Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

20160404. GIẤC MƠ PHÓ THƯỜNG DÂN

ĐIỂM BÁO MẠNG
GIẤC MƠ PHÓ THƯỜNG DÂN
TRẦN LỰC/ BVN 1/4/2016
Kết quả hình ảnh cho nguyễn phú trọng lau nước mắt
Sống cuộc đời phó thường dân như tôi thì ngoài việc tất bật mưu sinh cho gia đình, chắc tôi cũng như nhiều người, có thói quen cứ được chút rảnh rỗi nào là lại lướt internet tìm báo xem tin, mong được đôi chút thư giãn, quên đi bớt những chuyện khó nhọc đời thường. Ấy thế mà tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa! Những điều tai nghe mắt thấy trong báo chí bây giờ thường chẳng làm cho đầu óc tôi thanh thản hơn chút nào. Thấy tôi đọc báo rồi cứ thừ ra suy tư, mấy người bạn hỏi tôi rằng có điều gì không được vui vậy? Tôi đã trả lời họ rằng xã hội ta bây giờ dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh có nhiều vấn đề gây bức xúc quá mà với mình bức xúc nhất vẫn là tệ nạn tham nhũng. Cái đó hiện nay chính Đảng cũng phải công nhận là quốc nạn. Mấy ông bạn là đảng viên thật thà khuyên: thôi bỏ đi ông ơi, thân phận con ong cái kiến như mình thì làm được gì, hãy quên đi cho đầu óc được thanh thản!
Trong trạng thái ngụp lặn giữa một đống thông tin tham nhũng hiện nay ở xã hội ta, vào một đêm cách đây ít hôm bỗng nhiên tôi bị kéo dần vào một giấc ngủ chập chờn và chính trong giấc ngủ đó một giấc mơ thật lạ lùng đã ập đến với tôi. Tôi xin kể lại như sau:
“…Hai vợ chồng tôi đang ngồi trước màn hình TV theo dõi tin tức của Đài truyền hình VN. Cô phát thanh viên quen thuộc của chương trình thời sự hôm nay dẫn một tin đặc biệt quan trọng. Cô giới thiệu đồng chí Tổng bí thư Đảng Cộng sản VN Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước khán giả truyền hình cả nước về vấn đề chống tham nhũng.
Ông Trọng xuất hiện với vẻ mặt khá buồn. Ông chào khán giả và dõng dạc nói rằng nhân danh người lãnh đạo cao nhất của Đảng CSVN, học tập người “Cha già ” năm xưa đã xin lỗi nhân dân vì những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, nay tôi thay mặt Đảng cũng xin lỗi 90 triệu nhân dân trong cả nước vì đã để xảy ra những vụ bê bối tham nhũng mà chính những kẻ bị vạch mặt chỉ tên lại là Đảng viên có quyền có chức. Đó là những kẻ thoái hoá, xấu xa, những tên “ăn hại cơm trời”, “uống hại nước sông”! Tôi xin hứa với đồng bào sẽ kiên quyết chống tham nhũng đến cùng. Đặc biệt tôi cũng xin lỗi những người đã đề xuất việc thành lập Hội nhân dân chống tham nhũng giúp Đảng từ cách đây nhiều năm nhưng lại bị Đảng vu oan trù dập. Tôi xin thừa nhận rằng tuy đã có nhiều chính sách và nghị định chống tham nhũng, nhưng nói thì nhiều mà làm được thì ít, thực tế cho thấy tham nhũng ngày càng tệ hại. Từ Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành đến các tỉnh thành quận huyện đều có các Uỷ ban thanh tra, kiểm tra nhưng đều hữu danh vô thực, không thực thi được quyền hạn và trách nhiệm của mình nên trở thành vô tích sự và có khi lại còn cản đường việc điều tra và thành đầu mối của tham nhũng. Hầu như chẳng có vụ việc nào được vạch ra do các Uỷ ban này mà họ chỉ “vào cuộc” vuốt đuôi sau khi có lệnh một cách hoàn toàn bị động, khi các vụ việc được báo chí phanh phui hoặc vỡ lở không thể che dấu được nữa. Tôi cũng hoàn toàn nhất trí với ý kiến của một bà Tiến sĩ trong Uỷ ban phối hợp của Chính phủ Thuỵ điển tham vấn giúp Chính phủ ta chống tham nhũng là: Nếu không chỉ ra được những vụ việc thì đừng có nói đến chuyện chống tham nhũng!
Thay mặt Bộ chính trị tôi cũng thừa nhận rằng chúng tôi đã có những chỉ thị sai lầm, đứng trên Hiến pháp và Pháp luật trong việc chỉ đạo điều tra và xử lý đảng viên phạm pháp. Nó khiến cho Cơ quan điều tra bó tay trong điều tra xử lý các đối tượng phạm tội là đảng viên có chức, có quyền vì Cơ quan điều tra vẫn phải xin ý kiến của cấp ủy Đảng, do đó vô hình chung đảng viên được ưu tiên so với dân thường khi phạm pháp, nhất là khi tham nhũng, và nhiều trường hợp lại được cấp ủy bao che để chạy tội hoặc giảm tội. Ở thế kỷ trước đó là các chỉ thị 68 và 86, đến năm 2000 ra đời chỉ thị 52 và năm 2007 lại được tăng cường bằng chỉ thị 15.
Và để chứng tỏ sự thực lòng, kiên quyết chống tệ nạn tham nhũng, một quốc nạn bức xúc kéo dài, chúng tôi: 1. Trương Tấn Sang - Chủ tịch nước, Uỷ viên Bộ chính trị; 2. Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội, Uỷ viên Bộ chính trị; 3. Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Bộ Chính trị; và cá nhân tôi, xin gương mẫu thực hiện một việc đã từ lâu nhân dân đòi hỏi mà chưa được đáp ứng công khai minh bạch. Đó là ngay ngày mai, trên Báo Nhân dân - cơ quan ngôn luận của Đảng sẽ có bản liệt kê công khai tài sản của 4 chúng tôi và gia đình để toàn dân trong và ngoài nước được biết chúng tôi là những con người rất tử tế và trong sạch, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân như thế nào! Và điều này cũng là mở đầu làm gương cho tất cả những đồng chí kế tiếp chúng tôi…”.
Nghe đến đây tôi nhảy lên, hét toáng và vỗ tay bồm bộp hoan hô. Bỗng dưng tôi bị một cú phát khá mạnh vào vai và bừng tỉnh. Ở bên cạnh, vợ tôi gắt: “Gớm! Làm gì mà giữa đêm hôm ông lại la hét inh ỏi như người điên vậy?”. Sau giây lát định thần, tôi vội xin lỗi vợ và vẫn còn trong niềm hưng phấn của giấc mơ tôi bèn kể lại cho bà ấy nghe về giấc mơ của mình nhưng lập tức được phán ngay một câu xanh rờn: “Ông bị ma nó làm à? Sao đầu óc của ông lại có những hoang tưởng kì quặc đến như vậy nhỉ?”.
Đã khuya quá và cũng không muốn làm vợ bực mình thêm nên tôi im lặng, đặt tay lên trán và nhắm mắt lại coi như tiếp tục ngủ. Nhưng tôi không thể ngủ được nữa, cứ miên man suy nghĩ: “Ừ thì nói suông mãi rồi mà sự thực cứ nát bét, chả ai tin nữa thì bây giờ trước hết và ít ra cũng phải có chút gì để mà đánh cược lòng tin với dân chúng chứ!” . Tại sao tôi lại không có quyền mơ một giấc mơ như trên nhỉ? Giấc mơ của tôi trước mắt có thể huyễn hoặc và hoang tưởng ở việc thực hiện nhưng nó lại là những mong muốn hết sức đơn giản, hết sức bình thường và dễ hiểu của những thường dân như tôi trong xã hội hiện nay mà không nói được ra hoặc chán ngán quá chẳng thèm nói! (các vị đại biểu của dân nói mãi trong các kì họp Quốc hội còn chẳng ăn thua nữa là mình thấp cổ bé họng!)? Nó thật bình thường và dễ hiểu như trong mọi gia đình bố mẹ vẫn thường dạy cho con cái mình là phải luôn biết sống cho tử tế và lương thiện, không được phép dối trá và khi đã làm gì sai thì phải biết xin lỗi, biết tự trọng, biết liêm sỉ. Ôi! “Giấc mơ Phó thường dân” của tôi! Phải chăng đó là giấc mơ đạo lý của người Việt nam trong một thời kì có một không hai trong lịch sử đất nước này!
T.L.
31/03/2016
Tác giả gửi BVN

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

20160403. BÀN VỀ THỰC TRẠNG NGÂN SÁCH VIỆT NAM

ĐIỂM BÁO MẠNG
"NỢ CÔNG VÀ TRẢ LÃI ĐANG BÀO MÒN NGÂN SÁCH VỚI TỐC ĐỘ LỚN"
MẠNH NGUYỄN/ BizLive 2-4-2016
“Nợ công và trả lãi đang bào mòn ngân sách với tốc độ rất lớn!”
Đại biểu Trần Ngọc Vinh
Đại biểu Quốc hội Trần Ngọc Vinh (Đoàn TP. Hải Phòng) nói khi thảo luận về kết quả kinh tế xã hội 5 năm 2011 - 2016.
Phát biểu trước Quốc hội, ông Vinh bày tỏ lo lắng trước vấn đề nợ công và bội chi ngân sách của nước ta trong những năm trở lại đây. Theo vị đại biểu này, nợ công đã ở mức báo động cao.
“Sự tích lũy nợ công tăng chóng mặt những năm gần đây, cho thấy sự liên quan lớn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức nợ công của Chính phủ. Trung bình mỗi năm tổng số nợ công tăng thêm 2%/GDP, tăng 4% trong năm 2015.
Tất cả các khoản trả nợ gốc và lãi đang bào mòn ngân sách với tốc độ rất lớn. Đây là hệ quả của việc sau một thời gian dài liên tục đi vay một cách tràn lan, xong đầu tư không đem lại hiệu quả”, ông Vinh cho biết.
Để kìm hãm tốc độc phi mã của nợ công hiện nay, đại biểu Vinh đề nghị Chính phủ kiểm soát chặt chẽ việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn vay của các địa phương và các dự án lớn. Cải thiện cơ chế chính sách nhằm giải phóng tiềm lực kinh doanh của doanh nghiệp trong nước và thu hút vốn nhàn rỗi trong nhân dân, thay đổi cơ cấu nợ công, xây dựng một cơ chế quản lý nợ công hiệu quả hơn. 
Thứ hai, về tình hình bội chi ngân sách, ông Vinh cho hay Báo cáo của Chính phủ năm 2016 thừa nhận tình hình bội chi ngân sách còn cao, chưa đạt mục tiêu 4,5% GDP. Bên cạnh những vấn đề như lãng phí đầu tư công, rút ruột công trình và nợ công không được xử lý ổn thỏa.
“Về lâu dài, tình trạng ngân sách cạn kiệt và việc chi tiêu không được quản lý chặt chẽ sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng cho tình hình kinh tế tài chính của Việt Nam. Khi nguồn thu không đủ chi sẽ dẫn đến bội năm này, qua năm khác không kìm hãm được sẽ không có tiền để trả nợ mà còn phải tiếp tục vay để trả nợ cũ”.
Theo ông Vinh, điều này minh chứng quản lý ngân sách nhà nước đang có vấn đề. Ngân sách không có tiền để đầu tư là điều rất nguy hiểm. Do vậy, ông Vinh đề nghị Chính phủ cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục tình trạng trên trong nhiệm kỳ tới.
Ngoài vấn đề nợ công, bội chi ngân sách, ông Vinh cũng đặc biệt quan tâm đến những bất cập khi áp dụng ưu đãi đầu tư FDI.
Bên cạnh những tích cực do nguồn vốn FDI mang lại cho nền kinh tế nước ta, như thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đặc biệt là những ngành có thế mạnh về xuất khẩu thì việc ưu đãi đầu tư quá nhiều cho các dự án FDI đã khiến cho các doanh nghiệp trong nước bị chèn ép, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu công nghiệp và dịch vụ.
Mặc dù Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhưng chưa thực sự hiệu quả. Việc tiếp cận nguồn vốn giãn, hoãn, khoanh nợ thuế, điều chỉnh lãi suất, xử lý nợ xấu hàng tồn kho cung cấp không thông tin, điều kiện tiếp cận thị trường v.v... chỉ có tác dụng đối với doanh nghiệp làm ăn có lãi, còn các doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ thì không có tác dụng. 
Để nền kinh tế có bước tăng trưởng bền vững, ông Vinh đề nghị Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến chất lượng các dự án FDI, chỉ nên đầu tư thu hút nguồn vốn này vào những ngành, lĩnh vực ta còn thiếu và yếu thay thế thu hút đầu tư FDI một cách tràn lan, thiếu định hướng, nội lực yếu kém của nền kinh tế, chỉ ra sự mất cân bằng giữa các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
MẠNH NGUYỄN
NGÂN SÁCH THẤT THU NHƯNG QUÁ BỘI CHI
VŨ THÀNH TỰ ANH/ BVB 3/4/2016
Trong 20 năm trở lại đây, chưa bao giờ bức tranh ngân sách xấu như bây giờ. Chi thường xuyên tăng nhanh bất thường, đặc biệt trong giai đoạn 2010-2012, khiến cho toàn bộ thu ngân sách hầu như chỉ vừa đủ cho chi thường xuyên.
Điều này cũng có nghĩa là để đầu tư phát triển buộc phải đi vay, và kết quả tất yếu là thâm hụt ngân sách triền miên, cả nợ chính phủ và nợ công đều đã vượt trần.
Thu ngân sách không đủ chi thường xuyên và trả nợ
Với sự năng nổ của ngành tài chính, tốc độ tăng thu ngân sách danh nghĩa của Việt Nam khá cao, trung bình 16% trong giai đoạn 2003-2015 (số liệu của 2014 và 2015 là ước tính), trong khi chỉ số giá tiêu dùng trung bình trong cùng giai đoạn chỉ là 8,8%. Thế nhưng ngay cả với tốc độ tăng nhanh như thế mà ngân sách hiện nay cũng không đủ để bù đắp chi thường xuyên và trả nợ.
Như minh họa trong hình 1, trong giai đoạn 2003-2011, chênh lệch giữa một bên là thu ngân sách (gồm cả viện trợ) và bên kia là chi thường xuyên và trả nợ (bao gồm cả nợ gốc và lãi) liên tục tăng. Thế nhưng trạng thái này thay đổi đột ngột từ năm 2012: từ mức thặng dư khá lớn là 112.000 tỉ đồng, thu ngân sách bị hụt so với chi thường xuyên và trả nợ tới 14.000 tỉ đồng. Xu hướng này vẫn đang tiếp tục và ước tính mức hụt của năm 2015 sẽ lên tới gần 100.000 tỉ đồng.
Khi thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi thường xuyên và trả nợ thì hệ quả tất yếu là để có ngân sách cho đầu tư phát triển, Chính phủ buộc phải đi vay. Điều này có nghĩa là Chính phủ cứ đầu tư thêm đồng nào thì ngân sách sẽ thâm hụt thêm và nợ công sẽ tăng thêm đồng ấy.
Vì thế, Chính phủ hiện nay đang đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan: Để duy trì tăng trưởng thì không thể không đầu tư, nhưng càng đầu tư thì ngân sách càng thâm hụt và nợ công càng tăng. Tình thế này càng trở nên nghiêm trọng khi ngân sách thâm hụt ở mức rất cao (trung bình 5,3%) trong một thời gian rất dài (từ năm 2000-2015), và khi mức nợ công (nếu tính đúng, tính đủ) đã vượt trần 65% từ lâu rồi. Nói tóm lại, tình trạng tài chính công hiện nay rất bấp bênh, vừa hết dư địa vừa chứa đựng nhiều bất trắc.
Chi thường xuyên tăng chóng mặt
Tại sao mức thiếu hụt của ngân sách so với chi thường xuyên và trả nợ ngày càng trở nên nghiêm trọng? Nguyên nhân chắc chắn không phải do thu ngân sách kém vì như đã chỉ ra ở trên, tốc độ tăng thu ngân sách của Việt Nam khá cao. Nguyên nhân cũng không hẳn đến từ việc trả nợ gốc và lãi, vì tốc độ tăng trả nợ danh nghĩa trong giai đoạn 2003-2015 là 15,8%, thấp hơn một chút so với tốc độ tăng thu ngân sách.
           Nguyên nhân chính của tình trạng ngân sách hụt hơi là do chi thường xuyên danh nghĩa tăng với tốc độ chóng mặt, trung bình lên tới 19,6% trong giai đoạn 2003-2015. Với tốc độ tăng nhanh như thế này, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách (không kể chi trả lãi nợ vay) đã tăng từ 57,4% vào năm 2003 lên đến 80% theo ước tính lần đầu của ngân sách 2015 (hình 2).
Đáng lưu ý là cho đến năm 2011, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách vẫn chỉ là 52,3%, tức là thấp hơn đáng kể so với năm 2003. Thế nhưng chỉ trong vòng một năm, từ 2011-2012, tỷ lệ này tăng vọt lên 58,3% và vẫn tiếp tục tăng nhanh trong các năm sau đó.
Nếu nhìn vào hình 2, có thể có ý kiến cho rằng tỷ lệ chi thường xuyên thực ra tăng không quá cao, mà lý do có thể là các khoản chi chuyển nguồn đang được “tạm tính” trong thành phần của chi thường xuyên. Điều này hoàn toàn có thể, song cần nhớ hai điều. Thứ nhất, tỷ lệ chi thường xuyên giảm từ 57,4% năm 2003 xuống đáy. 49,3% năm 2009, song tăng liên tục lên tới 60,4% năm 2013 (là năm gần nhất có quyết toán ngân sách). Thứ hai, tỷ lệ chi thường xuyên và chi đầu tư đã tăng liên tục từ mức 1,7 lần vào năm 2003 lên tới gần 3 lần vào năm 2013 và có thể lên tới 4 lần vào năm 2015.
Tựu trung lại, tất cả bằng chứng hiện nay đều cho thấy chi thường xuyên đang tăng rất nhanh trong năm năm trở lại đây, và đó là lý do chính khiến cho ngân sách hụt hơi và làm cho tình thế “tiến thoái lưỡng nan” của Chính phủ ngày càng trở nên trầm trọng.
Ngân sách quốc gia đang rơi vào tình cảnh khó khăn nghiêm trọng. Nghiêm trọng đến nỗi Bộ trưởng Bộ Tài chính phải thốt lên “mấy năm nay, điều hành ngân sách như kiểu đi trên dây. Năm 2016 tiếp tục đi trên dây. Cứ tình hình này kéo sang năm 2017, dây mà đứt thì chúng ta chết”, còn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cảm thán rằng với vẻn vẹn 45.000 tỉ đồng ngân sách còn lại sau khi trừ đi chi thường xuyên thì “không biết phải làm gì, chưa nói đến phải trả nợ. Trả nợ xong gần như không có tiền để làm gì cả”.
Những cảnh báo như vậy là hết sức cần thiết, song cần thiết hơn là phải nhanh chóng thiết lập được kỷ luật ngân sách và cải thiện hiệu quả chi tiêu. Ngân sách quốc gia hiện nay đã hết dư địa, hoàn toàn không còn chỗ cho những dự án “ngàn tỉ” nằm đắp chiếu, hay cho hàng loạt tượng đài “vung tay quá trán,” và cho cả những dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro như mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ của nền tài khóa quốc gia là điều không thể tránh khỏi.
Vũ Thành Tự Anh (Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright)/ thesaigontimes

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

20160402. TIỀN LỆ CHO KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ

ĐIỂM BÁO MẠNG
QUỐC HỘI KHÓA 13, QUỐC HỘI KHÁ 14 VÀ HIẾN PHÁP XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
NGUYỄN THỊ TỪ HUY/ Viet-Studies 31/3/2016
Tại sao Quốc hội Việt Nam khóa 13 lại vượt quá quyền hạn của mình, vội vàng bầu bốn chức vụ chủ chốt của bộ máy quyền lực? Câu hỏi này đã lan truyền trong nhân dân từ khi thông tin về về việc này được đưa ra, và cũng đã có nhiều diễn giải.
Việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14 và bầu các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của nhà nước cho nhiệm kỳ của Quốc hội khóa 14 là một bằng chứng hùng hồn cho việc Hiến pháp Việt Nam chỉ là một mớ giấy lộn. Những người soạn thảo Hiến pháp và thông qua Hiến pháp (tức là Quốc hội) lại là những người coi nó không ra gì, sẵn sàng vi phạm nó, chà đạp nó bằng các quyết định và các việc làm tùy tiện của mình. Trong khi đòi người dân tôn trọng luật pháp, thì cơ quan lập pháp tự mình ngồi xổm lên pháp luật. Điều này chứng minh một nhận định của Hannah Arendt từ những năm 50 của thế kỷ trước: trong một thế chế toàn trị «tất cả đều có thể xảy ra».
Hệ lụy của những hành vi vi phạm Hiến pháp của Quốc hội là gì? Có nhiều hệ lụy, ở đây tôi chỉ nêu ra một hệ lụy, chắc sẽ còn có nhiều phân tích khác của những người khác.
Cho dù về mặt cá nhân, tôi kính trọng chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, thì lo-gic thông thường buộc tất cả người dân Việt Nam (trong đó có tôi) phải nhận ra rằng: Quốc hội 14 do bà Nguyễn Thị Kim Ngân lãnh đạo sẽ là một Quốc hội bù nhìn, số phận bù nhìn này vừa được tuyên bố một cách công khai, một Quốc hội đã bị tước hết tất cả các quyền cơ bản và quan trọng (quyền bầu chủ tịch của mình, quyền bầu các chức danh lãnh đạo của nhà nước, vốn được ghi trong Hiến pháp) ngay từ khi chưa ra đời. Và kéo theo đó, việc «toàn dân» bầu Quốc hội khóa 14 chỉ còn là một việc làm vô nghĩa, chỉ còn là một hình thức chia chác tiền ngân sách cho các đơn vị tổ chức bầu cử mà thôi.
Tuy nhiên, nếu, một ngày đẹp trời, trong tương lai, trên 50% đại biểu của Quốc hội 14 đột nhiên tìm lại lòng tự trọng của mình, đột nhiên muốn giành lại phẩm giá và quyền tự quyết cho mình, đột nhiên không muốn làm bù nhìn nữa, và họ tuyên bố rằng bà Nguyễn Thị Kim Ngân không do họ bầu ra, vì thế bà không phải là chủ tịch của họ. Bà do Quốc hội khóa 13 bầu ra, vậy bà là chủ tịch của Quốc hội khóa 13, chứ không phải là chủ tịch của Quốc hội khóa 14. Đối với Quốc hội khóa 14, bà Nguyễn Thị Kim Ngân là một lãnh đạo không chính danh và không hợp pháp. Vì thế, họ sẽ bầu lại một chủ tịch mới, một chủ tịch đích thực của họ, do họ bầu ra. Về cơ bản, Quốc hội khóa 14 hoàn toàn có quyền làm như vậy. Và các chức danh lãnh đạo do Quốc hội khóa 13 bầu ra cũng có thể rơi vào tình trạng tương tự. Cách làm của Quốc hội khóa 13 (lưu ý là chưa từng xảy ra trong lịch sử Quốc hội Việt Nam) đã tước mất tính chính danh và tính hợp pháp của các chức vụ lãnh đạo chủ chốt, khiến cho nhiệm kỳ của họ sẽ bị rơi vào một tình thế khó khăn, nếu có một lúc nào đó, Quốc hội 14 quyết định truy xét lại tính hợp pháp của họ.
Việc Quốc hội khóa 14 đòi thực hiện quyền của mình, quyền đã được hiến định, quyền của cơ quan quyền lực cao nhất của một quốc gia, là điều bình thường, và hoàn toàn có thể xảy ra, trong một đất nước pháp quyền, nơi pháp luật được tôn trọng và có giá trị thực trong sinh hoạt xã hội.
Dĩ nhiên, không thể hình dung một kịch bản như thế trong một thế chế độc tài. NHƯNG, lịch sử có những bất ngờ mà đôi khi không ai có thể dự đoán được.
Ngoài ra, nếu nhìn từ một góc độ khác, có thể thấy: hiện nay, một trong những nguyên tắc hoạt động của đảng cầm quyền ở Việt Nam là «tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách», và lãnh đạo theo nguyên lý «dân chủ tập trung». Nguyên lý và nguyên tắc này dẫn đến hệ quả tất yếu là trong hoạt động quyền lực, trên thực tế, mọi việc đều do Bộ Chính trị (BCT) quyết, kể cả hoạt động của Quốc hội. BCT là đầu não, là trung tâm quyền lực. Vì thế mới có thể xảy ra việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14, và bầu luôn cả các chức danh lãnh đạo chủ chốt. Dĩ nhiên, nếu BCT không chỉ đạo thì sẽ không bao giờ có việc đó. Dù sao trong Quốc hội 13 cũng có những đầu óc hiểu biết, và vẫn còn có những người có liêm sỉ, nếu được tự quyết thì họ sẽ không làm một việc như vậy, và trước hết là họ không đặt ra vấn đề đó như một nhiệm vụ của họ, vì họ biết rõ việc đó vượt khỏi quyền hạn được phép của họ.
Vậy, BCT mới có 19 người, và có bốn người ở các vị trí chủ chốt: tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội. Như vậy, 4/19 là thiểu số. Nếu mai kia, một ngày đẹp trời, 15/19 thành viên của BCT muốn thay toàn bộ bốn chức danh chủ chốt này, thì với tiền lệ vừa được Quốc hội 13 tạo ra, họ sẽ thi hành ngay lập tức. Bốn vị này sẽ phải viết đơn từ nhiệm, và Quốc hội sẽ lại bầu bộ tứ mới. Đã có tiền lệ rồi mà, có việc gì là không làm được? Lúc đó, hãy hình dung điều gì có thể xảy ra.
Quốc hội 13, bằng sự phục tùng vô điều kiện của mình, bằng việc từ bỏ chức trách của mình khi thực hiện vô điều kiện các đòi hỏi của BCT, đã vừa tạo ra tiền đề cho những khủng hoảng rất có thể sẽ xảy ra về sau ở bộ phận cao nhất của cơ quan quyền lực.
Câu hỏi tự động được đặt ra là: điều gì đang xảy trong guồng máy lãnh đạo Việt Nam? Phải chăng đấy là một việc làm có tính toán phục vụ cho một mục đích dài hạn của một nhóm người nào đó hay một thế lực nào đó?
Nhưng câu hỏi cũng có thể đươc đặt ra theo kiểu khác (đúng là «mọi điều đều có thể»!):
Phải chăng, cách làm việc và các quyết định hết sức tùy tiện, vi phạm luật pháp, hiến pháp, như đang diễn ra hiện nay, là để chuẩn bị cho những rối loạn không thể tránh khỏi trong tương lai? Và những rối loạn này sẽ buộc Việt Nam phải thay đổi một cách triệt để hệ thống chính trị của mình? Phải chăng đấy là chủ ý của những người đang âm thầm chuẩn bị cho các rối loạn này, bởi vì hiện tại họ quá đơn độc, không thể trực tiếp và công khai thực hiện các cải cách mà họ mong muốn? Nếu quả thật như vậy thì chúng ta sẽ phải cảm ơn vị (hoặc một số vị) đạo diễn tài ba, khôn khéo, đang lặng lẽ chuẩn bị cho những khủng hoảng sẽ dẫn tới chuyển biến mang tính lịch sử của chính trị Việt Nam.
Tuy nhiên, những chuyển biến đó chỉ có thể xảy ra khi và chỉ khi người dân và trí thức Việt Nam hiểu được ngầm ý của các vị «đạo diễn» đó để có các hành động phối hợp nhịp nhàng với họ. Nếu Quốc hội khóa 13 vi phạm Hiến pháp nhưng Quốc hội khóa 14 và người dân đều chấp nhận, thì sẽ chẳng có gì xảy ra. Và hẳn nhiên, khi người dân Việt Nam quyết định hành động, và hành động một cách đồng bộ, mạnh mẽ, thì dù có hay không sự tồn tại của các vị «đạo diễn» kia, hệ thống chính trị buộc sẽ phải chuyển động.
Paris, 31/3/2016
Nguyễn Thị Từ Huy
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 31-3-16

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

20160401. GS NGUYỄN ĐÌNH CỐNG BÀN VỀ "HÈN"

ĐIỂM BÁO MẠNG
HÈN ĐẾN THẾ LÀ CÙNG!
GS. NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 31-3-2016
Trong truyện ngắn “Đôi mắt” của Nam Cao, khi nghe vợ đọc xong một đoạn của “Tam quốc”, anh chàng Hoàng hạ một câu để đời: “ Tài thật, tài thật, tài đến thế là cùng, tiên sư anh Tào Tháo”.
Ngày nay, khi nghe chưa xong đầu đuôi chuyện thời sự, ông bạn già của tôi lẩm bẩm: “ Hèn thật, hèn thật, hèn đến thế là cùng”. Tôi chờ xem ông có tiếp thêm câu gì nữa không, đại khái như… tiên sư anh nào đó, nhưng chỉ nghe thấy ông nuốt ực một tiếng, cố ghìm lại cái gì đấy đang muốn trào qua cổ họng. Tôi vội vỗ lưng ông mấy cái và khuyên bớt bức xúc, không thì huyết áp lại tăng.
Chuyện thời sự gì mà nóng vậy. Thưa rằng chuyện “dân chủ đến thế là cùng”.
Nhưng trước khi bàn tiếp vấn đề dân chủ, xin kể vài chuyện liên quan đến thái độ hèn.
Chuyện xưa, Hàn Tín lúc còn hàn vi, vui vẻ chui qua háng anh hàng thịt, nhiều người đương thời cho là hèn, quá hèn, nhưng đời sau cho là dũng cảm, quá dũng cảm. Quản Trọng khi còn trẻ, đi lính, khi xông trận thường tìm cách lùi lại phía sau, nhiều người cho là hèn, chỉ có Bảo Thúc Nha bênh vực, và về sau mới thấy rõ Quản Trọng không phải người hèn.
Chuyện gần đây. GS Tạ Quang Bửu , sinh thời kể 2 chuyện liên quan. (1) Năm 1952, giữa rừng Việt Bắc, đêm tối như bưng, mưa gào gió thét, sấm chớp vang trời, ông nằm một mình trong lều, sợ quá, rất muốn chui sang lều bên cạnh, cùng với tướng Nguyễn Chí Thanh cho bớt sợ, nhưng không dám, ngại bị mang tiếng sợ sấm sét. Không ngờ tướng Thanh chui vào lều ông và nói: “Anh Bửu ơi, anh có sợ không, tôi sợ lắm nên sang đây với anh cho bớt sợ”. (2) Năm 1973. Chính phủ họp bàn chuyện mở rộng Thủ đô lên Xuân Hòa. Trước cuộc họp GS Bửu đã bàn với GS thiếu tướng Trần Đại Nghĩa sẽ phát biểu không tán thành. Cuộc họp do thủ tướng Phạm Văn Đồng chủ trì, thảo luận một hồi rồi lấy biểu quyết. GS Bửu thấy mọi người đều giơ tay, cũng rụt rè giơ theo. Bỗng sực nhớ ra, quay sang bên cạnh thấy tướng Nghĩa ngồi im, khoanh tay trước ngực. Kết thúc câu chuyện GS Bửu nhận xét: “Như vậy mình cũng chưa thoát được là một anh hèn, phải như anh Thanh, anh Nghĩa mới là dũng cảm”.
Thề mới biết giữa hèn và dũng cảm nhiều khi cũng khó phân biệt.
Chuyện thời nay. Một số không ít trong tầng lớp trí thức đề cao phương châm “Biết sợ để tồn tại”. Mà sợ đẻ ra hèn. Tưởng trí thức chịu hèn đã là quá đáng. Người ta trông chờ vào sự dũng cảm của một số người khác được cho là ưu tú trong hàng ngũ chính khách. Thế nhưng càng trông càng chẳng thấy. Tại hội nghị lần 6 của BCH TƯ ĐCSVN và sau đó tại cuộc bầu bổ sung vào Bộ Chính trị người ta thấy manh nha một vài hành động dũng cảm, dám biểu quyết ngược lại đề xuất của Tổng bí thư, người ta hy vọng… Nhưng rồi hình như có quân sư đã tìm ra được cách để Tổng bí thư áp đặt được nghị quyết 244 ( về quy tắc bầu cử) lên BCH TƯ khóa 11. Nhiều người đã vạch ra rằng những điều chủ chốt của nghị quyết 244 vi phạm trắng trợn điều lệ Đảng. Không biết trong số các ủy viên TƯ 11 có ai phát hiện ra và chống lại không. Cái sai rõ ràng nhiều người thấy mà mình không thấy thì mang tội u mê, nếu thấy rồi mà không dám nói thì mang tội hèn. Nếu không có ai trong TƯ 11 chống lại cả thì không lẽ toàn bộ chịu mang tiếng hèn. Thôi thì tạm bỏ qua TƯ 11, người ta hy vọng vào các đại biểu của Đại hội 12. Biết rằng đa số đại biểu đến ĐH cho có hình thức, (một số còn tranh thủ ngủ gật), hy vọng may ra có được một số ít tránh được cả u mê và hèn, thể hiện là người có trí tuệ và dũng cảm để dám phản bác NQ 244. Không biết trong hội nghị trù bị đã thảo luận như thế nào, cuối cùng NQ 244 vẫn được thông qua và đem dùng cho ĐH. Không lẽ 1510 đại biểu đều hèn?
Thế rồi đến chuyện Tứ trụ triều đình. Thôi thì Tổng bí thư là việc của Đảng, tạm xong rồi. Tam trụ còn lại là việc của Quốc hội khóa mới, nhưng vì lý do nào đó mà Đảng không chờ được, phải thay ngựa giữa dòng. Việc này, người thì cho là đảo chính, người lại bảo là vi phạm hiến pháp. Đảng lại có cái lý của mình, có cái quyền của mình. Để cho có vẻ thuận chiều thì phải tạo ra việc Tam trụ đồng loạt xin từ chức. Trước đây ít lâu nghe phong thanh là Chủ tịch Sang và Thủ tướng Dũng không từ chức, có người đã vội nhận xét là có gan, việc đó được nhiều người ủng hộ. Nhưng rồi chỉ là tin vịt. Cả 3 vị đều ngậm ngùi bị buộc phải ngậm bồ hòn xin từ chức. Nghe đến đây ông bạn già của tôi thốt lên: “Hèn thật, hèn thật, hèn đến thế là cùng”.
Tôi phân tích cho ông bạn: “Chắc các vị ấy cũng thấy như thế là quá hèn nhưng cũng nên thông cảm cho nỗi khổ của họ. Họ tuy không còn là UV BCT nhưng vẫn là đảng viên, phải tuân thủ kỷ luật Đảng, mà Đảng tự cho mình quyền quyết định nhân sự từ thấp lên cao, tự cho mình quyền ngồi lên trên Quốc hội và Hiến pháp, Đảng có quân đội và công an hùng hậu thề trung thành, thế thì việc thay ngựa giữa dòng có là cái đinh gì, hơn nữa kể từ trước ĐH 12, Đảng đã cử ra 3 vị để thay thế. Từ đó đến nay, mỗi chức vụ có 2 người, đương nhiệm và mới, cứ song song tồn tại. Thật là khó chịu cho cả hai bên. Bên đương nhiệm có danh nghĩa nhưng rồi nói chẳng mấy ai thèm nghe, chẳng khác bù nhìn, bên sắp thay lo gây thế lực và chỉ đạo ngầm, tập hợp lực lượng. Thôi thì ngậm bồ hòn mà xin từ chức cho thoát nợ đời”.
Ông bạn bổ sung: “Rút cục vẫn là quá hèn vì quá sợ. Nhiều kẻ có quyền lực có một nỗi sợ kinh khủng là sợ người ngoài phát hiện, nắm được tội lỗi của mình, sợ bị mang ra xét xử công khai. Chắc là thời gian qua Đảng đã tạo cơ hội cho các vị phạm nhiều tội lớn và nắm chắc chứng cớ để khống chế. Đảng trao cho các vị con dao rồi giữ chặt lấy đầu cán, đưa đầu lưỡi cho các vị nắm, đặt các vị vào tình thế một sống một chết. Mà các vị đang quá sợ chết nên không còn giữ được chút liêm sĩ cuối cùng, biết là quá hèn nhưng đành chịu tiếng xấu để đời chứ không như tôi với ông. Vì không sợ nên ông mới tuyên bố bỏ Đảng một cách thanh thản”.
Hình như trong tôi còn lại một chút xíu nào đó lòng thương cảm đối với các vị nên nói vớt vát: “ Biết đâu lịch sử sẽ minh oan và cho việc họ làm bây giờ không phải là hèn mà là dũng cảm cũng nên, như chuyện của Hàn Tín và Quản Trọng thời xưa”. Ông bạn tôi cãi lại “Việc làm của Hàn Tín và Quản Trọng là lúc họ non trẻ, còn các vị đã là U70”.
Galilê khi bị tòa án giáo hội buộc phải công nhận Thuyết Địa tâm, chịu hèn một lúc, khi ra khỏi phòng còn lẩm bẩm: “Dù sao nó vẫn quay”. Không biết các vị Tam trụ của VN, sau khi bị ép buộc xin từ chức có lẩm bẩm được câu gì hay không.
Ông bạn của tôi, tên Hữu, cùng học lớp Đồng ấu ở Hương trường từ năm 1943, cùng chăn trâu và lêu lổng trong thời kỳ 1947-49 khi quê hương bị Pháp chiếm đóng, cùng lên chiến khu học tiếp phổ thông cấp 1 và 2. Nhưng rồi số phận đẩy mỗi người một ngã. Trong Cải cách ruộng đất 1955-56, gia đình bị quy sai địa chủ , Hữu bị mắc kẹt tại quê, bị đuổi khỏi Đoàn Thanh niên cứu quốc, không được học tiếp, trở thành tiều phu. Sau nhờ làm công cho một chị hơi lớn tuổi, được chị cưới làm chồng nên đời sống cũng tạm ổn. Mỗi lần về quê tôi thường đến thăm, Hữu kể tôi nghe các chuyện ở địa phương, cùng ôn lại kỷ niệm xưa, đàm luận văn chương và thế sự. Lần này ông bạn già quan tâm đến Tứ trụ triều đình, yêu cầu tôi giải thích. Tôi bảo: “Tứ trụ thì một trụ đã rõ ràng, ba trụ còn lại, ông đã biết gì thì nói trước tôi nghe để tôi khỏi phải nói lại, tôi chỉ nói điều tôi biết mà ông chưa biết”.
Sau khi nghe Hữu trình bày, tôi nói: “Những tin tức ông vừa nói có lẽ được lọt ra từ hội nghị lần thứ 14 của Ban chấp hành trung ương khóa cũ và hội nghị lần 2 Trung ương khóa mới. Đúng ra phải đến tháng 7/ 2016 Quốc hội mới sẽ bầu nhưng hội nghị 2 và đặc biệt là hội nghị 14 đã tiếm quyền. Bây giờ thì mọi người hầu như đã biết chắc chắn là ông Quang, ông Phúc và bà Ngân sẽ giữ 3 ghế còn lại. Đó là việc Đảng cử Quốc hội bầu... Mà QH lại phải bầu 2 lần, QH cũ bầu lên được vài tháng, các vị hết nhiệm kỳ, QH mới bầu lại lần nữa. Như vậy để có một Chủ tịch nước, một thủ tướng, một Chủ tịch Quốc hội theo nhiệm kỳ mới phải qua 4 lần bầu và cử. Lần quan trọng nhất, quyết định nhất là hội nghị 14 của Trung ương cũ, ba lần còn lại là hội nghị 2 TƯ mới, hội nghị 11 của Quốc hội cũ và hội nghị 1 của Quốc hội mới chỉ là hình thức, chẳng có quyền gì.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN