sẽ trở thành cầu nối giữa Ấn Độ cùng các quốc gia Nam Á với Trung Quốc. 
Việt Nam cần có đối sách ra sao với chiến lược “biên giới mềm” của Trung Quốc?
Cũng như các quốc gia khác trong khu vực Nam Á, Đông Bắc Á và Đông Nam Á, Việt Nam cũng đã và đang đứng trước những thách thức to lớn do chiến lược “biên giới mềm” này gây ra. 
Vấn đề là chúng ta nên ứng xử như thế nào với chính tâm lý ấy, dư luận ấy trong lòng xã hội Việt Nam để vừa bảo vệ, quản lý vững chắc biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia vừa tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, nhất là ở vùng biên giới, hải đảo.
Trước hết, với một tinh thần thật sự khiêm tốn cầu thị, nếu Trung Quốc có những kinh nghiệm hay như chống tham nhũng hay phát triển kinh tế thì chúng ta có thể học hỏi họ.
Đừng vì tâm lý yêu ghét thường tình mà phủ nhận tất cả, kể cả sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Trung Quốc cho chúng ta trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. 
Thiết nghĩ chúng ta nên sòng phẳng, chuyện nào ra chuyện đấy. Cái gì hợp tác được, ta cứ hợp tác. Nhưng cái gì phải đấu tranh, thì quyết đấu tranh đến cùng, đặc biệt là về độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia...
Mọi hành xử của chúng ta với Trung Quốc, đặc biệt là trong quan hệ đối ngoại cần hết sức tỉnh táo và thận trọng, làm sao khôn khéo trong đấu tranh bảo vệ, quản lý biên giới quốc gia trước sức ép chiến lược “biên giới mềm” của Trung Quốc.
Làm sao không để Trung Quốc lợi dụng quan hệ chính trị, ngoại giao, dưới chiêu bài vì “đại cục” để “xóa nhòa” trên thực tế thành quả đã đạt được của quá trình giải quyết vấn đề biên giới đất liền Việt-Trung. 
Để xảy ra chiến tranh, xung đột, chưa biết thắng thua ra sao, nhưng sứt đầu mẻ trán, hao người tốn của, gây thù chuốc oán giữa người dân hai nước là điều khó tránh, dù không ai mong muốn. 
Chúng ta hãy cứ thiện chí hết khả năng có thể, còn khi cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, là con cháu Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo...chúng ta thà hy sinh tất cả, lịch sử đã chứng minh điều này. 
Nhưng đừng để đối phương lấy cớ chúng ta khiêu chiến với họ. Công cuộc đấu tranh của chúng ta trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ không phải học đâu xa, học chính cha ông chúng ta với lịch sử hàng ngàn năm dựng và giữ nước. 
Sống bên cạnh nước lớn, chúng ta phải rất khôn khéo mới giữ được độc lập tự chủ, hòa bình phát triển, độc lập tự chủ một cách thực sự, thực chất, dù “trong xưng Đế, ngoài xưng Vương”. 
Chưa bao giờ cha ông chúng ta kiêu ngạo, vỗ ngực trước nước láng giềng phương Bắc, ngay cả khi đánh thắng họ trong các cuộc chiến tranh vệ quốc.
Cha ông chúng ta luôn cảnh giác với các nguy cơ, nhưng chưa bao giờ từ chối thiện chí và mong muốn hợp tác hữu nghị, thậm chí chủ động mở rộng bang giao, nâng cao trình độ phát triển nước nhà, tiếp tu chọn lọc cái hay, cái tốt của văn minh nhân loại, trong đó có Trung Hoa. 
Nhờ tinh thần hòa hiếu bang giao ấy, dân tộc, đất nước Việt Nam mới trường tồn. 
Muốn đất nước phát triển hùng cường phải vượt lên chính mình
Ngày nay, chúng ta đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của chúng ta trên các hướng biên giới đất liền và trên biển, chúng ta phải tính đến Thế và Lực của mình, cũng như cục diện khu vực, thời thế quốc tế để vận dụng, tìm kiếm những nhân tố nào có lợi nhất cho mình. 
Không thể đấu tranh bảo vệ chủ quyền chỉ bằng cách thỏa mãn cảm giác bức xúc cá nhân hay sĩ diện hão được. 
Có nhiều người vì bức xúc với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trong những thời điểm nhất định nên đòi hỏi Việt Nam phải "thoát Trung". 
Theo tôi chúng ta không nên đặt vấn đề "thoát Trung", bởi chưa bao giờ Dân tộc Việt Nam này, Đất nước Việt Nam này biết "thần phục" Trung Quốc.
Dù ngàn năm Bắc thuộc dài dằng dặc, nhưng khát vọng độc lập tự chủ trong dòng máu Việt chưa khi nào nguôi ngoai. 
Những chính sách đối ngoại mềm dẻo, biểu hiện thiện chí của chúng ta không thể xem đó là thái độ "thần phục" như ai đó vẫn nói.
Tất nhiên, những vấn đề nội tại của chúng ta làm cho nước nhà yếu kém, chúng ta phải tự tìm cách khắc phục, không thể đổ thừa rằng do "lệ thuộc Trung Quốc" để mà phải tìm cách "thoát Trung".
Công nghệ nào lạc hậu của Trung Quốc, hàng hóa nào độc hại của Trung Quốc chúng ta có quyền và có khả năng từ chối. Nguồn nguyên liệu hay thị trường của chúng ta thì chính chúng ta phải chủ động mở rộng. 
Đó là những yếu tố mang thuần túy tính chất kinh tế - thương mại - đầu tư chứ không phải "lệ thuộc" hay "thần phục" như hàm nghĩa về mặt chính trị, tư tưởng.
Đó là bài toán bất cứ quốc gia nào cũng phải đưa lên cân nhắc, đặc biệt là Việt Nam tiếp giáp một thị trường lớn, nguồn cung nguyên liệu lớn và cũng là đại công xưởng hàng giá rẻ, chất lượng thấp của thế giới là Trung Quốc. 
Tuy nhiên, Trung Quốc không thể ép được chúng ta dùng hàng giá rẻ độc hại, trừ khi chính chúng ta "tặc lưỡi" dễ dãi với chính mình.  
Có chăng, chúng ta phải tìm cách thoát khỏi chính những tư duy lạc hậu kìm hãm sự phát triển của đất nước, làm sao xây dựng nước nhà cường thịnh, phát triển trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác.
Vì vậy, sau khi ký Hiệp định về quy chế quản lý biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc năm 2009 và để triển khai thực thi Hiệp định, Việt Nam đã ban hành Nghị định của Chính phủ, quy định chi tiết về Khu vực biên giới, Vành đai biên giới, Vùng cấm.
Đó là Nghị định số 34/2014/NĐ-CP, ngày 29 thang 04 năm 2014. Nghị định này gồm có 4  Chương và 24 Điều, với những quy định rất cụ thể về:
Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các hành vi bị nghiêm cấm trong khu vực biên giới đất liền, quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới đất liền, trách nhiệm xây dựng, quản lý, bảo vệ khu vực biên giới đất liền…
Có thể nói với việc ban hành Nghị định này, Chính phủ Việt Nam không những đã tích cực thực thi trách nhiệm với tư cách là một bên ký kết, mà còn cho thấy sự quan tâm đối với sự nghiệp bảo vệ, quản lý và phát triển vùng biên giới quốc gia trong quan hệ với nước láng giềng Trung Quốc.
Tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa hai nước đã diễn ra với quá nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử và có nhiều bài học đã được viết nên bằng máu, nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam và Trung Quốc, qua rất nhiều nỗ lực mới có được tuyến biên giới công bằng, hòa bình, hữu nghị như hiện nay, đó là một tài sản vô giá cần gìn giữ, bảo vệ và phát huy nó trong thời kỳ mới./.
Các khái niệm cơ bản
- Khu vực biên giới:
Khu vực biên giới là bộ phận nhất định của lãnh thổ quốc gia, tiếp giáp biên giới quốc gia, có quy chế riêng do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định để bảo vệ biên giới quốc gia. 
Tuỳ theo mối quan hệ với nước tiếp giáp, tuỳ theo đặc điểm địa lý và tình hình cụ thể khác mà khu vực biên giới được quy định cụ thể khác nhau về phạm vi và quy chế. 
- Vành đai biên giới: 
Vành đai biên giới là phần lãnh thổ từ đường biên giới quốc gia trở vào, được thiết lập nhằm quản lý, kiểm soát các hoạt động của người, phương tiện trong vành đai biên giới; duy trì an ninh, trật tự và phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật; 
Thông thường vành đai biên giới nơi hẹp nhất 100 m, nơi rộng nhất không quá 1.000 m, trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.
- Vùng cấm:
Vùng cấm là phần lãnh thổ nằm trong khu vực biên giới đất liền được thiết lập để quản lý, bảo vệ, duy trì an ninh, trật tự; phòng, chống, ngăn chặn các hành vi xâm nhập, phá hoại, khai thác, thu thập bí mật nhà nước.
- Cửa khẩu:
Là cửa ngõ của một quốc gia mà nơi đó diễn ra các hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và qua lại biên giới quốc gia đối với người, phương tiện, hàng hoá và các tài sản khác. 
Cửa khẩu có thể thiết lập ở đường bộ, ga hàng không, đường thuỷ, đường sắt liên thông với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Tài liệu tham khảo:
1. Đông Ngàn - Từ Sơn, Trung Quốc và chiến lược “biên giới mềm, quyền lực mềm”, Năng lượng Mới, số 315.
2. Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Hợp tác xuyên biên giới từ góc nhìn vùng Tây Nam Bộ, Tạp chí Công sản, thứ Hai, 27/3/2017.
3. Minh Thúy, Chiếm lĩnh thị trường nội địa: Từ “biên giới mềm” đến “thưởng thức cuộc sống”, VnEconomy, thứ Tư, 11/3/2009.
4. Nghị định 34/2014/NĐ-CP quy chế khu vực biên giới đất liền nước Việt Nam, thuvienphapluat.vn.
5. Hỗ trợ phát triển khu vực biên giới, chinhphu.vn
6. Vu Duong Ninh (ed.), Bien gioi tren dat lien Viet Nam-Trung Quoc [China‐Vietnam Land boundary], Hanoi (Cong An Nhan Dan ed. 2011).
7. Tôn Sinh Thành, Quan hệ biện chứng giữa công tác biên giới và phát triển kinh tế - xã hội: Một số vấn đề lý luận, Nghiên cứu Biển Đông,17/03/2011)
8. AFP, Tokyo ngày 21/4/1995:
Ngày 20/4/1995, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã phát biểu chính thức tại Tokyo rằng: "Quan điểm của Việt Nam là giữ gìn hiện trạng để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp thay vì là sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực."
9. Vùng biên giới By Helgard Haug / Daniel Wetzel - Rimini Protokoll
10. Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc giữa chính  phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa-Biên phong Việt Nam, thứ Hai,19/2/2013.
11.  Luật số 06/2003/QH11 của Quốc hội: LUẬT BIÊN GIỚI QUỐC GIA, Cổng thông tin điện tử Chính phủ (chinhphu.vn).
TS Trần Công Trục