Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

20160310. XOAY QUANH "BÁO CÁO QUỐC GIA VỀ THANH NIÊN VIỆT NAM"

ĐIỂM BÁO MẠNG
THANH NIÊN VIỆT SA ĐÀ RƯỢU BIA, BÊ THA CUỘC SỐNG ?
LƯU MINH SANG/ TVN 10/3/2016
Rượu bia, thanh niên Việt Nam, sinh viên, thấp còi, nghiện thuốc lá, khởi nghiệp, tình nguyện, hiến máu, sinh viên tình nguyện
Những sinh viên đầy háo hức trong một chuyến đi tình nguyện. Ảnh: Lưu Minh Sang
“Thanh niên Việt Nam thể lực kém, hút thuốc lắm, bia rượu nhiều”, “Rượu bia, thuốc lá kéo lùi thanh niên Việt Nam”… là những tít báo gần đây gây xôn xao và thu hút nhiều bình luận đầy hoài nghi.  
Những bài báo bắt nguồn từ một số nội dung trong Báo cáo Quốc gia về thanh niên Việt Nam[1]. Tôi đã gửi những bài báo này và trao đổi trực tiếp với rất nhiều sinh viên.
Không vội quy chụp…
“Oan quá. Tụi em ngoan quá trời, báo chí cứ giật tít và làm quá” là phản hồi tôi nhận được từ một nhóm sinh viên, vừa háo hức trở về từ một chương trình tình nguyện thành công do các em tự tổ chức tại một xã nghèo của Lâm Đồng. Ý kiến của các em khiến tôi phải suy nghĩ.
Những con số nêu trong báo cáo: 18,2% thanh niên từng hút thuốc lá trong nhóm tuổi 16-19; 33% trong nhóm tuổi 20-24, hay 41,7% thanh niên từng say rượu bia trong nhóm tuổi 16-19… được nêu trong báo cáo là dữ liệu thứ cấp từkhảo sát năm 2010.Mặc dù người viết cho rằng, hiện trạng về dùng rượu bia, thuốc lá trong một bộ phận giới trẻ hiện nay đang ở mức tương đối cao và cần đặc biệt quan tâm. Nhưng việc quy chụp hình ảnh “Thanh niên Việt Nam” qua sự bóc tách riêng lẻ các con số mang tính tiêu cực từ một Báo cáo với rất nhiều chỉ số đôi khi lại làm phản tác dụng tuyên truyền.
Số lượng 10.044 vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi 14-25 tại 63 tỉnh/thành được khảo sát cũng chưa thể đại diện cho hơn 25 triệu thanh niên Việt Nam. Người lập Báo cáo cũng thừa nhận những số liệu này là kết quả củacác cuộc điều tra khảo sát với mẫu điều tra tương đối nhỏ, sử dụng hình thức phỏng vấn hoặc phát phiếu tự điền, nên số liệu có thể chưa phản ánh chính thức tỷ lệ trong thanh niên Việt Nam hiện tại.
Hơn nữa, những bài báo đã bỏ quên hàng loạt số liệu rất quan trọng khác cũng nằm trong Báo cáo. Đó là: Thanh niên Việt Nam tham gia đến 10.371 đội tình nguyện; tổ chức 398.883 lần khám chữa bệnh cho 11.673.342 lượt người; tổ chức 72.305 lần thăm hỏi người nghèo giúp đỡ, tặng quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Hay có hơn 4.656.368 lượt thanh niên tham gia hiến máu, có 7.514 mô hình mới trong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia hiến máu trong 4 năm (2010 – 2014)...
Chưa kể, hiện nay có rất nhiều nhóm thanh niên tự túc trong việc vận hành hàng loạt dự án tình nguyện với cách làm rất văn minh, chuyên nghiệp.  
Tôi có cơ hội tiếp xúc rất nhiều thanh niên, sinh viên. Ngoài những thành phần cá biệt, phần nhiều các em đều tích cực rèn luyện, không ngừng học hỏi và hoàn thiện. Một số lượng không nhỏ thanh niên đangtích cực ươm mầm khởi nghiệp.  
Việc đưa ra lời cảnh tỉnh là cần thiết, nhưng cần mang tính toàn diện, cần tôn vinh và khuyến khích những gì các em làm được. Quy chụp và phán xét về thế hệ tương lại của một đất nước là việc không nên làm, đặc biệt trong bối cảnhchưa có đầy đủ dữ liệu đáng tin cậy.
…nhưng không thể phớt lờ
Tuy nhiên, những con số về tình hình sử dụng rượu bia, thuốc lá hay ma túy của thanh niên nêu trong Báo cáo là những nốt trầm đáng ngẫm.
Khi tiếp cận với một số sinh viên thường xuyên rượu chè tụ tập, tôi nhận ra được nhiều điều ẩn đằng sau những con số nêu trong Báo cáo. Mặc dù đối tượng của Báo cáo là thanh niên nói chung, nhưng sinh viên lại là một lực lượng tương đối đông đảo và quan trọng.
Rượu bia, thanh niên Việt Nam, sinh viên, thấp còi, nghiện thuốc lá, khởi nghiệp, tình nguyện, hiến máu, sinh viên tình nguyện
Bạn trẻ uống bia trong khu vực làng đại học Thủ Đức, TP.HCM. Ảnh: Quang Định/ Tuổi trẻ online

Các em dường như thiếu vắng hoàn toàn khả năng tự làm chủ bản thân và mơ hồ về mục tiêu phấn đấu. Sự bao bọc kỹ lưỡng của gia đình khi còn bé, đến khi học phổ thông thì lao đầu vào sách vở để chạy theo thi cử, góp phần khiến các em đánh mất cơ hội hình thành sức đề kháng với cạm bẫy của cuộc sống xa nhà.Có nhiều nguyên nhân đẩy các em sa đà vào chất kích thích.
Việc thiếu vắng các hoạt động xã hội trong suốt những năm phổ thông làm các em khó phân biệt được đúng sai và dễ sa ngã. Ngoài ra, sự chu toàn về mọi thứ, kể cả việc trải thảm trên con đường tương lai sau tốt nghiệp từ gia đình đã làm giảm sút ý chí, mục tiêu phấn đấu của các em.
Tại giảng đường, nhiều sinh viên trở thành “tỷ phú thời gian” bởi cơ chế giáo dục đại học còn nhiều khoảng trống buông lỏng trong vấn đề quản lý và đào tạo. Nếu sinh viên các nước phải ngày đêm đèn sách tại các thư viện và hàng loạt hoạt động ngoại khóa thì sinh viên Việt Nam tại nhiều trường đại học vẫn cứ nhàn nhã mà qua môn.  
Không dừng ở đó, trong xã hội, nhiều nơi lại đang vận hành với chất bôi trơn là bia và rượu. Từ thời còn sinh viên, tôi vẫn thường hay được cảnh báo: “không nhậu nhẹt được, khó tiến thân”.
Khi lấy tửu lượng làm thước đo cho nhiều vấn đề từ sự nam tính, biết điều, lễ độ cho đến những thứ mang lợi ích khác, thì xã hội ấy trở thành môi trường đầy tiêu cực cho lớp thanh niên.
Và hơn hết, Nhà nước vẫn chưa có những chính sách, chương trình cụ thể điều tiết vấn đề sử dụng bia rượu, thuốc lá một cách hữu hiệu. Các chất kích thích nguy hại này vẫn được coi là sản phẩm bình dân, bày bán tràn lan, không ràng buộc về điều kiện tuổi tác với người mua, điều kiện về giờ giấc, địa điểm đối với người bán.
Tựu chung lại, lối sống tiêu cực của tỷ lệ thanh niên nêu trong Báo cáo là kết quả của tổng hòa những sự tác động từ chính sách, môi trường xã hội xung quanh, nền tảng gia đình, khoảng trống giáo dục và cả bản thân các em. Bởi vậy, sự thay đổi chỉ có thể đến khi chính những tác nhân này quyết liệt biến chuyển.
Lưu Minh Sang

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

20160309. BÀN VỀ SỰ 'TỤNG CA' ÔNG ĐINH LA THĂNG

ĐIỂM BÁO MẠNG
NGHĨ TỪ PHONG TRÀO "TỤNG CA"ÔNG ĐINH LA THĂNG HIỆN NAY
NGUYỄN TRỌNG BÌNH/Viet-Studies/  BVB 9/3/2016
  1. Từ sau Tết nguyên đán đến nay, “đồng chí” Đinh La Thăng – tân bí thư Thành ủy TP HCM một lần nữa trở thành đề tài gây “bão”, gây “sốt” trên khắp các phương tiện truyền thông chính thống nước nhà; lấn át cả đề tài quen thuộc“tháng giêng là tháng ăn chơi” của cả dân tộc (nhất là mùa lễ hội “văn minh hay là dã man” ở các tỉnh thành miền Bắc). Thậm chí, theo bài viết đăng trên một tờ báo điện tử nọ thì chuyện về những em chân dài trong giới showbiz  - đề tài từ lâu đã trở thành “truyền thống” và thương hiệu của giới truyền thông nước nhà - cũng phải ngậm ngùi nhường lại ngôi quán quân (độ “hot”) cho đồng chí tân Bí thư:
“Ai đang “gây bão” trên truyền thông và xã hội? Xin thưa, đó không phải là “nữ hoàng giải trí” Hà Hồ với những xì căng đan tình ái ồn ào. Những ngày này, người được đông đảo công chúng quan tâm, được báo chí cập nhật từng phát ngôn, hành động chính là tân Bí thư Thành uỷ TP. HCM, ông Đinh La Thăng.”[1]
Thật sự không biết nên buồn hay nên vui với cách ví von rất... chân thành này. Một chính trị gia “vì nước, vì dân” được mang ra so sánh với cô nàng “chân dài tới nách” không vì ai khác ngoài chính bản thân mình! Than ôi, phải chăng đây là bằng chứng cụ thể và sống động nhất để những ai đang bi quan về xã hội hôm nay hãy bình tâm mà nghĩ lại: cho dù đất nước này có đang thật sự loạn chuẩn, suy đồi, xuống cấp về đạo đức, văn hóa đi nữa thì xin hãy cứ vững tin rằng vị thế của những “chính trị gia” nước nhà vẫn “trên cơ” các em chân dài trong giới showbiz!? Nghĩa là tất cả“vẫn còn trong tầm kiểm soát”?
  1. Công tâm mà nói, những việc làm của ông Đinh La Thăng tính từ thời ông còn là Bộ trưởng Bộ GTVT ít nhiều đã cho thấy ông là người hiếm hoi trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao hiện nay “nói được làm được” chứ không hẳn chỉ biết mỗi chuyện “chém gió, thổi mây”. Những phát ngôn và việc làm của ông dù sao cũng đã ít nhiều đáp ứng được nỗi khát khao, mong mỏi của đại bộ phận dân chúng nước nhà về hình mẫu của người lãnh đạo “vì dân phục vụ” bấy lâu.
 Tuy vậy, cho đến tận hôm nay mà phong trào tụng ca ông Thăng vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; đặc biệt là mọi phát ngôn của ông Thăng đều được các cơ quan truyền thông cắt ra, giật tít để tường thuật nóng mà thiếu sự phân tích thấu đáo đã vô tình làm lộ ra những mang lở loét chết người; có nguy cơ gây nên những phản ứng ngược, hiệu ứng ngược trong chiến dịch lăng xê và tuyên truyền của hệ thống chính quyền Nhà nước.
Dẫu biết rằng viết bài ngợi ca lãnh đạo cũng là một... nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan truyền thông, tuy vậy, qua chuyện này mới biết hiện nay quả là có nhiều cây bút rất có tài trong cái khoản “tụng ca” lãnh đạo cấp cao. Nhìn cách họ đặt vấn đề, họ viết và nịnh lãnh đạo bằng cách “đạp” người khác xuống mà thấy hổ thẹn cho những người cầm bút không có khả năng ấy. Giống như khi ông Đinh La Thăng làm việc với ông Chủ tịch huyện Củ Chi được cả đội ngũ viết lách tường thuật như sau:
- "Đồng chí đã gặp Tổng giám đốc Vinamilk chưa? Gọi điện ngay cho tôi nói chuyện. Có số điện thoại không? Gọi kiểm tra là biết ngay". Lãnh đạo huyện Củ Chi ấp úng vì không có số điện thoại Tổng giám đốc Vinamilk, ông Thăng nói: "Tôi kiểm tra thế là biết ngay. Chủ tịch huyện chưa gặp Tổng giám đốc Vinamilk thì làm sao biết được nguyên nhân bà con không bán được sữa. Sản lượng sữa của đàn bò Củ Chi thấm gì so với năng suất của Vinamilk? Phải gặp họ mới có phương thức giải quyết cho bà con được...", ông Thăng nói.[2]
Khôn quá hóa hèn. Một câu hỏi mang tính thách đố nhằm “bắt bí” cấp dưới và hoàn toàn thiếu kỹ năng của người quản trị nhưng không hiểu sao cả đội ngũ viết lách không nhận ra lại còn giật tít trong sự hân hoan, khoái trá?
Thử hỏi, có gì là sai trái hay kém cõi khi ông Chủ tịch huyện không có số điện thoại cá nhân của bà Mai Kiều Liên – người phụ nữ từng được một tạp chí nước ngoài bình chọn là 1 trong 50 phụ nữ quyền lực nhất châu Á - đến ngay cấp dưới của bà rất nhiều người cũng không có được? Đó là chưa kể, cho dù ông Chủ tịch huyện có số điện thoại của bà Tổng giám đốc nữa nhưng nếu hôm ấy bà phải ra nước ngoài công tác (cương vị của bà thì đi nước ngoài như đi chợ) thì làm sao mà liên lạc được. Muốn gặp bà Tổng giám đốc một tập đoàn kinh tế lớn thì phải thông qua bộ phận thư ký của bà để hẹn và sắp lịch chứ? Mà bàn về chuyện quốc kế dân sinh quan trọng như thế chẳng lẽ qua điện thoại là giải quyết được hay sao?
Thật tội nghiệp cho ông chủ tịch huyện Củ Chi bị người ta làm cho mất mặt, mất uy tín vì cái chuyện vốn dĩ không có gì để mà ầm ĩ đã. Chẳng ai thèm quan tâm và thông cảm dù ông đã chân thành bộc bạch: “Tôi không bất ngờ khi Bí thư Đinh La Thăng hỏi như vậy và cũng không tâm tư gì. Bởi vì người tôi làm việc ở Vinamilk là các giám đốc phụ trách thu mua, còn chị Mai Kiều Liên - tổng giám đốc Vinamilk - thì tôi chưa liên hệ vì đã có sự phân công ở Vinamilk rồi.[3]
Từ đây, nhìn rộng ra phong trào “tụng ca” phải chăng đã và đang vô tình xổ toẹt “công đức” của người người tiền nhiệm ông Thăng vừa mới nghỉ hưu – ông Lê Thanh Hải; góp phần nhấn chìm luôn “đồng chí” Hoàng Trung Hải -  người cũng vừa được phân công nắm cương vị Bí thư cùng lúc với ông Thăng ở thủ đô Hà Nội. Đó là chưa kể tới mấy chục “đồng chí” đồng cấp khác của ông Thăng trên khắp các tỉnh thành trên cả nước. Các “đồng chí” này của ông Thăng đang làm gì sao không thấy báo giới nói với công chúng? Có “đồng chí” nào cảm thấy mình bị đối xử không công bằng không khi cũng làm được nhiều việc nhưng vì không muốn nhờ truyền thông lăng xê, đánh bóng tên tuổi nên dân chúng không ai biết? Hay tất cả các “đồng chí” có tự thấy xấu hổ về năng lực và tầm nhìn lãnh đạo của mình nếu so với ông Thăng thời gian qua?
Ở phương diện khác, phong trào “tụng ca” “đồng chí” Đinh La Thăng phải chăng cũng đã góp phần“giải huyền thoại” về chân dung của những người lãnh đạo thực sự “vì dân vì nước” trên đất nước này suốt mấy chục năm qua? Những chân dung mà tất cả buộc phải tôn thờ giống như thánh nhân chứ không phải người thường.
Hóa ra, lãnh đạo “vì dân vì nước” đôi khi chỉ cần làm vài động thái như ông Thăng mà thôi. Nghĩa là chỉ cần hiểu nhân dân muốn gì và xắn tay cùng làm với nhân dân thay vì ngồi trong phòng kín “ngâm” cứu hàng mấy nghìn trang tuyển tập triết học Mác-Lê rồi chế tác ra công trình lý luận với tên gọi “kinh tế thị trường định hướng XHCN”; hay ngồi “rút” mãi sợi dây kinh nghiệm của thời kỳ quá độ lê thê không biết khi nào mới hết; còn không thì ngồi rung đùi lấy làm sung sướng và tự hào về những “thành tựu to lớn” trong các bản báo cáo, nghị quyết mà bất chấp thực tiễn cuộc sống đã và đang diễn ra như thế nào...
Nhưng nếu như thế thì từ cổ chí kim có chính trị gia nào trên thế giới được dân chúng ủng hộ, ngợi ca mà chỉ “ngồi chơi xơi nước” đâu. Trọng dân, hiểu dân, lắng nghe dân, xắn tay vào làm với nhân dân đó là việc làm hết sức bình thường và đương nhiên của người lãnh đạo thì có gì mà phải “tụng ca”. Cả xã hội lên “cơn sốt” về một chuyện bình thường có phải là bất bình thường không? Tại sao đội ngũ truyền thông vẫn chưa chịu dừng lại? Sao không cho các “đồng chí” khác của ông Thăng một cơ hội được thể hiện năng lực phẩm chất của người lãnh đạo giống như ông?  
Cuối cùng, ông Thăng là người giàu nhiệt huyết, năng nổ, quyết liệt trong xử lý công việc là điều có thể cảm nhận được. Tuy vậy, có một chuyện cực kỳ quan trọng mà lẽ ra ông nên làm nhưng đến nay chưa thấy ông làm đó là gặp gỡ, đối thoại với nhân sĩ, trí thức ở TP HCM về các vấn đề liên quan đến xã hội dân sự hay cụ thể nhất là tình hình về biển Đông trong mối quan hệ với Trung Quốc hiện nay mà người dân không riêng gì ở TPHCM rất quan tâm. “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân” - ông Thăng có dám gặp gỡ và nhất là chân thành đối thoại với họ trên tinh thần dân chủ, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra...” không? Khi nào ông sẽ chủ động làm việc này để thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước với nhân dân giống như cố thủ tướng Võ Văn Kiệt trước đây đã từng làm (cũng với chức danh Bí thư Thành ủy TP HCM như ông Thăng bây giờ)?
***
  1. Bình tĩnh quan sát sẽ thấy, giống như những năm trước, lợi dụng thời điểm dân ta nghỉ ngơi đón chào năm mới, chính quyền Trung quốc đã rầm rộ vận chuyển vũ khí, đạn dược tối tân ra những hòn đào mà trước đây chúng đã dùng vũ lực để chiếm đoạt của ta. Và trong khi truyền thông quốc tế lên tiếng, đồng bào ở nước ngoài xuống đường tuần hành phản đối những hành động ấy thì truyền thông nước nhà không hiểu sao lại rất biết “kiềm chế”. Quanh đi quẩn lại chỉ thấy mỗi chuyện về mùa lễ hội“văn minh hay dã man” cùng phong trào tụng ca dày đặc về ông Thăng. Có lẽ nào đây là cách mà chính quyền dùng để đánh lừa đại bộ phận dân chúng để họ xao lãng những vấn đề liên quan đến sự tồn vong của dân tộc? Thật lòng, bản thân tôi không muốn nghĩ như vậy nhưng nếu đúng như thế thì phải chăng thêm một lần nữa cái “bẫy ý thức hệ” của “người anh em” xảo quyệt đang ngày một siết trói chặt Việt Nam hơn nữa? Thử hỏi, tại sao mỗi khi tình hình trong nước có dấu hiệu bất ổn thì nhà cầm quyền Trung Quốc tìm cách chuyển sự chú ý của dân chúng họ ra bên ngoài (Biển Đông). Trong khi đó, biển đảo của cha ông đang hàng ngày hàng giờ bị xâm lấn thì lãnh dạo của ta lại không muốn dân chúng biết đến bằng cách giấu nhẹm hoặc đưa tin rất dè dặt. Hoặc không thì hướng dân chúng đến những vấn đề “tào lao mía lao”; “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”...?
Tại sao như vậy? Có lẽ nào “cái nước mình nó thế...!?”
CT, 8/3/2016


Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

20160308. CẦN THAY ĐỔI NỀN GIÁO DỤC "ĐỒNG PHỤC"

ĐIỂM BÁO MẠNG
GS NGUYỄN MINH THUYẾT: CHÚNG TA ĐANG XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI HỌC TẬP "MÉO MÓ"
LÊ ANH/VietTimes  7/3/2016
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết: "Giáo dục mà chạy theo tiền thì khó có thể mong đợi điều gì tốt đẹp"
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết: "Giáo dục mà chạy theo tiền thì khó có thể mong đợi điều gì tốt đẹp"

VietTimes - Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến việc đào tạo đội ngũ nhân lực chung chung mà không chú ý phát triển sở trường cá nhân, năng lực cá nhân, hoàn thiện nhân cách cá nhân,... thì có nghĩa là chúng ta đang thực hiện nền giáo dục “đồng phục” và đất nước sẽ khó phát triển, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết thẳng thắn nói.

“Mục tiêu của giáo dục không phải sản xuất ra hàng loạt con robot toàn diện như nhau mà là khơi dậy năng lực tiềm tàng ở mỗi cá nhân để mỗi người trở thành chính mình, mỗi người đều “là một, là riêng, là thứ nhất”- GS TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc Hội nhận định trong cuộc trao đổi riêng với VietTimes.
Cần thay đổi nền giáo dục “đồng phục”
Thưa Giáo sư, sau mấy chục năm cải cách, đổi mới giáo dục, cho đến nay, ngành giáo dục vẫn bị đánh giá là còn rất nhiều bất cập. Chẳng nhẽ sau chừng ấy năm cải cách, giáo dục nước nhà không có thành tựu nào sao?
- Tính từ năm 1945, giáo dục nước ta đã 3 lần cải cách và một lần đổi mới. Những lần cải cách, đổi mới này đều có lý do, mục tiêu và thành tựu. Từ một nền giáo dục của người Pháp, tuy tiên tiến, nhưng gắn với chế độ thực dân, giáo dục đã được thay đổi để trở thành một nền giáo dục kiểu mới. Riêng việc chúng ta dạy từ tiểu học đến sau đại học hoàn toàn bằng tiếng Việt thay cho tiếng Pháp đã là một kỳ tích mà trước Cách mạng Tháng Tám nhiều người không thể hình dung được.
Tuy nhiên, giáo dục vẫn tồn tại một số nhược điểm lớn. Một là, những lần cải cách, đổi mới giáo dục nói trên đều chỉ chú trọng đến giáo dục phổ thông mà chưa quan tâm đầy đủ đến giáo dục đại học và nghề nghiệp trong khi giáo dục đại học và nghề nghiệp mới là “mặt trận” chính quyết định nguồn nhân lực. Đây là nhược điểm có tính chất đường lối.
Điều thứ hai tôi muốn nói đến là mục tiêu giáo dục. Từ trước đến nay, chúng ta đều xác định mục tiêu giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Điều đó không sai, nhưng phiến diện, vì nó thiếu mục tiêu giáo dục cá nhân. Giáo dục cá nhân là yếu tố vô cùng quan trọng. Mỗi người sinh ra khác nhau, giáo dục phải khơi dậy tiềm năng ở mỗi con người; phát triển và hoàn thiện mỗi cá thể; nhiều cá thể tốt sẽ tạo thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ xã hội.
Ba là về triết lý giáo dục. Chúng ta đã có những triết lý rất sâu sắc như: “Học đi đôi với hành”, “Lý luận gắn liền với thực tiễn”, “Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”,... Nền giáo dục của ta hàng chục năm qua đã được dẫn dắt bởi những triết lý đó. Tuy nhiên, đến giai đoạn hiện nay, chúng ta cần bổ sung điều gì đó mới hơn, lớn hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển con người và đất nước Việt Nam trong thời đại mới.
Theo như Giáo sư vừa nói thì có nghĩa là mục tiêu giáo dục cần được đổi mới. Vậy, đổi mới cụ thể như thế nào?
- Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến việc đào tạo đội ngũ nhân lực chung chung mà không chú ý phát triển sở trường cá nhân, năng lực cá nhân, hoàn thiện nhân cách cá nhân,... thì có nghĩa là chúng ta đang thực hiện nền giáo dục “đồng phục” và đất nước sẽ khó phát triển. Nói một cách cực đoan cho dễ hình dung, nếu chúng ta đòi Ngô Bảo Châu phải làm thơ hay như Trần Đăng Khoa, và ngược lại Trần Đăng Khoa cũng phải đoạt giải Fields về toán học như Ngô Bảo Châu thì đó là một nền giáo dục méo mó và chắc chắn không thể đạt được mục tiêu của mình. Mục tiêu của giáo dục không phải sản xuất ra hàng loạt con robot toàn diện như nhau mà là khơi dậy năng lực tiềm tàng ở mỗi cá nhân để mỗi người trở thành chính mình, mỗi người đều “là một, là riêng, là thứ nhất” (mượn ý thơ Xuân Diệu), và từ những cá nhân xuất sắc đó mới xây dựng được đội ngũ nhân lực chất lượng cao để phát triển xã hội. Đó là một mục tiêu kép, mà nền tảng là giáo dục cá nhân.
Để chuyển từ nền giáo dục “đồng phục” sang nền giáo dục hướng tới phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách cá nhân, như Giáo sư nói, thì cách dạy, cách học không thể theo kiểu như hiện nay được. Nhưng phải dạy và học như thế nào, thưa Giáo sư?
- Trước tiên phải coi trọng thực học. Xét từ mục tiêu phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách cá nhân, điều đó có nghĩa là cần dạy những nội dung gắn với thực tế, chứ đừng dạy những điều quá hàn lâm. Đơn cử như môn Ngữ văn, ở bậc học phổ thông, ta không nên đặt vấn đề giảng dạy khoa học ngữ văn cho học sinh mà chỉ cần giáo dục ngữ văn, tức là dạy sao cho học sinh có thể sử dụng tốt tiếng Việt, cảm thụ được cái hay cái đẹp trong tiếng Việt và trong tác phẩm văn học, từ đó hình thành, phát triển những tình cảm nhân văn và năng lực thấm mĩ.
Còn giáo dục khoa học ngữ văn là việc của chương trình đại học ngữ văn. Dạy Lịch sử, Kinh tế, Pháp luật v.v… cũng như vậy. Xét từ mục tiêu xây dựng đội ngũ nhân lực phát triển đất nước, thực học có nghĩa là ưu tiên phát triển nguồn nhân lực trong những ngành kinh tế - kĩ thuật có tính ứng dụng cao. Nước ta còn nghèo, lại là nước đi sau và muốn nhanh chóng bắt kịp các nước đi trước thì không thể phát triển dàn trải.
Trong vòng 50 năm tới, cần tập trung đào tạo nhân lực cho những ngành trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, có khả năng tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với các ngành khoa học cơ bản, bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, chỉ cần đầu tư đào tạo số lượng ít những người thực sự có năng khiếu, sở trường để bồi dưỡng nhân tài.
Thứ hai, giáo dục phải dân chủ. Xét từ mục tiêu phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách cá nhân thì dân chủ thể hiện ở sự khai phóng, tức là cởi mở về tư tưởng, học thuật, tạo điều kiện cho người học sáng tạo và phát triển phù hợp với khả năng, nguyện vọng của mình. Có khai phóng thì giáo dục và xã hội mới tạo ra được những lớp người dám nghĩ, dám làm. Xét từ mục tiêu xây dựng đội ngũ nhân lực phát triển đất nước thì dân chủ có nghĩa là phải đảm bảo để xã hội tham gia phát triển giáo dục, giám sát giáo dục và hưởng thụ thành quả của giáo dục.
Lâu nay, chúng ta mới chỉ làm được việc huy động lực lượng xã hội phát triển giáo dục thông qua hai hình thức đóng góp học phí và đầu tư mở trường.  Việc xã hội giám sát giáo dục chưa bài bản, chủ yếu là theo từng vụ việc cụ thể, nhiều khi nói theo số đông, hời hợt, thiếu chiều sâu. Còn việc xã hội hưởng thụ thành quả giáo dục có liên quan đến xã hội học tập. Nói thật lòng, xã hội học tập mà chúng ta đang xây dựng là một xã hội học tập “méo mó”. Người ta đi học tại chức chẳng qua là học bớt xén chương trình, cốt để lấy cái bằng, để thăng quan tiến chức, khác hẳn ở nước ngoài, họ thấy cần bổ sung kiến thức gì thì họ học cái đó.
Có nên “bê” mô hình giáo dục nước ngoài về Việt Nam?
Thực tình thì trong thời gian gần đây ngành giáo dục rất chịu khó lắng nghe dư luận. Có những quyết định được đưa ra, bị dư luận phản đối, lập tức thay đổi ngay. Thậm chí có lúc làm cho người ta có cảm giác ngành giáo dục đang lâm vào cảnh “đẽo cày giữa đường”. Giáo sư có cảm thấy như vậy không?
- Thực tình thì nền giáo dục có những hạn chế như hiện nay, lỗi không chỉ tại bản thân ngành giáo dục. Những hạn chế, yếu kém phổ biến và kéo dài nếu nguyên nhân không ở đường lối thì cũng ở khâu thực hiện đường lối. Về đường lối, tôi đã nói đến mục tiêu giáo dục, triết lý giáo dục. Còn về việc thực hiện đường lối, ta vẫn có câu cửa miệng “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” nhưng sự quan tâm của các cấp ủy, cấp chính quyền hầu như rất ít.
Giả sử một cấp ủy cứ mươi mười lăm năm ra một nghị quyết về giáo dục, đôn giáo dục lên rất cao bằng những từ ngữ có cánh nhất  rồi mặc kệ cho ngành giáo dục tự xoay sở thì  đó không phải cách đối xử với quốc sách hàng đầu. Mỗi cấp ủy, chính quyền cứ tự kiểm điểm xem một năm cấp cho giáo dục bao nhiêu tiền, bao nhiêu đất làm trường, bằng bao nhiêu phần trăm so với tiền, đất cấp cho doanh nghiệp, sân golf v.v… thì biết giáo dục được quan tâm đến đâu. Nếu coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu thì ít nhất là hằng tuần hoặc hằng tháng, các cấp ủy, chính quyền phải để mắt đến giáo dục, phải bàn bạc các vấn đề của giáo dục, để chỉ đạo, gỡ rối thì giáo dục mới phát triển được.
Về nguyên nhân chủ quan thì bản thân ngành giáo dục cũng còn nhiều bất cập. “Thay quan, đổi tướng” nhiều quá. Có “tướng” về chỉ vài năm mà đẻ ra đến hàng trăm trường đại học, cao đẳng, hậu quả đến bây giờ mới phát tác. Hiện nay, ngành giáo dục có cái tốt là rất chịu khó lắng nghe dư luận để sửa chữa. Tuy nhiên, khi tiến hành sửa chữa, điều chỉnh, lại chưa nghiên cứu thấu đáo, chưa lường hết những khó khăn, phức tạp xảy ra, nên nhiều khi kết quả đem lại không được như ý muốn, thậm chí là mang lại kết quả xấu hơn.
Ví dụ như, khi thấy ở một số nước người ta không chấm điểm học sinh nên học sinh học thoải mái, ta mang về áp dụng ngay vào cấp tiểu học, thế nên sinh ra rất nhiều chuyện. Nào là chuyện “sáng kiến” khắc dấu mặt cười, mặt mếu; nào là chuyện khen thưởng tràn lan theo kiểu phổ cập danh hiệu thi đua của người lớn hiện nay. Nhưng lo nhất là chuyện học sinh không chịu học. Tôi chỉ sợ mươi năm nữa, hậu quả của sáng kiến này mới phát tác; lúc ấy lại trách nhau chất lượng học sinh đi xuống, rồi lại đổi mới bằng cách quay về chấm điểm như xưa.  
Như ông đề cập ở trên, mặc dù đã 3 lần cải cách, một lần đổi mới, nhưng giáo dục vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Vậy tại sao chúng ta không chọn một một mô hình giáo dục tiến tiến của nước ngoài đưa vào Việt Nam như Hàn Quốc từng làm là “bê” mô hình Nhật Bản về áp dụng và thành công?
- Tôi làm giáo dục đã lâu và tôi cũng có ý nghĩ như thế. Nhiều nhà giáo dục không bằng lòng với quan điểm này, các thầy cho rằng nó không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, nhưng tôi thấy mình mượn (hoặc mua) các chương trình đào tạo nước ngoài để dạy cũng không ảnh hưởng gì.
Tôi nghĩ với các môn học tự nhiên và ngoại ngữ thì tốt nhất mình dùng chương trình nước ngoài, kể cả bậc đại học mình đào tạo theo được nước ngoài đi đã. Mình lấy kinh nghiệm đã thành công của các nước mà áp dụng, như thế sẽ tốt hơn. Chỉ có các môn khoa học xã hội và nhân văn như Lịch sử, Địa lý, Tiếng Việt, văn học Việt Nam thì tự mình phải biên soạn trên cơ sở tham khảo chương trình của nước ngoài, vì không ai làm thay mình được.
Nhà nước chỉ làm việc xã hội không làm
Nhiều ý kiến cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo đang ôm đồm quá nhiều việc, cái cần thả thì không thả, cái cần siết lại không siết. Giáo sư nhận xét thế nào về vấn đề này?
- Tôi thấy khâu điều hành của chúng ta có vấn đề. Trước đây, Bộ GD&ĐT quản chặt lắm, ví dụ:  Bộ duyệt chỉ tiêu từng lớp tại chức, trường không được in bằng mà phải lên Bộ mua phôi bằng, thậm chí có thời gian Bộ còn cử người về coi thi sau đại học với trường,... Bây giờ, Bộ đã “thả” cho các trường chủ động nhiều rồi, nhưng chất lượng cũng có vì thế mà thụt lùi so với thời Bộ quản chặt đâu!
Tôi cho rằng nên để các trường có quyền tự chủ rộng rãi hơn, nhất là ở đầu vào. Đầu ra thì phải “siết”, nhưng không phải “siết” bằng cơ chế xin - cho, mà bằng trình độ chuẩn, bằng kiểm định chất lượng. Ở Việt Nam hiện nay, có bao nhiêu người vào đại học thì có bấy nhiêu người tốt nghiệp. Nếu không sàng lọc mạnh trong quá trình đào tạo thì không thể nào đảm bảo nhân lực đào tạo ra có chất lượng được. Về kiểm định chất lượng, các trường có quyền tự quyết, Bộ không cần can thiệp. Nhưng hằng năm phải công bố kết quả kiểm định chất lượng của các trường: Trường nào có kiểm định chất lượng, trường nào không; nếu kiểm định chất lượng thì do tổ chức nào kiểm định; kiểm định năm nào; kết quả kiểm định cụ thể ra sao v.v… Có những thông tin này, học sinh sẽ có cơ sở để chọn trường, các đơn vị sử dụng lao động cũng có cơ sở để tuyển người. Chỉ cần làm như vậy khoảng mươi năm thì chất lượng đào tạo sẽ khác.
Hoc sinh ngoài kiến thức còn cần phải được phát triển cá nhân để không trở thành những chú robot sản xuất loạt
Về xã hội hóa giáo dục, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích các trường tư hoạt động theo mô hình phi lợi nhuận, tức là hoạt động không theo mô hình doanh nghiệp, không có đại hội cổ đông, và trong đội đồng quản trị, tiếng nói quyết định không phải là của người góp tiền nhiều. Giáo dục mà chạy theo tiền thì khó có thể mong đợi điều gì tốt đẹp.
Còn vai trò điều tiết của Nhà nước sẽ thể hiện như thế nào, thưa Giáo sư?
- Sự điều tiết của Nhà nước hiện nay còn mang nặng tính bao cấp, cào bằng. Theo tôi, lĩnh vực nào, ngành nào, địa phương nào hấp dẫn nhà đầu tư, hấp dẫn người học thì nên để xã hội lo là chính; Nhà nước chỉ tập trung lo cho những lĩnh vực, những ngành xã hội cần mà nhà đầu tư và người học ít quan tâm (ví dụ, bậc học mầm non; các ngành sư phạm, thủy sản, thủy lợi, trồng trọt, chăn nuôi,...), và lo cho những địa phương có nhiều khó khăn. Đối với những ngành xã hội cần mà nhà đầu tư không thích, người học không nhiều thì Nhà nước cần bỏ tiền ra để đầu tư phát triển; khuyến khích người học bằng học bổng hoặc chỉ đơn giản là bằng sự đảm bảo bố trí công việc khi ra trường. Chỉ cần Nhà nước cam kết người học ra trường sẽ có việc làm (mà không phải chi vài trăm triệu để chạy việc), tôi đảm bảo những người giỏi nhất sẽ vào những ngành ấy.
Đối với các địa phương, hầu như rất ít nhà đầu tư chịu đầu tư cho miền núi, vùng sâu vùng xa. Vậy thì nhà nước phải đầu tư. Còn ở những địa phương phát triển như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh là nơi rất dễ mở trường thì nên tạo cơ chế để xã hội hoá.
Một điều nữa cần đổi mới trong công tác quản lý, điều tiết của Nhà nước là Nhà nước phải làm đúng việc của mình, đừng có làm thay cơ sở. Nhiệm vụ của các cơ quan trung ương của Đảng và Nhà nước là làm chính sách, pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phát triển, chứ nếu quanh năm suốt tháng bàn việc cơ cấu, đầu ra đầu vào cho sản xuất, kinh doanh thì lợi đâu chưa biết, có khi còn cản trở doanh nghiệp.
Bộ GD&ĐT cũng nên sớm trao quyền tự chủ cho các sở, các trường; đừng lo cả việc thi tuyển vào lớp 1, lớp 6, thi tốt nghiệp THPT hay tuyển sinh đại học, vì đó là việc của các sở, các trường. QH cũng nên rút kinh nghiệm, đừng làm thay việc của Ban soạn thảo chương trình giáo dục phổ thông.
Lắm lúc tôi cứ “lẩn mẩn” so sánh, một nước lớn như nước Mỹ, số cơ quan cấp bộ cũng tương đương nước mình, lãnh đạo chỉ có Tổng thống và một Phó Tổng thống, mà lãnh đạo Chính phủ, bộ ngành lúc nào cũng phải lo tái cơ cấu, đầu vào, đầu ra như nước mình thì liệu họ có phát triển được không? Rõ ràng là mỗi cơ quan, mỗi chức danh làm đúng việc của mình thì guồng máy mới chạy nhịp nhàng, đất nước mới phát triển nhanh và biên chế nhân lực mới tinh giản được.
Xin cảm ơn Giáo sư!