Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

20150304. TIN CẦN BIẾT CHO CÁC GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC

ĐIỂM BÁO MẠNG
KẾT LUẬN ĐƠN TỐ CÁO HIỆU PHÓ ĐH BÁCH KHOA HÀ NỘI
Đưa tin của NGÂN ANH trên VNN 2/3/2015
- Ngày 2/3, Bộ GD-ĐT có kết luận về nội dung tố cáo đối với ông Trần Văn Tớp, phó Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội.
Kết luận do Thứ trưởng Bùi Văn Ga nêu, ông Trần Văn Tớp bị tố đã sao chép nhiều nội dung tài liệu “Một số vấn đề kỹ thuật điện áp cao ở siêu cao áp và cực cao áp” năm 1993 của PGS.TS Võ Viết Đạn trong giáo trình “Kỹ thuật điện cao áp” xuất bản năm 2007, xâm phạm quyền tác giả quy định trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.
Sau khi nhận được đơn tố cáo, ngày 20/10/2014, Bộ GD-ĐT đã ban hành Quyết định số 4679/QĐ-BGDĐT về việc thụ lý giải quyết tố cáo và thành lập Tổ xác minh nội dung tố cáo đối với ông Trần Văn Tớp, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội.
Trần Văn Tớp, ĐH Bách khoa HN
Bìa giáo trình của PGS.TS Võ Viết Đạn (bên trái) và sách của PGS.TS Trần Văn Tớp (bên phải)
***
Theo kết luận thanh tra ngày 2/3/2015, nội dung tố cáo ông Trần Văn Tớp đã sao chép nhiều nội dung tài liệu “Một số vấn đề kỹ thuật điện áp cao ở siêu cao áp và cực cao áp” năm 1993 của PGS.TS Võ Viết Đạn trong giáo trình “Kỹ thuật điện cao áp” xuất bản năm 2007 làđúng một phần.Nội dung tố cáo đúng một phần
Cụ thể: Ông Trần Văn Tớp có sử dụng một số nội dung Tập bài giảng năm 1993 của GS.TS Võ Viết Đạn trong Giáo trình năm 2007 nhưng không chỉ rõ nội dung đã sử dụng; đứng tên tác giả độc lập của giáo trình có sử dụng một số nội dung trong Tập bài giảng của GS.TS Võ Viết Đạn và từ đó kê khai viết một mình giáo trình này khi đăng ký xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh phó giáo sư năm 2009; dẫn chiếu chưa chính xác về Tập bài giảng của GS.TS Võ Viết Đạn trong Giáo trình năm 2007.
Cũng theo bản kết luận này, việc người tố cáo cho rằng ông Trần Văn Tớp xâm phạm quyền tác giả quy định trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 là chưa đủ cơ sở pháp lý để chấp nhận.
Thực tế ông Trần Văn Tớp biên soạn Giáo trình năm 2007 theo nhiệm vụ được giao, có ký hợp đồng và thực hiện việc biên soạn giáo trình theo quy định của Trường ĐH Bách khoa Hà Nội; có nêu việc sử dụng nội dung Tập bài giảng của GS.TS Võ Viết Đạn tại Lời nói đầu và Danh mục tài liệu tham khảo; Giáo trình năm 2007 đã được Trường ĐH Bách khoa Hà Nội tổ chức thẩm định, xuất bản, xác nhận là tài liệu học tập biên soạn phục vụ công tác đào tạo.
Ông Trần Văn Tớp phải kiểm điểm
Về biện pháp xử lý và kiến nghị, Bộ GD-ĐT yêu cầu ông Trần Văn Tớp phải kiểm điểm trách nhiệm cá nhân về việc sử dụng nội dung Tập bài giảng năm 1993 của GS.TS Võ Viết Đạn khi biên soạn Giáo trình năm 2007 nhưng không chỉ rõ các nội dung đã sử dụng; đứng tên tác giả độc lập của giáo trình có sử dụng một số nội dung trong Tập bài giảng của GS.TS Võ Viết Đạn; dẫn chiếu chưa chính xác về Tập bài giảng của GS.TS Võ Viết Đạn trong Giáo trình năm 2007.
Ông Tớp phải chỉ rõ các nội dung đã sử dụng từ Tập bài giảng của GS.TS Võ Viết Đạn; xác định rõ tác giả và/ hoặc chủ biên của Giáo trình năm 2007 tuỳ thuộc vào mức độ sử dụng Tập bài giảng năm 1993 theo quy định của pháp luật; đính chính các sai sót về dẫn chiếu trong Giáo trình năm 2007.
Thứ trưởng Bùi Văn Ga giao Trường ĐH Bách khoa Hà Nội chỉ đạo, kiểm tra ông Trần Văn Tớp trong việc thực hiện các nội dung trên; phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật thực hiện việc đính chính, bổ sung, chỉnh sửa Giáo trình năm 2007 theo quy định của pháp luật.
Trường ĐH Bách khoa Hà Nội cũng phải tổ chức rút kinh nghiệm về công tác biên soạn giáo trình, tránh để xảy ra các sai sót tương tự; sửa đổi, bổ sung văn bản quy định về công tác biên soạn giáo trình của Trường, trong đó quy định cụ thể về quy trình giao nhiệm vụ biên soạn, xét duyệt đề cương, trích dẫn, đứng tên tác giả, tổ chức thẩm định, các điều kiện để được phép biên soạn tác phẩm phái sinh theo quy định của pháp luật, nhuận bút tác giả.
Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp với Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội xem xét, đánh giá mức độ ảnh hưởng về sai sót của ông Trần Văn Tớp trong bối cảnh hiện nay để đề xuất biện pháp xử lý phù hợp.
Vụ Giáo dục Đại học, Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường rà soát, đề xuất việc hoàn thiện các quy định về biên soạn giáo trình, quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ trong cơ sở giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Không xem xét lại chức danh phó giáo sư
Khi kê khai đăng ký xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh PGS năm 2009, ông Trần Văn Tớp đã kê khai là viết "một mình" giáo trình này trong khi một phần nội dung của giáo trình đó đã sử dụng từ Tập bài giảng năm 1993 và đã được GS.TS Võ Viết Đạn kê khai  để xét công nhận chức danh giáo sư năm 1996.
Về vấn đề này, kết luận thanh tra cho biết giáo trình của ông Trần Văn Tớp đã được Hội đồng chức danh giáo sư ngành Điện - Điện tử - Tự động hoá, Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước đánh giá 1 điểm/ 2 điểm tối đa của thể loại giáo trình khi xét công nhận chức danh PGS. “Sau khi xem xét lại, Hội đồng thống nhất vẫn giữ nguyên mức đánh giá là 1 điểm như trước đây. Nếu không tính điểm công trình này thì tổng số điểm của ông Tớp là 8,32 điểm vẫn đủ tiêu chuẩn về điểm đối với chức danh PGS” nên quá trình giải quyết tố cáo không đặt ra vấn đề xem xét lại chức danh PGS của ông Trần Văn Tớp.

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

20150303. BÀN VỂ VIẾT Blog CỦA CHÍNH TRỊ GIA

ĐIỂM BÁO MẠNG
Fb/ Blog CỦA CHÍNH KHÁCH: GẦN VÀ XA
Bài của GS NGUYỄN VĂN TUẤN trên tuan's blog 2/3/2015
Phải công nhận là fb và blog làm cho chính trị gia và quan chức nói chung gần gũi với dân hơn. Nhưng đó là tình hình ở phương Tây, chứ ở VN thì chính khách vẫn còn rất xa dân. Chỉ cần so sánh những bài viết trên fb/blog của chính trị gia ở VN và đồng nghiệp của họ ở các nước văn minh sẽ thấy điểm đó rất rõ nét.
Giới chính trị gia nước ngoài người ta có fb hay blog là để chia sẻ cảm nhận, quan điểm cá nhân của họ về những vấn đề thời sự. Đọc những cái note ngắn của thủ tướng Singapore về những vấn đề thời sự rất cảm động và cảm thông cho ông. Ngoài ra, họ còn dùng fb/blog như là những thông báo cá nhân. Hôm nay họ được mời đi nói chuyện ở một đại học, hay ngày mai họ được mời đi nói chuyện ở bệnh viện, tất cả đều công bố trên fb/blog để cho phóng viên biết mà dò theo. Do đó, các trang fb/blog của họ là NGUỒN tin tức, là nói theo tiếng Anh "news maker", chứ không phải nơi đăng lại tin tức của báo chí.
Vài vị làm chính trị ở VN cũng bắt chước trào lưu fb/blog của đồng nghiệp nước ngoài, nhưng họ bắt chước … rất buồn cười. Nhìn qua trang fb/blog của họ thấy toàn là tin tức của báo khác, là văn bản hành chính của bộ họ phụ trách, là tài liệu tuyên truyền, thậm chí bài vở mang sắc thái quảng cáo (như ăn chay, ăn thịt trâu, chả giò). Đó là những bài viết tầm đã thấp mà còn thiếu khoa học tính. Những bài đó chẳng có “wisdom”, thiếu thông tin, và do đó không cho công chúng biết họ suy nghĩ gì như là một cá nhân, một con người trong cộng đồng. Tại sao công chúng phải vào trang blog của họ khi những bản tin đó được công bố trên báo? Cái mà công chúng kì vọng và muốn biết là những cảm nhận cá nhân của họ, chứ không phải tuyên truyền núp dưới vai trò quan chức.
Quan chức và chính trị gia nói chung, trong cái nhìn của công chúng, là những cỗ máy trong guồng máy chính trị. Người dân đã nghe những tiếng gầm và đã thấy khói từ những cái cỗ máy đó. Đó là những sản phẩm của cái gọi là mechanism hay cơ chế. Họ phải nói như thế, họ phải hành xử như thế, họ phải đóng kịch như thế, bởi vì guồng máy đã nhào nặn họ như thế.
Nhưng họ còn có trái tim và khối óc. Ví dụ như khi kí quyết định tử hình một tội phạm, thứ nhất và trên hết, họ làm theo bộ máy, làm theo luật pháp, nhưng đằng sau đó là những trăn trở, dằn vặt, đau đớn của một con người khi thấy một người khác phải chết. Đằng sau cái quyết định đó là những suy tư của người cha hay người mẹ có con cháu. Đó là những trăn trở không thể nào phát ra từ cái cỗ máy, vì bản chất của cỗ máy là vô cảm và vô hồn. Bởi thế, công chúng muốn đọc và nghe những trăn trở và tâm tư đó. Nghe và biết để xã hội dễ thông cảm hơn và gần nhau hơn.
Đó chính là lí do tại sao chúng ta thấy các ông bà đại sứ các nước phương Tây ở VN rất gần dân và rất dễ mến. Một buổi đi thực địa ăn bánh xèo họ cũng có thể chia sẻ với công chúng, một cuộc gặp gỡ người bán hàng ở Chợ Bến Thành cũng là đề tài và cơ hội để họ giãi bày tâm sự. Chính khách và quan chức VN chưa làm được việc đó, và đó là lời giải thích tại sao người dân Việt cảm thấy xa lạ với những người đáng lẽ ra là "đại diện" cho mình. Chính trị gia và quan chức VN nói cái gì cũng bị người ta diễu cợt, vì những gì họ nói giống như những cỗ máy; họ làm gì cũng bị người dân xem là đóng kịch lố bịch (như đi cày ruộng, hay cách họ cầm cái xẻn để trồng cây). Một phần là do trình độ học vấn chưa tới, một phần là do họ đã quen với xa dân, quen với thói làm phụ mẫu thiên hạ.
Nói tóm lại, công chúng muốn thấy những khía cạnh nhân văn của các bộ trưởng. Đó có thể là những lời phát ngôn (thậm chí là thủ thỉ) tình cảm được giãi bày qua trang blog. Giãi bày những tình cảm cá nhân như thế cũng là một cách chứng tỏ cho công chúng thấy họ cũng là những con người có trái tim và khối óc, chứ không chỉ là những cơ phận của một guồng máy chính trị quen thói đóng kịch.
***
XẤU XA ĐẬY LẠI
Bài BÙI VĂN BỒNG trên BVB 2/3/2015
Một thực tế dễ nhận ra rằng, đảng CSVN vẫn khẳng định: Suy thoái, biến chất, tham nhũng là thực trạng cấp bách, ảnh hưởng lớn đến uy tín, sự tồn-vong của đảng. (Hội nghị TW 4). Một vị từng 20 năm “cứng cựa, oai vệ” tại Bộ Chính trị (Chủ tịch QH, rồi TBT, mỗi chức 2 khóa liền), từng đứng danh ký tên phát động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM”, đi đén đâu cũng hô hào, giáo dục cán bộ đảng viên "cần kiệm liêm chính", nay lại có cuộc sống đế vương, xa hoa như vậy, không giản di, không thực hành tiết kiệm, không có ‘chất cộng sản chân chính’ thì rõ là ‘XẤU” rồi. Dưới con mắt nhân dân lại càng xấu...
Không những xấu cho cá nhân của ‘vua ngai vàng’ tự khoe ấy, mà còn xấu cho đảng cầm quyền, mang danh và vốn tự hào là đảng “vô sản chân chính”, đảng “của dân, vì dân, vì nước”- “ngoài lợi ích của dân, của nước không có lợi ích nào khác”…; như Điều 4 (Hiến pháp sửa đổi 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…”. Vậy, khi lãnh đạo của đảng sống giàu sang, phú quý, xa hoa rất nhiều so với điều kiện đất nước, thì có nên “tuyên truyền rộng” hay không? Tuyên truyền rộng là không nên, càng khoanh lại, khép lại càng tốt. Thế nên, cũng cần phải nghe người xưa dạy: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”! Việc này cần chứ, và cũng đúng thôi!...
***
VÌ SAO BÁO CHÍ IM TIẾNG TRONG VỤ "CHIẾC GHẾ CỦA NGUYÊN TBT"? 
VOA 2/3/2015
Truyền thông trong nước hoàn toàn im lặng sau khi dư luận ‘dậy sóng’ vì hình ảnh nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh ngồi trên chiếc ghế to, giống ngai vàng, trong khi từng đồng loạt vào cuộc phanh phui tài sản của nguyên tổng thanh tra Trần Văn Truyền.
Sau khi tờ Tiền Phong gỡ bỏ bức ảnh gây ‘sốt’ các trang mạng xã hội, trong đó người từng đứng đầu đảng Cộng sản Việt Nam suốt 10 năm trời, ngồi trên chiếc ghế chạm trổ đầu rồng màu vàng, đón tiếp khách tới thăm, báo chí Việt Nam không có bất kỳ bài viết nào khác về điều mà nhiều người nói là “sự xa hoa” của một cựu quan chức nhà nước.
Và hiện nhiều người sử dụng mạng xã hội Việt Nam đang so sánh việc đưa tin về vụ mà nhiều người nói là “chiếc ghế của nguyên tổng bí thư” với vụ việc của ông Truyền.
Vụ việc đụng trần rồi. Làm sao ai có thể nói được. Dù báo chí có làm thì người ta cũng sẽ cản. Ở đây rõ ràng đã có một sự kiểm duyệt rồi”.
​​Năm ngoái, sau khi báo Người cao tuổi khai mào cuộc điều tra, hàng loạt những cái tít như “Sự thật về căn biệt thự ‘khủng’ của ông Trần Văn Truyền”, “Tổng ‘của nổi’ của ông Trần Văn Truyền trị giá bao nhiêu?” hay “Ông Trần Văn Truyền lấy tiền đâu mua nhà, biệt thự?” đã xuất hiện liên tục và dày đặc trên báo chí.
Nói chuyện với VOA Việt Ngữ với điều kiện không nêu danh tính, một người có chức vụ trong ban biên tập của một tờ báo ở Việt Nam cho biết rằng ông Mạnh “quá cao” nên không báo nào dám mạo hiểm như vụ ông Truyền. Nhà báo này nói:
“Vụ việc đụng trần rồi. Làm sao ai có thể nói được. Dù báo chí có làm thì người ta cũng sẽ cản. Ở đây rõ ràng đã có một sự kiểm duyệt rồi”.
Sau khi báo chí đồng loạt vào cuộc và gây sức ép, ông Truyền đã phải “xin lỗi đảng, nhân dân” và đã phải trả lại một số ngôi nhà.
​​Trái ngược với vụ ông Truyền, nếu tìm kiếm tin tức về chiếc ghế và ngôi nhà với nội thất tông màu vàng của ông Nông Đức Mạnh, thì chỉ thấy các bài viết trên các trang web hải ngoại.
Tiến sỹ Nguyễn Quang A, một người quan sát tình hình chính sự trong nước, nói ông tin rằng truyền thông ở Việt Nam “đã được lệnh không được nói gì về cái chuyện đấy nữa”.
“Báo chí chính thống của Việt Nam, dù có tới 700 cơ quan báo chí, nhưng mà thực sự có một ông tổng biên tập, đó là ông Đảng. Cái ông đó thì cũng lại chỉ nằm ở trong tay một hai ông mà thôi, tức là ông tổng bí thư và ông trưởng ban tuyên giáo. Chuyện đó nó được điều khiển như thế nào là ở cái ông tổng biên tập đó. Đối với trường hợp ông Trần Văn Truyền chẳng hạn, thì phản ánh một chuyện khác hơn một chút, tức là đấy là một cuộc đấu đá nội bộ giữa các phe với nhau, và báo chí đã được bật đèn xanh, cho làm cái chuyện đó. Tôi nghĩ rằng ở một nền báo chí tự do, và 700 tờ báo là 700 tờ báo thật, tức là có 700 ông tổng biên tập độc lập, thì tôi nghĩ rằng cái chuyện cái ghế, cái nhà của ông Nông Đức Mạnh nó cũng sẽ được kéo dài hơn, nhưng mà việc kéo dài đó cũng vẫn tuân theo một quy luật tức là nó sẽ chìm dần”.
Ông A cũng nói thêm rằng “báo chí ở bên ngoài không thể tiếp cận được các thông tin gì hơn”, vì thế vụ việc này “diễn ra một cách rất ngắn ngủi” và sẽ “chìm xuồng”.
VOA Việt Ngữ không thể liên lạc với Nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh để hỏi ý kiến của ông về những phản ứng của dư luận thời gian qua.

Ông Nông Đức Mạnh từng làm Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ năm 1992 tới năm 2001, và sau đó, đảm trách vị trí Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 tới năm 201
***
ĐẢNG MẤT MÌNH ĐI ĐÂU ?
Bài của NGÔ NHÂN DỤNG trên NV 27/2/2015
Không phải chỉ trong hàng ngũ công an mới có người đang đặt câu hỏi trên. Tất cả những kẻ đang nắm quyền hành và hưởng lợi lộc nhờ chế độ Cộng Sản cũng ôm nỗi băn khoăn này.
Đảng mất mình đi đâu? Có người đã chọn rồi: Đi Mỹ! Trên mạng Internet đã thấy hình ngôi nhà một ông phó thủ tướng đương quyền mua ở Anaheim, California, USA. Cả hình bằng lái xe ở California của con trai ông ta. Trong đảng họ phá lẫn nhau cho nên mới tiết lộ cho bà con biết, còn hàng ngàn căn nhà khác vẫn được giữ kín “bảo vệ đảng.” Chắc chắn nhiều cán bộ cao cấp cũng tìm đường chạy từ lâu rồi. Và họ cũng biết một quy tắc của nghề đầu tư là “Không để trứng tất cả vào chung một cái giỏ.” Nếu rớt, trứng bể hết. Cho nên, những kẻ quyền cao nhất, thế mạnh nhất, “đông tiền” nhất, họ đều biết phải “phân tản” (diversify) các món đầu tư cho tương lai. Một căn nhà ở Mỹ, một cái khác ở Đức, vài ba địa chỉ ở Úc, gửi tiền của đi chỗ nào xa xa nước Việt Nam đều tốt cả. Mà phải chọn những nơi an toàn. An toàn nhất là những nước dân chủ tự do. Chọn nơi nào có hệ thống tư pháp công bằng, trong sạch, tài sản của mình được luật pháp bảo vệ, không sợ có đứa nó ỷ quyền chiếm mất - như ở nước Việt Nam. Đem tiền sang các nước đó không những khỏi lo bị cướp mà dùng làm vốn sẽ sinh lợi cao hơn. Những nước có truyền thống dân chủ lâu đời cũng là những nước kinh tế lên cao nhất, nhờ tinh thần trọng pháp và luật lệ bảo vệ quyền tư hữu. Cho nên, các đồng chí chưa chắc đã mua nhà ở Quảng Châu, Côn Minh, Bắc Kinh, mà còn đem tiền sang các nước tư bản chính hiệu. Đó là tín hiệu con tàu sắp chìm, đàn chuột bỏ chạy trước.
Đảng mất mình đi đâu? Không phải ai cũng có tiền và có địa vị để chuẩn bị đường rút lai sang Tàu, sang Úc, Canada, Pháp, Đức, hay sang Mỹ.
Cho nên, đang lo lắng nhất bây giờ chắc là những người công an. Khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” đã được nêu lên từ thời Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ. Công an tự nhận họ đóng vai “chó săn;” nhưng hãnh diện rằng họ “làm chó săn cho cách mạng!” Bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng Sản tài tình đã dựng hai chữ “cách mạng” như một vị thần hoàng để họ chui vào cung đình chia nhau ăn thủ lợn. Cái gì phục vụ“cách mạng” thì tốt, thì cao quý. Gán cho ai nhãn hiệu “phản cách mạng” thì xúi giục đám “quần chúng” côn đồ chửi bới, chém giết (Cải Cách Ruộng Đất), ám sát (Coi gương Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm) ném phân vô cửa nhà người ta (Coi Hoàng Minh Chính, Trần Khải Thanh Thủy), hoặc đem vùi xuống đất đen (Coi Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần). Núp dưới bóng thần “cách mạng” đó, công an “phục vụ cách mạng” là công an an tốt, đáng tự hào. Họ có thể hãnh diện nhìn nhận công an an gắn bó keo sơn với đảng; họ hô to khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” mà không thấy xấu hổ về cái vai trò ăn bám như loài ký sinh trùng.
Nhưng bây giờ, bức mặt nạ “cách mạng” đã rớt xuống. Đảng lệ thuộc ngoại bang đến mức không dám gọi tên những con tàu ăn cướp dân mình là Tàu Trung Quốc mà bắt các báo đài phải gọi là “tàu lạ.” Dân bèn chế nhạo: Coi chừng Người Lạ, Hàng Lạ! Chế độ gọi là “cách mạng” đã từng “học tập Mao Chủ Tịch” chia rẽ dân tộc, gây đấu tranh giai cấp, gây chiến tranh Nam Bắc, người Việt giết người Việt cho Trung Cộng thừa cơ chiếm quần đảo Hoàng Sa. Những công an dẫn đám côn đồ đàn áp các cuộc biểu tình đòi Hoàng Sa, Trường Sa của dân Sài Gòn, dân Hà Nội, phải tự nhìn thấy họ đang bị Đảng Cộng Sản xua đi phục vụ đế quốc đỏ Trung Hoa. “Mình còn” nhưng “Nước mất” thì ai sẽ trả lời cho con cháu đây?
Chính công an cũng thấy rõ chế độ bây giờ chỉ còn là một bộ máy cường quyền liên kết với tư bản đỏ tham nhũng, trục lợi. Đó là hậu quả không thể tránh được ở bất cứ nước nào do một chế độ độc tài đảng trị cầm quyền. Đảng còn ăn cướp được thì mình còn được ăn cướp. Nhưng họ cũng thấy hình ảnh những ngôi biệt thự xa hoa của những bí thư tỉnh ủy to lớn sang trọng hơn nhà mình trăm lần, ngàn lần. Họ đã thấy hình phòng khách trong nhà cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu toàn bảo vật quốc gia. Gần đây là hình trong nhà Nông Đức Mạnh, tường cũng dát vàng với hai cái ngai vàng chạm hình rồng, bắt chước vua chúa đời xưa. Người có học nhìn cảnh đó phải cảm thấy thương hại đám cựu tổng bí thư đua đòi “trưởng giả học làm sang” bày trò khoe khoang nhơ nhuốc! Ngoài những “của nổi” này, các vua chúa đỏ còn bao nhiêu “của chìm” cất giấu trong các ngân hàng, trong thị trường chứng khoán và bao nhiêu ngôi biệt thự đã mua ở ngoại quốc? Công an vẫn phải đóng vai “chó săn,” nhưng bây giờ họ đang làm chó săn cho loài vua chúa nhố nhăng đó chứ chẳng có thứ cách mạng nào cả.
 “Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình đi đâu?” Đó là câu hỏi đang ám ảnh những người công an biết suy nghĩ. Ở Việt Nam, Bắc Hàn và Trung Quốc.
Một mối lo ám ảnh nặng nề nhất là “ngàn năm bia miệng.”
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn không phải là người nhỏ mọn. Nhưng trước khi qua đời ông không thể không nhắc đến tên một tay chỉ huy công an ở Hải Phòng, mà nhờ cuốn sách “Hậu Chuyện Kể Năm Hai Ngàn” của ông bây giờ cả nước biết họ biết tên. Họ và tên ông này là Trần Đông, thường vụ thành ủy, giám đốc sở công an Hải Phòng. Trần Đông đã vu cáo, đầy đọa nhiều nhà văn, chỉ để chứng tỏ mình tích cực tham dự chiến dịch vu cáo “nhóm xét lại chống đảng.” Bỏ tù mấy nhà văn làm lễ dâng công với Lê Đức Thọ, nhờ thế Trần Đông được thăng quan, lên làm tới chức thứ trưởng. Con cháu ông Trần Đông có cảm thấy nhục nhã khi biết cha, ông mình đã làm những việc thất đức đó hay không?
Bùi Ngọc Tấn không muốn thanh toán mối thù riêng. Ông phải viết ra vì món nợ chung với bao nhiêu bạn tù bị guồng máy độc tài hãm hại. Không kể hết thì những mối oan khiên không bao giờ được cởi. Nhà thơ Hoàng Hưng viết lá thư mở đầu cuốn sách đã thông cảm nỗi lòng Bùi Ngọc Tấn. Cho nên ông đã viết những lời hứa, những lời nguyền: “Còn một ngày cũng sống sao cho ra sống! Vì thế chúng ta phải viết! Họ không muốn ta viết, ta phải viết! Họ sợ ta viết, ta phải viết! Họ cấm ta viết, ta phải viết!...”
Những người không viết, họ có thể quay phim, có thể chụp hình. Vì vậy những bức ảnh ngai vàng trong nhà Nông Đức Mạnh mới được đưa lên mạng. Người phóng viên cầm máy ảnh trong tay chứng kiến cảnh vàng son lố bịch đó tự cảm thấy mình phải giúp tất cả đồng bào trông thấy cuộc sống xa hoa nhố nhăng của các vua chúa đỏ! Người biên tập trong tòa báo cũng đồng ý. Dòng họ Nông sẽ đi vào lịch sử không phải vì ông Nông Đức Mạnh làm lãnh tụ Đảng Cộng Sản một thời. Cả cuộc đời làm tổng bí thư của ông ta không ai nhớ Nông Đức Mạnh đã làm gì, đã nói được câu nào cho ra hồn. Nhưng từ nay ai cũng nhớ hình ảnh hai cái ngai vàng chạm đầu rồng trong nhà Nông Đức Mạnh!
“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình biết trốn đi đâu?”
Không ai trốn được ngàn năm bia miệng!
Những người công an bây giờ biết nhiều hơn, nhìn lại các thủ lãnh đời trước cũng phải thấy nhục, phải xấu hổ: Cả ngành công an đã thối nát ngay từ thủa ban đầu, không phải chỉ vì những tên như Trần Đông. Trần Quốc Hoàn, trùm công an toàn quốc cũng “phục vụ cách mạng” bằng việc “dẫn gái” và giết người bịt miệng. Hoàn đã đưa cô gái từ miền thượng du về cho Hồ Chí Minh, hai bác cháu dùng xong rồi đem thủ tiêu người phụ nữ xấu số bằng tai nạn ô tô. Vũ Thư Hiên đã kể rõ chuyện trong Đêm Giữa Ban Ngày. Ngàn năm bia miệng, biết trốn đi đâu?
Tất cả các chế độ độc tài thối nát đều sẽ tan rã. Những người công an phải đọc được các tín hiệu báo trước chế độ đang tan rã. Một gia đình nông dân ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đứng giữa chợ đả đảo chế độ Cộng Sản. Cậu con trai đã không ngần ngại hô khẩu hiệu “Tiêu diệt Đảng Cộng Sản!” “Tiêu diệt! Tiêu diệt!” Người mẹ còn hô to: “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!” Mà họ không chỉ hô một, hai lần! Lòng người dân phải chứa chất nỗi phẫn uất đến mức nào họ mới dám liều mạng hô to những tiếng “chết người” như vậy!
Chế độ độc tài chuyên chế nào cũng phải tan rã. Dân Việt Nam không ngu, không hèn hơn dân các nước Đông Âu. Công an mật vụ ở các nước này đã ngửi thấy mùi chế độ tan rã trước tháng 11 năm 1989. Cho nên khi chứng kiến cơn thủy triều dân chủ tự do dâng lên chính họ bỏ rơi Đảng Cộng Sản. Cuộc cách mạng ở Đông Đức không thể thành công nếu các công an Stassi đang gườm súng quyết định bắn vào đám biểu tình ngay trong ngày đầu ở thành phố Dresden. Dân thủ đô Praha nước Tiệp không thể tiến chiếm “Lâu Đài” nếu chính các công an không buông súng để ủng hộ. Đảng Cộng Sản Liên Xô tan hàng khi chính các sĩ quan KGB ngoảnh mặt đi, không cứu, dù chỉ bắn một phát súng. Trong cả ba nước đó, không một ai cất một ngón tay lên cứu Đảng Cộng Sản! Không một người nào nhỏ một giọt nước mắt tiếc thương! Tất cả cũng từng thuộc lòng câu: “Đảng còn thì mình còn!” Nhưng chính họ cũng nhiều đêm nằm vắt tay lên trán tự hỏi: “Đảng mất mình biết trốn đi đâu?” Và họ đã lựa chọn: Mình đứng về phía những người dân oan ức! Dân còn thì mình còn!



Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

20150302. BA CHÌA KHÓA ĐỂ PHÁT TRIỂN

ĐIỂM BÁO MẠNG
Bài của GIÁP VĂN DƯƠNG trên TS 24/2/2015
Năm 2015, Việt Nam kỉ niệm 70 năm ngày độc lập. Nếu tính cuộc đời làm việc trung bình của mỗi người là 30 năm, thì Việt Nam đang ở giữa thế hệ thứ ba sau ngày độc lập. Cha ông ta nói, không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Hy vọng trong thế hệ thứ ba này, Việt Nam sẽ vươn lên chạm ngưỡng nước phát triển. Muốn vậy, những cánh cửa phát triển phải được mở ra. Vấn đề đặt ra: Đâu là chìa khóa, và ai đang nắm giữ những chìa khóa, để mở cánh cửa phát triển này? 
Năng lực lãnh đạo
Chìa khóa đầu tiên và phát huy tác dụng ngay tức thì, đó là năng lực lãnh đạo của những người cầm lái, ở bất cứ lĩnh vực và cấp độ nào. Năng lực lãnh đạo hiện đang không tương xứng với các đòi hỏi của phát triển. Các mô-típ lãnh đạo thời chiến hoặc nặng tính quan trường kiểu phong kiến đã lạc hậu, nhưng vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong thời bình, mà điển hình là sự áp đặt máy móc bởi những mệnh lệnh ‘hành là chính’, hoặc các chính sách trên giời, từ trên xuống dưới…
Để giải quyết rốt ráo bài toán năng lực lãnh đạo, không có cách nào khác là cải cách cơ chế bầu cử, bổ nhiệm công chức và trọng dụng người tài.
Câu chuyện năng lực lãnh đạo và trọng dụng người tài đã được nhiều người gióng lên suốt hàng chục năm qua nhưng không có chuyển biến gì đáng kể. Vậy những người thuộc thế hệ thứ ba, tức những người vẫn được coi là trẻ, lại không ở trong hệ thống, cũng không thuộc diện được ‘cơ cấu’, sẽ làm gì trong bối cảnh này?
Rất may là năng lực lãnh đạo ngày nay không còn chỉ bó hẹp trong lĩnh vực chính trị. Dù rằng, chính trị là lĩnh vực quan trọng nhất cần phải cải cách để tạo sự phát triển, nhưng các lĩnh vực khác cũng đang rất cần những tài năng lãnh đạo trẻ để thổi thêm luồng sinh khí mới và để được dẫn dắt. Đó có thể là trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, hoặc các hoạt động thuần túy dân sự v.v…
Trong sự liên thông mang tính bản chất, sự thay đổi tích cực trong đời sống dân sự sẽ có tác động trở lại với các hoạt động chính trị. Vì suy cho cùng, mục đích tối hậu của chính trị là để phục vụ người dân, giúp họ sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn. Nếu không thì chính trị không thể tồn tại lâu dài.
Vậy nên, nếu bạn là thủ khoa mà thi trượt công chức thì cũng đừng lấy đó làm buồn. Sẽ đáng buồn hơn nếu bạn tìm cách yên phận ở trong hệ thống, thay vì bước ra ngoài để trở thành một lãnh đạo trẻ, tham gia vào việc dẫn dắt đời sống phát triển. Nhìn xa hơn thì chính các bạn sẽ là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước chứ không phải những công chức “sáng cắp ô đi tối cắp về”.
Có chìa khóa trong tay, nhưng có dám dùng nó để mở cánh cửa phát triển hay không thì lại đòi hỏi lòng quả cảm để vượt qua thói quen nương tựa đã trở thành cố hữu.
Đổi mới sáng tạo
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, một trong những nút thắt cổ chai phát triển của Việt Nam hiện thời là năng suất lao động quá thấp so với các nước phát triển. Cùng khoảng thời gian làm việc, cùng sức vóc mà một người của họ làm việc bằng hàng chục người của mình, thì làm sao ta có thể cạnh tranh với họ được? Giải pháp là đâu? Là thực sự đổi mới sáng tạo, vì đâu còn đường nào khác.
Không chỉ dừng ở sáng tạo công nghệ, lĩnh vực quản trị  kinh tế - xã hội và ngay cả trong việc quản trị đời sống cá nhân cũng đang cần những đổi mới sáng tạo rốt ráo (trong cuộc chạy đua này, ai quản trị cá nhân tốt, ai biết rõ mục tiêu, ai sử dụng được thời gian hiệu quả, người đó sẽ chiến thắng).
Đó là những việc có thể làm ngay, và quan trọng hơn, lợi thế của việc thực hành đổi mới sáng tạo thuộc về thế hệ thứ ba, những người trẻ tuổi.Khi tiến hành đổi mới sáng tạo, cái giá phải trả chỉ là sự trì trệ bế tắc, ngắc ngoải lâm sàng, nhưng cái được là cả không gian phát triển mới. Vậy thì còn chần chừ gì nữa? Sao còn ngồi đó than vãn, thay vì đứng lên, cầm chiếc chìa khóa đổi mới sáng tạo này để mở ra những chân trời mới.
Phát triển giáo dục
Chiếc chìa khóa thứ ba, được nói đến nhiều nhất và cũng có tác động lâu dài nhất, là phát triển giáo dục. Vậy những người thuộc thế hệ thứ ba này có thể làm được gì trong một môi trường giáo dục nhằm đào tạo con người công cụ nặng tính áp đặt? Câu trả lời là rất nhiều, thậm chí không giới hạn.
Sự phát triển công nghệ, đặc biệt là của giáo dục số, đã gỡ bỏ hầu hết các rào cản giáo dục mà thế hệ trước phải gánh chịu. Giờ đây, nếu muốn thì bất cứ ai cũng có thể tự bù đắp những khiếm khuyết của hệ thống giáo dục hiện thời, thông qua tiếp cận các chương trình giáo dục trực tuyến toàn cầu của các đại học danh tiếng trên thế giới.
Như thế, thay vì trông chờ một sự thay đổi được ban phát không biết bao giờ mới tới, những người thuộc thế hệ thứ ba hoàn toàn có thể tự thân khai sáng, tự kiến tạo sự thay đổi theo cách của riêng mình. Đến đây, những chìa khóa phát triển đã hiện ra trước mắt. Và chính thế hệ thứ ba này, trong đó có bạn và tôi, là người đang nắm giữ những chiếc chìa khóa của phát triển.Vấn đề là có đủ muốn để đứng lên và mở những cánh cửa phát triển hay không mà thôi.
Singapore chỉ cần một thế hệ để vươn lên từ một làng chài nghèo thành quốc gia ‘hạng nhất’; Hàn Quốc cũng chỉ cần chưa đầy hai thế hệ sau cuộc chiến tàn khốc để vươn lên từ nước đói nghèo thành nước phát triển.