Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

20161205. THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC CÓ TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT?

ĐIỂM BÁO MẠNG
THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC CÓ TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT ?
PGS. TS PHẠM QUÝ THỌ/ BVB 5-12-2016
Kết quả hình ảnh cho nguyễn xuân phúc
Ông Nguyễn Xuân Phúc nhậm chức Thủ tướng từ đầu tháng 4/2016
Các nhà quan sát chính trị trong và ngoài nước quan tâm đang dõi theo những động thái của chính phủ, trước hết là người đứng đầu.Kể từ khi chính thức tuyên thệ nhậm chức vào ngày 7/4/2016 tại Kỳ họp thứ nhất Khóa 14 Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã và đang tạo ra phong cách chỉ đạo điều hành quyết liệt, cụ thể, kịp thời với sự 'đôn đốc' của tổ công tác để tăng cường thực thi các nghị quyết, chỉ đạo của chính phủ.
Nhiều tuyên bố, đặc biệt là quyết tâm xây dựng một chính phủ liêm chính, phục vụ, kiến tạo, đã tạo được ấn tượng mạnh về sự mạnh mẽ và khác biệt trong điều hành, những 'chỉ đạo' của thủ tướng đã và đang gây ấn tượng và thu hút được sự chú ý của công luận và người dân.
Trong một cuộc họp chính phủ ông có nói đại ý rằng từ trước đến nay 'chúng ta bắn lên trời' nhiều rồi, nghĩa là các hành động trước kia không cụ thể, không có địa chỉ.
Phải chăng những chỉ đạo liên tục của Thủ tướng là những hành động cụ thể, kịp thời và là minh chứng cho việc 'lời nói đi đôi với việc làm'?
Sự chỉ đạo nổi bật của Thủ tướng, trước hết, về vụ việc quán cafe Xin chào, được xem là 'sự chỉ đạo cụ thể đầu tiên', sau khi ông nhậm chức nửa tháng.
Một người dân bình thường ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, mở quán café Xin chào để làm ăn…và bị khởi tố hình sự. Báo chí phản ánh 'dồn dập', và, như nhiều báo, giật tít ngày 21/4/2016:
"Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp gọi điện cho Chủ tịch UBND TPHCM - ông Nguyễn Thành Phong - yêu cầu dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự chủ quán cà phê Xin Chào."
Như đã biết, các cơ quan chức năng 'làm rõ' và 'báo cáo' Thủ tướng đây là vụ án 'oan sai'… Kết quả là một số cán bộ, công an bị 'xử lý', trong đó có trưởng công an và phó viện trưởng Viện KSND huyện bị cách chức…
Đọc báo chẳng rõ người ta mừng vì một số lãnh đạo làm sai bị mất chức hay mừng là chủ quán café lại tiếp tục được làm ăn!
Gần đây nhất, trong cuộc họp Chính phủ ngày 28-29/11/2016 Thủ tướng đã có những chỉ đạo quyết liệt:
"Yêu cầu Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam kiểm tra việc chi phí để làm quà tặng (logo) tại Tập đoàn này; Yêu cầu Thanh tra CP kiểm tra vụ việc và không để cán bộ phát ngôn theo kiểu 'xấu xa đậy lại'; Yêu cầu kiểm tra lại hiện tượng bổ nhiệm ở các bộ ngành khiến dư luận bức xúc trong thời gian vừa qua; Yêu cầu các địa phương không được về Hà Nội chúc tết, tặng quà cho Thủ tướng, các phó thủ tướng, bộ trưởng mà hãy dành thời gian chủ động tập trung chăm lo Tết cho nhân dân…"
'Rào cản thể chế'
 Các chỉ đạo của Thủ tướng dường như càng ngày càng có 'độ phức tạp' lớn hơn, trong đó sự 'nhảy cảm' và khó khăn thực thi chính là 'quy trình thể chế'.
Thủ tướng thẳng thắn nhận định rằng "còn khá phổ biến tình trạng 'trên bảo, dưới không nghe'", và "các cơ quan quản lý giải trình thực hiện 'theo đúng quy trình', nhưng vẫn gây bức xúc dư luận".
Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nội vụ làm việc ngay với Ban Tổ chức Trung ương rà soát lại các quy định về cán bộ để tránh tình trạng bổ nhiệm quá số lượng, người nhà… mà vẫn đúng quy trình.
Đặc biệt, Thủ tướng giao Bộ Nội vụ thực hiện ngay việc nghiên cứu, đề xuất thể chế về từ chức - một đề xuất được Quốc hội chấp nhận trong kỳ họp thứ 2 khóa 14 vừa diễn ra tại Hà Nội.
Sự quyết tâm của Thủ tướng đang vướng các rào cản thể chế. Có lẽ ông hiểu điều đó nên trước mỗi 'chỉ đạo' luôn nhấn mạnh rằng Chính phủ vì nhân dân và phục vụ nhân dân.
Như đã biết, vụ Trịnh Xuân Thanh (cán bộ cấp trung), ngay sau đó là Vũ Đình Duy đang bị điều tra về hành vi thiếu trách nhiệm làm thất thoát tài sản nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, thì bỏ trốn ra nước ngoài trót lọt kiểu 'con voi chui lọt lỗ kim'- như một đại biểu Quốc hội phát biểu.
Ông Vũ Huy Hoàng, cựu bộ trưởng Bộ Công thương, cấp trên của hai nhân vật nêu trên, bị Ủy ban Kiểm tra trung ương điều tra và có kết luận rằng các vi phạm, khuyết điểm của ông ta trong thời gian làm bộ trưởng đã gây hậu quả nghiêm trọng. Đảng đã tuyên bố cách chức Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Công thương trong thời gian 2011 - 2016 đối với ông này ngày 2/11 vừa rồi.
Cách chức một cá nhân khi không còn chức, rõ ràng hình thức kỷ luật trên mang tính 'biểu tượng', 'đạo đức' hoặc 'mang tính răn đe', song chính vì vậy mà đã hơn một tháng nay, Quốc hội và Chính phủ vẫn không thể vận dụng được, thậm chí chưa sửa được quy trình thể chế hiện hành để phán xét và xử lý đúng 'tội' khi ông Hoàng đã nghỉ hưu.
'Sự bất lực'
 Người ta nói về 'sự bất lực' xuất phát từ 'lỗi' hệ thống.
Muốn kỷ luật một cán bộ lãnh đạo nào đó, trước hết đảng phải 'có ý kiến chỉ đạo', xử lý về đảng, sau mới đến chính quyền. Cơ chế này đang có vấn đề qua các vụ việc nêu trên.
Rõ ràng phải đổi mới đảng cầm quyền trước tiên.
Nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan cho rằng một trong những đổi mới chính trị ở Việt Nam thời gian qua là đảng Cộng sản dần không can thiệp vào công việc của chính phủ, tuy nhiên thể chế nào để lấp vào khoảng trống quyền lực đó thì chưa được rõ.
Nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo cấu trúc thứ bậc với quyền lực tập trung trong tay đảng Cộng sản nhằm thực thi luật lệ trong các lĩnh vực, đang thay đổi theo hướng pháp trị và chịu sức ép trước hội nhập quốc tế và nhu cầu xã hội dân sự về nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm chính trị, nơi mà chính phủ hành động phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và phải có trách nhiệm trước nhân dân.
Nhà nước luôn có xu hướng tập trung quyền lực, còn thể chế pháp quyền và giải trình và chịu trách nhiệm chính trị thì lại đặt ra những hạn chế theo cách ngăn ngừa tha hóa quyền lực, và chính quyền cần phải được kiềm soát bởi pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình trước nhân dân.
Điều này chưa được đặt ra cụ thể và thỏa đáng trong cải cách thể chính trị ở Việt Namdo ý thức hệ bảo thủ và quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.
Mặt khác, Việt Nam không thể học theo kinh nghiệm của Trung Quốc mặc dù hai nước tương đồng về chế độ chính trị, về cách chống 'quốc nạn' tham nhũng.
Tham nhũng và quyền lực là cặp bài trùng. Trung Quốc chọn việc tập trung quyền lực cao hơn để chống tham nhũng, và sự tranh giành quyền lực là không tránh khỏi.
//Ông Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Bắc Kinh hồi tháng 9/2016
 Ở Trung Quốc chủ tịch Tập Cận Bình, được coi là 'kiến trúc sư' chiến dịch 'đả hổ giệt ruồi'. Mới đây tại Hội nghị trung ương 6 khóa 18 đảng Cộng sản, cho biết trong 3 năm 2013-2016 của nhiệm kỳ đầu tiên cầm quyền của ông, hơn 1,01 triệu quan chức bị điều tra tham nhũng, trong đó có hàng nghìn cán bộ cao cấp, như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang… bị kết tội.
Cũng trong Hội nghị trên chủ tịch Tập được đảng trao danh hiệu 'lãnh đạo hạt nhân.' Ông là nhân vật thứ ba có danh hiệu này sau Chủ tịch Mao và Đặng Tiểu Bình.
'Danh hiệu' nêu trên, lần đầu tiên được nhắc đến chính là Đặng Tiểu Bình, khi nói rằng 'một nền lãnh đạo tập thể phải có một hạt nhân; không có hạt nhân thì không thể chế nào có thể đủ vững mạnh.'
Các nhà quan sát chính trị cho rằng đây là 'biểu tượng quyền lực', vì nó mở đường cho việc tháo dỡ dần những quy tắc và chuẩn mực bất thành văn của đảng Cộng sản vốn điều chỉnh hành vi của giới tinh hoa và quá trình chuyển giao lãnh đạo trong gần ba thập niên qua ở Trung Quốc.
Ở Việt Nam, liệu có cần quy hoạch hay bồi dưỡng ai đó trở thành 'lãnh đạo hạt nhân' trong quá trình chuyển giao tổng bí thư - chức vụ cao nhất của đảng Cộng sản sắp tới? Liệu có thể xoay chuyển tình hình 'trên bảo dưới không nghe'?
Sự bất ổn kinh tế và xã hội trong thời gian qua đã xé rách những luật lệ với những quy trình hiện có, báo hiệu một thời kỳ khó dự đoán về sự thay đổi thể chế chính trị để vượt qua những khó khăn phía trước, đưa đất nước phát triển
Đảng Cộng sản Việt Nam liệu đã rút ra những bài học gì qua sự kiện 'phê bình đồng chí X không thành tại Hội nghị trung ương 6 khóa 11 của Đảng Cộng sản'? Có lẽ không phải vấn đề cá nhân các lãnh đạo, giữa đảng và chính phủ, mà là vấn đề thể chế!
Trong bối cảnh ấy liệu Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có tạo nên sự khác biệt so với người tiền nhiệm?

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

20161204. BỈNH LUẬN VỀ TÌNH HÌNH BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

ĐIỂM BÁO MẠNG
BỘI CHI 176 NGÀN TỶ ĐỒNG: BẾ TẮC VÀ TĂNG CƯỜNG VÉT THUẾ PHÍ
TP/BVB 4-12-2016
Kết quả hình ảnh cho bội chi ngân sách nhà nước
Sức dân và sức doanh nghiệp tiếp tục là con bò để nhà nước vắt để nuôi cơ chế trong giai đoạn 4 năm tiếp theo.
11 tháng năm 2016 - Ngân sách nhà nước Việt Nam (NSNN) bội chi gần 7,6 tỷ USD. Đáng chú ý, là thu ngân sách khu vực DNNN chỉ đạt 176.600 tỷ (bằng 68,9% dự toán); đầu tư phát triển ở mức 167.700 tỷ đồng; chi trả nợ và viện trợ ở mức 136.000 tỷ đồng.
So với kế hoạch chi đề ra cả năm là 1.273.200 tỷ đồng, thì năm 2016, kế hoạch chi sẽ vượt khung (tức ở mức 8,5 tỷ USD).
Chi tiêu ngân sách: Tăng liên tục
Mục tiêu ngân sách 2016-2020 là giảm dần, nhưng căn cứ vào thực tế sử dụng ngân sách 3 năm trở lại đây, thì có khả năng, mục tiêu lần này tiếp tục đi vào viết xe đổ giai đoạn 2011-2015. Cụ thể, giảm dần bội chi ở mức 4,5%, tuy nhiên, thực tế thì bội chi các năm trong giai đoạn này tăng liên tục (4,4% - 6% - 6,11%).
Năm 2014, bội chi ngân sách là 249.362 tỷ đồng, vượt mức trần Quốc hội hơn 25.000 tỷ đồng.
Năm 2015 bội chi ngân sách nhà nước là 256.000 tỷ đồng.
Năm 2016 bội chi ngân sách 176.900 tỷ đồng
Số tiền 8,5 tỷ USD sẽ buộc phải vay nợ để bồi đắp cho NSNN – nhưng cơ hội để xóa nợ lại giảm, trong khi số tiền chi để trả nợ gần bằng tiền chi để đầu tư phát triển.
Tình hình bội chi căng đến mức, trong buổi họp kín trước đó vào chiều 22/11, 90% đại biểu Quốc hội tán thành dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận dù đã hoàn thành bước chuẩn bị cho dự án trong đó có cả hệ thống cấp điện và hạ tầng phục vụ thi công; đào tạo nguồn nhân lực; thỏa thuận vay vốn,… Nó không đến từ sự phản ứng xã hội đối với dự án này, mà đến từ yếu tố kinh tế - khi nợ công sẽ nhảy bậc nếu dự án này được đưa vào thi công.
Đã có những bước đi tín hiệu trong “quy hoạch” sử dụng ngân sách. Cụ thể, chiều 8/11, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, trong đó giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách Nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 3,5% GDP. Thông qua việc, thoái hóa vốn ở các ngành không cần Nhà nước sở hữu; cơ cấu lại đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng.
Kiểm soát NSNN: Khó toàn tập
Dù đã ra Nghị quyết về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế. Nếu điều này được thực hiện một cách nghiêm túc thì bội chi ngân sách sẽ giảm 2/3, tuy nhiên công việc thực tế lại khó khăn hơn nhiều.
Đầu tiên, xử lý dứt điểm các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư không hiệu quả theo nguyên tắc và cơ chế thị trường. Và thực hiện phá sản doanh nghiệp nhà nước. Điều này phù hợp, khi mà trong một báo cáo có liên quan, các tập đoàn nhà nước độc quyền như EVN, PVN, ACV, Vinacomin tỷ suất lợi nhuận đi xuống. Cụ thể, nếu PVN năm 2013 tỷ suất lợi nhuận ở mức trên 17% thì 2016 lại rơi xuống mức 14%;  ACV trên 32% (2013) thì nay rớt dần đều xuống dưới mức 20%. Riêng EVN, qua nửa năm 2016, đã báo lỗ trước thuế 557 tỷ đồng và lỗ ròng 930 tỷ đồng.  Vấn đề tiếp theo là làm sao để hoạch toán độc lập và kiểm soát chi tiêu tài chính của các tập đoàn này? Vốn là một câu hỏi không lời đáp trong hàng thập kỷ nay, khi tài chính và đầu tư tập đoàn trở thành vùng cấm địa do liên quan mật thiết đến đảng viên cao cấp. Ví như PetroVietnam liên quan đến ông Đinh La Thăng (nay là Ủy viên BCT); PVFI liên quan đến cựu Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Huy Hoàng.
Thứ hai, các tổ chức hội, đoàn thể trực thuộc cánh tay phải của Đảng mỗi năm ngốn 14.000 tỷ đồng, tượng đài và tòa nhà hành chính các tỉnh vẫn đang mọc lên. Dẫn đến yêu cầu buộc phải cân đối ngân sách trong lĩnh vực này, nhấn mạnh tự chủ tài chính hơn là ôm vào con bò ngân sách. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn phải làm nhiệm vụ tay phải của Đảng trong định hướng chính trị và xã hội; câu chuyện tượng đài tiếp tục nằm trong quy hoạch đến năm 2030.
Một vấn đề lớn nữa mà bà Phạm Chi Lan – chuyên gia kinh tế độc lập từng đưa ra là biên chế nhà nước ngày càng phồng to. Với 11 triệu người hưởng lương và mang tính chất lương (chiếm trên 10% dân số) là một thách thức lớn đối với túi tiền ngân sách, ngay cả khi so với Trung Quốc (40 triệu công chức tương đương 2,8% dân số). Việc cắt giảm 30% công chức cắp ô trở nên khó khăn vì hầu hết nó sẽ làm bùng nổ sự phản đối, do các hiện tượng cắp ô là COCC cơ cấu hoặc chạy tiền. Đây là “rào cản lớn nhất với cắt giảm chi tiêu ngân sách nhà nước hiện nay nằm chính trong nội bộ các cơ quan công quyền” [1] – thông qua bộ máy cồng kềnh và vô kỷ luật. Điều này có thể thấy rõ thông qua bổ nhiệm sai quy trình ở nhiều tỉnh thành, gần nhất là Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Hải Dương đã bị tố là có 46 biên chế thì 44 người mang chức danh trưởng, phó phòng; trong khi đó TP Thanh Hóa bổ nhiệm vượt quy định 53 phó phòng. Đặc biệt, Giám đốc Sở Tài chính (Thanh Hóa) vẫn “xé rào” bổ nhiệm con gái ruột của mình. Điều này cho thấy, sự thấy nghiêm minh và giám sát trong công tác bổ nhiệm và điều chuyển cán bộ trong đảng. Hoàng hôn nhiệm kỳ vẫn là một khuôn mẫu chiếu lệ ở hầu hết địa phương, tác dụng thị uy – răn đe trong điều hành chỉ ở mức phê bình – kiểm điểm, dẫn đến những bước đi trong giảm bội chi ngân sách chỉ mang tính lý thuyết.
Cạnh đó, tình trạng chi sai quy định và tham nhũng trong đầu tư công vẫn là một mắc xích lớn, việc đội vốn ở các công trình trọng điểm quốc gia như đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông; nhà máy lọc dầu Dung Quất; nhà máy lọc dầu Nghi Sơn,… tiếp tục diễn ra dù được phản ánh trên báo chí và Quốc Hội. Xu hướng xử lý là tiếp tục rót ngân sách vào các dự án này thay vì tuyên bố “phá sản” khiến cho càng làm càng lỗ, và lỗ “vượt kế hoạch” cho phép.
Tăng thu bù chi: Thuế phí đè nặng
Trong khi tình trạng bội chi NSNN vẫn chưa được giải quyết. Tinh giảm biên chế và chống thất thoát trong đầu tư công vẫn là bài toán khó giải. Đến mức nếu đụng vào thì có khả năng người đụng sẽ chết trước, theo như cách nói của ông Phạm Trọng Đạt – Cục trưởng Cục Chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ - khi nói công tác phòng chống tham nhũng vào tháng 3/2016. Cơ chế nảy sinh ra cơ chế, khiến bộ máy nhà nước càng ngày càng cồng kềnh, bộ máy tạo điều kiện cho tham nhũng phát triển khiến toàn bộ hệ thống nhà nước không thể thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn trong “bội chi ngân sách”.
Và cách thức để giải quyết vấn đề này vẫn là dựa vào xu hướng tăng thu bù chi.
Trong thực tế là vào sáng ngày 9/11, Quốc Hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm (2016 – 2020), trong đó: tổng thu ngân sách nhà nước 5 năm khoảng 6.864 nghìn tỷ đồng; trong đó thuế, phí và lệ phí khoảng 21-22% GDP.
Như vậy, năm 2016 có thể tạm khép lại với vấn đề bội chi, và chúng ta có thể đón chờ năm 2017 với các thuế phí được tăng cường truy thu, đi từ gánh thuế phí cao nhất ASEAN trở thành gánh thuế phí cao nhất ASIAN.
Đúng hơn, sức dân và sức doanh nghiệp tiếp tục là con bò để nhà nước vắt để nuôi cơ chế trong giai đoạn 4 năm tiếp theo. (VNTB)
----------------

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

20161203. BÀN VỀ SỬA ĐỔI QUY CHẾ ĐÀO TẠO TIẾN SĨ

ĐIỂM BÁO MẠNG
TIẾN SĨ GIÁ...RẺ VÀ CHUYỆN LÊN CUNG TRĂNG
NGUYỄN TRỌNG BÌNH/ TVN 3-12-2016
Tiến sĩ giá… rẻ và chuyện lên cung Trăng
Sẽ chẳng khó khăn gì với những kẻ thừa tiền muốn có tấm bằng TS để nâng cấp bản thân, nhưng sẽ là rào cản với những nhà khoa học chân chính mà không có tiền bạc. Một sự bát nháo và “vàng thau lẫn lộn” hứa hẹn sẽ lại diễn biến phức tạp hơn?
1-"Chưa có một nước nào đào tạo tiến sĩ rẻ như ở Việt Nam". Đây là ý kiến của Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga trong buổi tọa đàm “Nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ” do Bộ GD& ĐT tổ chức cách đây ít ngày [1], muốn nhấn mạnh đến vấn đề kinh phí đào tạo thấp (căn cứ vào mức học phí theo quy định của Nhà nước, ước tính khoảng 15.000.000đ/năm), là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo TS ở Việt Nam.
Nhận định của ông Bùi Văn Ga không sai. Bởi nói cho cùng muốn lên mặt trăng nhất định phải có phi thuyền chứ không thể bám vào rễ cây đa như chú Cuội trong truyền thuyết.
Khách quan mà nói, quy chế đào tạo TS hiện nay rất chặt chẽ chứ không lỏng lẻo như một số người nhận định. Xét riêng về chuyên môn, học thuật, nhiều TS, PGS, GS ở ta cũng rất giỏi. Nhưng khi tham gia đào tạo NCS trong tư cách người hướng dẫn và hội đồng phản biện không hiểu sao có không ít người lại đồng ý và thông qua những công trình, luận án kém chất lượng (mà dư luận đã nhiều lần phản ánh)?Tuy vậy, ý kiến trên của ông Bùi Văn Ga lại vô tình gây ra những tranh luận trái chiều. Có người cho rằng, chi phí đào tạo TS ở Việt Nam không hề rẻ chút nào.  Ngoài mức học phí chung theo quy định của Nhà nước, số tiền họ phải bỏ ra còn lớn hơn rất nhiều. Đó là tiền gì, vì sao phải bỏ ra? Câu hỏi này tôi nghĩ không cần phải nói ra vì mọi người chắc cũng đã biết, nhất là “những người trong cuộc”. Nói khác đi, vấn đề lớn nhất trong việc đào tạo TS ở Việt Nam hiện nay trong nhiều trường hợp thuộc về mối quan hệ giữa khoa học và đạo đức xã hội, đạo đức của những người làm khoa học.
Một vấn đề khác, theo Bộ GD &ĐT, có không ít những người học TS là những quan chức trong bộ máy hành chính Nhà nước chưa một ngày làm nghiên cứu hay tham gia giảng dạy. Mục đích và “động cơ” học tập của những người này đương nhiên không phải để thành nhà khoa học. Thế nhưng cuối cùng họ được công nhận TS, thậm chí sau đó còn được phong GS, PGS. Chất lượng những Gs, TS kiểu này chắc chắn ảnh hưởng đến đội ngũ những nhà khoa học chân chính khác. Giáo sư Hoàng Xuân Sính gọi là “hiện tượng kì dị” ở Việt Nam [2].
2. Được biết, để nâng cao chất lượng đào tạo TS trong nước, sắp tới đây Bộ GD&ĐT sẽ ban hành quy chế trong đó bắt buộc NCS muốn bảo vệ luận án TS phải có bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế [3]. Cá nhân tôi cho rằng đây chẳng qua chỉ là giải pháp có tính “hớt ngọn” nhất thời nếu không muốn nói là rất ảo tưởng và không thực tế. Vì sao?
Thứ nhất, vấn đề lớn nhất của GD Việt Nam hiện nay (trong đó có đào tạo TS) là người Việt tuy rất ham học nhưng phần nhiều việc học mang nặng tính đối phó. Trong khi đó tâm lý xã hội lại quá coi trọng bằng cấp. Có không ít người người xem các tấm bằng ThS, TS, các danh xưng PGS, GS như món đồ trang sức để nâng giá trị bản thân. Ví như, trong quy chế đào tạo TS hiện nay có quy định về ngoại ngữ rất khắt khe, như một “hàng rào” để kiểm soát chất lượng.
Nhưng thực tế ai dám cam đoan sắp tới đây việc quy định phải có bài trên tạp chí quốc tế trước khi bảo vệ luận án TS sẽ không đi vào vết xe đổ như quy định về “hàng rào” ngoại ngữ? Nên nhớ rằng muốn đăng bài trên tạp chí quốc tế ngoài yếu tố chuyên môn thì phải trả rất nhiều tiền? Sẽ chẳng khó khăn gì với những kẻ thừa tiền muốn có tấm bằng TS để nâng cấp bản thân, nhưng sẽ là rào cản với những nhà khoa học chân chính mà không có tiền bạc. Một sự bát nháo và “vàng thau lẫn lộn” hứa hẹn sẽ lại diễn biến phức tạp hơn?
Thứ hai, ba bài báo đăng trên tạp chí quốc tế mới được bảo vệ luận án TS ư? Nói cho cùng cũng chẳng giải quyết được gì nếu sự nghiệp nghiên khoa học của ông TS cũng… kết thúc luôn ngay sau đó? Khoa học từ thực tiễn cuộc sống mà ra và thực tiễn cũng là nơi kiểm nghiệm tính xác thực và hiệu quả nghiên cứu khoa học. Bạn bè quốc tế chỉ đánh giá và xem trọng chúng ta dựa trên thực tế về sự phát triển phồn thịnh của đất nước; sự văn minh, văn hóa.
Thế nên, thiển nghĩ việc công bố các công trình khoa học, trước mắt chỉ nên là một sự khuyến khích chứ không nên bắt buộc cứng nhắc. Việc bắt buộc chỉ nên dành cho một số đối tượng là những nhà khoa học thuộc thành phần tinh hoa đang công tác tại các trường ĐH trọng điểm quốc gia cũng như một số ngành khoa học cơ bản và mũi nhọn có đóng góp thiết thực và hiệu quả vào sự phát triển chung của toàn xã hội.
3. Tóm lại, công bố công trình trên tạp chí quốc tế là việc đương nhiên cần làm, thậm chí là làm thường xuyên trong xu thế hội nhập. Tuy nhiên, tất cả phải có lộ trình và tầm nhìn chiến lược dài hơi chứ không nên nóng vội bằng những cơ chế và chính sách xơ cứng. Nhìn vào mặt bằng chung về tình hình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay, thiển nghĩ vấn đề cần làm trước tiên và quan trọng nhất là phải  tạo môi trường thông thoáng để các nhà khoa học được tự do trong nghiên cứu, tự do học thuật, tự do theo đuổi đam mê.
----------------
Chú thích nguồn tham khảo:
[1]: “Chất lượng đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam thấp: nguyên nhân do đâu?” Xem tại: http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/chat-luong-dao-tao-tien-si-viet-nam-thap-nguyen-nhan-do-dau-20161110121910596.htm
[2]: "Học Thạc sĩ, Tiến sĩ ở Việt Nam là một hiện tượng kỳ dị". Xem tại: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Hoc-Thac-si-Tien-si-o-Viet-Nam-la-mot-hien-tuong-ky-di-post172393.gd
[3]: “Muốn bảo vệ tiến sĩ phải có công bố khoa học quốc tế”. Xem tại: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/muon-bao-ve-tien-si-phai-co-cong-bo-khoa-hoc-quoc-te-339288.html
Nguyễn Trọng Bình

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, CÔNG BỐ HAY KHÔNG ?
NGUYỄN  LAN HƯƠNG/ GD 4-12-2016
Tác giả Nguyễn Lan Hương. (Ảnh: Tác giả cung cấp)
Tôi hiện đang làm nghiên cứu sinh về giáo dục đại học tại Mỹ, chuyên ngành quốc tế hóa giáo dục, luôn ủng hộ những cách tư duy và quản lý đào tạo trong giáo dục, không chỉ với cấp học tiến sỹ, mà với tất cả các cấp học, đi theo chuẩn mực mà thế giới đang thực hiện và công nhận. 

Về những dự thảo cho việc đào tạo tiến sỹ và bảo vệ luận án tiến sỹ được nêu trong bài của Vietnamnet [1], có mấy điểm tôi muốn chia sẻ để tất cả chúng ta, từ những nhà làm chính sách, đến các Tiến sỹ và Giáo sư hiện đã được công nhận và những người đang làm nghiên cứu để có bằng Tiến sỹ trong tương lai cùng suy nghĩ: 

1. Việc đưa ra các quy định mới này về đào tạo tiến sỹ và bảo vệ luận án có khả thi cho đa số chất lượng học và làm nghiên cứu cơ bản của những người làm nghiên cứu ở Việt Nam hay chưa? 

Lý do của câu hỏi: việc có quy định mà không thực hiện được, sẽ rất dễ dẫn đến "hàng giả" dưới mọi hình thức.  
Ví dụ việc công bố các nghiên cứu ở các tạp chí “peer-review” (tạm dịch: bài nghiên cứu được đánh giá bởi chuyên gia trong chuyên ngành) giả ở Trung Quốc hiện đang được nêu rất nhiều trên báo chí quốc tế. [2].  
Bản thân chúng ta, trong suốt thời gian vừa qua, đều phản ánh thực trạng có quá nhiều tiến sỹ, nhưng là 'giấy" và không có năng lực nghiên cứu thực sự.  
Vậy, mấu chốt của quy định mới sẽ cần tập trung vào chất lượng đào tạo kỹ năng nghiên cứu khoa học theo chuẩn quốc tế, trước khi nói đến công bố quốc tế.
Vì nếu không, cá nhân tôi nghĩ liệu sẽ có dịch vụ làm nghiên cứu và công bố "giả" như bên Trung quốc hay không, khi các tiêu chuẩn đặt ra chưa phù hợp với thực lực của đa số những người đã có bằng Giáo sư - Tiến sỹ (xin được nêu ra dưới đây) cũng như những người đang học và làm nghiên cứu để trở thành tiến sỹ ở Việt Nam.
Và con số này chưa bao gồm cụ thể là bao nhiêu phần trăm có liên kết thực hiện nghiên cứu và công bố cùng với các đối tác nước ngoài.  2. Nếu làm bản nghiên cứu năng lực thực sự của các Giáo sư và Tiến sỹ hiện nay của chúng ta theo tiêu chuẩn có công bố quốc tế để bảo vệ luận án, có lẽ chỉ khoảng dưới 40% Giáo sư - Tiến sỹ hàng năm có khả năng hướng dẫn luận án tiến sỹ có thể đạt được tiêu chí mà Bộ Giáo dục đang dự thảo, theo tổng kết của Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước 2016 [3]. 
Vậy, cơ sở khoa học nào và có thực tiễn nào trên thế giới để chúng ta quyết tâm cao cho quy định có công bố quốc tế mới được bảo vệ luận án tiến sỹ?
Nó có thực sự đặc thù cho tất cả các chuyên ngành? Nó có thực sự giúp cho vấn nạn tiến sỹ "giấy" của chúng ta được cải thiện? 

Trong nghiên cứu khoa học, tôi tin tưởng mãnh liệt rằng việc thành hay bại của một nghiên cứu sinh dựa khá nhiều vào năng lực đào tạo và hướng dẫn của thầy cô hướng dẫn.  
Vậy, giả sử những gì dự kiến cho đào tạo tiến sỹ và công bố quốc tế là quyết tâm thực hiện, ai sẽ có thể dạy và hướng dẫn làm nghiên cứu, công bố quốc tế khi bản thân các Giáo sư - Tiến sỹ hiện tại chưa thực hiện được điều này?
Liệu có công bằng cho thế hệ học tiến sỹ sắp tới ở Việt Nam so với chính những người thầy Giáo sư - Tiến sỹ hướng dẫn họ không?
Nếu nhìn đến thực tế của Trung Quốc mà WJS nêu trên đây, và còn nhiều ví dụ khác trên toàn thế giới, sẽ có một và nhiều hệ thống dịch vụ để giúp các bạn nghiên cứu công bố quốc tế, mà không hề có giá trị thực chất. 3. Còn một điều sẽ chưa rõ là công bố trên tạp chí nào sẽ được coi là quốc tế?
Cá nhân tôi muốn nhìn vào đào tạo tiến sỹ và làm nghiên cứu khoa học, công bố khoa học một cách thực tế hơn.
Hãy nhìn đến những ví dụ đau đớn mà bản thân ở các nước phát triển đã phải thốt lên, "công bố" hay là "chết" [4].
Điều đó để nói lên một thực tế rằng, việc đặt ra công bố quốc tế trong môi trường học thuật là cần thiết, nhưng hãy cẩn trọng với tính hai mặt của nó.
Đừng thái quá, vì nếu không, các nhà làm nghiên cứu hoặc phải tìm mọi cách để công bố hoặc phải sử dụng “tạp chí giả” thì đều không có tác dụng gì cho nâng cao đào tạo tiến sỹ ở Việt Nam.

Hơn thế nữa, khi nhìn vào thực tiễn đào tạo tiến sỹ của Mỹ, phải nói ngay là tất cả các ngành khoa học xã hội có mức công bố quốc tế thấp hơn rất nhiều so với khoa học kỹ thuật.  
Bản thân các giáo sư Mỹ khuyến khích chúng tôi, những nghiên cứu sinh, hãy viết và nỗ lực đăng bài nghiên cứu trước hết tại trường, tại các hội thảo chuyên ngành từng khu vực của Mỹ và tại các Hiệp hội.  
Lấy ví dụ về việc được báo cáo bài nghiên cứu tại một hội thảo của Hiệp Hội Nghiên cứu Giáo dục Mỹ (AERA), hàng năm có hàng chục nghìn bài nộp, nhưng con số được xét duyệt và trình bày chỉ dừng ở một hay hai trăm bài. Chưa nói đến công bố quốc tế!
Với các tạp chí chuyên ngành quốc tế chuyên cho khoa học xã hội (xin không được nói đến những chuyên ngành khoa học kỹ thuật vì tôi không biết), một giáo sư thỉnh giảng (assistant professor) của tôi có đề cập đến thời gian khoảng 9 tháng – 2 năm cho một bài phê duyệt để được đăng, và rất phụ thuộc vào việc bạn là ai trong môi trường nghiên cứu đó để được đánh giá bài viết.
Vậy, việc làm nghiên cứu mất khoảng 1 năm hoặc hơn, viết bài và cố gắng để được đăng bài (nếu may mắn) thêm 1 -2 năm nữa, trong đó việc công bố những nghiên cứu về khoa học xã hội của Việt Nam trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc chuyên ngành nào để được quan tâm mà đăng? 
Hãy thực tế và nghiêm túc có nghiên cứu khoa học về những quy trình đào tạo tiến sỹ, bao gồm cả việc nghiên cứu và công bố trên các tạp chí quốc tế ở các nước, trong đó có tính đến những chuyên ngành đặc thù, để có thể đưa ra các quy định hay đề xuất phù hợp trong nội dung đào tạo tiến sỹ.  
Hãy soạn thảo các quy định để nó không còn là trên ‘giấy” nữa, vì bản chất của nghiên cứu khoa học là một hành trình dài, và công bố chỉ là một đoạn trong hành trình đó thôi.
Tài liệu tham khảo:
[1] http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/muon-bao-ve-tien-si-phai-co-cong-bo-khoa-hoc-quoc-te-339288.html
[2] http://blogs.wsj.com/chinarealtime/2015/08/25/fake-peer-review-scandal-shines-spotlight-on-china/
[3] http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/chua-toi-40-gs-pgs-nam-2016-co-cong-bo-khoa-hoc-quoc-te-338106.html
[4] publish or perish: http://newsroom.ucla.edu/releases/pressure-to-publish-or-perish-may-discourage-innovative-research-ucla-study-suggests
Nguyễn Lan Hương