Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

20150203. THẾ NÀO LÀ THÔNG TIN XẤU, ĐỘC HẠI ?

ĐIỂM BÁO MẠNG
THỨ TRƯỞNG BỘ TT&TT:'SẼ NGĂN CHẶN TOÀN DIỆN THÔNG TIN XẤU, ĐỘC TRÊN MẠNG'
Bài của pv CHÂU ANH trên VTC News 1/2/2015
(VTC News) - "Trong năm 2015, Bộ TT&TT sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng có những giải pháp ngăn chặn toàn diện hơn những thông tin xấu, độc hại trên mạng, làm cho môi trường mạng trong sạch", Thứ trưởng Trương Minh Tuấn cho biết.
Tại buổi trả lời báo chí sáng 1/2, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) Trương Minh Tuấn cho biết, thời gian qua, nhiều trang web đen được đặt máy chủ ở nước ngoài đã lợi dụng mạng internet, có hành vi bôi nhọ nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, gây hoài nghi trong xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân như các trang web Dân làm báo, Quan làm báo...
Thứ trưởng Bộ TT&TT: 'Sẽ ngăn chặn toàn diện thông tin xấu, độc trên mạng'Thứ trưởng Trương Minh Tuấn
***
Trước thực trạng đó, trong năm 2014, Bộ TT&TT đã tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng đấu tranh với các trang mạng đen; chủ động cung cấp thông tin kịp thời cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí để tuyên truyền phản bác các thông tin trái chiều.
Cũng theo Thứ trưởng, để những thông tin trái chiều này không gây hoài nghi trong dư luận, bản thân mỗi người dân khi tiếp cận các thông tin sai trái trên các trang mạng này cần phải có thái độ đúng đắn, không bị lôi kéo, kích động bởi những thông tin không được kiểm chứng.
"Trong năm 2015, Bộ TT&TT sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng có những giải pháp ngăn chặn toàn diện hơn những thông tin xấu, độc hại trên mạng, làm cho môi trường mạng trong sạch", Thứ trưởng nhấn mạnh.
Theo Thứ trưởng Tuấn, định hướng phát triển báo chí phải phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ và xu thế phát triển thông tin, truyền thông thế giới; kết hợp chặt chẽ các loại hình báo chí đồng thời phát huy lợi thế của các phương tiện, dịch vụ thông tin internet nhằm chủ động cung cấp thông tin chính thống, tăng diện bao phủ trong nước và quốc tế; hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng.
Về lộ trình sáp nhập Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC về VOV, Thứ trưởng Trương Minh Tuấn xác nhận: “Thủ tướng đã đồng ý về nguyên tắc cho VTC sáp nhập vào VOV. Đây cũng là một nội dung trong lộ trình thực hiện Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025.
Tuy nhiên, việc thực hiện sẽ cần có thời gian dài, bởi hiện nay vẫn chưa xây dựng được đề án cụ thể về việc sáp nhập như thế nào, phân chia tài sản ra sao, cái nào ở, cái nào đi, giải quyết các khoản nợ thế nào…?
Tôi nghĩ rằng, lộ trình này chắc cũng còn dài hơi. Ít nhất trong một vài năm tới, sẽ chưa tách ngay, việc chia tách, sáp nhập chắc sẽ khó".
Tại buổi trả lời phỏng vấn báo chí, Thứ trưởng Trương Minh Tuấn cũng nhấn mạnh, năm 2014, công tác quản lý Nhà nước về Thông tin và Truyền thông được tăng cường trên tất cả các lĩnh vực: báo chí, xuất bản, bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, đảm bảo an toàn thông tin… Trong đó, một số thành tựu nổi bật như: Xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là xây dựng các cơ chế, chính sách, năm 2014, Bộ đã tham mưu cho Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan trọng.
Nổi bật là Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề như: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực an toàn, an ninh thông tin đến năm 2020; Quy hoạch phát triển xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch phát triển hệ thống thông tin và truyền thông các vùng biên giới biển, vùng biển, đảo Việt Nam đến năm 2020...
Trong năm 2014, Bộ TT&TT cũng đã ban hành 20 thông tư và phối hợp ban hành 02 thông tư liên tịch; xây dựng và trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 27 đề án, trong đó có dự thảo Luật An toàn thông tin, Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.
Các cơ quan báo chí, xuất bản đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, sự kiện chính trị lớn của đất nước; thường xuyên cập nhật, đưa tin chính xác, phản ánh đầy đủ và kịp thời tình hình chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế - xã hội; phản bác hiệu quả những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch trong và ngoài nước; qua đó làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, nhà nước với nhân dân; nâng cao nhận thức, tăng cường sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân; góp phần định hướng dư luận và tạo sự đồng thuận xã hội; củng cố và tăng thêm niềm tin của nhân dân.
Bên cạnh đó, Bộ TT&TT cũng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, được nhân dân đồng tình.
Trước việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, Bộ đã chủ động, linh hoạt và thường xuyên có định hướng, chỉ đạo các địa phương, các cơ quan báo chí tập trung thông tin, phản ánh chân thực, toàn diện, khách quan về cơ sở pháp lý và lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sự kiên cường, dũng cảm của các lực lượng và của ngư dân trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo để nhân dân trong nước và quốc tế hiểu rõ hơn tình hình thực tế, góp phần động viên khích lệ tinh thần yêu nước, cả nước cùng đồng lòng hướng về Biển Đông.
Công tác quản lý nhà nước về viễn thông ngày càng được tăng cường, tạo điều kiện cho thị trường viễn thông phát triển bền vững. Hệ thống thông tin liên lạc phục vụ chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước và công tác nhân đạo, phòng, chống lụt, bão, tìm kiếm, cứu nạn đảm bảo thông suốt, kịp thời.
Việc quản lý thông tin trên mạng Internet được đẩy mạnh giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển Internet tại Việt Nam.
Các doanh nghiệp viễn thông trong nước tiếp tục giữ vững vị thế và thị phần áp đảo trên thị trường và từng bước vươn ra đầu tư ở nước ngoài. Dịch vụ bưu chính, viễn thông luôn nằm trong nhóm hàng có chỉ số giá không tăng hoặc tăng thấp góp phần ổn định chỉ số giá tiêu dùng trong nước.
Lĩnh vực CNTT luôn có sự phát triển. Cùng với việc đẩy mạnh công tác phòng, chống và đảm bảo an toàn thông tin trên phạm vi toàn quốc, công tác ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước tiếp tục được chú trọng. CNTT tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng và hiệu quả cao, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng GDP của đất nước.
Châu Anh
CÙNG MỘT SỐ LIỆU, HAI CÁCH DIỄN GIẢI (TP.HCM LỌT TOP 50 THÀNH PHỐ AN TOÀN NHẤT?)
Bài của GS NGUYỄN VĂN TUẤN trên tuan's blog 1/2/2015

 
***
Đúng là chuyện xấu thành tốt! TP Hồ Chí Minh được/bị Tạp chí The Economist xếp vào nhóm các thành phố kém an toàn nhất trên thế giới. Ấy thế mà ít nhất 2 tờ báo Việt Nam, phiên bản tiếng Anh và tiếng Việt, lại giật cái tít rằng TP Hồ Chí Minh lọt vào danh sách các thành phố an toàn nhất thế giới. Chuyện khó tin nhưng hoàn toàn có thật, và trên giấy trắng mực đen!
Báo Tuổi Trẻ phiên bản tiếng Anh chạy cái tít hấp dẫn rằng TP Hồ Chí Minh là một trong những thành phố an toàn nhất thế giới: "Ho Chi Minh City among world's safest: British magazine" (1). Còn báo trực tuyến Khám Phá thì chạy cái tít tiếng Việt có nghĩa tương tự "TP.HCM lọt top 50 thành phố du lịch an toàn nhất 2015" (2). BáoDân Trí cũng viết " thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam được đánh khá cao trên nhiều chỉ số an toàn và trở thành một trong những điểm đến an toàn nhất trong năm 2015" (3). Tất cả các báo này đều không cho đường link mà chỉ nói nguồn chung chung là từ "The Economist Intelligence Unit ".
Thế nhưng trong thực tế thì không phải như thế. Lần dò theo The Economist Intelligence Unit, tôi có thể truy cập vào nguồn thông tin trên tạp chí The Economist(4). Đó là một báo cáo phân tích và xếp hạng có tên là "Safe Cities Index 2015". Cách họ xếp hạng mức độ an toàn của 50 thành phố trên thế giới, trong đó có TP Hồ Chí Minh. Cách họ đánh giá an toàn là dựa vào 40 chỉ số mang tính định lượng và định tính, và 40 chỉ số này giảm thành 4 nhóm:
  • an toàn về mạng internet và viễn thông: chỉ số này đo lường an toàn mạng, và tần số bị đánh cắp nhân dạng trên mạng (identity theft);
  • an toàn sức khoẻ: tỉ số giường bệnh trên dân số và tuổi thọ trung bình;
  • an toàn cơ sở vật chất: phẩm chất đường xá, số ca tử vong vì tai nạn, v.v.;
  • an toàn cá nhân: mức độ tội phạm, hành động phi pháp, sự hiện diện của cảnh sát, v.v.
Dựa vào 4 nhóm chỉ số trên, TPHCM được xếp hạng 48/50, tức áp chót về mức độ an toàn. Nói cách khác, TPHCM được đánh giá là một trong 5 thành phố bất an nhất hay nguy hiểm nhất trong số 50 thành phố trên thế giới được đánh giá. Đội sổ danh sách là Jakarta (Nam Dương), và trên Jakarta là Tehran (Iran), hạng 49. Trên Tehran là TPHCM, Johannesburg, Riyadh, Mexico, Mumbai, Moscow.
Thành phố được đánh giá là an toàn nhất thế giới là Tokyo, với điểm 85.63 trên 100. Theo sau Tokyo là 9 thành phố khác phần lớn là từ các nước tiên tiến: Singapore, Osaka, Stockholm, Amsterdam, Sydney, Zurich, Toronto, Melbourne, New York.
TPHCM bị đánh giá là 1 trong 5 thành phố thiếu an toàn nhất thế giới do yếu tố nào? Nhìn qua bảng phân tích (5) thì TPHCM đứng chót bảng (50/50) về an toàn cơ sở vật chất, và hạng 48/50 về an toàn sức khoẻ. Tuy nhiên, về an toàn mạng và viễn thông, TPHCM đứng hạng 42/50, tức vẫn nằm trong nhóm 10 thành phố thiếu an toàn nhất. Tuy nhiên, về thứ hạng an toàn cá nhân thì TPHCM đứng hạng 34/50, dù là dưới trung bình, nhưng vẫn cao hơn Moscow, Jakarta, Tehran, Rome, Riyadh, Bắc Kinh, Quảng Đông.
Báo Tuổi Trẻ cũng có bài cho biết chỉ trong tháng 1/2015, có đến 2171 tai nạn giao thông gây tử vong cho 781 người và thương tích cho 2047 người (6). Tính trung bình, nói theo một chuyên gia về an toàn giao thông, mỗi ngày có 26 người lên xe đi đường và không về nhà. Nhìn qua giao thông và nạn trộm cướp, cộng với 19 ngàn người nghiện ma tuý ở TPHCM, mà vẫn còn đứng hạng 34/50 làm tôi ngạc nhiên.
Nói tóm lại, cùng một số liệu, mà 2 cách diễn giải khác nhau. Được xếp hạng 48/50 về an toàn, vậy mà vài tờ báo ở VN lại giật cái tít là một trong những thành phố an toàn nhất thế giới, nhưng trong thực tế TPHCM là một trong 5 thành phố kém an toàn nhất thế giới. Bài học ở đây là bất cứ một bản tin nào quá tốt trên hệ thống truyền thông VN thì người tiếp nhận cần phải kiểm tra vì thực tế có thể ngược lại những gì được tuyên truyền.
=====

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

20150202. VỀ NCKH CỦA GIẢNG VIÊN THEO THÔNG TƯ 47/2014- BGDĐT

ĐIỂM BÁO MẠNG
Bài của THANH NHƯ trên ĐĐK 31/1/2015
Giảng viên ĐH phải dành 1/3 quỹ thời gian năm học để nghiên cứu khoa học là yêu cầu vừa được Bộ GD&ĐT chốt tại Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT, có hiệu lực từ 25-3 tới. Đây là một thước đo để xã hội cũng như chính đội ngũ các cơ sở đào tạo nhìn nhận lại chất lượng, năng lực của giảng viên hiện đại.
Nghiên cứu khoa học tại ĐH Thái Nguyên
Nghiên cứu phải tương ứng chức danh
Thông tư số 47 quy định chế độ làm việc đối với giảng viên nêu rõ, việc giao và triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho giảng viên phải phù hợp với điều kiện, tiềm lực khoa học, định hướng phát triển hoạt động KH&CN của cơ sở giáo dục ĐH và phù hợp với năng lực chuyên môn của giảng viên. Thủ trưởng cơ sở giáo dục ĐH giao cụ thể nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho giảng viên của đơn vị.
Mỗi năm, giảng viên phải hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao tương ứng với chức danh hoặc vị trí công việc đang đảm nhiệm. Kết quả tối thiểu là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở hoặc tương đương, được nghiệm thu từ đạt yêu cầu trở lên. Hoặc có thể là một bài báo công bố trên tạp chí khoa học có phản biện, hoặc một báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học chuyên ngành.
Với những giảng viên không hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo quy định, thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học căn cứ mức độ, hoàn cảnh cụ thể để xem xét khi đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm học, xếp loại thi đua và giải quyết các chế độ, chính sách liên quan.
Trách nhiệm nghiên cứu khoa học của giảng viên ĐH ở Thông tư này được chốt chặt nhiều mục, cùng với quy định thời gian làm việc thực hiện theo chế độ 40 giờ/tuần và được xác định theo năm học, nhưng nó đã được đề cập đến từ nhiều thập kỷ nay ở bất cứ cơ sở đào tạo ĐH nào khi thành lập trường.
Tổng quỹ thời gian làm việc của giảng viên trong một năm học giờ đây được phân bổ rõ để rành mạch nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học, trách nhiệm học tập bồi dưỡng và các nhiệm vụ khác trong nhà trường, là 1760 giờ - sau khi trừ số ngày nghỉ theo quy định. Thông tư này được áp dụng đối với giảng viên tại các đại học quốc gia, đại học vùng, học viện, trường đại học, trường cao đẳng.
Điều này đồng nghĩa giảng viên phải tự làm mới mình trong nghiên cứu, chứ không chỉ tự nguyện vắt kiệt sức mình "chạy sô”. 
Được khuyến khích mọi bề
Từ tháng 12-2014, giảng viên nghiên cứu khoa học được hỗ trợ khá nhiều, khi Nghị định 99/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động KH&CN có hiệu lực.
Giảng viên được công bố một bài báo trên tạp chí khoa học quốc tế uy tín trong danh mục ISI, SCI, SCIE sẽ được nhà nước thưởng tiền tối đa bằng 30 lần mức lương cơ sở chung - tương đương hơn 34 triệu đồng.
Theo đó, khuyến khích giảng viên nghiên cứu khoa học cả về ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm, các hợp đồng thực hiện tại miền núi, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.
Giảng viên là nhà khoa học đầu ngành trong các cơ sở giáo dục ĐH còn được hưởng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 40 ngày 12-5-2014 về sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN. Đối với giáo sư là giảng viên cơ hữu sẽ được thành lập nhóm nghiên cứu xuất sắc trong lĩnh vực chuyên môn của mình, được cấp kinh phí cho hoạt động của nhóm. Hỗ trợ kinh phí tham gia các hội thảo, hội nghị khoa học trong nước và quốc tế thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.
Đối với giảng viên là nhà khoa học trẻ tài năng trong các cơ sở giáo dục ĐH, Chính phủ ưu tiên tuyển chọn đi học nâng cao trình độ ở trong nước, ngoài nước. Ưu tiên giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ KHCN tiềm năng với hình thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng...
Đừng trốn
Trách nhiệm nghiên cứu khoa học của giảng viên đã tới lúc không thể chạy trốn và cũng không là bề nổi trang trí, khi đây là năng lực, tư chất của giảng viên thời hiện đại. Bởi chỉ khi giảng viên nghiên cứu khoa học tốt mới đủ sức sáng tạo kéo sinh viên nghiên cứu theo.
Khi Bộ GD&ĐT cũng như Nhà nước phải dành những chính sách, nhưng quy định đặc thù khuyến khích như vậy, một phần vì chất lượng nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo, trong đội ngũ giảng viên hiện nay nhiều phần yếu, đuối…
Kết quả khảo sát thực trạng kĩ năng nghiên cứu khoa học của giảng viên ngoài công lập tại TP.HCM gần đây cho kết quả, giảng viên tự đánh giá kĩ năng nghiên cứu khoa học là khá, tuy nhiên hứng thú trong việc này chỉ đạt mức trung bình. Trong 9 kĩ năng nghiên cứu khoa học thì chỉ có duy nhất kĩ năng viết đề cương đạt mức tốt. Số lượng đề tài thực hiện khá khiêm tốn cũng dẫn đến sự hạn chế về kĩ năng nghiên cứu khoa học của họ.
Trong 120 giảng viên được điều tra, họ chỉ có 2 đề tài cấp Bộ, 22 đề tài cơ sở, 1 đề tài thành phố và tỉnh trong 5 năm trở lại đây. Nguyên nhân xuất phát từ khả năng có hạn, lại không nhiều đam mê hứng thú với hoạt động này, do phải dạy nhiều giờ và tham gia nhiều công tác khác.
Còn có nguyên nhân khách quan, họ cho biết, do thấy công việc nghiên cứu khoa học quá khó khăn và áp lực, nhất là về thủ tục hành chính. Không được nhà trường khuyến khích. Cơ chế tuyển chọn và đánh giá không rõ ràng. Đây là những yếu tố khiến giảng viên không tiếp cận được một cách thuận lợi với hoạt động nghiên cứu khoa học, lâu dần làm nên thói quen xấu - trốn nghiên cứu.
Việc đưa ra những quy định cụ thể, khuyến khích giảng viên nghiên cứu cũng quan trọng, mà tổ chức nâng cao kĩ năng nghiên cứu khoa học cho giảng viên, đầu tư phòng thí nghiệm, tư liệu nghiên cứu cũng rất cần thiết.
Thanh Như