Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

20160703. BÀN VỀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA FORMOSA

ĐIỂM BÁO MẠNG
MỘT VÀI SUY NGHĨ SAU KHI FORMOSA NHẬN LỖI GÂY RA SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG 
XUÂN DƯƠNG/ GDVN/ BVN 3-72016
clip_image002
Làm cá chết hàng loạt, Formosa bồi thường 500 triệu USD
(GDVN) - Cần gắn trách nhiệm các lãnh đạo địa phương đang “trải thảm đỏ” thu hút đầu tư nước ngoài với những sự cố có thể xảy ra kể cả khi đã rời vị trí công tác.
Trước khi phân tích những tác hại khủng khiếp màFormosa Hà Tĩnh gây ra cho môi trường và người dân Việt Nam (không chỉ là ngư dân bốn tỉnh miền Trung), xin nhắc lại một sự việc: 
Công ty BP (Bristish Petroleum) là công ty dầu khí có trụ sở tại Luân Đôn, Anh quốc. Ngày 20/4/2010 một vụ hỏa hoạn trên giàn khoan biển của BP khiến dầu thô tràn ra vịnh Mêxico. 
Sự cố đã khiến một số người thiệt mạng, gây ảnh hưởng nặng nề đến động thực vật hoang dã trong khu vực, đến ngành ngư nghiệp, du lịch và đời sống người dân ven biển.  
Ban đầu tập đoàn BP đã phải chi 28 tỷ USD khắc phục hậu quả cũng như một số khoản bồi thường khác.
Phản ứng của người dân và chính quyền địa phương bị ảnh hưởng do tràn dầu khiến Bộ Tư Pháp Mỹ phải vào cuộc.
Thẩm phán Liên bang Mỹ đã chấp thuận khoản bồi thường tiếp 20,8 tỷ USD của BP, trong đó khoảng 5,5 tỷ USD chi cho khoản tiền phạt liên quan tới Đạo luật nước sạch của Mỹ.  
Số tiền còn lại chi cho các bang vùng Vịnh như Alabama, Florida, Louisiana, Mississippi và Texas cùng 400 chính quyền địa phương nhằm đền bù những thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra. Tổng số tiền mà BP phải bỏ ra là gần 50 tỷ USD. [1] 
Cần lưu ý rằng sự cố mà BP phải chịu trách nhiệm là sự cố kỹ thuật, nằm ngoài ý muốn của hãng dầu khí này, lãnh đạo BP không hề cố ý gây ra sự cố, nó khác về bản chất với hoạt động mà giới chủFormosa gây ra tại Vũng Áng – Hà Tĩnh. 
Dù là sự cố ngoài ý muốn, dù Anh quốc và Mỹ là đồng minh chiến lược thân cận nhất, BP vẫn phải ra tòa, vụ xử dân sự công ty BP và các công ty liên hệ khác đã mở ra tại New Orleans và BP phải đền bù số tiền lớn nhất trong lịch sử Tư pháp Hoa Kỳ. 
Trở lại vụ Formosa Hà Tĩnh, có một số vấn đề cần làm rõ: 
Vụ xả chất độc từ Formosa ra biển Vũng Áng liệu có phải là vô tình hay cố ý?
Vấn đề cũng phải cần làm rõ là Formosa chỉ nhằm tiết kiệm chi phí hay còn có chủ ý đẩy ngư dân Hà Tĩnh ra khỏi Vũng Áng và vùng biển miền Trung, khiến vùng biển này không còn sự hiện diện của ngư dân Việt Nam? 
Những người đứng đầu Formosa có nhận thức được các chất xả ra biển là nguy hại tới môi trường, môi sinh của con người và sinh vật biển cũng như các hoạt động kinh tế liên quan hay không? 
Formosa có phải là doanh nghiệp giữ chữ tín, các cá nhân chịu trách nhiệm của công ty này có phải là doanh nhân trung thực hay không khi sự cố xảy ra, trả lời báo chí ông Khâu Nhân Kiệt - Giám đốc bộ phận an toàn vệ sinh môi trường công ty Formosa từng nhấn mạnh: “Không có việc Formosa Hà Tĩnh chính là tác nhân dẫn đến hiện tượng cá chết ở bờ biển Việt Nam”.  
Không những không chủ động nhận lỗi, khắc phục hậu quả, không đưa ra phương án đền bù mà tìm mọi cách chối bỏ trách nhiệm của mình như lời ông Khâu Nhân Kiệt:
“Tất cả các địa điểm xả thải và ống xả thải ở khu công nghiệp đều được lấy mẫu nước để xét nghiệm và hiện tại đang rất bình thường, đều đạt tiêu chuẩn của Bộ TN&MT Việt Nam”? (Vietnamnet.vn 22/4/2016). 
Cần có sự đánh giá toàn diện về sự tàn phá môi trường biển, hậu quả để lại với con người và sinh vật biển, các di chứng có thể đối với sức khỏe ngư dân và thiệt hại của các ngành kinh tế liên quan như du lịch, nuôi trồng thủy sản ven bờ… như thế nào? 
Cuộc chiến mà chính quyền Mỹ gây ra ở Việt Nam đã kết thúc hơn 40 năm song di chứng chất độc da cam quân đội Mỹ sử dụng thì nhiều thế hệ người Việt còn phải gánh chịu.  
Một khi chất độc lắng đọng xuống các trầm tích đáy biển, tác hại của nó không thể chỉ là vài năm, không phải chỉ là cá tôm bị chết mà còn là toàn bộ hệ sinh thái biển. 
Đài Loan có một viện nghiên cứu vào loại lớn nhất thế giới về san hô, tại đây người ta nuôi trồng san hô để hồi phục các rạn san hô bị hủy hoại vì sự tàn phá của con người.  
Nếu các rạn san hô ven biển miền Trung bị chết vì chất độc thì cũng có nghĩa không còn môi trưởng sinh sống cho thủy sản ven bờ.  
Người viết kiến nghị: 
Thứ nhất: Cần phải truy tố Formosa về tội cố ý hủy hoại môi trường, môi sinh, phá hoại nền kinh tế Việt Nam, đe dọa an ninh quốc gia của Việt Nam khi ngư dân không thể ra biển bởi đây là hành động khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trênBiển Đông.
Thứ hai: Mức đền bù thiệt hai phải do Tòa quyết định chứ không phải do Formosa tự nguyện. 
Thứ ba: Về mặt khoa học, cần tìm hiểu ảnh hưởng đối với môi trường biển, các rạn san hô, tảo biển, rong biển, các loại chim biển, rừng ngập mặn ven bờ…  
Dự đoán phạm vi ảnh hưởng có thể xảy ra với các tỉnh phía Bắc (từ Hà Tĩnh đến Quảng Ninh) nếu dòng hải lưu ven bờ đổi hướng từ Nam ra Bắc, đặc biệt là ảnh hướng có thể đến Vịnh Hạ Long, di sản được Unesco công nhận.  
Thứ tư: Cần đặc biệt quan tâm đến trầm tích đáy biển, tồn dư chất độc ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các rạn san hô như thế nào;  
Cần kiểm tra ảnh hưởng của chuỗi thức ăn đến chất lượng sản phẩm biển khu vực miền Trung ví dụ chim biển, rong biển, yến sào…  
Chính phủ nên làm việc với phía Đài Loan về việc phục hồi các rạn san hô đáy biển vì Đài Loan có viện nghiên cứu hiện đại về san hô, kinh phí cho hoạt động này Formosa phải chịu trách nhiệm. 

Thứ năm
: Trước mắt chấp nhận khoản tiền 500 triệu USD mà Formosa đưa ra như khoản đền bù ban đầu để giải quyết khó khăn cho ngư dân ven biển bị ảnh hưởng.  

Cần yêu cầu Formosa chuyển ngay số tiền này vào tài khoản một Qũy hỗ trợ ngư dân, phong tỏa ngay số tiền này trong ngân hàng để chính quyền giải ngân cho ngư dân chứ không để Formosa nhỏ giọt mỗi năm một ít. 
Thứ sáu: Không đặt vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp của ngư dân nếu không phải do chính ngư dân đề xuất.
Ngư dân Việt ra khơi ngoài mưu sinh cho gia đình còn là lực lượng khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.  
Ngư dân cũng là lực lượng tham gia tích vào công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển, vắng bóng ngư dân sẽ là thời cơ tốt cho những đoàn tàu cá vỏ sắt Trung Quốc xâm nhập sâu vào vùng biển nước ta.
Cũng là ý muốn của giới lãnh đạo Bắc Kinh muốn đẩy người Việt khỏi Biển Đông, biến vùng biển đường lưỡi bò thành ao nhà của họ. 
Thứ bảy: Bảo đảm sự công bằng, minh bạch đối với những gia đình ngư dân bị thiệt hại về kinh tế, hoặc thiệt mạng do sự cố xả thải gây ra.
Khoản tiền 500 triệu USD chỉ nên xem là khoản đền bù cho ngư dân, tiếp theo phải là quyết định của Tòa án về các khoản khác liên quan đến môi trường, môi sinh, các hoạt động kinh tế biển… 
Thời gian qua xu hướng xuất khẩu công nghệ lạc hậu từ Trung Quốc vào Việt Nam trở nên đáng báo động, có thể thấy qua một số bài báo:  
Lo Việt Nam thành bãi rác công nghệ Trung Quốc (Plo.vn - 17/11/2015) 
Trung Quốc “đẩy” lạc hậu sang nước khác để… cứu mình [2] 
Cảnh giác với công nghệ lạc hậu khi Trung Quốc đầu tư dệt may tại ... [3] 
Các vụ vi phạm của doanh nghiệp và công dân từ vùng lãnh thổ Đài Loan vào Việt Nam đã trở nên ngày càng nghiêm trọng, bên cạnh hai vụ xả thải tai tiếng của Vedan, Formosa, xin nêu một số vụ đã bị xử lý:  
Công ty TNHH Mei Sheng Textiles Việt Nam (100% vốn Đài Loan) đã bị niêm phong 7 lần vì gây ô nhiễm môi trường. 
Doanh nghiệp sắt thép Đài Loan, Công ty TNHH Sắt thép Sun Steel, năm 2002 từng bị Công an Bình Dương điều tra về tội trộm cắp cước viễn thông quốc tế và bị buộc phải bồi thường 500.000 USD, kẻ chủ mưu Liao Chi Yuan, đã bỏ trốn về Đài Loan. [4] 
Năm 2010, Công an TP. Hồ Chí Minh đã phát hiện nhóm người Đài Loan thuê nhà lập ba điểm trộm cước viễn thông tại quận 2 và quận Tân Bình, 8 người Đài Loan đã bị bắt tại Kenya vì sử dụng thiết bị viễn thông trái phép lừa đảo người dùng. [5] 
Một vài ví dụ nêu trên không nhằm mục đích đánh giá về giới doanh nhân Đài Loan hay công dân vũng lãnh thổ này mà chỉ nêu lên một thực tế, rằng không phải tất cả những nhà đầu tư đến từ Đài Loan đều tôn trọng pháp luật nước sở tại và công pháp quốc tế. 
Đầu tư nước ngoài là cần nhưng không thể vì thu hút đầu tư mà ưu ái quá mức, cũng không thể vì nguồn vốn nước ngoài mà chấp nhận biến Việt Nam thành bãi thải công nghiệp cho các nước tư bản phát triển.  
Chính quyền Trung Quốc hay Đài Loan cũng không thể vì quyền lợi của mình mà dung túng cho doanh nghiệp hay công dân phá hoại nền kinh tế nước khác. 
Hậu quả mà Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Trung gánh chịu hôm nay có phải xuất phát từ căn bệnh thành tích, đua nhau thu hút đầu tư bằng mọi giá hay còn vì một số người có trách nhiệm chấp nhận rủi ro rất lớn để đổi lấy lợi ích nho nhỏ? 
Câu chuyện Formosa, Vedan liệu có lặp lại với nhà máy giấy không lồ Lee & Man bên bờ sông Hậu hay khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên? 
Không thể để chủ đầu tư nước ngoài định hướng cho nhà nước Việt Nam nên làm gì và làm như thế nào?
Chủ trương không đánh đổi sinh kế của người dân, sức khỏe của giống nòi lấy cái lợi nhỏ trước mắt liệu đã được quán triệt nghiêm túc từ trung ương tới địa phương? 
Ở tầm vĩ mô, cần xem xét căn bệnh đua nhau thu hút đầu tư bằng mọi giá tại các địa phương, không thể chấp nhận rủi ro lớn, lâu dài để đổi lấy lợi ích nhỏ trước mắt.  
Cần gắn trách nhiệm các lãnh đạo địa phương đang “trải thảm đỏ” thu hút đầu tư nước ngoài với những sự cố có thể xảy ra kể cả khi đã rời vị trí công tác.  
Cần xem xét trách nhiệm của các cơ quan quản lý, đặc biệt là trách nhiệm của chính quyền Hà Tĩnh đến đâu khi không kiểm soát được vụ xả thải này, vì sao thời gian hoạt động của Formosa lên đến 70 năm, vượt quá quy định của pháp luật hiện hành?
Tài liệu tham khảo:
[2] baodatviet.vn/kinh.../trung-quoc-day-lac-hau-sang-nuoc-khac-de-cuu-minh-3102894..
X.D.
 FORMOSA: ĐÁNH BÙN SANG AO, MIỆNG ĂN TIỀN
NGÔ NHÂN DỤNG/ BVN 3-7-2016
Gần ba tháng sau khi cá chết tràn ngập bờ biển, chính quyền cộng sản mới công bố: Công ty Formosa chịu trách nhiệm!
Ngay từ đầu, người dân Hà Tĩnh đã kết luận thủ phạm chính là nhà máy gang thép của Formosa! Một ngư dân đã nhìn thấy tận mắt ống dẫn chất thải của công ty này đổ nước đỏ lòm dưới đáy biển! Một người đã chết vì bị nhiễm độc khi lặn dưới biển gần các ống cống đó. Nhưng lúc đó, phản ứng đầu tiên của chính quyền Hà Nội là chạy tội cho thủ phạm! Ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Hà Tĩnh còn đi thăm giao hảo với Ban Giám đốc Formosa mà không thèm ngó đến hàng ngàn ngư phủ mất nguồn sống! Ngay trong Tháng Tư, ba tuần lễ sau khi dân nhìn thấy tai họa, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong Chính phủ Hà Nội còn họp báo nói rằng, sau khi đã thử nghiệm và thâu lượm bằng chứng, không có gì chứng tỏ chất thải từ nhà máy của Formosa liên can đến vụ cá chết! Ông ta còn lớn giọng giải thích bằng hai nguyên nhân khác: Một là chất độc do con người thải ra (không nói những người đó là ai, nhưng Formosa đã được miễn tội rồi); hai là hiện tượng rong biển gây thủy triều đỏ (một điều bị các chuyên gia về biển gạt bỏ ngay). Ông ta còn cam kết nước biển không có dấu hiệu nhiễm độc hơn mức bình thường, trong khi chính quyền tỉnh Thừa Thiên nói trên đài truyền hình rằng các chất độc ammonium và chromium trong nước đã lên cao quá mức.
Một cuộc thử nghiệm nước thải có thể tìm ra các chất độc phenol, cyanide và hydroxides sắt không khó khăn lắm, một vài ngày phải thấy kết quả. Tại sao cuộc thử nghiệm của Bộ Môi trường vào Tháng Tư không tìm ra thủ phạm, mà phải đợi gần ba tháng mới thú nhận? Tại sao chính quyền đã biết rồi mà phải đợi ba tháng mới nói sự thật với người dân?
Bây giờ đến lượt Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà chính thức kết luận Formosa là thủ phạm. Nhưng cung cách tuyên bố kết luận này cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam cố ý hạ thấp mức quan trọng của những thiệt hại môi trường do Công ty Formosa gây ra.
Từ ba tháng nay, dân Việt Nam đang chờ coi Đảng Cộng sản nói gì về vụ cá chết. Hàng triệu người không dám ăn đồ biển, không dám dùng cả nước mắm, ngàn ngư dân mất công việc kiếm ăn, chất độc trong nước biển không biết còn đọng bao nhiêu năm nữa. Ai cũng sốt ruột chờ đợi kết quả cuộc điều tra dềnh dang kéo dài sẽ nói gì.
Nhưng cuộc họp báo được triệu tập trước hết là để Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng thông báo nhiều nghị định mới ban hành quy định chi tiết việc thi hành các luật đầu tư, luật doanh nghiệp, có hiệu lực từ đầu Tháng Bảy. Thêm vào đó, các quan chức lớn mới nói đến nguyên nhân khiến cá chết bất thường ở bờ biển các tình miền Trung. Chính quyền Cộng sản cố ý cho thấy họ coi thảm họa môi trường chỉ là một “chuyện bình thường”, không cần chú ý đặc biệt! Hơn nữa, trước ngày các quan chức lớn họp báo, báo chí do đảng chỉ huy đã tiết lộ bức thư nhận lỗi của Formosa rồi. Dân chúng đọc trên mạng đầy đủ lá thư của Formosa, thừa nhận họ đã gây ra thảm họa cá chết. Ngày hôm sau, việc công bố kết luận của Nhà nước trở thành một tin cũ, tin nhạt nhẽo, ai cũng biết rồi! Và Công ty Formosa còn chạy tội, đổ lỗi chất độc được thải ra biển vì “mất điện!” Cả nước Việt Nam dân đã quen cảnh mất điện, thành ra cái tội này càng nhỏ!
Tìm mọi cách biến thảm họa môi trường thành một chuyện nhỏ, chuyện bình thường, chính quyền Việt Cộng chỉ muốn người dân dễ dàng vui vẻ chấp nhận mấy lời xin lỗi và một món tiền đền bù thiệt hại 11,500 tỷ đồng Việt Nam, 500 triệu Mỹ kim!
Những ngư dân ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, mất nghiệp vì tai họa biển nhiễm độc, không biết một triệu Mỹ kim nó lớn đến thế nào. Ðồng bào không biết rằng hai ngày trước đó, Công ty xe hơi Volkswagen mới chịu bồi thường cho các khách mua xe ở Mỹ và cho Chính phủ Mỹ gần 15 tỷ Mỹ kim, con số cao gấp 30 lần số tiền Formosa chịu bỏ ra!
Mà tội lỗi của Công ty Volkswagen là cái gì? Tội làm cho máy xe VW chạy diesel của họ “biết nói dối”. Một bộ phận điện tử được gắn trong máy xe biết đánh lừa cả những máy trắc nghiệm, xe thả nhiều khói nhưng vẫn thấy có vẻ thả ít khói. Ðây là một tội “nói dối để bán hàng”, họ phải đền bù cho khách hàng. Nhưng vì nhiều người Mỹ đã dùng loại xe biết nói dối này, cho nên Volkswagen còn bị Chính phủ Mỹ kết tội làm hại cho môi trường không khí của nước Mỹ. Fomorsa cũng phạm cả hai loại tội đó: Thứ nhất là phạm tội với các ngư phủ Việt Nam, phạm tội với cả những người đã ăn cá không biết cá đã bị nhiễm độc. Thứ nhì là tội tàn hại môi trường biển của nước Việt Nam.
Ðể đền tội, hãng Volkswagen, gốc ở nước Ðức, chịu mua lại tất cả những chiếc xe đã bán ở Mỹ, giá từ 12 ngàn đến 44 ngàn Mỹ kim. Với những khách hàng không thích bán xe lại, Công ty Ðức này sẽ đứng ra thay thế mấy bộ phận để cái máy xe phải “nói thật”; đồng thời, mỗi chủ xe sẽ được “bồi thường thiệt hại” bằng tiền mặt, mỗi chiếc xe đền từ năm đến mười ngàn đô la Mỹ! Ðối với Chính phủ Mỹ, hãng Volkswagen sẽ trả hai tỷ Mỹ kim để nhà nước Mỹ cổ động cho loại máy xe không phun khói, cộng với 2 tỷ 700 triệu Mỹ kim để làm cho môi trường sạch hơn! Số tiền hai tỷ bảy này sẽ được phát cho các tiểu bang, họ sẽ đi mua xe mới thay thế những chiếc công xa cũ thả nhiều khói quá! Nhưng Volkswagen chưa hết nợ! Chính phủ Mỹ có thể sẽ đưa Công ty này ra tòa về tội vi phạm luật lệ môi trường! Bộ Tư pháp Mỹ cũng đang nghiên cứu xem có đưa Volkswagen và các cá nhân liên hệ ra tòa về các tội hình sự hay không!
Tại sao chính quyền Mỹ gây khó khăn cho Công ty Volkswagen như vậy? Bởi vì họ chịu trách nhiệm phải bảo vệ quyền lợi của người dân. Từng người dân đi mua xe, ai bị thiệt đồng nào thì thủ phạm gây tội phải bồi thường. Và dân Mỹ bắt Chính phủ của họ phải lo bảo vệ môi trường sống. Nếu người cầm quyền không làm đúng hai nhiệm vụ đó, dân Mỹ sẽ dùng lá phiếu “hỏi tội” trong mùa bầu cử tới.
So sánh với vụ Mỹ phạt Volkswagen thì ai cũng thấy chính quyền Cộng sản Việt Nam rất nhân từ đối với Công ty Formosa. Tại sao? Vì họ bất cần dân. Họ không cần dân bầu lên, các quan chức đều do đảng “cơ cấu” cho ngồi trên đầu dân mà tham nhũng. Ðảng Cộng sản coi dân Việt Nam như rác, giá trị thấp hơn hơn rác rưởi nữa!
Khi công bố trách nhiệm của Công ty Formosa, các quan lớn Cộng sản không hề nói đến trách nhiệm của những người trong guồng máy nhà nước đã không làm đủ bổn phận khiến tai họa xẩy ra. Không một viên chức nào xin lỗi người dân Hà Tĩnh, Quảng Bình, cho tới Thừa Thiên. Không nói gì đến tội đàn áp những người đi biểu tình đòi làm sáng tỏ nguyên nhân gây tai họa. Tên Thứ trưởng đã mở miệng nói dối, chạy tội cho Formosa ngay từ đầu vẫn ngồi đó.
Trên hết, cả guồng máy đầu não đảng và chính quyền Cộng sản không dám nói đến việc truy tố Công ty Formosa và những cá nhân có trách nhiệm trong công ty đó đã phá hoại môi trường, vi phạm luật lệ bảo vệ môi trường. Người dân phải thấy rằng chính quyền sợ. Các thủ phạm gây ra thảm họa cá chết có thể trưng ra đủ bằng cớ chứng minh rằng tất cả những việc họ làm đều đã được chính quyền từ trên xuống dưới ký giấy chấp nhận hết, từ lâu rồi! Nếu làm dữ đẩy Formosa đến chân tường, họ sẽ công bố những món tiền hối lộ từ trên xuống dưới thì biết làm sao?
Ai đã đã quyết định giao cho Formosa 2,000 héc ta đất và 1,200 héc ta mặt nước khiến 3,000 gia đình bị giải tỏa nhà, 15,000 ngôi mộ bị cải táng? Ai đã ưu đãi cho Formosa chỉ chịu thuế thu nhập 10% thay vì phải là 25%, và được thuê đất 70 năm thay vì tối đa là 50 năm – nhưng từ năm thứ 16 mới phải trả tiền thuê đất? Ai? Ai? Từ trên xuống dưới, bao nhiêu đứa?
Hỏi tội Formosa thì há miệng mắc quai! Cho nên Đảng Cộng sản Việt Nam phải ngậm miệng ăn tiền, tìm cách đánh bùn sang ao, coi như việc Formosa lên tiếng xin lỗi và “thí cho” 500 triệu đô la là xong, xí xóa hết!
Số tiền 500 triệu đô la làm được cái gì? Một tờ báo ở Sài Gòn loan tin Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã “khẩn trương làm đề án” để giải quyết việc làm cho 1 triệu ngư dân bốn tỉnh Miền Trung chuyển sang làm nghề khác. Mỗi người được 500 đô la, có đủ để thay đổi cuộc đời hay không? Còn việc làm sạch môi trường ven biển, lấy tiền đâu ra? Ai bồi thường cho người dân Hà Tĩnh chết vì nước biển độc? Ai bồi thường cho hai người chết vì công an dẹp biểu tình trước nhà máy Formosa hồi Tháng Năm?
Dân Việt Nam không ngu. Thế nào cũng có người dám đứng lên đặt câu hỏi. Cho nên mấy bữa trước, Bộ trưởng Công an Tô Lâm đã ra lệnh cho lực lượng khuyển mã phải lo ngăn chặn biểu tình trong một hội nghị tại Sài Gòn có mặt từ Thủ tướng tới các trùm công an 63 tỉnh và thành phố.
Khi xác định chính quyền cộng sản không đưa Công ty Formosa ra tòa, Mai Tiến Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ giải thích rằng “Chính phủ cũng có chính sách độ lượng, đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại”. Thế là xí xóa.
Dân Hà Nội đang chuyền tai một chuyện tiếu lâm mới. Có một anh chồng về nhà thấy một người đàn ông lạ vừa bước ra khỏi phòng tắm. Anh quát lên, hắn chạy vào phòng ngủ. Người chồng vác gậy đuổi theo, mới bước qua cửa thì bà vợ chạy ra ngăn: “Trời đất ơi! Ðánh đứa chạy đi chứ ai nỡ đánh kẻ chạy lại? Anh Dũng ơi là Anh Dũng ơi!”
N.N.D.
CÓ BÀN TAY CỦA TRUNG NAM HẢI TRONG THẢM HỌA MÔI TRƯỜNG LỚN NHẤT CỦA  LỊCH SỬ VIỆT NAM ?
VŨ ĐÔNG HÀ /DLB/ BVN 3-7-2016
Vũ Đông Hà (Danlambao) - Hình ảnh hàng loạt cá chết dù là khủng khiếp, thê lương đến đâu vẫn chỉ là một biểu hiện ngoài da, như ghẻ lở nhìn thấy được cho triệu chứng của một người mới phát tán bệnh phong. Những chất thải độc hại được phóng đi từ Formosa đã tạo ra những hệ luỵ trầm trọng, vượt qua những xác cá vương vãi trên bờ. Nó đang biến những giòng nước trong cơ thể Biển Đông dọc theo bờ chữ S trở thành dòng máu của một bệnh nhân mang vi khuẩn Hansen.
Biển chết!
Chết theo nghĩa sẽ không còn những chiếc thuyền ra khơi, không còn cái gọi là ngư dân bám biển giữ chủ quyền. Tàu lạ từ phương Bắc với những thủ đoạn bắt cóc, làm chìm tàu, đánh đập, cướp của, giết người... đã không làm chùn lòng những ngư dân Việt Nam hiền hoà nhưng cương quyết. Nhưng chất thải Formosa đã thành công trong việc biến những tàu thuyền vượt sóng ra khơi thành những chiếc thuyền nan lật úp, những con tàu phế thải trơ trọi trên bờ.
"Sự cố" mất điện đầy nghi vấn
Ngày 18.06.2016 Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Formosa gửi một công văn cho Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Trong công văn này có lời giải thích lý do dẫn đến chất thải độc hại ra biển là vì bị mất điện trong thời gian đầu tháng 4, 2016 và hệ thống quản lý không kiểm soát được nước thải.
clip_image004
Lối giải thích này cho thấy:
- Hệ thống quản lý chất lượng nước thải bị "mất điện" không hoạt động nhưng nước thải vẫn đổ ra biển.
- Nước thải đổ ra biển tức là "hệ thống làm mát (nguội)" (cooling system) có điện và hoạt động,đồng nghĩa là nhà máy có điện, đang hoạt độngnên mới có nhu cầu dùng cooling system.
Cả nhà máy có điện, hệ thống làm mát có điện, hệ thống bơm nước thải từ nhà máy ra tận biển có điện. Chỉ có hệ thống kiểm soát và thanh lọc những chất hoá học độc hại trong nước thải là không có điện!
Rõ ràng việc xả thải độc hại ra biển là một "hành động có chủ ý" của một số người phụ trách khâu thanh lọc.
Trong văn thư của ông chủ tịch HĐQT Formosa viết rằng sự việc "mất điện" xảy ra trong "một số ngày". Một dự án khởi sự với tổng số vốn 10,5 tỷ USD mà bộ phận thanh lọc bị mất điện kéo dài trong"một số ngày" là điều vô lý.
Do đó, hệ thống thanh lọc vẫn chạy nhưng không lọc là có chủ ý và chủ ý đó kéo dài trong "nhiều ngày". Chủ ý đó cũng đã gia tăng cường độ của những hoá chất độc hại trong chất thải đến mức chỉ trong vòng vài ngày có thể làm cá chết hàng loạt - một hiện tượng thường chỉ xảy ra trong một thời gian dài mới phát hiện được.
Những kẻ có chủ ý này tại Formosa Hà Tĩnh là ai?
Để trả lời câu hỏi, chúng ta cần tìm hiểu Formosa Gang Thép Hà Tĩnh là ai?
Tập đoàn Formosa và dự án gang thép Vũng Áng
Formosa Plastics Group (FPG) là một công ty Đài Loan được thành lập vào năm 1954 bởi 2 anh em Wang Yung-ching và Wang Yung-tsai. Khởi đầu là một công ty sản xuất nhựa, FPG đã trở thành một công ty đứng trong hàng 861 trên thế giới theo xếp hạng của Forbes vào năm 2000 (1). Năm 2007, tổng thu nhập của FPG lên đến 2000 tỷ NT, tương đương với 15.4% GDP của Đài Loan lúc ấy. Hiện nay, FPG là công ty tư nhân lớn nhất của Đài Loan.
Dự án gang thép Vũng Áng được phối hợp bởi 2 công ty Formosa và Taiwan'sChina Steel với cổ phần ban đầu là 95% và 5% cho mỗi công ty.
Tuy nhiên, theo báo cáo của Taipei Times thì vào tháng 9, 2014 Formosa thông báo cổ phần của Formosa chỉ còn 59% sau khi mỗi 4 công ty con của Formosa hạ thấp cổ phần đầu tư từ 21.25% xuống 14.75%. (2)
Câu hỏi được đặt ra là như vậy thì 36% số vốn đầu tư mà Formsa không còn giữ nữa được chuyển nhượng sang cho China Steel hay công ty nào khác?
Vào đầu năm 2015, Taiwan's China Steel tăng cổ phần từ 5% lên 25%. (3)
Như vậy còn lại 16%.
Ai là sở hữu chủ mới của 16% Formosa Hà Tĩnh?
Ai là những kẻ có khả năng kiểm soát hệ thống thanh lọc chất thải tại Formosal Hà Tĩnh?
Để có thêm những dữ kiện cho câu trả lời, hãy cùng theo những con cá chết từ Vũng Áng để xuôi Bắc lẫn xuôi Nam.
Cá chết từ Vũng Áng sang đến sông hồ, từ Trung ra Bắc, từ Bắc xuống Nam
Hiện tượng cá chết được phát hiện vào ngày04.04.2016 tại vùng biển Vũng Áng Hà Tĩnh bởi chất thải không thanh lọc của Formosa. Chỉ vài ngày sau thảm trạng cá chết lan qua vùng biển Quảng Bình, Quảng Trị và Huế.
Trong khi dư luận dồn mọi nghi vấn vào Formosa là nơi thải nước độc hại ra biển thì bất ngờ hiện tượng cá chết lại xảy ra ở một số sông hồ:
- Ngày 04.05.2016, cá chết hàng loạt được phát hiện ở thượng nguồn sông Bưởi, Thanh Hoá (4);
- Một ngày sau, 05.05.2016, xuống tận phía nam, hàng loạt cá trên sông La Ngà chết tại tỉnh Đồng Nai (5);
- Cùng ngày, 05.05.2016, 11 tấn cá bị chết trênsông Lạch Bạng, Thanh Hoá (6);
- Ngày 09.05.2016, hàng ngàn con cá nuôi lồng bè ở huyện đảo Phú Quý, Bình Thuận, bị chết (7);
- Ngày 15.05.2016, cá trên sông Bưởi tại Thanh Hoá lại một lần nữa chết hàng loạt (8);
- Ngày 17.05.2016, từ Thanh Hoá hiện tượng cá chết chạy xuống sông Hinh, Phú Yên (9);
- Ngày 17.05.2016, cá chuyển sang chết hàng loạt tại kênh Nhiêu Lộc, Thị Nghè, Sài Gòn (10);
- Ngày 08.06.2016, 5 tấn cá chết được vớt lên từ hồ Hoàng Cầu, Hà Nội (11);
- Ngày 10.06.2016, cá chết hàng loạt trên sông Thương, Bắc Giang (12);
- Ngày 13.06.2016, Tôm hùm chết hàng loạt ở khu vực biển ở xã Xuân Phương (Sông Cầu), Phú Yên(13);
Cá chết hàng loạt từ biển miền Trung, khởi đầu với những nguyên nhân do các cán bộ nhà nước tự chế như tảo nở hoa, thuỷ triều đỏ đã bị các lãnh đạo Formosa Hà Tĩnh cúi đầu nhận tội đánh sập.
Do đó, những lý giải nguyên nhân cá chết hàng loạt trên sông ngòi, trải dài từ Bắc xuống Nam là do thời tiết cũng bị đánh sập.
Đã có một bàn tay nào đó gây nên thảm trạng cá chết tràn lan này với 2 lý do:
1. Từ ban đầu muốn đánh lạc hướng và gây hoang mang trong dư luận đang đổ dồn về nguyên nhân gây ra cá chết tại Vũng Áng và che giấu tội phạm Formosa.
2. Nhân cơ hội tàn phá toàn bộ công nghệ thủy sản của Việt Nam bằng hiện tượng cá chết ở khắp mọi nơi.
Từ "sự cố" nước thải độc hại với liều lượng cao được cố tình tống ra biển Đông sang đến nhiều sông hồ trên khắp 3 miền bị bỏ độc dẫn đến câu hỏi: Thế lực ngoại bang nào có khả năng để làm chuyện đó trên đất nước Việt Nam?
Chuyến đi Việt Nam của Dương Khiết Trì
Vào ngày 02.06.2016 Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng tuyên bố đã tìm ra nguyên nhân cá chết (14). Tuy nhiên, mãi cho đến gần 1 tháng sau mới công bố. Tại sao?
Đúng là đảng và nhà nước cùng với Formosa có nhu cầu phải bàn thảo, dàn dựng sao cho cuộc công bố giảm thiểu những thiệt hại cho chế độ và cho Formosa. Nhưng không thể nào cần đến cả tháng, không nên kéo dài khi mà sức ép và sự phẫn nộ của dư luận quần chúng đang đụng trần. Phải có lý do nào khác để phải trả giá cho việc chờ đợi.
Bên cạnh đó, vào ngày 18.06.2016, Trần Nguyên Thành - chủ tịch HĐQT Formosa Hà Tĩnh - đã gửi thư cho Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc "chính thức nhận tội". Lý do gì để nhà nước CSVN phải trì hoãn thêm đến 12 ngày?
Lý do chính là chuyến đi của Dương Khiết Trì, Ủy viên Quốc vụ Trung cộng sang Việt Nam vào ngày27.06.2016, 3 ngày trước khi nhà nước Việt Nam công bố nguyên nhân và thủ phạm cá chết.
Cuộc gặp gỡ của Dương Thiết Trì với lãnh đạo đảng và nhà nước, bên cạnh những ký kết về toà lãnh sự Tàu tại Đà Nẵng, bản "ghi nhớ" về biển Đông cùng với 19,5 triệu USD cho cung hữu nghị Việt-Tàu được công bố ra bên ngoài thì còn có gì khác?
Đó có thể là thái độ cần "ghi nhớ" với thủ phạm cá chết Formosa; phải trình bày như thế nào? phải chấp nhận và chốt cho xong những gì đang chưa ngã ngũ với Formosa. Và con số bồi thường 500 triệu USD.
Tại sao có con số 500 triệu USD khi mà trong một thời gian quá ngắn, không một tổ chức chuyên nghiệp nào, một quốc gia tiên tiến nào có thể định lượng được những thiệt hại về thảm hoạ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam này để từ đó dẫn đến con số bồi thường? Tại sao phía đảng và nhà nước CSVN chấp nhận con số đó? Có gì bảo đảm rằng bên cạnh 500 triệu USD được công bố do Formosa bồi thường, bên cạnh 19,5 triệu USD Bắc Kinh dành cho cung hữu nghị, Dương Thiết Kỳ lại không hứa hẹn riêng tư về một con số đô la với nhiều số không theo sau với các lãnh đạo Ba Đình?
Câu hỏi "thế lực ngoại bang nào có khả năng để tạo hiện tượng cá chết từ biển đến sông, từ khắp Trung Nam Bắc" đã bắt đầu có hướng trả lời.
Hướng trả lời nằm ở thế lực nào có cổ phần không công bố và nhân sự trong Formosa Hà Tĩnh để lũng đoạn hệ thống thanh lọc chất thải; thế lực nào có hạ tầng cơ sở, có những đặc khu, có một lực lượng quản trị, công nhân, quân đội / tình báo trá hình tràn lan khắp nước Việt Nam để gây nên cá chết khắp sông hồ; thế lực nào khống chế được lãnh đạo đảng CSVN và có tay sai nằm ở trong guồng máy chính trị và ngay ở thượng tầng lãnh đạo Hà Nội.
Hướng trả lời nằm ở thế lực nào hưởng lợi nhiều nhất khi ngư dân Việt Nam không còn hiện hữu đủ ở Biển Đông để bám biển như là một biểu tượng đang giữ chủ quyền, khi toàn bộ kỹ nghệ hải sản Việt Nam bị phá sản, kéo theo tình trạng tuột dốc của kỹ nghệ du lịch và thụt lùi về kinh tế.
Chúng ta cần ưu tiên tìm ra câu trả lời một cách rành mạch và logic - ai là thủ phạm?. Cần ưu tiên để đòi hỏi minh bạch về thông tin, cụ thể những gì đã xảy ra, bao nhiêu tấn hóa học độc hại đã thải ra, tại sao cá chết ở khắp các sông hồ...
Con số 500 triệu USD - rất nhỏ và có tính toán để trở thành một cái bẫy cho dư luận Việt Nam tranh cãi và đòi hỏi thêm một vài trăm triệu khác, hay phán đoán nó được phân chia như thế nào, bao nhiêu thực sự đến tay người dân, bao nhiêu để cải thiện môi trường, bao nhiêu thì vào túi cán bộ... Chúng ta vẫn làm cho ra lẽ để người dân và đất nước Việt Nam phải được bồi thường chính đáng và công bằng, nhưng quan trọng hơn cả là phải truy ra thủ phạm.
Chúng ta cần nhớ, kẻ thù của dân tộc Việt Nam vẫn ngồi đó, rất gần và đã rất lâu. Cá chết không chỉ một lần bởi Formosa. Và người Việt không chỉ chết một lần này mà thôi. Sẽ còn nhiều cái chết "đại trà" trong tương lai khi thủ phạm vẫn ung dung ngồi đó và đi ra đi vào Ba Đình như nhà của chúng.
01.07.2016
V.Đ.H.
Chú thích:

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2016

20160702. BÀN VỀ GIẢI PHÁP CHỐNG NẠN 'COCC'

ĐIỂM BÁO MẠNG

Hiện tượng Con Ông Cháu Cha (viết tắt COCC) không thiếu trong xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, nếu trước kia nó chỉ khép nép thì trong chục năm lại đây nó không còn e dè nữa, và trong vòng một hai năm gần đây nó trở nên ngang ngược, công khai thách thức lương tâm xã hội.
Đã có nhiều đề xuất về giải pháp cho vấn nạn này. Sau đây là một đề xuất như vậy của một chuyên viên về tổ chức quản lý từng làm việc ở các công ty đa quốc gia châu Âu và Mỹ.
COCC thực là một câu hỏi thách thức lương tâm, nhưng nó chỉ là một mặt của vấn đề rộng hơn và nhức nhối hơn nhiều: vấn đề nhân sự khiến cho các chức trách lớn và rất lớn lọt vào tay những con người bất xứng hay tệ hơn đã từng vướng vào nhiều lỗi về năng lực chuyên môn lẫn đạo đức cá nhân, nhưng họ vẫn tiếp tục được cất nhắc và bổ nhiệm. Do thiếu vắng tài năng và đạo đức, chức trách trong tay không phải để họ phục vụ nhân dân mà để họ tận vơ vét và chuẩn bị cho con cháu họ thay thế! Và chu kỳ vơ vét lại tiếp tục!
Thế nào là Con Ông Cháu Cha?
Hiện tượng Con Ông Cháu Cha là hiện tượng người con, cháu, em…, nghĩa là người thân của một quan chức, được đề bạt, bổ nhiệm bởi quan chức đó hay dưới áp lực, ảnh hưởng của quan chức đó. Một thí dụ như vậy được thấy qua trường hợp ông Lê Phước Hoài Bảo, vị Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam gây xôn xao dư luận năm ngoái, và mới đây là con của nguyên Bộ trưởng bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng. 
Xác định trên sẽ không khiến chúng ta nhầm lẫn rằng trường hợp Tổng Thống Bush con với trường hợp ông Bảo đều là COCC (dù tầm vóc hai người và hai sự việc khác nhau). Trường hợp ông Bảo là COCC vì quá trình thăng tiến của ông do sự bổ nhiệm trực tiếp của cha ông lúc còn đương nhiệm, hoặc do cấp dưới của cha ông. Còn chức vụ Tổng thống của ông Bush con, trái lại, do dân chúng lựa chọn qua một cuộc bầu cử minh bạch, công khai và bình đẳng giữa các ứng cử viên. Trường hợp ông Bush con không phải COCC.
Xã hội các nước dân chủ hay các công ty đa quốc gia đều có luật pháp hay nội quy phòng ngừa tệ nạn COCC. Nói chung họ cấm cha con, chồng vợ, anh em… làm chung trong một cơ quan trong đó người này là cấp dưới trực tiếp của người kia, hay người này là cấp dưới của cấp dưới trực tiếp của người kia. Lý do chính của sự cấm này là sự bất bình đẳng trong cơ quan, và/hay sự bất tiện trong khi làm việc. Bình đẳng là một giá trị rất được tôn trọng của xã hội văn minh, bởi vì bình đẳng là một trong những điều kiện của xã hội khai phóng.       
Dư luận bất bình và đề nghị giải pháp
Nhiều tiếng nói chống lại tệ nạn COCC đã cất lên. Sau mô tả hiện tượng là đề nghị giải pháp, và nhìn chung có hai hướng chính trong các giải pháp được đề nghị này:
Hướng 1: kêu gọi cán bộ có trách nhiệm học tập tấm gương đạo đức của các cá nhân trong lịch sử như Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi, Trần Thủ Độ, Tô Hiến Thành… 
Hướng 2: kêu gọi đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam có các biện pháp minh bạch trong thi tuyển công chức, đề bạt, bồi dưỡng…
Trong khi không hề coi nhẹ khía cạnh giữ gìn đạo đức trong giới công quyền cũng như không hề coi nhẹ các biện pháp minh bạch trong thi tuyển công chức, đề bạt, bồi dưỡng thì thực lòng tôi vẫn chưa yên tâm khi chưa thấy đề cập tới một giải pháp mà tôi nghĩ là gốc của vấn đề: giao sự giám sát về cho nhân dân.
Tại sao giao sự giám sát về cho nhân dân là giải pháp gốc?
Chắc ai trong chúng ta cũng công nhận rằng:
Một quốc gia, một xã hội là do nhân dân mà ra. Nhân dân, lãnh thổ, chính quyền là ba thành tố gốc cấu tạo nên một quốc gia, cả về mặt thực thể lẫn về mặt pháp lý.
Trong ba thành tố đó, Nhân Dân là gốc quan trọng nhất, bởi vì không có nhân dân làm gì có chính quyền? Và cũng không có lãnh thổ vì không có cương vực, chỉ có một mảnh đất hoang!
Vậy nhân dân là thành tố gốc của quốc gia, là nguồn gốc của chính quyền. Chính quyền do nhân dân tạo ra với sứ mạng chính là phục vụ nhân dân, trong đó cụ thể là:
1) Bảo vệ tài sản và tính mạng dân chúng
2) Bảo vệ các quyền tự do căn bản của dân chúng
3) Bảo vệ lãnh thổ
4) Phát triển quốc gia (kinh tế, giáo dục…)
Một chính quyền với sứ mạng đó phải là một chính quyền tôn trọng các giá trị Công Bằng, Chí Công Vô Tư, Liêm Chính… Bản chất của hiện tượng COCC mâu thuẫn hoàn toàn với các giá trị nói trên. Chính quyền là nơi các thành viên của nó phục vụ nhân dân, không phải phục vụ một gia đình, một dòng họ, một phe nhóm! Nếu các thành viên của chính quyền đó vi phạm thì dân chúng sẽ loại bỏ ra khỏi hệ thống chính quyền. Vậy sự giám sát của Nhân Dân là giải pháp căn bản nhất để ngăn cấm và phòng ngừa tệ nạn COCC.
Giải pháp để giao sự giám sát về cho Nhân Dân
Xét các hoàn cảnh thực tế của nước Việt Nam hiện nay do một đảng - đảng Cộng sản Việt Nam - lãnh đạo,
Xét bài học của lịch sử hàng ngàn năm: Quyền lực làm tha hóa con người, tha hóa tổ chức. Quyền càng lớn và càng tập trung, sự tha hóa càng lớn,
Xét thực tế rằng tệ nạn COCC do và chỉ do những thành viên quyền thế của chính quyền gây ra,
Xét mục đích của đề nghị này là hỗ trợ chính quyền khắc phục tệ nạn COCC,
Tôi xin đề nghị một giải pháp như sau:
Thiết lập một Ban Chuyên trách Kiểm tra Nội bộ với trách nhiệm và tính chất như sau:
1) Trách nhiệm: Kiểm tra nội bộ mà chủ yếu là kiểm tra các sự bổ nhiệm ở mức độ quan trọng.
2) Tính chất:
A - Ban Chuyên trách không tham gia hệ thống quyền lực chính trị và công quyền.
B - Ban Chuyên trách không quyết định bổ nhiệm, chỉ kiểm tra và báo cáo kết quả nhận xét cho những người ra quyết định bổ nhiệm và cho các cấp lãnh đạo đảng và chính quyền tương xứng
C – Hoạt động kiểm tra độc lập với với hệ thống quyền lực Đảng và chính quyền.
Ban Chuyên trách được tổ chức gọn nhẹ, thành phần lãnh đạo Ban do Quốc hội bầu ra trên danh sách các ứng viên. Các ứng viên là thân hào nhân sĩ trong nước muốn tham gia hoạt động này, có kinh nghiệm trong các lãnh vực quản lý, pháp lý, hành chánh… tốt nhất là không thuộc hệ thống đảng hay chính quyền. Do không tham gia hệ thống quyền lực, các ứng cử viên nên có tư cách độc lập (không do Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu) thì tiếng nói sẽ thuyết phục dân chúng hơn.
Hoạt động của Ban Chuyên trách này độc lập với Kiểm toán và Thanh tra Nhà nước, và hoạt động chủ yếu trong các vụ việc có nhiều tai tiếng hay có khả năng có nhiều tai tiếng.
Một Ban như vậy có tốn chi phí không? Có, nhưng so với các thất thoát do hiện tượng COCC tạo ra thì chi phí này xứng đáng đầu tư vì sẽ ngăn chặn phần lớn thất thoát.
Nếu Ban Chuyên trách hoạt động có hiệu quả, dần dần có thể mở rộng hoạt động kiểm tra sang lãnh vực chi tiêu công, bởi vì tệ nạn COCC và tham nhũng thường song hành với nhau.
Tôi mạnh dạn đề đạt ý nghĩ của mình, mong góp phần vào việc lành mạnh hóa xã hội. Tôi nghĩ rằng nếu có một cơ quan kiểm tra tương đối độc lập thì sẽ giảm việc vừa tiến hành công việc vừa tự kiểm tra, nghĩa là vừa đá bóng vừa thổi còi. Việc này sẽ đem lại những điều tốt đẹp hơn cho dân chúng và cả cho Đảng!
Lê Học Lãnh Vân
VỀ DƯ LUẬN 'CON VUA THÌ LẠI LÀM VUA'
ANTG CT 178 1-7-2016

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2016

20160701. CHUYỆN CỦA CỰU CÁN BỘ NGOẠI GIAO ĐẶNG XƯƠNG HÙNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
NGUYỄN THỊ TỪ HUY PHỎNG VẤN CỰU CÁN BỘ NGOẠI GIAO ĐẶNG XƯƠNG HÙNG
RFA/ Viet-Studies 26-6-2016
Được biết ông Đặng Xương Hùng đã từ bỏ tương lai nghề nghiệp trong ngành ngoại giao để dấn thân đấu tranh cho quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, chúng tôi thực hiện cuộc trò chuyện với ông để hiểu thêm về cách thức vận hành và tổ chức của bộ máy quyền lực ở Việt Nam.Nguyễn Thị Từ Huy :
Trước tiên, ông có thể cho biết, ông đã đến với ngành ngoại giao như thế nào, là một lựa chọn cá nhân, hay là tuân theo mong muốn của gia đình… ?
Đặng Xương Hùng :
Tôi đến với ngành ngoại giao là do yếu tố gia đình. Bố và anh trai cả của tôi đều làm ở Bộ Ngoại giao. Bố tôi là bạn của ông Nguyễn Cơ Thạch, cố Bộ trưởng Ngoại giao. Hai ông là đồng hương với nhau, quê tại Nam Định, đã cùng nhau làm việc ởỦy ban kháng chiến liên khu ba (trước 1954). Khi Bộ ngoại giao được thành lập, ông Thạch đã rủ (hoặc đưa) Bố tôi về đây làm cùng nhau. Vốn tiếng Pháp của Bố tôi cũng khá.
Tôi vốn học giỏi ở những môn tự nhiên (toán, lý, hóa) hơn, nên khi thi vào đại học (năm 1978), tôi đã chọn thi vào Đại học Bách khoa. Lúc đó, đại học Ngoại giao không có trong danh sách để thi, mà họ đi thu nạp sinh viên từ con em trong ngành, có kết quả tốt ở các trường đại học khác. Năm đó, tôi được 21 điểm, chỉ thiếu nửa điểm là đi học ở nước ngoài (đây là sự đáng tiếc, tôi sẽ nhớ đến suốt đời, vì rằng trong bài thi toán tôi đã có sự nhầm không thể tưởng tượng được, đó là 2 :1=1/2, nếu không nhầm ở đây bài thi toán tôi sẽ có điểm rất cao). Sau đó, đã có một người của trường đại học ngoại giao (anh Nguyễn Hồng Phong) đã đến gia đình tôi, thuyết phục đưa tôi vào đại học ngoại giao. Tất nhiên, gia đình tôi ai cũng đồng ý, bản thân tôi không thích thú lắm, vì rằng nó đi ngược với ý thích muốn làm nghiên cứu khoa học của tôi. Tuy nhiên, cuối cùng cậu thanh niên mới có 17 tuổi cũng đã đồng ý theo ý kiến mọi người và cậu ta cũng phải thừa nhận rằng vào ngoại giao là một diễm phúc và danh giá thời bấy giờ.
Tuy nhiên, khi vào sơ tuyển tại đại học ngoại giao, tôi gặp khó khăn, do ngoại hình của tôi vô cùng tệ hại, mắt híp bẩm sinh, thấp bé, lúc đó tôi chỉ nặng có 38 kg, ngoại hình này không thể đủ để vào làm ngoại giao đại diện cho Việt Nam tiếp xúc với người nước ngoài. Nhưng số phận vẫn muốn đẩy tôi vào với ngành ngoại giao. Câu chuyện lại một lần nữa liên quan đến ông Nguyễn Cơ Thạch. Năm đó, ông Thạch đang làm Thứ trưởng, phụ trách trường đại học ngoại giao. Khi được nghe báo cáo về trường hợp của tôi, con ông Đặng Thế Xương, ông Thạch đã nói « Nó bé thì nó sẽ lớn và sẽ nên người, cứ cho nó vào ». Thế là tôi đã trở thành sinh viên trường đại học ngoại giao. Năm 1983, sau khi tốt nghiệp đại học ngoại giao, tôi đã chính thức vào Bộ Ngoại giao, làm ở Vụ Châu Á 2 (phụ trách Lào và Cămpuchia).
Nguyễn Thị Từ Huy :
Trong tư cách một người làm ngoại giao, hẳn ông đã có nhiều đóng góp ? Tại sao ông không tiếp tục đóng góp qua con đường ngoại giao mà lựa chọn từ bỏ hệ thống, nghĩa là lựa chọn một cuộc sống bấp bênh và cả nguy hiểm nữa ?
Đặng Xương Hùng :
Thật lòng, theo cách nghĩ của tôi, tôi đóng góp không nhiều cho ngành ngoại giao và cho đất nước. Tôi chỉ là một công chức hoàn thành nhiệm vụ. Tôi là một người làm ngoại giao rất xoàng, tầm thường. Ăn nói không thật trôi chảy, tiếng Pháp, tiếng Anh không thật giỏi. Ngoài ra, ngoại hình cũng làm tôi trở ngại rất nhiều, nhất là những năm đầu tiên. Tôi thực sự tự ti về hình ảnh của mình, đã có lúc, khi thấy một số người bạn rời bỏ ngành ngoại giao, tôi đã có ý định tương tự, nhưng quả thực tôi không có cơ hội và năng lực cần thiết nào khác để mà có thể từ bỏ được.
Hơn nữa, cùng với năm tháng, tôi đã tự trả lời cho chính mình câu hỏi tại sao mình không thành công trong ngành ngoại giao cho lắm. Mình sẽ không thể giỏi lên ở một môi trường mà mình ít có lòng yêu mến. Điều này thì có phần hơi bào chữa, nhưng vẫn có giá trị sự thật. Tiếp nữa, là việc có « thành công » ở một cơ quan nhà nước như Bộ ngoại giao thì ta phải có sự hiểu biết nhất định về « luật chơi » của nó. Những thứ luật chơi phải là người thật tinh quoái mới nhận biết hết được. Hoặc nếu anh không đủ tinh quoái thì chí ít anh phải đủ « hèn » để kìm nén những ý kiến cá nhân, răm rắp tuân thủ ý kiến lãnh đạo. Cả hai thứ trên tôi đều không có.
Tôi đã nhận thức ra từ khá lâu rằng Bộ ngoại giao mới chỉ dừng lại ở chỗ là môi trường để tôi kiếm ra đồng tiền nuôi sống tôi và gia đình, chứ nó ít là môi trường cho tôi sự thoải mái. Càng ngày tôi lại càng cảm thấy Bộ ngoại giao mất dần ký ức đẹp của nó trong tôi. Có một cái gì đó không thật ổn trong ngành ngoại giao. Những người tâm huyết vắng dần, đồng nghĩa với việc cán bộ « tinh khôn » tăng dần. Những cuộc đấu đá, chạy chọt để lên chức, lên quyền, đi luân chuyển nước ngoài ngày càng trở thành những câu chuyện thường ngày ở Bộ. Những câu nói thật tình chỉ nghe được ở những buổi chơi golf và những buổi rượu bia bạn bè vui vẻ. Ai cũng tỏ quan tâm tình hình khó khăn của đất nước, nhưng để chịu suy nghĩ sâu thêm hoặc thực thi ý nghĩ của mình thì ít người quan tâm thể hiện, hoặc không dám hoặc chặc lưỡi chấp nhận sự bình yên.
Đó là cái vòng luẩn quẩn của Bộ ngoại giao nói riêng và của cả hệ thống nói chung. Người thực sự yêu ngành nghề của mình hiếm lắm. Cả xã hội đang sống với cảnh nhanh tay kiếm lợi từ chỗ đứng riêng của mình. Công an, quân đội, bác sĩ, giáo viên, đều như vậy. Trong một lần phỏng vấn về chuyện visa của các sứ quán bên ngoài, tôi đã từng ví nó như thể công an giao thông đứng đường ăn chặn lộ phí vậy. Cái tệ hại của chế độ này là đảng cộng sản muốn mua sự trung thành và ngoan ngoãn của công chức nhà nước bằng việc ban phát bổng lộc nào đó cho từng ngành nghề, nếu không ban phát được họ bịt mắt cho qua những tiêu cực ngành nghề mà đó tạo ra. Thí dụ như họ bỏ qua cho công an những nhũng nhiễu mà công an gây ra cho nhân dân, thậm chí đổ lỗi là do người dân. Bỏ qua cho giáo viên việc dạy thêm. Bỏ qua cho bác sĩ trong việc nhận phong bì. Với ngoại giao chúng tôi được họ mua bằng những chuyến đi công tác nước ngoài và lệ phí visa. Trong bộ chúng tôi hay đùa nhau rằng, rốt cuộc chỉ là « vấn đề Cămpuchia » (mâu thuẫn nội bộ các sứ quán là vấn đề chia chác lệ phí visa).
Nguyễn Thị Từ Huy:
Câu chuyện visa cụ thể là thế nào, thưa ông?
Đặng Xương Hùng:
Chuyện visa, khi tôi tiết lộ những chi tiết cụ thể, tôi biết những người bạn tôi ở Bộ ngoại giao chắc sẽ trách tôi nhiều lắm. Vì rằng chỉ mới ba, bốn năm nay thôi, tôi vẫn còn sống vì nó và kiếm ra đồng tiền vì nó. Nhưng cái lòng tôi muốn nói ra vì rằng tôi có một người bạn còn trẻ ở Bộ mới lần đầu ra nước ngoài và khi tiếp xúc với câu chuyện visa, đã thốt lên rằng : « Thu tiền lệ phí visa như thế làm mất uy tín của Bộ Ngoại giao quá anh nhỉ ». Tôi đã trả lời : « Đi công tác ở sứ quán, không có tiền chia từ visa, mình không còn thừa ra đồng nào để mà tiết kiệm đâu em ạ. Rồi em sẽ quen dần thôi ». Và vì rằng cả hai chúng tôi đều cùng một ý nghĩ là thà nếu nhà nước cho chúng tôi hưởng một chế độ tiền lương chính đáng tương đương nào đó, còn hơn là dành cho chúng tôi một « chế độ mập mờ » để chúng tôi phải « gian dối » trong lệ phí visa. Nhưng từ lâu tôi đã có câu trả lời cho mình là, do nhà nước không thể có đủ để cung cấp cho chúng tôi một khoản tiền chính đáng nào đó, nên họ cho chúng tôi một «mảnh sân » để chúng tôi « tự do trong kín đáo » kiếm thêm để bù vào. Họ sẽ bịt mắt cho qua.
Câu chuyện visa có thể tóm tắt như sau :
Bộ Tài chính quy định một visa có giá là 35 đô la Mỹ. Số tiền này sẽ đưa vào ngân sách nhà nước. Có chia để lại cho Bộ Ngoại giao một phần. Bảng lệ phí visa theo giá nói trên lẽ ra phải treo công khai tại nơi làm lãnh sự của các sứ quán. Nhưng nếu chỉ thu như vậy, các sứ quán chỉ làm « không công » cho nhà nước, tức không có chênh lệch nào cả. Bộ Tài chính hàng năm có tổ chức đoàn sang kiểm tra các sứ quán nhất là những sứ quán có số thu lệ phí cao. Tuy nhiên, đấy là cái dịp để các bên đóng kịch. Sứ quán sẽ đóng kịch bằng việc treo bảng lệ phí visa lên để cho cán bộ Tài chính trông thấy rồi cất ngay đi. Nộp cho Bộ Tài chính đủ biên lai thu tiền visa đúng với giá 35 đô la đó.
(Chúng tôi có hai loại biên lai, một nộp cho bộ tài chính, một biên lai cho khách theo giá thực thu, cái này sẽ hủy đi ngay sau đó). Một lần kiểm tra như vậy cũng là dịp Bộ Ngoại giao « bồi dưỡng » cho cán bộ tài chính nói riêng và Bộ Tài chính nói chung về việc cho qua sự việc này. Theo tôi thì các Bộ Ngành của Việt Nam đều làm như vậy. Bỏ qua việc làm ăn mập mờ để thu về một « khoản thù lao » nào đó.
Giá thực thu một visa cho khách ở các cơ quan đại diện ngoại giao mỗi nơi một khác. Ngay cả trong một nước cũng có khi khác nhau. Thí dụ ở Genève, chúng tôi thu 70 CHF, sứ quán ở Bern thu 80 CHF. Tại Paris, hình như họ thu 70 euros. Để lý giải cho việc chênh lệch đó, có cơ quan đại diện bị bí khi bị chất vấn thì giải thích rằng phần chênh lệch là chi phí hành chính và chi phí xin chấp nhận xuất nhập cảnh từ một công ty du lịch trong nước. Phần lớn các công ty du lịch làm dịch vụ xin phép nhập xuất cảnh đều là có chân của Bộ Công an, vì như vậy việc xin phép sẽ được nhanh hơn.
Tóm lại, nhà nước định ra một giá cho visa, các sứ quán lẽ ra chỉ được thu như thế hoặc hơn lên đôi chút về những chi phí hành chính. Nhưng nếu làm như thế cán bộ ngoại giao đi công tác nước ngoài sẽ không còn có thêm được gì. Đã nhiều năm Bộ Ngoại giao đã rất muốn điều chỉnh tìm ra một phương cách thu sao cho hợp lý, cho chính đáng hơn. Nhưng đều bất lực. Cuối cùng, đều chấp nhận nhắm mắt cho qua chấp nhận như vậy. Cũng là ân huệ mà nhà nước muốn đổi lấy sự trung thành của các cán bộ ngoại giao và cũng là cách mà các quan chức ngoại giao đủ sống khi ở nước ngoài. Họ chỉ có lương cơ bản chừng khoảng 500 USD/tháng. Cuối hàng tháng, chúng tôi dùng phần chênh lệch, chia cho các nhân viên sứ quán. Đây cũng là câu chuyện gây mẫu thuẫn nội bộ do chia chác. Ai được chia, chia tỷ lệ bao nhiêu ? Có những nơi phần chia visa mới là phần quan trọng nhất trong các khoản thu nhập. Trước khi xin đi luân chuyển, mọi người đều tìm hiểu thu nhập visa ở nơi đó là bao nhiêu. Có những nơi rất cao ở khoản này, thí dụ ở San Francisco, Washington, London, Paris… Vậy nên, người ta mới lý giải được tại sao ông Thứ trưởng Ngoại giao, ủy viên trung ương đảng lại đi làm Tổng Lãnh sự tại San Francisco, một chức vụ trong ngoại giao chỉ hơn cấp Lãnh sự của tôi một cấp.
Tôi cũng chỉ mong rằng một ngày nào đó, đất nước thay đổi, để những người đi làm ngoại giao không còn phải cam chịu những chê trách trong visa, hộ chiếu, thay vào đó là những khoản thu nhập chính đáng, xứng đáng với công việc và năng lực của họ.
Nguyễn Thị Từ Huy :
Các chính sách đối ngoại đã được xây dựng như thế nào ở Bộ Ngoại giao, thưa ông ?
Đặng Xương Hùng :
Cũng như các cơ quan nhà nước khác, Bộ Ngoại giao cũng chỉ đơn thuần là cơ quan làm minh họa cho một chính sách đối ngoại đã có sẵn mà các kỳ đại hội đảng vạch ra. Các hoạt động đối ngoại hầu như chỉ có tính chất tô vẽ minh họa hoặc phân bua, ngụy biện bào chữa, đối phó. Những người phát ngôn Bộ Ngoại giao như Nguyễn Phương Nga, Lê Dũng, Lê Hải Bình, họ đều là những người khá giỏi. Nếu để họ được nói theo cách của họ, chắc rằng họ sẽ không bị mang tiếng là những « quan ngại ». Như vậy, công việc phân tích độc lập để đề ra những thay đổi chính sách đối ngoại phù hợp với tình hình không phải là nhiệm vụ chính của Bộ Ngoại giao.
Đảng và Nhà nước chưa dành cho Bộ ngoại giao một cơ chế nghiên cứu, phân tích thật sự độc lập để có thể đề ra một chính sách đối ngoại phù hợp với đất nước và phục vụ lợi ích của dân tộc, của nhân dân.
Bộ ngoại giao Việt Nam khác với Bộ ngoại giao các nước văn minh khác. Bộ Ngoại giao các nước phụ trách toàn bộ công việc đối ngoại của một quốc gia, từ những hoạt động đối ngoại cụ thể, cho đến việc họ là cơ quan chính nghiên cứu tình hình, nghiên cứu, phân tích các đối tượng, để đề ra một chính sách đối ngoại.
Trong khi đó, Bộ ngoại giao Việt Nam nặng về phần làm công việc minh họa cho chính sách đối ngoại của đảng đã định sẵn. Họ làm công tác nghiên cứu, nhưng mới dừng ở mức đưa ra những kiến nghị nẳm trong một khuôn khổ đã được định hình từ trước trong chính sách đối ngoại. Phần lớn những kiến nghị của Bộ ngoại giao chỉ mang tính chất sách lược, nằm ở khâu đề ra giải pháp chứ chưa mang tầm một thay đổi chiến lược.
Những thay đổi chiến lược trong lịch sử ngoại giao Việt Nam thường gắn với việc thay đổi xác định bạn và thù. Thường xảy ra sau một tranh cãi nội bộ của đảng gay gắt. Ví dụ, như những thay đổi thời hội nghị Thành Đô 1990, mà chính trong các sự kiện liên quan đến việc thay đổi chiến lược với Trung Quốc trong thời gian này, tiếng nói của Bộ Ngoại giao đã bị gạt ra ngoài, để các tiếng nói của Ban Đối ngoại Trung ương Đảng và của Bộ Quốc phòng trùm lên. Những phân tích tình hình thế giới và những bước đi cần thiết của đất nước trong bối cảnh đối ngoại lúc đó đã được các ông Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ phân tích đều không được lắng nghe. Thậm chí, người ta còn gạt ông Thạch đi để thực thi một đường lối đối ngoại mới.
Như vậy có thể nói chính sách đối ngoại của Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều về yếu tố ý thức hệ là chính, tức vẫn còn chịu tác động bởi sự phục vụ cho lợi ích của đảng nhiều hơn là phục vụ lợi ích dân tộc, lợi ích của người dân. Nếu để Bộ được quyền nghiên cứu tình hình một cách độc lập, ít nhiều đất nước ta đã không rơi vào tình trạng lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc như hiện nay. Các mối quan hệ với Mỹ và Phương Tây cũng sẽ được tăng cường thực chất hơn, nền kinh tế của Việt Nam cũng được phát triển cởi mở hơn.
Nguyễn Thị Từ Huy :
Như vậy là tương đối rõ ràng : Bộ Ngoại giao thực hiện chính sách đối ngoại do đảng đề ra và đặt lợi ích của đảng lên trên hết. Điều này hẳn là một trong những lý do khiến ông rời khỏi Bộ ?
Đặng Xương Hùng :
Ngay từ đầu khi mới vào ngành tôi đã được dạy : Bộ Ngoại giao là Bộ cộng sản. Câu « Bộ Ngoại giao là Bộ cộng sản » là câu mà các lãnh đạo Bộ Ngoại giao thường xuyên nhắc tới trong giai đoạn những năm 1980. Câu nói này lúc đó mang tính tự hào, đề cao vị thế của Bộ Ngoại giao, là Bộ quan trọng của đảng. Ngày đó yếu tố đảng hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực. Bộ trưởng Ngoại giao thường là một trong những người đứng đầu trong Bộ Chính trị của đảng cộng sản Việt Nam, thí dụ như ông Nguyễn Duy Trinh, ông Nguyễn Cơ Thạch. Những năm đó, cán bộ ngoại giao phải là đảng viên. Muốn nắm một chức vụ phải là đảng viên. Việc vào đảng lúc đó cũng khá chặt chẽ và khắt khe.
Sau này, câu nói trên ít được nhắc đến nữa. Cũng có thể là do yếu tố cộng sản không còn là một khái niệm mang đến tự hào nữa, nhất là khi khối cộng sản sụp đổ ở Đông Âu, và sự mất điểm của đảng cộng sản Việt Nam đối với chính dân chúng của mình. Tuy nhiên, yếu tố đảng vẫn nặng trong các hoạt động đối ngoại. Các báo cáo, đề án quan trọng của Bộ đều phải qua Bộ Chính trị và Ban Bí thư là chính chứ không phải báo cáo Thủ tướng chính phủ là chính. Trong những buổi kiểm điểm định kỳ, chúng tôi luôn phải tuyên bố tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản. Việc này, trong những năm gần đây, cùng với hình ảnh đã thay đổi tệ hại của đảng cộng sản thì nó đã giảm dần ý nghĩa của nó, nhưng nó vẫn là câu tuyên thệ bắt buộc và vô hình chung nó nhưng một cái khóa, khóa chúng tôi lại với vòng luẩn quẩn đó.
Khi tôi lựa chọn từ bỏ, bạn tôi có vài người đã cho tôi là dại. Vì rằng tôi còn một lựa chọn khác, chờ đến khi trọn vẹn về hưu rồi thì hãy muốn làm gì thì làm, muốn lên tiếng gì thì lúc đó mới lên tiếng, như lựa chọn của một số công chức nhà nước hiện nay. Làm như vậy mình được cả đôi đường. Nghe ra, đây là lựa chọn số đông và bao giờ cũng có phần có lý của họ. Ông Trần Quang Cơ, ông Nguyễn Trung cũng lựa chọn như vậy. Mà làm như vậy cũng đã để chúng ta rất đáng kính trọng rồi. Ít ai dám như ông Trần Xuân Bách, ông Nguyễn Cơ Thạch. Các ông đã lựa chọn được cả, không thì thôi không còn ý nghĩa gì hết, trả về cho gió cuốn đi và chỉ cần thế là đủ làm các ông mãn nguyện.
Là người trong cuộc và thuộc giới hưởng lợi, tôi luôn hằng mong rằng đảng cộng sản sẽ thay đổi, để lựa chọn đi với thế giới văn minh, từ bỏ ảo tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhưng không, những diễn biến xảy ra trước mắt mình cho thấy, cho tôi tự rút ra kết luận rằng, cộng sản sẽ không bao giờ thay đổi. Vì vậy, nếu cộng sản đã khăng khăng quyết tâm như vậy, tôi đã bắt đầu nghĩ đến việc sẽ từ bỏ nó. Như một bài học ta thường được nghe thấy, nếu ta không tự cải tạo được điều gì thì ta nên rời bỏ nó hoặc tránh xa nó ra. Câu chuyện đối với tôi, chỉ còn là thời điểm nào tôi sẽ quyết định. Một số bạn bè của tôi đã từng được nghe tôi bày tỏ dự định này của tôi. Cuối cùng tôi đã đi đến quyết định rằng, khi các anh chị của tôi đã hoàn toàn về hưu, tôi sẽ thực hiện dự định này, vì rằng trong chế độ cộng sản, họ thường sử dụng chiêu dùng người nhà làm nhụt chí những ai có ý đồ chống đối. Tháng 10/2013, khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua giữ điều 4 trong Hiến pháp sửa đổi, và khi ông Nguyễn Phú Trọng thản nhiên tuyên bố chủ nghĩa xã hội một trăm năm nữa không biết nước ta đã có chưa, thì tôi đã thất vọng hoàn toàn. Tôi đã quyết định không chần chừ được nữa. Tôi đã tự nhủ với mình rằng, cũng như một quyết định đi tự tử, nếu bỏ qua giây phút quyết định, mình sẽ không bao giờ quay lại được nữa. Tôi đã chọn đây là thời điểm hành động. Cũng nên thành thật rằng, tôi có một sự thuận lợi hơn so với người khác là vợ con tôi lúc đó đã ở Châu Âu được hơn chục năm rồi.
Paris - Genève, tháng 6/2016